Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiều chiều hơn với nhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất là từ những năm 1975 trở đi, tiểu thuyết viết về nôn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
Hà Nội, năm 2013
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
BÙI NHƯ HẢI
ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN
TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ THẾ HÀ
Hà Nội, năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng công bố bất kì một công trình nào khác
Luận án có kế thừa và sử dụng một số tài liệu đã công bố
có liên quan đến đề tài để tham khảo và đã đƣợc chú thích rõ ràng khi sử dụng
Tác giả luận án
Bùi Nhƣ Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình Nghiên cứu sinh và viết luận án Tiến sĩ, tôi
đã nhận được sự dạy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy
cô Khoa Văn học thuộc Học viện Khoa học Xã hội, đặc biệt là PGS.TS Phan Trọng Thưởng, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, PGS.TS Trương Đăng Dung, PGS.TS Tôn Thảo Miên, PGS TS Trịnh Bá Đĩnh
Trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị, trường THPT Bùi Dục Tài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Nhà giáo ưu tú - PGS.TS Hồ Thế Hà, người thầy tận tâm, hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn nghiên cứu
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án tiến sĩ
Xin cảm ơn tấm lòng những người thân yêu trong gia đình và bè bạn đã
cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận án này
Hà Nội, tháng 01 năm 2013
Bùi Như Hải
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 11
1 Lý do chọn đề tài 11
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3 Phương pháp nghiên cứu 44
4 Đóng góp mới của luận án 54
5 Cấu trúc luận án 65
NỘI DUNG 86
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 86
1.1 Luận bàn toàn cảnh 86
1.1.1 Khẳng định sự đổi mới, lạc quan vào sự hồi sinh 86
1.1.2 Quan ngại về dấu hiệu chững lại 1210
1.2 Luận bàn quanh một số tiểu thuyết nổi trội 1715
1.2.1 Nhận định, đánh giá về những thành công 1715
1.2.2 Nhận định, đánh giá về những hạn chế 2523
Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 2926
2.1 Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật 2926
2.1.1 Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986 2926
2.1.2 Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 19863128 2.2 Nhu cầu nhận thức và sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều 3834
2.2.1.Nhu cầu nhận thức mới hiện thực trong tiểu thuyết về nông thôn trước 1986 3834
2.2.2 Sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều trong tiểu thuyết về nông thôn sau 1986 3936 2.3 Diện mạo của tiếu thuyết về nông thôn trong mạch nguồn tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 4238
2.3.1 Tiến trình tiểu thuyết về nông thôn trước 1986……… 4238
Trang 62.3.2 Diện mạo tiểu thuyết về nông thôn sau
1986 5046
Chương 3 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 6055
3.1 Hiện thực thời chiến, thời hậu chiến và con người gắn bó với quê hương, xứ sở 6055
.3.1.1 Nông thôn thời chiến và hậu chiến - từ góc nhìn lịch đại………… 52
3.1.2 Người nông dân gắn bó với quê hương, xứ sở 7065
3.2 Hiện thực cải cách ruộng đất và con người làng xã, họ tộc 7872
3.2.1 Cải cách ruộng đất - hướng tiếp cận mới từ đề tài cũ 7872
3.2.2 Người nông dân gắn bó với làng xã, họ tộc 9184
3.3 Hiện thực đời sống tâm linh và con người bản năng, tính dục 9789
3.3.1 Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú 9789
3.3.2 Người nông dân với đời sống tính dục đa dạng 109101
Chương 4 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 117108
4.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 117108
4.1.1 Ngôn ngữ cuộc sống đời thường, nhiều màu sắc 117108
4.1.2 Ngôn ngữ đối thoại hồn nhiên, chân chất 124114
4.1.3 Ngôn ngữ độc thoại phong phú, đa dạng 129119
4.2 Giọng điệu nghệ thuật 134123
4.2.1 Giọng điệu cảm thương, xa xót 134123
4.2.2 Giọng điệu giễu nhại, châm biếm 138127
4.2.3 Giọng điệu suy nghiệm, triết lí 143131
4.3 Kết cấu nghệ thuật 147135
4.3.1 Kết cấu đơn tuyến và sự làm mới trên nền truyền thống 148135
4.3.2 Kết cấu lắp ghép và sự cách tân theo hướng hiện đại 152139
4.3.3 Kết cấu buông lửng và sự vẫy gọi đồng sáng tạo………148
KẾT LUẬN 162148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 166151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 168152
PHỤ LỤC 181164
Trang 7PHỤ CHÚ 189168
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Nông thôn -– nơi chứa đựng những trầm tích về văn hóa truyền thống luôn nằm ở mạch ngầm trong đời sống của người dân Việt Nam,, Bởi Đó là những giá trị truyền thống văn hóavốn để đã kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ ở người nông dân Cũng Và dĩ nhiên, nơi đóchính mảnh đất này đã đọng lại không ít những nỗi đau, tủi hờn, oan khuất đeo bám người dân quê… Hiện thực đời sống xã hội nông thôn và
người nông dân Việt Nam đã được ánh xạ và in dấu lên mọi sáng tác văn học Điều đó đã được minh định từ thực tiễn sáng tác, từ truyền thống văn học dân tộc suốt trường kỳ lịch
sử với những hình ảnh mộc mạc, đẹp đẽ của làng quê Việt Nam Và chúng từng lưu giữ trong các sáng tác của tập thể dân gian Các văn thi sĩThời trung đại, các nhà nho – thi sĩ
ưu ái dành riêng chốn quê Việt Nam những vần thơ chân mộc, sâu lắng ân tình Những năm 1930-1945, vVăn học lãng mạn, bám rễ vào nguồn mạch dân tộc nhưng tâm hồn lại hút gió Tây phương, vẫn neo đậu một hồn quê nơi bạn đọc Vào Những năm 1930-1945,Các nhà các nhà văn hiện thực phê phán đã khẳng định sự thành công khi dựng nên bức tranh nông thôn với những mảngh tối -– sáng về thân phận của người nông dân oằn mình dưới ách thống trị thực dân phong kiến Văn học cách mạng đã kế thừa thành tựu
của văn học hiện thực phê phán, khẳng định khả năng đấu tranh vươn lên làm chủ của những người cần lao như một sự phát hiện, hàm ơn với nền văn học của một thời “mất nước nhưng không mất làng” Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ vĩ đại, thần thánh thì hình ảnh làng quê với người nông dân mặc áo lính đã đi vào văn học như những biểu tượng đẹp trong kí ức hào hùng của dân tộc
1.2 Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non sông liền một dải Đất nước dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, một kỷ nguyên mới mở ra với lắm bộn bề nhưng cũng nhiều khát vọng Chính điều đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau 1975 vươn mình lớn dậy và tỏa bóng xuống cuộc sống rộng lớn, mênh mông Đặt biệt, luồng gió tư tưởng đổi mới kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tạo thành cơn luân vũ mãnh liệt tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dân chủ, cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó, có văn học - một bức tranh nhiều màu sắc với khát vọng vẽ trọn vẹn chân dung tâm hồn con người của thời đại từ những miền quê Trong sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học mới, mảng văn học nông thôn chiếm một vị trí không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của nền văn học
Trang 10Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975, nhất là sau đổi mới vẫn tiếp tục
“thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhưng phương thức khai thác đã thay đổi Điều dễ nhận thấy: “Về mặt đề tài và cảm hứng sáng tạo đều hướng về đời thường, tiếp cận những mặt bình dị, và cảm động Lòng yêu cuộc sống vốn thấm sâu vào tâm hồn và cách cảm nhận của các cây bút đã giúp cho các tác giả thanh lọc, chắt lấy phần cốt lõi của
sự vật và khai thác những giá trị nhân văn gần gũi Đáng quý trong sáng tác của mình, các tác giả luôn có ý thức tôn trọng truyền thống nhưng vẫn mở ra đón nhận cái mới” [49;tr.199] Cõi nhân sinh hiện về với nhiều trang viết ngồn ngộn chất sống từ hương đồng rơm rạ của chốn hương quê Việt Nam qua các ngòi bút tài danh một lần nữa khẳng định sức sống mới tập trung và toàn diện trong cảm hứng viết về nông thôn Việt -– đề tài cuốn hút một cách tự nhiên như sự sống còn của một dân tộc “chín phần mười đất nước nông dân”
Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiều chiều hơn với nhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất là từ những năm 1975 trở đi, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có sự đổi mới cảm hứng, cấu tứ, thi pháp để tạo nên cách nhìn nhận và tái tạo lại hiện thực một cách đầy đủ, sinh động hơn mà tiểu thuyết
nông thôncùng đề tài trước đó do nguyên nhân chủ quan và khách quan chưa làm được: “Nông thôn sau 1986 đã có cái nhìn khác trước Nếu các nhà văn trước 86 đứng
ở phương diện xã hội và phong trào để nhìn con người thì các nhà văn sau 86 đã đứng
ở góc độ con người, xã hội và các vấn đề chung” [24;tr.53-36]
Từ thực tế trên, tiểu thuyết viết về nông thôn dần thu hút được sự quan tâm của bạn đọc Đã có một số bài viết hoặc một vài cuốn sách, nhưng tất cả hầu như chỉ mới dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về đề tài này Đây là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những ai quan tâm đến mảng tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mớiđương đại
Vì vậy, chọn đề tài Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về
nông thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn tương đối hệ thống về toàn bộ tiến trình vận động và phát triển cũng như những đặc điểm và thành tựu trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai đoạn từ 1986 đến 2012nay Qua đó, thấy được quy luật vận động của tiểu thuyết
Việt Nam viết về nông thôn Việt Nam sau chiến tranh cũng như trên con đường giao lưu
của văn học dân tộc với văn học thế giới
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Lựa chọn đề tài này, chúng tôi phần nào giới hạn đối tượng nghiên cứu Vì vậy, toàn bộ các sáng tác của tiểu thuyết viết viết về nông thôn Việt Nam từ 1986 đến 2012
sẽ là đối tượng trực tiếp để khảo sát Riêng đề tài nông thôn miền núi, chúng tôi tạm thời không đề cập đến trong luận án Số lượng tác phẩm viết về nông thôn miền núi sau đổi mới khá lớn (chủ yếu truyện ngắn), nội dung lại phong phú, độc đáo nên cần chuyên luận riêng để nghiên cứu kĩ lưỡng và sâu rộng Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có liên hệ, so sánh nhằm chứng minh nét riêng của tiểu thuyết viết về nông thôn
Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian này, vì đó là mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện của đất nước; văn xuôihọc nói chung, tiểu thuyết viếtviết về nông thôn nói riêng đã
có bước ngoặt chuyển mình để đi đến những thành tựu đáng ghi nhận như hôm nay Tất nhiên, giới hạn mốc lựa chọn để khảo sát chỉ có ý nghĩa tương đối, vì hiện tượng đổi mới tiểu thuyết đã có bước chuẩn bị khá sớm vào đầu những năm 1980 với một số tác giả có đóng vai trò tiền trạm như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Đoàn Lê…
