1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy nạp quy tắc phân lớp sử dụng lý thuyết tập thô

76 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xấp xỉ dưới của một khái niệm X là tập tất cả các đối tượng trong U chắc chắn thuộc X , còn xấp xỉ trên là tập các đối tượng trong U có thể thuộc X dựa trên những thông tin từ tập dữ li

Trang 1

đại học thái nguyên

Tr-ờng đại học CÔNG NGHệ THÔNG TIN Và TRUYềN THÔNG

Trang 2

đại học thái nguyên

Tr-ờng đại học CÔNG NGHệ THÔNG TIN Và TRUYềN THÔNG

Lấ QUANG ĐẠT

QUY NẠP QUY TẮC PHÂN LỚP

SỬ DỤNG Lí THUYẾT TẬP THễ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH

Chuyờn ngành: KHOA HỌC MÁY TÍNH

Mó số: 60.48.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH TÙNG

Thỏi Nguyờn, 2014

Trang 3

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề luận văn của mình

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 07 năm 2014

Tác giả

Lê Quang Đạt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố

Tác giả

Lê Quang Đạt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KHAI PHÁ DỮ LIỆU VÀ BÀI TOÁN PHÂN LỚP 4

1.1 Khái quát về khai phá dữ liệu 4

1.1.1 Khai phá dữ liệu là gì 4

1.1.2 Quy trình khai phá dữ liệu 5

1.1.3 Các kỹ thuật khai phá dữ liệu 6

1.1.4 Các ứng dụng của khai phá dữ liệu 8

1.1.5 Một số thách thức đặt ra cho việc khai phá dữ liệu 11

1.2 Bài toán phân lớp 12

1.2.1 Phát biểu bài toán 12

1.2.2 Phương pháp tiếp cận chung để giải quyết bài toán phân lớp 15

1.3 Kết luận chương 1 18

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẬP THÔ 19

2.1 Giới thiệu 19

2.2 Hệ thông tin 20

2.3 Quan hệ bất khả phân biệt 21

2.3.1 Sự dư thừa thông tin 21

2.3.2 Quan hệ tương đương - Lớp tương đương 22

2.3.3 Thuật toán xác định lớp tương đương 23

2.3.4 Xấp xỉ tập hợp 24

Trang 6

2.3.5 Sự không chắc chắn và hàm thuộc 34

2.3.6 Sự phụ thuộc giữa các tập thuộc tính 35

2.4 Rút gọn thuộc tính 36

2.4.1 Khái niệm 36

2.4.2 Ma trận phân biệt và hàm phân biệt 39

2.5 Kết luận chương 2 42

Chương 