Nhìn lại chặng đường phát triển, số lượng tiểu thuyết viết viết về nông thôn rất lớn, chưa có giai đoạn nào trước đây sánh kịp Dẫu biết rằng, trong sáng tác, vấn đề không chỉ số lượng, mà ở chất lượng nên những cuốn tiểu thuyết có giá trị được sàng lọc qua thời gian và đã được bạn đọc quan tâm, giới nghiên cứu thừa nhận (thông qua các giải thưởng danh dự) Vì vậy, phạm vi đối tượng được tác giả luận án triển khai khảo sát
kĩỹ hơn qua các tiểu thuyết nổi bật như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội của (Lê Lựu),
Bến không chồng, Dưới chín tầng trời của (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều
ma của (Nguyễn Khắc Trường), Lời nguyền hai trăm năm của (Khôi Vũ), Lão Khổ của (Tạ Duy Anh), Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão của (Hoàng Minh Tường), Dòng sông
Mía của (Đào Thắng), Ba người khác của (Tô Hoài), Ma làng của (Trịnh Thanh Phong),
Cuồng phong của (Nguyễn Phan Hách), Giời cao đất dày của (Bùi Thanh Minh), Thần
thánh và bươm bướm của (Đỗ Minh Tuấn, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh)…
Ngoài ra, để thấy được sự chuyển mình và phát triển cũng như sự đổi mới của tiểu thuyết viết viết về nông thôn sau 1986 so với trước, chúng tôi đã có cái nhìn đối sánh với giai đoạn từ 1932 đến 1975 và giai đoạn tiền đổi mới (1975- 1985) được xem
lànhư bước chuẩn bị cho sự đổi mới của tiểu thuyết viết viết về nông thôn như Con
đường sáng của (Nhất Linh, Hoàng Đạo), Bước đường cùng của (Nguyễn Công Hoan),
Tắt đèn của (Ngô Tất Tố), Con trâu của (Nguyễn Văn Bổng), Cái sân gạch của (Đào
Vũ), Xung đột của (Nguyễn Khải), Bão biển của (Chu Văn), Buổi sáng, Đất làng của
Trang 12(Nguyễn Thị Ngọc Tú), Ao làng của (Ngô Ngọc Bội), Đi bước nữa của (Nguyễn Thế Phương), Cửa sông của (Nguyễn Minh Châu), Đứng trước biển, Cù lao Tràm của (Nguyễn Mạnh Tuấn)… Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu một số thể loại khác như bút ký, truyện ngắn viết về nông thôncùng đề tàiở thời kỳ trước và sau 1986, nhằm thấy được sự vận động toàn cảnh của văn xuôi Việt Nam viết về nông thôn trong tiến trình lịch sử văn học
và chỉ ra những tác phẩm tiêu biểu có sự đóng góp trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi nói chung, tiểu thuyết về đề tài nông thôn nói riêng.thấy được những đóng góp quan trọng, có ý nghĩa của tiểu thuyết viết về nông thôn trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986 trong tính chỉnh thể nội dung và hình thức như quan niệm hiện thực và con người cùng những phương thức, phương tiện biểu hiện đặc sắc của chúng
Sau 1986, viết về nông thôn, một số tác giả tiếp tục quay trở lại đề tài cải cách ruộng, hợp tác hóa nông nghiệp Vấn đề này rất nhạy cảm nhưng đã được tiểu thuyết quan tâm một cách rốt ráo vào những năm 1960 Những trầm tích về văn hóa truyền thống nằm
ở mạch ngầm trong đời sống nông thôn Việt Nam Bởi đó thực sự là những giá trị truyền thống bề sâu như phong tục, tập tục, tập quán để kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ của nông dân Việt Nam, dĩ nhiên, cũng từ đó đọng lại không ít nỗi đau, những tủi hờn, oan khuất đeo bám họ
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.1 Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học: vận dụng để nghiên cứu tiến trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn, nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu đóng góp tích cực vào việc đổi mới của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai đoạn từ 1986 đến năm 2012
Trang 133.2 Phương pháp phân tích, so sánh: nhằm làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ
thuật, sắc thái độc đáo giữa những sáng tác của tiểu thuyết viết về nông thôn cùng và không cùng giai đoạn; đồng thời so sánh sự đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (1986 - – 2012) với trước đổi mới (1932 - 1985); so sánh thể loại tiểu thuyết và các thể loại khác (truyện ngắn, kí, bút kí) trong cùng đề tài (đồng đại) để thấy được nét nổi trội về những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết viết về nông thôn
3.3 Phương pháp cấu trúc, hệ thống, cấu trúc: được sử dụng để nghiên cứu mối liên hệ nội tại hữu cơ của tác phẩm, đồng thời có cái nhìn tổng thể, khái quát về sự chuyển mình, đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1986 đến 2012này
3.4 Phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học:.nhằm nghiên cứu các yếu tố tham gia cấu thành thế giới nghệ thuật Tiếp cận dưới góc độ thi pháp đưa đến sự thuận lợi trong việc khám phá những cấu trúc phức tạp của thể loại tiểu thuyết Việt Nam viết
về nông thôn từ 1986 đến 2012 như ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…trong tính chỉnh thể nghệ thuật của chúng
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
4.1 Qua khảo sát Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về
nông thôn từ 1986 đến nay trên bình diện tổng thể (một giai đoạn) và trên bình diện cụ
thể (từng tác phẩm) để triển khai thành một hệ vấn đề, luận án đã góp phần nhận diện chung nhất tiến trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam Việt Nam viết
về nông thôn từ 1986 đến 2012, Trong đó, chú trọng giai đoạn sau đổi mới, một mặtnhằm thấy được sự kế thừa, tiếp nối những thành tựu củaquả giai đoạn trước 1986
và những vấn đề mà giai đoạn trước đang đặt ra cho giai đoạn sau tiếp cận và phản ánh Qua đó, mặt khác thấy được sự bứt phá của giai đoạn sau trong bước chuyển mình của của tiểu thuyết viết về nông thôn đương đạigiai đoạn này trong bước chuyển mình của đời sống xã hội và ý thức nghệ thuật của chủ thể sáng tạo tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc
4.2 Khẳng định những thành tựu của tiểu thuyết Việt Namviết về nông thôn từ
1986 đến 2012n nay là có cơ sở từ những điều kiện chính trị, xã hội của đất nước sau
1975, và là sự đòi hỏi tự thân của văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng trong sự tiếp tục phát triển ở thời kỳ đổi mới
4.3 Luận án vận dụng những phương pháp tiếp cận mới của Khoa Nghiên cứu văn học, đồng thời học tập một số kinh nghiệm nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà nghiên cứu phê bình văn học như M Bakhtin, Roland Barthesr, Iu.M Lotman… giúp bạn đọc có cái nhìn mới mẻ vềvề tiểu thuyết Việt Nam viết Việt Nam viết về nông
Trang 14thôn sau đổi mới trên cả hai phương diện nội dung và phương thức nghệ thuật so với
so với thời kỳgiai đoạn trước đó Từ đó, đưa ra những kết luận có tính chất khái quát
về sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, trong việc phản ánh hiện thực và cả phương thức biểu hiện từ nguồn mạch chung trong tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
4.4 Hiện nay, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về nông thôn nói riêng được nhiều giới quan tâm nghiên cứu và bước đầu khẳng định những thành tựu Vả lại, giai đoạn văn học sau 1975 được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau Đại học Tuy nhiên, tài liệu tham khảo về giai đoạn văn học này cũng như mảng tiểu thuyết về nông thôn vẫn còn ít ỏi Vì vậy, luận án cũng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu, học tậpKết quả của luận án có thể dùng để đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau Đại học; đồng thời dùng làm tài liệu tham khảo để viết giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại về đề tài nông thôn
5 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm 150 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Công trình tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phụ chú, phần Nội dung của luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
Trong lịch sử văn học Việt Nam, tiểu thuyết viết viết về nông thôn chiếm một
vị trí quan trọng Đặc biệt, sau đổi mới (1986), tiểu thuyết viết về nóđề tài này đã góp phần làm nên diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại Hành trình đi tìm lịch sử
nghiên cứu vấn đề Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông
thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi đứng trước khối lượng tư liệu khá phong phú, in rải
rác trên các tạp chí, báo chuyên ngành và những công trình sách, luận văn, luận án đã hoặc chưa xuất bản Để xử lý nguồn tư liệu có được, rút ra những vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tạm thời chia tình hình nghiên cứu thành các phương diện sau:
1.1 LUẬN BÀN MỘT CÁI NHÌN TOÀN CẢNH
1.1.1 Khẳng định sự đổi mới, lạc quan vào sự hồi sinh
Ở mảng văn xuôi nông thôn, Trần Cương có bài Nhìn lại văn xuôi viết về nông
thôn trước thời kỳ đổi mới (1986) và Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau 80 Từ
điểm nhìn tổng quan, tác giả đã khái quát được những nét cơ bản về nông thôn từ 1930
- 1975, thấy được nhìn chung bức tranh chung về hiện thực nông thôn thuộc phần “bề nổi” của cuộc sống, đó cũng chính là những phần bức thiết bấy giờ Đến giai đoạn tiền đổi mới, trong bối cảnh Việt Nam sau chiến tranh với những tổn thất nặng nề, nền kinh
tế tự cung tự cấp, cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật…, nên tâm lý chung của toàn xã hội là truy tìm nguyên nhân của những yếu kém xuống cấp Đứng trước những trăn trở đó, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn bắt đầu chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, thế nhưng thật sự đổi mới phải bắt đầu sau Đại hội Đảng lần VI Sự đổi mới có được nhờ từ hai phía: sự chuyển mình của nông thôn và sự chuyển đổi điểm nhìn từ chính bản thân của mỗi nhà văn
Từ quan niệm đến cách cảm, cách nghĩ và tái tạo lại hiện thực trên trang viết đã thực
sự “trở dạ” Ở quan điểm riêng của mình, tác giả cho rằng sự chuyển biến đó trước hết
là do sự mở rộng phạm vi chủ đề Trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề: chủ đề về số phận con người và hạnh
phúc cá nhân mà trước đó chỉ mới nhen nhóm ở Thời xa vắng, Bến không chồng,
Trang 17Mảnh đất lắm người nhiều ma… Hai là, sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện
thực Bức tranh hiện thực nông thôn trước 80 phần lớn chỉ là những hiện thực bề nổi
của đời sống như Buổi sáng, Đất mặn… Sau những năm 1980, hiện thực nông thôn đã
tịnh tiến vào chiều sâu, mạch ngầm tâm thức của đời sống Việt, cách miêu tả đó đã
“mang lại một giá trị nhận thức mới theo quan niệm “nhìn thẳng vào sự thật”… mà Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã chỉ ra… Các nhà văn đã khắc phục được những mặt bất cập của giai đoạn trước, bám sát và bao quát những sự kiện, những vấn đề của đời sống nông thôn hiện tại” [24;tr.36] Tác giả khẳng định sự chuyển biến của xã hội hằn
in dấu vết trong nông thôn là có thật và có chiều sâu vững bền
Khác với Trần Cương, trong bài Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn
học Việt Nam từ tháng 8-1945, Phong Lê không đi sâu tìm hiểu văn xuôi viếtviết về nông thôn Ở đây, tác giả đã nhìn truyền thống văn học trên hai đề tài lớn: chiến tranh và nông thôn Trong đó, đề tài nông thôn “có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo dựng đầu tiên là hơn một thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến Ngô Tất Tố, Nam Cao…, và cuộc tìm kiếm kéo dài hơn 20 năm, nhằm xác định một mô hình thích hợp cho sự phát triển của đất nước trong sự tương ứng với thời đại của những cuộc cách mạng xã hội và khoa học -– kỹ thuật” [103;tr.21] Tác giả đã khái quát cả bước
chuyển mình của nông thôn trong trang văn của các bậc tiền bối Trong bài Các nhà tiểu
thuyết nông thôn trong cơ chế thị trường, Hoàng Minh Tường cũng khẳng định: mảng văn
xuôi viết về nông thôn có lịch sử của nó, từ Hồ Biểu Chánh, Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Những nhà văn này đã giữ lại vốn văn hóa, đời sống tâm hồn người Việt ở thời đại họ và cho hậu thế, tạo một dòng chảy liên tục đến hôm nay Ông nhận định sâu về mặt chuyển biến của “mảng tiểu thuyết nông thôn đã phần nào làm được một công việc là ghi lại những biến động ở nông thôn cùng những đổi thay, những vật vã của một thời Hai chủ đề khá nổi bật được phản ánh trong hầu hết các tác phẩm, là những xung đột âm ỉ quyết liệt về dòng họ, và cuộc vật vã thoát khỏi thời kỳ quan niệm bao cấp, xác lập một cơ chế làm ăn mới” [181;tr.64] Góp lời nhận xét, trong
bài Hiện trạng tiểu thuyết, Bùi Việt Thắng đã khẳng định: “Các nhà tiểu thuyết hôm nay
đã từ bỏ được lối nhìn dễ dãi về đời sống con người… Họ đã thôi nhìn nông thôn với cảnh điền viên, trống dong cờ mở Nông thôn đích thực hiện ra trong tiểu thuyết của các anh trong khung cảnh “long trời lở đất” rối rắm và cũng nhìn vào nông thôn ấy ta sẽ thấy cả xã hội Việt Nam mấy chục năm qua” [184;tr.9]
Nguyễn Hà, Tôn Phương Lan đi vào xác định ranh giới khác biệt của tiểu thuyết viết về nông thôn trước và sau đổi mới Trong bài Về hướng tiếp cận mới đối
với hiện thực trong văn xuôi sau 1975, Tôn Phương Lan cho rằng: “Lâu nay vấn đề
Trang 18người nông dân hầu như chỉ được nhìn nhận qua vấn đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đó được nhà văn nhìn vào số phận lịch sử của họ Và lịch sử đất nước được hiện ra qua lịch sử cuộc đời nhân vật trong cuộc mưu sinh, trong sự duy trì đóng góp để làm nghĩa vụ cho Tổ quốc, với phần trách nhiệm của từng hoàn cảnh gia đình” [95;tr.50] Từ góc độ đó, tác giả chỉ ra rằng “đã có một cách soát xét lại một thời
đã qua, thông qua những số phận cá nhân và những vấn đề của một làng xã, một dòng họ” [95;tr.48], trong đó “nổi bật lên là mối mâu thuẫn về quyền lợi cá nhân nấp dưới
vấn đề họ tộc” [95;tr.40] Theo hướng này, trong bài Cảm hứng bi kịch nhân văn trong
tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80, xuất phát từ cảm hứng nhân văn bi kịch
trong con người, Nguyễn Hà rất tinh tế khi nhận xét: nhà tiểu thuyết quan tâm đến bi kịch cá nhân, khắc đậm trạng huống “một người -– hai mặt” của con người Quan tâm đến con người nông dân nhưng ở kiểu loại khác, không phải những người nông dân xuất thân từ nông thôn, chủ yếu là những chiến binh trở về từ chiến trường hòa mình
vào cuộc sống nông thôn [57] Nhân dịp Cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002-2004) kết
thúc, báo Sài Gòn giải phóng có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh -– Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Trong cuộc trả lời phỏng vấn, ông khẳng định: có mùa gặt mới của tiểu thuyết viết về nông thôn đầu thế kỷ XXI Nét mới của cuộc thi tiểu thuyết lần 2 là các nhà văn đã có sự mở rộng biên độ khi viết về nông thôn Họ “đặt nông thôn Việt Nam trong những biến cố của dân tộc đầy bão táp theo chiều dài lịch sử”, “với độ mở
và góc khuất mà trước đó nhiều nhà văn chưa có điều kiện để truyền tải tới bạn đọc
Những yếu tố đó tạo nên bộ mặt và sức bền của nông thôn Việt Nam Qua Dòng Sông
Mía, Cánh đồng lưu lạc… đã chứng tỏ được “sức sống của dân tộc, cốt cách của người
nông dân được phác họa thật sắc sảo” [217]
Trong bài viết Tìm kiếm những trang viết về nông thôn, Đỗ Kim Cuông đã tập hợp những ý kiến tham luận của các nhà văn tham gia Hội nghị nhà văn các tỉnh phía
Bắc tại thành phố Hải Phòng diễn ra vào ngày 10/10/2003 Nhiều nhà văn nói lên
những suy nghĩ, tâm tư tình cảm rất chân thành, giàu tâm huyết và sâu sắc về nông thôn và nông dân trong thời đại mới Họ cùng chung quan điểm: sau đổi mới, bộ mặt đời sống nông thôn, cuộc sống nông dân đang từng ngày thay da đổi thịt, nhưng cũng
gặp không ít khó khăn, cạm bẫy Do đó, mảng sáng tác “về nông thôn và nhân dân vẫn
là một đề tài lớn”, “vẫn có sức lôi cuốn bạn đọc, vẫn kích thích các nhà văn sáng tạo”
[22] Phạm Ngọc Tiến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn cũng có cái nhìn lạc quan Tác giả khẳng định đề tài nông thôn không hề “bạc màu”, “không bao giờ
mòn” Bởi, nông thôn Việt Nam đang từng bước chuyển mình, đáng được ghi nhận Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệp vào nông nghiệp, sự lai căng về
Trang 19văn hóa…, cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để các nhà văn suy ngẫm, trăn trở [169] Cùng quan điểm, trong cuộc trả lời phỏng vấn với báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp đánh giá rất xác đáng: “Văn học về nông dân và nông thôn tuy ít người theo đuổi nhưng vẫn chưa đến mức đoản mệnh”, “số lượng người viết về nông thôn nhiều hay ít không phải là quá quan trọng mà quan trọng hơn nhiều là làm sao để có được nhiều tác phẩm hay” [53] Bùi Ngọc Tấn cũng rất tin tưởng, lạc quan khi cho rằng: trong thời gian gần đây, mảng văn học nói chung, tiểu thuyết viết về
nông thôn nói riêng có những tác phẩm hay, đáp ứng được tầm đón đợi của bạn đọc:
“Chúng ta sẽ viết được những cuốn tiểu thuyết như chúng ta hằng mong ước, cũng như tôi luôn tin mỗi giọt máu của chúng ta đều cháy lên lòng yêu nhân dân, yêu đất nước; một nhân dân, một đất nước đã đổ máu, đổ mồ hôi, đang vượt qua mọi khó khăn để xây dựng cuộc sống mới và đang chờ đón những tác phẩm của chúng ta” [53]
Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 -– 2005: Diện mạo và đặc điểm, Lê Thị Hường đã chỉ ra được những đặc điểm chính của tiểu thuyết giai đoạn
này là sự đa dạng về hệ đề tài, trong đó đề tài nông thôn là một trong những đề tài có lực hút đối với các nhà tiểu thuyết đương đại: tiểu thuyết về đề tài nông thôn sau 1986 đã gây được ấn tượng Các nhà văn đã gặp gỡ nhau ở vấn đề cốt lõi của nông thôn: gia đình và dòng tộc, phong tục, nếp nghĩ, nếp sống của những con người sống trên những mảnh đất phần lớn còn chịu sức đè của những thói tục cũ [86] Năm 2000, trong Luận án Tiến sĩATS Ngữ văn, Nguyễn Mạnh Hùng đã khảo sát Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam
từ sau 1975 một cách có hệ thống và có những đóng góp đáng kể Trên phương diện đề
tài, tác giả nhận xét rất xác đáng về vị trí của đề tài nông thôn trong dòng chảy văn học:
“Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước bây giờ là nhiệm vụ trung tâm của thời đại, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu và phần lớn số dân là nông dân, vai trò to lớn của nông dân và nông nghiệp đối với đất nước, lối sống và tâm lý nông dân cũng như ảnh hưởng của chúng đối với đời sống xã hội, cảnh sắc làng quê và hấp dẫn của nó đối với nghệ thuật, và cao hơn hết là sự hiểu biết cũng như tình cảm của nhà văn đối với người nông dân với những bước đường đi theo cách mạng” [82;tr.65] Và đề tài nông thôn đã,
đang và sẽ rất hấp dẫn đối với tiểu thuyết gia đương đại: “Tiếp bước những Cái sân gạch,
Vụ lúa chiêm của Đào Vũ Bão biển, Đất mặn của Chu Văn Tầm nhìn xa, Xung đột của
Nguyễn Khải Ao làng của Ngô Ngọc Bội Buổi sáng, Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc
Tú Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn…, thì Thủy hỏa đạo tặc của Hoàng Minh
Tường xứng đáng là cuốn tiểu thuyết mở đường cho một hướng đi mới trong việc tiếp cận hiện thực nông thôn - – cái hiện thực của quá khứ, của hiện tại và của tương lai, cái hiện thực gắn với sự sinh tồn của dân tộc, một hướng đi mà từ đó tiểu thuyết sẽ phát huy hết
Trang 20khả năng thể loại của mình” [82;tr.75] Năm 1996, trong Luận án phó PTiến sĩ SNgữ văn
Văn xuôi viết về nông thôn trong công cuộc đổi mới qua một số tác giả tiêu biểu, Lã Duy
Lan đã nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn trước 1986 và cũng đã đánh giá được diện mạo chung của văn xuôi viết về nông thôn sau 1986 đổi mới trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật Năm 2012, trong Luận án ATiến sSĩNgữ văn Văn xuôi viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau 1975, Bùi Quang Trường đã khái lược đề tài nông thôn trong
văn xuôi Việt Nam trước 1975: đề tài nông thôn trong văn xuôi quốc ngữ buổi giao thời
1900 - – 1930, 1930 -– 1945, 1945 -– 1975, đặc biệt tác giả đã có cái nhìn bao quát về đề tài nông thôn trong văn xuôi từ 1975 đến 2011nay Trên phương diện đề tài, tác giả nhận xét: “Trong khoảng thời gian 35 năm, kể từ 1975 đến nay, văn xuôi viết về nông thôn đã
có những bước phát triển vượt bậc Sự phát triển này không chỉ thể hiện số lượng tác giả đông đảo, ở số lượng tác phẩm lớn mà quan trọong hơn là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật
về con người, về tư duy nghệ thuật, đổi mới về đề tài, phương thức biểu hiện.… Tất cả những thay đổi này chính là bằng chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi viết về nông thôn sau 1975 -– một giai đoạn mới trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về nông thôn” [215;tr.43-44]
Như vậy, nhiều bài viết khẳng định văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn
đã thực sự hồi sinh, để lại dấu ấn qua mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm., tuy nhiên vẫn chưa có những đỉnh cao, gây được tiếng vang lớn như một số tác phẩm giai đoạn 1932-1945 Trên thực tế, các nhà văn viết về đề tài nông thônnó sau đổi mới đã
không đi theo những lối mòn quen thuộc, mà đã có những bước chuyển mình, hứa hẹn
những thành tựumùa giặtmới trong tương lai
1.1.2 Quan ngại về dấu hiệu chững lại
Những năm trở lại đây, một số nhà văn, nhà nghiên cứu băn khoăn trước thực
trạng ngày càng thưa dần, thiếu vắng các tác phẩm viết về nông thôn Trong bài Đề tài về người nông dân, làm sao cho xứng tầm, Đào Thái Tuấn cho rằng: nông thôn
Việt Nam đang “đứng trước công cuộc Công nghiệp hóa -– Hiện đại hóa đất nước hiện nay rất nhiều vấn đề về Nông nghiệp - – Nông thôn đã nảy sinh” Vì vậy,, do đó
“mảng về văn học nông thôn rất quan trọng”,.nNhưng thời gian gần đây “chỉ lẻ tẻ một vài tác phẩm viết về nông thôn”, “các nhà văn chưa đi sâu vào để tiếp tục khai thác”.,
Do đó,Vì vậy “đây là một thiếu sót của giới sáng tác văn học nghệ thuật” [177;tr.22]
Đây chính là dấu hiệu của sự chững lại của văn xuôi và tiểu thuyết viết viết về đề tài
nông thôn và nó còn kéo dài sang cả thập niên đầu của thế kỷ XXI Trong bài Tiểu
thuyết 2009 trong chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI, Đỗ
Hải Ninh cho rằng: đời sống của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn sau đổi mới, đặc
Trang 21biệt thập niên đầu thế kỷ XXI khá bình lặng, mặc dù có những cuộc thảo luận, trao đổi: “Với một quốc gia có hơn bảy mươi phần trăm dân số sống ở nông thôn như Việt Nam, trong quá khứ đã từng có những tác phẩm xuất sắc về nông thôn thì hiện nay sáng tác hay về đề tài này lại không nhiều…, vẫn chưa dành sự quan tâm đích đáng mặc dù cách đây mấy năm đã có vài ba tác phẩm gây được sự quan tâm của người đọc
như Dòng sông Mía (Đào Thắng), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cách đồng
lưu lạc (Hoàng Đình Quang) Số tác phẩm xuất bản năm nay lọt vào vòng chung khảo
cuộc thi tiểu thuyết lần 3 rất ít như Cách trở âm dương (Vũ Huy Anh), Họ vẫn chưa về (Nguyễn Thế Hùng), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn)” [136] Trong bài
Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó, Mai Anh Tuấn cho rằng: dẫu có hẳn một hội thảo
mang tên “Văn học với đề tài Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn”, nhưng “văn học chưa có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về tam nông như “tầm” của nó” [178] Trong bài
Nhà văn với đời sống nông thôn và nông dân ngày nay, Nguyễn Bính Hồng Cầu cũng
khẳng định: văn học Việt Nam có “bề dày lịch sử, có thành tựu”, nhưng thẳng thắn mà nói “còn thiếu vắng về đề tài nông thôn, nhất là nông thôn ngày nay đang trong tiến trình công nghiệp hóa -– hiện đại hóa đất nước” [15]
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân (chủ quan và khách quan) dẫn đến đề tài nông thôn vắng bóng, nhạt nhòa Hồ Ngọc Xung cho rằng: các phương tiện truyền thông chủ yếu chạy theo thị hiếu của người dân thành phố để thu hút quảng cáo nên đã
vô tình “bỏ quên” người nông dân và nông thôn; đội ngũ sáng tác xa rời, không còn rung cảm về người nông dân; đặt mục tiêu kiếm tiền và lợi nhuận lên hàng đầu [67] Phạm Thị Ngọc Diệp chỉ ra nguyên nhân ít có những tác phẩm viết về đề tài nông thôn hay và có giá trị, là vì “đa số các nhà văn gốc nông dân đã về sống và làm việc ở thành thị”, mà “ở thành thị thì không phải là người thành thị vì cái bản chất quê mùa của mình Còn sống ở nông thôn không phải là người nông dân vì không có khả năng làm những việc của nông dân Là người lừng khừng, đúng hơn là một người nhà quê” [32] Nguyễn Bính Hồng Cầu cho rằng: “Có thể các nhà văn chưa hiểu hết nông thôn và cũng có thể các nhà văn tránh né đề tài này để đến với đề tài khác đỡ vất vả hơn Vì thế mà nông thôn và nông dân vắng bóng trên văn đàn…” [15]
Một số người còn dự báo đề tài nông thôn hiện tại và tương lai sẽ trở nên vắng
bóng, nhạt nhòa trong giới sáng tác trẻ Đỗ Hải Ninh gióng lên hồi chuông báo động
về mảng đề tài nông thôn ngày càng ít ỏi hơn, vắng bóng hơn đối với thế hệ viết văn trẻ Những cây bút trẻ chuyên sáng tác đề tài nông thôn “có thể đếm trên đầu ngón tay” [136] Hồ Huy Sơn cũng đã chỉ ra sự thật đau lòng là giới sáng tác trẻ hiện nay đang hào hứng, chạy đua với đề tài “hoót” (sex, les, gay, ma, kinh dị, trinh thám), còn đề tài
Trang 22nông thôn họ lại “xa lánh” Do đó, hiện nay nhà văn trẻ viết về mảng đề tài này rất “ít
ỏi” [156] Trong bài Những trang viết trẻ thiếu chất nông thôn, Hồ Quỳnh Yên có cái
nhìn đối sánh giữa hai thế hệ sáng tác, sau đó khẳng định: thế hệ trước 1986 (Lê Lựu, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Minh Châu, Đào Thắng, Nguyễn Huy
Thiệp) chuyên tâm hơn và có những tác phẩm xuất sắc (Thời xa vắng, Bến không
chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Khách ở quê ra, Dòng sông Mía) Ngược lại,
thật khó khăn khi kể tên các tác giả trẻ nổi lên trong những năm gần đây viết về đề tài
nông thôn Đây đó, bắt gặp Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy (miền Bắc), Ngô Phan Lưu (miền Trung), Nguyễn Ngọc Tư (miền Nam) Tác giả còn chỉ ra một thực tế đau lòng:
“Chúng ta thử đi vào một tiệm sách tìm sáng tác của những nhà văn trẻ, nhìn vào từ
truyện ngắn đến tiểu thuyết, thấy nổi lên: 48h yêu nhau, Lạc giới, Đường còn dài còn
dài, Dị bản, Khi nào anh thuộc về em, Giường…” Cuối cùng tác giả đi đến kết luận:
“Xã hội nông thôn đang dần bị thu hẹp trong những trang viết trẻ Đây là thực trạng có thật và đang trở thành mối quan tâm lớn trong thời gian vừa qua… Những tác giả trở
về sau càng thể hiện rõ điều đó” [226] Cùng quan điểm, trong cuộc phỏng vấn ngắn
với Báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp cũng đã khẳng định: trong lịch sử văn học dân tộc có rất nhiều tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn (Tắt đèn, Chí
Phèo, Vợ nhặt, Vỡ đê) Thời đổi mới cũng có một số tác phẩm gây được sự chú ý của
bạn đọc, nghiên cứu như:, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Mảnh đất lắm người
nhiều ma, Bài học nông thôn, nhưng lại thuộc về các nhà văn lớp trước Còn thực tế
hiện nay đang diễn ra là các nhà văn trẻ không mấy mặn mà với đề tài nông thôn:
“Nhìn vào văn học trẻ hiện nay, không chỉ tôi mà nhiều người điều thấy chuyện đó… Ngay cả những cuộc tọa đàm về văn học gần đây do Hội Nhà văn tổ chức cũng không
có tác phẩm nào thật sự chuyên chú về người nông dân” [53]
Truy tìm căn nguyên đó, Hồ Huy Sơn cho rằng: các nhà văn trẻ không “mặn mà” với đề tài nông thôn là vì “đa số các cây bút trẻ hiện nay đều tập trung ở thành thị Tuy rằng trước đó họ đã có một khoảng thời gian sống ở nông thôn nhưng “kho tàng kíý ức”
ấy theo thời gian không còn được sống động, vẹn nguyên như ngày xưa Khi đó, họ bắt buộc phải viết theo tâm thức và cảm thức đương đại Bên cạnh đó, sự khắt khe của thời kinh tế thị trường đã làm cho văn học, đặc biệt là văn học về nông thôn thêm phần chật vật Nhiều nhà xuất bản cũng như các tờ báo muốn sách, báo của mình “đắt hàng” thì bắt buộct phải chạy theo thị hiếu của độc giả” [157] Nguyễn Đăng Điệp cũng cho rằng: “Thế
hệ trẻ hiện nay lên phố lập nghiệp sớm, thời gian truy cập internet nhiều, sợi dây gắn bó với nông thôn và nông dân vì thế cũng không thật sâu Hơn thế nữa, lớp trẻ là những người nhạy cảm với những cái mới, cái lạ nên rất dễ hút vào những đề tài hoót như sex,
Trang 23đồng tính, tình tay ba tay tư” [53] Hồ Quỳnh Yên dẫn ra nguyên nhân nữa là “giới sáng tác trẻ hiện nay viết những gì mà Nhà xuất bản, tòa soạn cần để đáp ứng nhu cầu độc giả Chính vì vậy, nên vô hình trchung, đề tài về nông thôn càng trở nên nhạt nhòa” [226] Ngay một số nhà văn trẻ cũng thừa nhận sự yếu kém của mình khi sáng tác mảng về đề tài
nông thôn và nông dân Họ cho rằng: muốn có tác phẩm viết về nông thôn để đời, thì “cần
sự chín muồi” (Nguyễn Thị Thu Thủy), “phải am hiểu về nó” (Hà Thanh Phúc) “viết khó hay và sách khó bán”(Nguyễn Văn Học) [157]
Theo một số nhà nghiên cứu, văn xuôihọc và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn thực sự hồi sinh và đáp ứng được thực tiễn của đời sống xã hội nông thôn thời đổi mới, cũng như từ phía bạn đọc, thì cần phải có sự bứt phá từ hai phía: Nhà văn và Nhà quản lí Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: nhà văn “phải thực có tài, phải gắn bó, am hiểu
và tâm huyết với người nông dân Không hội đủ những phẩm chất ấy, muốn viết về nông thôn và nông dân… cũng chẳng có gì để người đọc phải nhớ” [53] Nguyễn Phúc Lai cho rằng: cần phải thay đổi từ chính nội tại của nhà văn: “hình như tài năng chúng
ta có, nhưng lại thiếu đi cái động lực để sáng tạo trong mỗi nhà văn” Nguyễn Hữu Nhàn nói lên tình trạng hiện nay của các nhà văn thiếu đi cái chiều sâu trải nghiệm hiện thực nông thôn nên khi “viết về nông thôn mà thoát li nông thôn, không hiểu người nông dân…, với cách nhìn ấy, văn học chỉ có thể gdiễu cợt châm biếm hài hước nông dân, không thấy được chiều sâu những biến đổi to lớn trong lòng nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” Cùng hướng đó, Hoàng Minh Tường và Bùi Ngọc Tuấn cho rằng: Muốn có những tác phẩm viết về đề tài nông thôn và nông dân hay, nhà văn phải
“tắm mình trong đời sống của chính họ, nhà văn phải đổi mới chính mình, đổi mới cách nghĩ cách viết”, và đó còn là nhu cầu “được nhìn khác đi, được viết khác đi; đó còn là sự thi đua, ganh đua làm việc giữa các nhà văn, trong một bầu không khí thân
ái, tự do, dân chủ của đời sống văn học” [22]
Hội thảo Nông nghiệp, nông dân và nông thôn, diễn ra trong hai ngày từ 18 -–
19, tháng 3, năm 2009, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Trần Sang đã tập hợp những ý kiến từ chính các nhà văn tham gia Ngô Khắc Tài cho rằng nhiệm vụ quan trọng trong thời buổi hội nhập đối với các nhà văn, là phải “tỉnh táo tìm đường đi cho đúng”, “nhà văn cần có một đôi mắt lạnh mà lạc quan như vậy, giấc mơ về một đồng quê và hiện thực xã hội mới gắn kết vào nhau” Như vậy, trong thời buổi hội nhập ngày nay, các nhà văn khi viết về đề tài nông thôn, cũng phải viết với góc nhìn mới, khai thác các khía cạnh mới trong đời sống của họ và hơn hết là tự nâng tầm tri thức mình lên để theo kịp tầm thời đại: “Sứ mạng của những người cầm bút thật nặng nề, đòi hỏi mỗi
Trang 24người phải tự nâng mình về nhiều mặt, điều chốt là ra sức tìm hiểu người nông dân cùng lịch sử mảnh đất sinh ra họ một cách thấu đáo” (Lê Chí) Hơn nữa, muốn bạn đọc chấp nhận tác phẩm của mình, thì nhà văn phải viết hay và viết đúng về nông thôn và nông dân: “Nông thôn đang chuyển hóa rất nhanh Nếu thời kỳ trước đổi mới suốt mấy chục năm không có mấy thay đổi về cơ bản thì bây giờ chỉ đầu năm, cuối năm đã khác Không chỉ khác về diện mạo bên ngoài, mà khác cả trong nếp sống, nếp nghĩ Nếu trước đây ta có một nông dân hoàn toàn thuần phác, thì hôm nay sự thuần phác dưới bóng tre làng đang bị cơ chế thị trường dùng đại bác tấn công san bằng mọi thứ lô cốt bảo thủ rồi dựng lên những pháo đài của thời kỳ đổi mới, một bức tranh hoành tráng trắng đen lổn
chổn…” [152] Ở góc nhìn khác, trong bài Suy nghĩ về đề tài nông thôn trong văn học
hiện nay, Trần Quốc Toàn cho rằng: viết về đề tài nông thôn cần mở rộng biên độ trong việc khắc họa hình ảnh người nông dân, đặc biệt là nhân vật thiếu nhi: “Bàn về nNông nghiệp, nông thôn, nông dân không thể quên thiếu nhi, vì không ít, hay rất nhiều các em
sẽ lớn thành nông dân để làm nông nghiệp hiện đại trong một nông thôn mới” Thực tế,
“phần lớn những tác phẩm văn học thiếu nhi của văn học Việt Nam hiện đại, sống được
với thời gian vẫn là những tác phẩm có đề tài nông thôn như Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang
Sáng đều là như thế” Theo tác giả bài viết, ngoài ra nhân vật nông thôn có học vấn, học
vị cũng không thể bỏ qua Những nhân vật -– con người này có đóng góp không nhỏ trong bước chuyển mình của nông thôn hiện đại Vì thế, “cứ viết cho kĩ về nhân vật này,
có thể nắm bắt được diện mạo đồng đất Việt Nam hôm nay” [173] Về phía nhà quản lí, phải “khuyến khích những cây viết trẻ”, “có những chính sách”, “cần sự quan tâm của người viết” (Trần Thị Hồng Hạnh), “phải tổ chức cho nhà văn đi và vận động cả những cây bút ở nông thôn nữa” (Hà Thanh Phúc), “mỗi năm tổ chức cuộc thi truyện ngắn và tiểu thuyết về đề tài nông nghiệp nông thôn dành cho tuổi trẻ, trao giải cao… Cứ mang kinh tế ra khuyến khích, động viên, người viết trẻ cảm thấy mình đầu tư viết về đề tài nông thôn rất đáng đồng tiền bát gạo, họ sẽ dấn thân viết” (Nguyễn Văn Học) [156]
Ngay lĩnh vực nghệ thuật khác như truyền hình, sâu khấu cũng cùng chung số phận Hồ Ngọc Xung trăn trở, băn khoăn trước thực trạng đề tài nông thôn và nông dân ngày càng ít đi, lép vế so với các đề tài khác: “Trong mấy năm gần đây, số đầu phim Việt Nam được phát sóng lên tới hàng trăm… Nhưng trong số đó, phim có đề tài nông thôn, nông dân thực sự không nhiều Gây tiếng vang nhất của đề tài này trong thời gian qua là
hai bộ phim Ma làng và Gió làng Kình.… Lĩnh vực sân khấu (tuồng, chèo, cải lương), hiện tượng hiếm vở diễn về người nông dân và nông thôn cũng đang diễn ra…… hình ảnh
Trang 25người nông dân cũng mờ nhạt dần và đến gần đây thì vắng bóng hoàn toàn trên sân khấu dân tộc” [67]
Như vậy, sự băn khoăn, lo lắng của bạn đọc, của các nhàgiới nghiên cứu, phê bình văn học cũng như từ chính giới sáng tác về sự giảm sút chất lượng và số lượng các tác
phẩm viết về đề tài nông thôn là có cơ sở, đúng với tình hình hiện nay Thực tế đó đã gióng
lên hồi chuông cảnh báo cho văn giới và đặt ra cho họ trách nhiệm khi viết về nông thôn và
nông dân
1.2 LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI TRỘI
Từ 1986 đến nay, tiểu thuyết viết về nông thôn luôn dành được sự quan tâm của người đọc, đặc biệt các nhà phê bình Hàng loạt bài viết đã được in trên tạp chí, báo; nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm diễn ra Những nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng như Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Giá, Bùi Việt Thắng, Lý Hoài Thu tham gia viết bài Những ý kiến, nhận định dẫu có trái chiều, nhưng nhìn trên phạm vi bao quát, chúng tôi nhận thấy đa số đều khẳng định: tiểu thuyết viết về đề tài
nông thôn sautừ 1986 đến nay có bước tiến mới về nội dung và nghệ thuật so với trước
Do khung giới hạn của luận án, nên chúng tôi chỉ chọn những bài viết tập trung
nghiên cứu một số tác phẩm tiêu biểu, được dư luận quan tâm như Thời xa vắng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Dòng sông Mía, Lão Khổ, Ba người khác
Để tiện theo dõi, chúng tôi tạm sắp xếp nguồn tư liệu thành hai vấn đề sau:
1.2.1 Nhận định, đánh giá về những thành công
1.23.1.1 Năm 1986, Thời xa vắng ra đời, được bạn đọc đón nhận, báo hiệu sự
đổi thay lớn trong dòng chảy của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới Trên tạp chí, báo, sách xuất hiện rất nhiều bài viết đánh giá sự đóng góp nhất định về mặt nội dung và nghệ thuật Hoàng Ngọc Hiến đề cập đến số phận của người nhà quê trước những biến động của xã hội nông thôn, trong đó nhân vật Giang Minh Sài là một ví dụ điển hình Theo tác giả, anh nông dân này chính là “người nhà quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phận phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái” [64;tr.119], cuộc sống của anh cứ bùng nhùng, bế tắc, vướng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác Từ nhân vật Giang Minh Sài, tác giả luận suy đến những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội nông thôn Việt Nam sau giải phóng: “Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp quản nào cũng trở thành người chủ quản của thành phố, không ít “người nhà quê” tiếp
Trang 26xúc với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại của
họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc” [64;tr.119] Thiếu Mai có cái nhìn thấu đáo khi phân tích sự tác động của hoàn cảnh đến quá trình hình thành tính cách Giang Minh Sài Đó
là anh nông dân cả cuộc đời đã phải gánh trên vai hệ tư tưởng gia trưởng, những quan niệm, định kiến khiến “anh nhà quê” không lúc nào được sống bằng chính cuộc đời mình, chỉ biết nghe và chiều ý mọi người: “Trong con người anh, luôn luôn tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục Hai thế lực ấy ngày càng phát triển, càng mâu thuẫn,
và đẩy bi kịch trong con người Sài lên một mức độ ngày càng cao hơn” [118;tr.121] Không những Sài, rất nhiều nông dân làng quê Hạ Vị cũng sống và làm những điều mình không muốn chỉ vì không dám làm phật ý hay làm khác mọi người như cụ đồ Khang, chú Hà, anh Tính, chính ủy Đỗ Mạnh, anh Hiển Nói cách khác, những con người này vừa đại diện cá nhân riêng lẻ, đồng thời là sản phẩm chung của “một thời -–
thời xa vắng, nhưng chưa xa là bao” Cái thời - do hoàn cảnh của nó mà ý thức cá nhân tạm lu mờ, nhường chỗ cho những vấn đề lớn lao mang ý nghĩa dân tộc Theo Thiếu Mai, để hiểu được căn cốt tính cách về anh nông dân Giang Minh Sài, thì “Lê Lựu đã
tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến tận chân tơ kẽ tóc, đến tận những ngọn ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ Xót xa cho cuộc đời Sài bao nhiêu, tác giả lại giận
dữ lên án cách sống, cách ứng xử thiếu bản lĩnh của anh ta bấy nhiêu” [118;tr.122] Về mặt nghệ thuật, tác giả cho rằng: mặc dù nhiều người đánh giá “văn Lê Lựu không chuốt, mộc quá, và không phải không có những câu què, hoặc trúc trắc, thậm chí có
câu ngữ pháp chưa chỉnh”, thế nhưng, tiểu thuyết Thời xa vắng được chưng cất bằng
“một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng
kể vào sức thuyết phục, hấp dẫn của tác phẩm” [118;tr.123] Đinh Quang Tốn cho
rằng: tiểu thuyết Thời xa vắng “viết về hậu phương miền Bắc trong công cuộc chống
Mĩ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt, những quầng
sáng và những bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt…” [174;tr.18] Tác giả cũng khẳng định đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có nhiều người viết, nhưng “Lê Lựu là người viết thành công nhất”, và “nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong tổng số 60 nhà văn ấy Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại,
chọn lấy 30 tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng Nói thế để thấy, trong văn học Việt
Nam hiện đại, Lê Lựu đã có một vị trí đáng kể” [174;tr.22]
1.23.1.2 Năm 1990, Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma vừa
mới ra đời, ngay lập tức gây tiếng vang trên văn đàn và được dư luận quan tâm Đáng
Trang 27chú ý, rất nhiều bài viết bàn luận sôi nổi trên báo Văn nghệ (tháng 1/1991) sau khi tác phẩm được giải thưởng của Hội nhà văn năm 1991 Có những ý kiến đánh giá khác nhaukhác nhau (khen có và chê có), nhưng hầu như đều thừa nhận hai tiểu thuyết này khá thành công trên phương diện đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu, hình tượng
nhân vật, điểm nhìn trần thuật, không và thời gian… Về phương diện đề tài, Thiếu
Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Trung Trung Đỉnh cùng nhận định: “Năm 1990, sách viết
về nông thôn không ít trong đó có hai cuốn được dư luận chú ý và đánh giá cao nhất là
Bến không chồng của Dương Hướng và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn
Khắc Trường … Ý kiến khá thống nhấtthành công chứ không mâu thuẫn, trái chiều như với một số tác phẩm khác… Vấn đề dòng họ ở nông thôn đã được hai tác giả quan
tâm, khai thác và khai thác khá thành công Mảnh đất lắm người nhiều ma tạm coi là
một cái cột mốc trong đề tài nông thôn”, “đã lâu lắm rồi mới xuất hiện một tác phẩm
viết về nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch của Tắt đèn, Chí Phèo Có thể nói cái làng Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma là sự cộng lại của hai cái làng
Đông Xá của Ngô Tất Tố và Vũ Đại của Nam Cao” [138], “Có người nói, tiểu thuyết
Bến không chồng viết về đề tài nông thôn Lại có người nói, tiểu thuyết này viết về đề
tài chiến tranh Có người lại cho rằng đây là cuốn sách viết về đề tài xã hội Tất cả đều
có đấy, nhưng theo tôi Dương Hướng không nhằm vào đề tài Anh khai thác đến tận cùng thân phận những nhân vật chính” [48;tr.99] Trần Cương, Bùi Việt Thắng, Nguyên Ngọc đều khẳng định sự thành công nhiều mặt của tác phẩm, đặc biệt là phạm
vi phản ánh… đi vào hiện thực nông thôn và số phận của người nông dân Nguyên
Ngọc cho rằng: khi viết Bến không chồng, Dương Hướng luôn cố đặt vấn đề một cách
thẳng thắn trực diện, chứ không né tránh hiện thực, cho dù là một hiện thực nghiệt ngã nhất Chiến tranh, hòa bình, thời mở cửa…, những bước ngoặt đó tác động rất mạnh đến từng làng quê, từng vùng miền, từng gia đình, từng số phận trong tác phẩm Thông qua họ ta nhận ra vóc dáng làng quê mình [126] Nguyễn Văn Long có cái nhìn sắc sảo vềĐề cập đến số phận bi kịch của người nông dân, Nguyễn Văn Long khẳng định:
“Trong nhiều trường hợp, con người vừa là nạn nhân mà cũng là thủ phạm của tấn bi kịch đời mình, họ phải chịu trách nhiệm một phần về số phận của mình” [220] Cùng mạch suy nghĩ đó, nhưng Trung Trung Đỉnh đi vào thân phận của nhữngđã lý giả thấu đáo nguồn cơn bi kịch của những nhân vật nữ như bà Nhân, bà Khiêm, mụ Hơn, cô Hạnh, cô Thủy… ĐDặc biệt, là Nguyễn Vạn -– một người nhà quê suốt đời gìn giữ cái bóng của vinh quang nên đã đánh mất đi bản thân mình, cá nhân mình [48] Trần Cương đào sâu vàotập trung khai thác số phận nhân vật Vạn: “Vạn trong Bến không
chồng là cả một đời không vượt nổi những định kiến và nhận thức ấu trĩ, cực đoan để
Trang 28rồi sau phút “lầm lỡ” phải quyên sinh” [24;tr.35] Nguyễn Hà lí giải nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vạn: “Nguyễn Vạn là một dạng khác của bi kịch con người hai mặt”
[57;tr.56] Phong Lê cho rằng: “Mảnh đất lắm người nhiều ma đặt ra những vấn đề
chìm nổi, bề mặt và chiều sâu trong sự đan xen giữa “nề nếp ý thức và sinh hoạt tinh thần của con người, là các vấn đề về gia tộc và dòng họ, hôn nhân và gia đình, là các quan hệ làng xã và nề nếp công xã” [138] Hoàng Ngọc Hiến, Lê Nguyên Cẩn xếp tác phẩmnó vào loại “tiểu thuyết phong tục” Bởi, tác phẩm đã lấy việc miêu tả phong tục, tập quán và lề thói của một vùng cư dân làm cảm hứng Chính những lề thói và thành kiến hủ lậu của xóm Giếng Chùa đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, chi phối mạnh
mẽ đến nếp nghĩ, nếp sống của người nông dân [138] Thế giới kỳ ảo in đậm trong tác phẩm, nó được đan kết bằng các mối quan hệ tình yêu không bình thường, đặt trong những cái chết không bình thường Và qua thế giới kỳ ảo đó, “những nét riêng của bản sắc văn hóa dân tộc hiện ra, giúp chúng ta nhìn nhận thấu đáo hơn về chính mình Đồng thời cũng khẳng định tính chất tiểu thuyết phong tục thể hiện qua việc miêu tả các sự kiện liên quan đến điều kiện sống, điều kiện tồn tại của con người” [16;tr.276]
Về không gian và thời gian, hai tác phẩm đã tạo dựng được không gian đặc biệt Ở Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: nổi lên
không gian “làng xóm”, là sự “oi nồng vô cùng xưa cũ mà hết sức hôm nay ở những làng quê bao lần ta thờ ơ đi qua chẳng biết và bổng hiểu ra rằng, trong cái “không khí”
ấy thì ắt mọi chuyện nhất thiết phải diễn ra như vậy”, là “không khí âm dương lẫn lộn, quỷ ở với người”, là “âm khí còn nặng nề nhưng dương khí đã bắt đầu phát triển” [138] Nguyễn Hữu Sơn phát hiện ra thời gian bóng đêm chính là đặc trưng của tác phẩm Thời gian này gắn liền với cảnh chiều tà, bóng tối, bởi “chúng lại thuộc về đêm cuối tháng không trăng sao, hoặc có trăng cũng chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờ được miêu tả như cái đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên” [153;tr.133] Và đêm cũng chính
là thời gian của ma quỷquỉ, hắcm ám; là sự đồng lõa của những tâm địa đen tối cũng như bộc lộ tínch cách, thân phận của từng nhân vật Nói cách khác, thời gian bóng đêm
là đòn bẩy để phần “ma” trong con người được hiện hữu Từ đó, tác giả bài viết đi đến kết luận: “Thời gian đêm tối có “ý nghĩa thanh lọc, khát khao hoàn thiện tính người”, bởi nếu “dứt bỏ bóng đêm ma quỉ mới chính là thông điệp tác giả muốn gửi tới bạn
đọc” [153;tr.135] Còn Bến không chồng, Phan Cự Đệ có nhận xét rất chính xác:
“Không gian huyền thoại… là thước đo hiệu nghiệm để thâm nhập vào thế giới giữa ý thức và tiềm thức, ở thời điểm bước ngoặt của tính cách nhân vật”, “có sự phát triển cốt truyện trên nền không gian huyền thoại, dụng ý sử dụng không gian huyền thoại để
lý giải hiện thực” [40;tr.101] Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Phan Hách, Từ Quốc Hoài,
Trang 29Nguyễn Văn Long đi sâu vàotập trung khảo sát phương diện bố cục, kết cấu, cốt
truyện Trung Trung Đỉnh đánh giá rất khách quan khi cho rằng: Bến không chồng có
kết cấu “hồn nhiên, thuận theo chiều thời gian, theo sự kiện chung của đất nước trong khoảng thời gian đó, và theo sự đến với thân phận từng nhân vật Chính vì thế anh không mất nhiều thời gian trong việc tính toán chương hồi, mặc dù vẫn có chương hồi” [48;tr.99] Nguyễn Văn Long cũng có nhận xét: “Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết là ở bố cục chặt chẽ và cách viết chân thực, vốn hiểu biết đời sống nông thôn và cách nhìn nhân đạo với số phận con người” [220] Từ Quốc Hoài nhận xét về kết cấu
Mảnh đất lắm người nhiều ma: “Có hơi “phình” ra ở phần sau, song do có được vốn
sống sâu sắc, cộng với thứ ngôn ngữ tươi rói chất dân gian, tác giả đã cột chặt người đọc từ trang đầu đến trang cuối” [138]
1.23.1.3 Mặc dù Lão Khổ không có tên ở bất cứ giải thưởng nào, nhưng vẫn trở
thành “cuốn tiểu thuyết quan trọng”, đánh dấu bước tiến vượt bậc ở mảng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn, trở thành điểm nóng thu hút của các nhà nghiên cứu, phê bình
và bạn đọc tham gia tranh luận, viết bài Việt Hoài, Vương Quốc Hùng cho rằng: Lão
Khổ tiếp nối nguồn mạch truyện ngắn Bước qua lời nguyền Tác phẩm tái hiện được
bức tranh toàn cảnh nông thôn Việt Nam đầy máu và nước mắt, nhưng “thời gian rộng hơn, từ những năm trước cách mạng tháng Tám tới những năm cải cách ruộng đất và
cả về sau đó; và dung lượng tiểu thuyết lớn hơn truyện ngắn, cộng với sự trưởng thành của nhà văn với sự già dặn từng trải về kĩỹ thuật viết (nỗ lực tạo ra hình thức và hiệu quả cao nhất cho tác phẩm) điêu luyện hơn”, vì thế tác phẩm xem “như một bước tiến dài của Tạ Duy Anh” [75], [84] Hoàng Ngọc Hiến đánh giá: “Đây là một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng… thêm một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam” Nhận xét về nghệ thuật, Nguyễn Thị Hồng Giang cho rằng:
“Thời gian luân chuyển và thời gian đan xen trước –/ sau, quá khứ/ - hiện tại (tuy không có con số cụ thể) vẫn là thời gian bên ngoài lịch sử, thời gian nguyên cấp”
[141;tr.65] Đoàn Ánh Dương khẳng định: tiểu thuyết Lão Khổ đã phá vỡ kết cấu cổ
điển với một cảm hứng lãng mạn bao trùm, thể hiện kiểu tư duy khác, lối viết tiểu thuyết khác, không còn nhất phiến, liền mạch của câu chuyện, tiểu thuyết hiện lên bởi một “chuyện chính yếu” và rất nhiều “chuyện ngoài rìa” [30]
1.23.1.4 Dòng sông Mía đạt giải thưởng Hội nhà văn (2002 - 2004) và giải thưởng văn học viết về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn lần nhất (3/6/2011) Trong Báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002 - – 2004, Hữu Thỉnh đánh giá cao
mảng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn, đặc biệt tác phẩm Dòng sông Mía: “Nông thôn trong Dòng Sông Mía của Đào Thắng vừa vạm vỡ, đằm thắm vừa đầy ắp thế sự
Trang 30với biết bao xung đột xoay quanh một gia đình, một dòng tộc Chỗ chênh vênh mà lại chính là chỗ thành công của tác giả này là họ đã không bị rơi vào chủ nghĩa khách quan lạnh lùng ngay cả khi miêu tả những tình huống tồi tệ, bi đát nhất của cuộc sống”
[195;tr.241] Nhìn Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002 -– 2004, Phong Lê khai thác sâu vấn đề
hiện thực nông thôn trong chiều dài lịch sử, đặc biệt nhấn mạnh đến thân phận người
nông dân: “Đọc Dòng sông Mía để hiểu thêm và hiểu mới về nông thôn Việt Nam
trong chiều dài và chiều sâu lịch sử Một nông thôn xuyên suốt thế kỷ XX, dẫu có một cái đập lớn là cách mạng tháng Tám ngăn đôi nhưng dòng chảy thì vẫn thế Vẫn cuồn cuộn cả hai phần đục trong Vẫn dữ dội và bi thống trong biết bao thân phận con người, không kém bất cứ một xứ sở nào khác trên thế giới này” Và như thế, “sau
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía là cuốn sách hiếm hoi tiếp tục được
mạch sâu những vấn đề căn cốt của nông thôn Việt Nam trên các phương diện của dân tộc và giai cấp, gia đình và dòng họ, đạo lý và phong tục, nếp nghĩ và lối sống” [104;tr.249] Trần Mạnh Hảo đi sâu tìm hiểu các kiểu bi kịch của người nông dân, đồng thời khẳng định: “Thông điệp của Dòng sông Mía của Đào Thắng vừa là câu hỏi
hàm sự trả lời ngay trong đó: hãy cho người tốt cơ hội tồn tại!” [61;tr.154] Đáng chú
ý, Lý Hoài Thu đã có những ý kiến giải xác đáng về Dòng sông Mía Tác giả bài viết cho rằng: “Cùng viết về nông thôn nhưng hiện thực đời sống trong Dòng sông Mía là
bức tranh thu nhỏ của một vùng dân cư có nghề chính là trồng mía, làm đường”, ở đó
có “những kiếp người trôi nổi Họ vừa là những con người có chút may mắn được hưởng những ân huệ đặc biệt của một vùng thiên nhiên sông nước đặc sản cá tôm, vừa luôn phải chịu sự trừng phạt, phải trả giá cho những lầm lỗi của chính mình và có nguy
cơ bị nhấm chìm, bị cuốn trôi khi dòng sông nổi giận” [201;tr.226] Ngoài ra, sức hấp dẫn của tác phẩm còn thể hiện trong việc tạo ra vùng hiện thực tâm linh huyền diệu:
“Không khí fFolklore bao bọc chung quanh đời sống con người ở một vùng đất tuy không rộng nhưng khá đa dạng về môi trường, sinh thái, văn hóa và tôn giáo” [201;tr228] gắn với cuộc đời của các nhân vật “già và trẻ, chủ và tớ, dị dạng quái thai
và đẹp đẽ tươi tốt, hiền lành tử tế và ngoa ngoắt điêu ngoa” [314;tr.230] Có thể nói Đào Thắng đã dành cho nhân vật phụ nữ và người lính nhiều tình cảm nhất Ông “chú
ý khai thác nhiều hơn ở khía cạnh hoang dã, ở phần đời sống bản năng tự nhiên của con người”, với “ước muốn vươn tới một cuộc sống lành mạnh khỏe khoắn và lương
thiện cho con người” [201;tr.231] Về hình thức nghệ thuật, tác phẩm “có được nhiều
dấu hiệu thành công, mở ra được những hướng tiếp cận mang ý nghĩa cách tân về mặt thể loại” [201;tr.32294] như không gian và thời gian, điểm nhìn trần thuật, kết cấu,
ngôn ngữ… Dòng sông Mía “tạo được một không gian đậm đặc chất tiểu thuyết, vừa
Trang 31quen thuộc vừa mới mẻ” [201;tr.226], “mở ra nhiều khoảng không gian, trong đó cũng
có những khoảng không gian rộng nhưng rõ nét hơn cả trong tâm trí độc giả là những mảng không gian có kích thước vừa và nhỏ”, đặc biệt là sự hiện diện trở đi trở lại của
“dòng sông Châu Giang” -– không gian trung tâm của tác phẩm “càng tô đậm thêm tính luận đề và tư tưởng triết lý về sự chìm nổi của kiếp người mà nhà văn đã gửi gắm vào tác phẩm”[201;tr.233] Thời gian nghệ thuật xử lý khá linh hoạt, vận dụng một cách hiệu quả: “Tác giả đã biết ngắt quãng, đa dạng hóa hình tượng thời gian bằng thủ pháp đồng hiện, bằng cách đảo ngược trật tự thời gian qua kí ức, hoài niệm, những giấc mơ, bằng sự điều chỉnh nhịp độ nhanh chậm của thời gian ứng với những mô hình không gian” [201;tr.233] Nghệ thuật tự sự, điểm nhìn trần thuật chủ yếu tuân thủ những nguyên tắc của tiểu thuyết truyền thống, nhưng bù lại tác giả biết cách dẫn dắt câu chuyện, độc đáo ở chi tiết, biết hé mở dần dần những bức màn bí mật, biết “dựng người, dựng cảnh”, “ngôn ngữ phong phú, nhiều màu sắc, âm điệu Đáng chú ý là những lời ăn tiếng nói vận nhiều tục ngữ, ca dao, đối đáp, ví von rất quen thuộc trong dân gian và cách nói năng mang “dáng dấp Tây Phương” cùng ngữ điệu âm ái, du dương của Kinh Thánh làm cho lời văn trở nên mượt mà, trong sáng và nhiều đoạn lôi cuốn” Kết thúc tác phẩm đã tạo được điểm nhấn: “Ngoài lối kết thúc mở nhằm trao
một phần quyền phán xét cho độc giả, đoạn kết của Dòng sông Mía có vẻ rất “xinê”,
“ngôn ngữ điện ảnh” quả thật là tỏ rõ được ưu thế của mình” [201;tr.234] Kết thúc bài
viết, tác giả kết luận: “Dòng sông Mía là một cuốn tiểu thuyết thành công trên nhiều
phương diện, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn Đào Thắng” [201;tr.235]
1.23.1.5 Dưới chín tầng trời cũng được một số nhà nghiên cứu như Hoàng Ngọc
Hiến, Bùi Việt Thắng, Hữu Tuân… đánh giá cao Hữu Tuân đi sâu nghiên cứu hiện thực
đời sống nông thôn được tái hiện trong tác phẩm Người viết khẳng định: Dưới chín tầng
trời là bức tranh hiện thực hoành tráng nhưng sự hoành tráng đó không chỉ thể hiện ở độ
dày tác phẩm, không chỉ ôm trọn một thời kỳ lịch sử nửa thế kỷ đất nước trải qua nhiều biến động dữ dội, không chỉ ở hàng chục nhân vật, đủ các thành phần xã hội, mang đầy cá tính sắc sảo -– đó chỉ là phần nổi Còn “chiều sâu tác phẩm khiến Dưới chín tầng trời
mang dáng dấp sử thi chính ở tư tưởng nghệ thuật có tính khái quát cao, ở ý nghĩa nhân
sinh sắc nét, ở lĩnh vực tâm linh bí ẩn” [176;tr.20-23] Bùi Việt Thắng tinh tế nhận ra Bến
không chồng, Bóng đêm và mặt trời chính là cột “xương sống”, “cốt tủy” để nhà văn tiếp
tục mở rộng, đào sâu vào hiện thực nông thôn và số phận bi kịch của người nông dân Vì
thế, Dưới chín tầng trời “ròng ròng sự sống”, thể hiện sinh động qua những số phận bi
kịch - nhưng đó là bi kịch lạc quan Bởi qua những số phận biị kịch của mỗi nhân vật,
Trang 32người đọc không thấy yếu hèn đi, mà có niềm tin vào ngày mai sẽ là “một con đường mới” Vì vậy, bi kịch chính là hình thức để “tẩy rửa tâm hồn” con người nên đó là “bi kịch
lạc quan” Hai là, cách tiếp cận lịch sử của nhà văn, tác giả bài viết khẳng định: Dưới chín
tầng trời là “một cuốn tiểu thuyết toàn bích về những góc khuất của lịch sử”, vì thế tác
phẩm “mang đậm chất sử thi tâm lí”, “mở ra với một thời gian dài và một không gian rộng và tầng tầng lớp lớp nhân vật Một hình ảnh đời sống trọn vẹn, đa chiều và phứúc tạp
từ thượng đỉnh tới “hạ giới” [185] Hoàng Ngọc Hiến nêu bật được “linh hồn” của tác phẩm Qua phân tích một số nhân vật như Yến Quyên, Hoàng Kỳ Trung, Trần Tăng, Hoàng Kỳ Nam, Đào Thanh Măng…, người viết đã làm nổi bật nghệ thuật xây dựng nhân vật của Dương HDướng, toát lên tư tưởng chủ đề tư tưởng của tác phẩm Tác giả còn khẳng định: “Nếu như tiểu thuyết trước hết là cốt truyện thì tác phẩm này thừa sức hấp dẫn Vì cốt truyện rất liy kỳ, nhiều tuyến nhân vật quan hệ éo le, số phận ba chìm bảy nổi…, nhiều tuyến hành động diễn ra các miền Trung, Nam, Bắc, có xóm làng và thành phố, có chiến trường ác liệt của miền Nam và sinh hoạt nhộn nhạo, rối ren vùng biên giới
phía Bắc” [65;tr.503] Cùng nhận định, Phong Lê cho rằng: cốt truyện Dưới chín tầng trời
vẫn là một cuốn tiểu thuyết viết theo lối truyền thống nhưng có sự tìm tòi trong cách viết như lắp ghép các sự kiện không tuân theo tuyến tính thời gian, lắp ghép cấu trúc các khối đời, vừa độc lập với nhau, vừa đan cài vào nhau, nhiều chi tiết mang tính biểu tượng [106]
1.23.1.6 Ba người khác vừa mới ra mắt đã gây được tiếng vang lớn trên diễn đàn
văn học trong nước và hải ngoại, được Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức hội thảo (22/12/2006) Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu như Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Bằng Việt, Châu Diên, Lại Nguyên Ân, Lê Sơn, Văn Chinh, Hoàng Minh Tường, Phan Thị Thanh Nhàn, Thu Huệ, Nguyễn Trọng Tân, Nguyên An, Văn Giá …, viết bài tham luận, đăng các tạp chí, báo, nguồn internet Qua đó, chứng tỏ được sức sống mãnh liệt về nội lực bên trong của một cây bút hơn tám mươi tuổi Các bài viết tập trung đi sâu nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bằng Việt khẳng định tác phẩm “có ý nghĩa rất lớn”, khiến người đọc “rút ra được bài học cho hiện tại và tương lai” [142] Lê Sơn:
“Đây là một trong những đỉnh cao của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tái hiện tâm lý của những người trong cuộc Đây là lời sám hối và tiếng kêu” [142] Văn Giá cho rằng: “Mô
tả tính dục ở đây có ý nghĩa lớn hơn là sự phê phán cái vô luân: đó là sức sống của con người, lòng ham sống, quyết liệt sống, khẳng định sự sống, khẳng định sức sống của người Việt, của văn hóa làng Việt” Qua đó, cho thấy “tầm vóc tác phẩm càng lớn và càng đáng nể”, là một tác phẩm “thiết yếu để con người phấn đấu làm người lương thiện, nâng cao chất lượng sống và nhân văn cho con người chúng ta” [142] Lại Nguyên Ân kiến giải
Trang 33sâu sắc và thấu đáo về quá khứ nông thôn: “Viết về một nhân vật, một xã nhưng Ba người
khác khái quát về cải cách ruộng đất đó, cả khoảng thời gian đó Quả thật là một tiểu
thuyết cho đến giờ phút này là ấn tượng nhất về cải cách ruộng đất… Tôi nghĩ đối với xã hội ta, sự xuất hiện những cuốn sách như cuốn này là một cách giải tỏa cho một trong những chấn thương của xã hội” [7] Đề cập đến sự tha hóa của người nông dân, Trúc Anh nhận định: trong cơn giông bão cải cách đã đẩy “một vùng quê đang yên lành, bỗng chốc chìm ngập trong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khuất, đem tối và đẫm máu”, người nông dân vốn chất phác, hiền lành như Bối, Đình, Cự thành những kẻ độc ác Cuối cùng những kẻ gieo rắc tội ác đối với nhân dân phải nhận kết cục bi thảm: “Đội Cự vào Nam, chiêu hồi, bị đặc công ta giết; Đội Đình và vợ con đi ăn mày rồi tha hương vào vùng kinh
tế mới Lâm Đồng, tiếp tục đeo đuổi giấc mơ trại Đại Đồng hão huyền; Đội Bối bị vợ con
bỏ, bật ra lề hè bơm xe Bi kịch cải cách ruộng đất ở xã nọ kết thúc có hậu, kèm theo lời giải đáp “đúng hướng” về nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng: Đội Cự có
vẻ như do địch cài vào, Đội Bối là đảng viên giả mạo, còn Đội Đình, đảng viên thật sự, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng” [1] Tác giả truy tìm “nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng…, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng” Nguyên Ngọc nhấn mạnh: “Không chỉ là sự tha hóa của nông thôn, mà là sự tha hóa của xã hội, tầm khái quát lớn” [1421] Về phương thức biểu hiện, Văn Chinh cho rằng tác phẩm viết có “kĩỹ thuật”,
“hiện đại” [1421] Nguyên Ngọc: “Cách viết hay, độc đáo về cải cách ruộng đất Đó là bút pháp mỉa mai, dửng dưng, cười cợt” [1421] Hà Minh Đức “nhiều đoạn tả hay” “tư duy hiện đại”, “ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc” [1421] Văn Giá: “giọng điệu bao trùm là cười cợt, như không, vui với nó, đùa với nó, cái nhìn humour hài hước: tức là ông cởi bỏ được mọi thứ ràng buộc, mọi thứ đe nẹt, cởi bỏ luôn trong định kiến của mình và của xã hội, đạt tới cảnh giới hoàn toàn tự tại, không vướng bận một chút gì Ngòi bút và sức viết hết sức phóng túng, thoải mái, nói ra được hết những gì ông chiêm nghiệm về cuộc đời này Điều
đó rất quan trọng Các nhà văn của ta viết vẫn rón rén, tính toán ghê lắm, riêng Tô Hoài không còn hãi gì cả, nên ông viết rất vui và rất tưng tửng” [1421] Nguyên Ngọc: sử dụng bút pháp “hư cấu Đó là bút pháp hiện đại, mỉa mai, dửng dưng, cười cợt, tạo nên sức mạnh của văn học” [1421]
1.2.2 Nhận định, đánh giá về những hạn chế
Nêu bật hạn chế, các nhà phê bình, lý luận văn học không có ý hạ thấp tác phẩm, tên tuổi nhà văn, mà nhằm mục đích đóng góp ý kiến chân thành để hầu mong
Trang 34gương mặt tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn ngày càng hoàn thiện, đa diện và phong
phú hơn Trong bài Nghĩ về một “Thời xa vắng” chưa xa, Thiếu Mai không đồng ý với
cách kết thúc truyện của tác giả, “vì tính chất bất hợp lí của nó, và vì nó thể hiện một
sự áp đặt do ý muốn chủ quan của tác giả”: “Cuối cùng là phần kết Đọc đến đây tôi cảm thấy tác giả mệt rồi, hụt hơi rồi Thế nhưng dường như anh quá thương cảm cho
số phận nhân vật của mình nên không nỡ để cho nó lơ lửng, mà phải tìm cho nó một hướng đi ổn định Nhưng chính cái hướng đi này, theo sự suy nghĩ của đa số người đọc thì lại không ổn, không phù hợp với nhân vật Sài của anh” Thế nhưng, “tuy vẫn
có những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần thiết, nhưng với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, một đóng góp vào nền văn học đang có đà
phát triển khởi sắc cùng chúng ta mấy năm vừa qua” [118;tr.125] Trong bài viết Lê
Lựu -– chân dung văn học, Trần Đăng Khoa vừa nêu những nét nổi bật về mặt nội dung cũng nhưvà phương thức nghệ thuật ;, đồng thời cũng tác giả bài viết đã chỉ ra những hạn chế nhất định: “Xét về mặt nghệ thuật, cuốn sách không có gì cách tân, tìm tòi, lối viết rất cũ, tốc độ truyện chậm, hơi văn ở phần một và phần hai hình như lạc nhau, không liền mạch Có cảm giác như đấy là hai cuốn tiểu thuyết cùng một nội
dung gộp lại” [109;tr.678] Như trình bày ở trên, Bến không chồng và Mảnh đất lắm
người nhiều ma hầu như ý kiến đánh giá về sự thành công chiếm đa số, nhưng dù
thành công đến đâu cũng phải có một vài hạn chế nhất định Trung Trung Đỉnh trong
bài Dương Hướng và Bến không chồng đã chỉ ra mặt hạn chế của tác phẩm: là trong quá trình dẫn dắt “có những chỗ sắp xếp vụng và đôi khi lại thiếu sự tế nhị của nghề nghiệp”, “phần đầu quá dài Câu chữ có chỗ hơi luộm thuộm quá” [48;tr.100] Nhưng
“đây là nhược điểm của người say” - – là cái say của người nghệ sĩ Dương Hướng giữa làng Đông Tác giả đi đến kết luận, ưu điểm vẫn là chủ yếu, bởi nó đã “chiếm lĩnh được tâm hồn người đọc bằng sức hút của tấm lòng yêu thương nhân hậu, tự nhiên, không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy trách nhiệm Dương Hướng là người
có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước những số phận bi ai, không né tránh nửa vời khiến cho thiên truyện càng tới những trang cuối cùng càng dồn nén, dồn nén đến ngạt
thở” [48;tr.98] Đánh giá mặt hạn chế về Mảnh đất lắm người nhiều ma, Trần Đình Sử
cho rằng: người đọc vẫn trăn trở điều gì đó khi gấp trang sách vì “cảm thấy dư ba chưa nhiều, những xung đột tầy đình như vậy đang xảy ra ở nông thôn, vậy mà tác giả vẫn chưa làm cho người đọc thấy day dứt, đau đớn” [38;tr.12] Hồng Diệu cũng chỉ ra nhược điểm về kết cấu: “Đọc tới chỗ bà Son chết, giá mà tác giả chỉ làm thêm chút vĩ thanh giống như cái điếu văn cho lũ ma sống thì vừa Diễn giải thêm bao nhiêu, nhạt
bấy nhiêu” [138;tr.15] Cùng quan điểm, Thanh Phước cho rằng: cấu trúc chính là
Trang 35“cái dở nhất của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma” Thiếu Mai chỉ ra “đôi
điều đáng tiếc”: “Trong lúc dồn tâm lực cho bài binh bố trận sao cho diễn biến câu chuyện dẫu gay go phức tạp vẫn thông suốt đâu ra đấy, không bị rối tung rối mù, dường như tác giả đã mảãi say sưa theo câu chuyện mà có phần xao nhãng, nói đúng hơn là chưa quan tâm đúng mức đến nhân vật của mình…, không được nhà văn khai thác đến đầu đến cuối” [138] Văn Chinh cũng đã chỉ ra nhược điểm của hai tiểu thuyết này: “Bây giờ đọc lại bộc lộ ra những khiếm khuyết, ở đây là sự thiếu thiết chế khiến đoạn cuối bị tãi ra, ở kia thì còn lổn nhổn những dễ dãi, tạo nên những cú “vấp”
rải rác trên đường tác phẩm đi vào lòng người” [21] Về Ba người khác, Phan Thị Thanh Nhàn nhận định: “Trong Ba người khác có đến ba nhân vật đều dâm ô cả, như
thế thì nặng quá, liều lượng như thế thì hơi quá” [142] Hà Minh Đức cho rằng: “Cái kết hơi gò, hơi dang dở, không thể nói Tô Hoài nên tìm kết khác, nhưng theo tôi so với
tổng thể thì phần kết chưa được ưng ý Cuốn Ba người khác nhiều điểm rất hay nhưng nhiều điểm trình độ tôi chưa tiếp thu được, có khi phải vài năm nữa” [142] Về Dòng
sông Mía, Lý Hoài Thu có cái nhìn khá toàn diện về mặt nội dung và nghệ thuật, đồng
thời cũng chỉ ra những khuyết điểm: “Do mải miết đi tìm sự độc đáo khác biệt, cuốn sách có nhiều chi tiết, hình ảnh xa lạ, thiên về nét dị hình, dị biệt, nhất là đối với nhân vật Lẹp và bên cạnh Lẹp là cô Bê lớn - – vợ Lẹp…”, vì vậy người đọc “kinh hoàng khi đối diện với nhân vật Lẹp và luôn đặt câu hỏi: “Tại sao hắn lại tập trung quá nhiều cái xấu xa, thấp hèn và độc ác đến như vậy” [201;tr.232] Về điểm nhìn trần thuật, tác giả bài viết cho rằng: “Chính bởi một mình tác giả (trong vai nhân vật trung gian “thuật sự”) ôm đồm tất cả mọi biến cố của tác phẩm nên đôi khi ông phải nói thay nhân vật,
đôi chỗ chuyển đoạn còn quá mộc” [201;tr.234]
* *
* Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi trước đã khẳng định đề tài nông thôn
có chiều dài lịch sử, trong đó tiểu thuyết viết về nông thôn có những đóng góp nhất
định trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc Họ tỏ ra tin tưởng, lạc quan, hi vọng vào sự hồi sinh và tương lai của đề tài nông thôn nói chungn nói chung, và tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng sẽ gặt hái nhiều thành công hơn nữa Tiểu thuyết viết viết về nông thôn sau 1986 đã có sự bứt phá trong việc mở rộng biên độ
hiện thực trong bức tranh nông thôn và đi sâu khám phá số phận người nông dân
trong thờicơn bão tố của lịch sử dân tộc, trongvà cơn lốc thờicủa cơ chế thị trường; có
sự cách tân, đổi mới vềtrong nghệ thuật tự sự như cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệudiễn ngôn hình tượng nhân vật, thời gian … Tuy
Trang 36nhiên, đó mới chỉ là những nét chấm phá tản mạn chứ chưa đàobàn sâu, bàn kĩ, vì vậy
nó vẫn còn ẩn số, chứa đựng nhiều vấn đề mới mẻ, thú vị cần khám phá Chúng tôi kế thừa thành tựu của những người đi trước để nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn,
nhằm khẳng định thành công và chỉ ra một cách có hệ thống những thành tựu đó trên các bình diện nội dung và nghệ thuậtphương thức thể hiện
Trang 37Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1 NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT
Hiện thực đời sống luôn đổi thay, biến động không ngừng Những biến động đó thường ảnh hưởng không nhỏ đến sự thay đổi của văn học, đặc biệt là tư duy nghệ thuật của nhà văn Sự thay đổi của tư duy nghệ thuật kéo theo sự biến đổi vềcủa phương thức miêu tả và biểu hiện nghệ thuật Trong điều kiện cho phép, tác giả luận án tìm hiểu tư duy tiểu thuyết Việt Nam viếtcủa các tác giả viết về đề tài nông thôn giai đoạn từ 1945 - – 1975, 1975 - 1985 và giai đoạn từ 1986 trở về sau, nhằm để làm rõ sự biến đổi của tư duy nghệ thuật qua hai giai đoạn trong một dòng chảy của tiến trình văn học
2.1.1 Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986
Tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn trước 1986 phong phú và có những đặc điểm, bản chất riêng trong tương quan đặc biệt giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Thành tựu và hạn chế của tiểu thuyết viết về đề tài này đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt thành tựu toàn diện, vì vậy chứng tôi chỉ bằng những nhận định khái quát ngắn gọn như những nối kết logic để thấy được sự vận động, đổi mới của tư duy nghệ thuật tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1986, chứ không chú tâm trình bày lại những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước đã làm sáng rõ
Cách mạng tháng Tám và hiện thực lịch sử của hai cuộc kháng chiến đã làm cho văn học nói chung, tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng có bước chuyển biến quan trọng Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu cầu hạnh phúc (tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo); miêu tả đời sống người nông dân nghèo trong cảnh sưu cao thuế nặng, bị bóc lột trắng trợn, dã man của chế độ phong kiến (tiểu thuyết hiện thực phê phán: (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao), tiểu thuyết viết viết về nông thôn đã chuyển sang thời kỳ mới -– đó là thời kỳ sáng tác theo khuynh hướng sử thi Tư duy sử thi đã ngự trị, chi phối gần bốn mươi năm trong dòng chảy của tiểu thuyết viếtviết về nông thôn (1945 - 1985) Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, vì thế nó thực sự là thứ vũ khí sắc bén, đắc lực trên con đường đấu tranh, dựng xây đất nước, là một nhiệm vụ thiêng liêng không thể chối cãi Đây là “đề tài sinh tử” và “đề tài cao đẹp nhất” Chúng ta từng ghi nhận sức mạnh
to lớn của tiểu thuyết viết viết về nông thôn bởi sức mạnh động viên khiến một thời bao thế hệ nông dân từ những miền quê một lòng quyết tâm, hăng hái ra trận đã in dấu
Trang 38trong những trang văn đầy nhiệt huyết của Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), Nguyễn Đình Thi (Vỡ bờ), Nguyễn Khải (Xung đột)… Vì vậyThế nên, chủ âm nổi lên là cảm hứng ngợi ca gắn bó với kiểu tư duy sử thi ngự trị gần như tuyệt đối thời kỳ này Tư duy ấy đã chi phối đến hầu hết các phương diện nghệ thuật như chủ đề, hình tượng, xây dựng tính cách nhân vật, ngôn ngữ, kết cấu, không gian và– thời gian nghệ thuật……
Như trên đã nói, hai cuộc cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã giúp các nhà văn nhận thức và có nhu cầu thể hiện các đề tài trung tâm của hiện thực sôi động đó, trong đó, có đề tài nông thôn Viết về đề tài chủ lực này, các nhà văn tập trung miêu tả hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người nông dân thấm đẫm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, trong đó hình tượng người nông dân nổi lên như một điểm sáng thể hiện tư tưởng và lý tưởng thẩm mỹ của thời đại Những người nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như Trợ, Đẩu
(Con trâu), Tiệp (Bão biển), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng), Lũy, Trần Phú (Xung
kích)…, không còn là nạn nhân của xã hội, mà đã trở thành những chủ nhân chân
chính của chế độ mới Họ là những người nông dân tiêu biểu về lý tưởng cách mạng, tràn đầy niềm tin yêu cuộc sống và con người, kết tinh vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam trong thời đại bão táp cách mạng Họ được giác ngộ cách mạng và trực tiếp tham gia có hiệu quả nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc trọng đại của dân tộc mà Đảng, cách mạng, nhân dân và người thân tin tưởng và giao phó Và thực tế, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn trước 1986 đã làm tròn trọng trách tinh thần của mình ở việc giải quyết hài hòa (trong tương quan với nhu cầu thời đại) mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ, tập trung “làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm” của người nông dân Việt Nam, và “họ là những con người hết sức trong sáng, kết tinh
vẻ đẹp của quê hương” [111 ;tr.172]
Cuộc binh lửa đi qua và với độ lùi thời gian nhất định, với sự phát triển của tư duy và nhận thức của con người hiện đại, cùng với cnhu cầu tiếp nhận của người đọc chịu ảnh hưởng từ Mỹ học tiếp nhận Âu - Mỹhúng ta tĩnh tâm nhìn nhận lại, vén đi lớp bụi phủ kín thời gian để chúng ta có cái nhìn khách quan, biện chứng hơn về thành tựu cũng như hạn chế của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Ở đó, ngoài ưu điểm
nó vẫn hiện diện những hạn chế Đó là,khẳng định: với tư duy sử thi, cái nhìn sử thi đã tước đi phần nào tính đa dạng, phong phú và độc đáo của chủ thể sáng tạo Những thuộc tính của văn học biểu hiện còn mờ nhạt, khiên cưỡng, đặc biệt lúc này tiểu thuyết viết về
nông thôn chưa chú ý đào xới những “vùng mờ khuất” trong đời sống nông thôn và trong cái nhìn đa trị về người nông dân Hầu hết các tác phẩm đềuu khắc họa đưa hình
Trang 39ảnh người nông dân lúc nào cũng thánh thiện như là hình mẫu lý tưởng của thời đại và dân tộcđến với thánh địa của sự trong sáng, thủy chung, sạch sẽ và phủ vây bởi thiên lương cao cả nên ở hhình ảnh người nông dân ọ thiếu đi cá tính, mờ nhạt về tâm lí và thiếu khuyết các quan hệ bình thường, riêng tư khác., tính cách… Đó là những điểm trống cần được làm đầy một cách khách quan và nghệ thuật theo nhu cầu nhận thức tối
đa về hiện thực và con người quá khứ trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1986 theo tầm đón đợi và đón nhận của con người hôm nay
2.1.2 Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 1986 Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 trở về sau, tiểu thuyết viết về nông thôn bước vào vận hội mới để thể nghiệm trọn vẹn tính linh hoạt của nó Cùng với sự đổi thay về quan điểm đạo đức, thẩm mỹĩ do công cuộc đổi mới đem lại làm cho tư duy sử thi nhạt hóa và tăng dần tư duy tiểu thuyết Tư duy tiểu thuyết hiện đại đã nhanh chóng đáp ứng phần nào những đòi hỏi đó và trở thành dòng chủ lưu của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Đổi mới tư duy nghệ thuật dẫn đến kéo theo hàng loạt những đổi mới quan trọng như quan niệm nghệ thuật về con người, cảm hứng sáng tác, phương thức biểu hiện… Ở mục này, chúng tôi chỉ nêu những dấu hiệu đổi mới cơ bản của kiểu tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Những đổi mới cụ thể sẽ được trình bày kĩỹ hơn ở các chương sau
2.1.2.1 Với sự đổi mới kiểu tư duy tiểu thuyết, tiểu thuyết viết về nông thôn giai
đoạn này có những tìm tòi, thể nghiệm trong hình thức nghệ thuật Về cấu trúc tác phẩm,
ngoài một số tiểu thuyết có xu hướng quay về mô hình tự sự truyền thống, kết cấu rõ
tràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc, cách kể không quá phức tạp (Thời xa vắng, Giời
cao đất dày, Đứa con của thần linh, Ma làng, Bến không chồng, Thủy hỏa đạo tặc) là kết
cấu “phức hợp” Ở đó, các nhân vật (người kể chuyện, nhân vật xưng tôi, tác giả…) đối
thoại với nhau, không ai có quyền phán xét, áp đặt (Chuyện làng Cuội, Bên kia bờ ảo
vọng, Ba người khác) Kết cấu như một trò chơi rubich, tạo nên sự hỗn loạn, lỏng lẻo, rời
rạc, lắp ghép, gấp khúc, khó nắm bắt (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ) Kết cấu theo lối đảo
lộn thời gian (quá khứ - hiện tại -– tương lai), không có sự tổ chức sắp sếp theo quy luật
(Lão Khổ, Chuyện làng Cuội) Kết cấu “buông lửng”, “bỏ ngỏ” -– nhằm đưa người đọc tự
do suy nghĩ, tự do sáng tạo kiểu kết thúc riêng theo quan niệm riêng (Mảnh đất lắm người
nhiều ma, Dòng sông Mía) Kết cấu liên văn bản, “tiểu thuyết lồng tiểu thuyết” (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ, Dòng chảy đất đai)… Chính tư duy tiểu thuyết và những biến đổi thi
pháp đã chi phối nguyên tắc xây dựng tác phẩm, tạo ra nhiều mô hình cấu trúc mới mẻ:
cấu trúc theo đường đời nhân vật (Thời xa vắng, Giời cao đất dày), cấu trúc đan cài số
phận mỗi con người với mỗi dòng họ, gia đình, làng quê, đan cài hiện tại với các lớp trầm
Trang 40tích văn hóa lịch sử (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lời nguyền hai trăm năm, Lão Khổ,
Đội gạo lên chùa, Thuyền nghiêng ), cấu trúc theo ký ức hồi cố (Giời cao đất dày, Lão
Khổ), cấu trúc tập trung vào nhân vật cá nhân dị biệt (Dòng sông Mía), cấu trúc đảo lộn
thời gian xen kẽ quá khứ và hiện tại (Chuyện làng Cuội), cấu trúc dồn tụ chất liệu hiện
thực để khắc sâu một tư tưởng, một luận đề (Thời xa vắng, Dưới chín tầng trời, Mảnh đất lắm người nhiều ma)… Nghĩa là điểm nhìn được tối ưu hóa trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại Một khi tư duy tiểu thuyết thắng thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ cũng biến đổi theo hướng đó Do nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống xã hội nông thôn trong thời đại mới, các nhà văn tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một “khoảng cách
sử thi tuyệt đối”(M Bakhtin) nên ngôn ngữ ít mực thước, trang trọng, chuẩn mực, mỹĩ lệ,
mà xu hướng đời thường hóa, đậm tính khẩu ngữ, thậm chí thô tục trở thành “hiệu ứng” riêng trong phản ứng mỹĩ cảm của nhà văn với thế giới (Lão Khổ, Ba người khác, Thời của
thánh thần) Xuất phát từ tinh thần dân chủ và ý thức cá tính trong việc đi sâu tìm hiểu, khám phá đời sống nông thôn ở chiều sâu nên giá trị triết lý trong diễn ngôn được các nhà văn chú ý ngôn ngữ ngày càng gia tăng tính triết luận, khái quát, thông qua việc sử dụngvà cách ứng xử ngôn ngữ của họ tự do, phóng khoáng hơn, nhằm đem lại hiệu ứng trực tiếp mạnh mẽ trong
sự tiếp nhận của công chúng (Lão Khổ, Giã biệt bóng tối, Màu rừng ruộng)
Từ lớp nhà văn trưởng thành ở các gia đoạn trước đến lớp nhà văn xuất hiện từ cao trào đổi mới và những cây bút phần lớn còn trẻ vẫn luôn nỗ lực sáng tạo, vẫn lặng
lẽ kiếm tìm nhằm tạo ra những hình thức mới, mang lại hiệu quả cao nhất Hiện tượng những cuốn tiểu thuyết viết về nông thôn ngắn gọn, co lại, dồn nén về mặt dung lượng
là một trong những biểu hiện của sự đổi mới của tư duy tiểu thuyết viết về nông thôn
từ sau đổi mới Tạ Duy Anh - nhà văn trẻ chuyên viết về nông thôn cũng rất tâm huyết
đã nói lên tính ưu việt của tiểu thuyết ngắn: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lý là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” (Dẫn theo Bùi Việt Thắng), [194;tr.185] Xu hướng này phù hợp với kiểu tư duy của con người hiện đại Dưới áp lực cơ chế thị trường, áp lực cạnh tranh phương tiện nghe nhìn và sự bùng nổ thông tin, con người buộc phải hối hả chạy đua với thời gian, vì thế ngoại trừ những nhà nghiên cứu, phê bình và những ai quan tâm đến tiểu thuyết, còn lại ít người chịu bỏ ra một lượng thời gian lớn để đọc những cuốn tiểu
thuyết dày hàng trăm, hàng nghìn trang như thời chống Pháp, chống Mỹ (Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Xung đột của Nguyễn Khải, Cửa biển của Nguyên Hồng) Vì thế,
tiểu thuyết được mệnh danh là “cỗ máy cái” buộc phải “thu mình lại” để có một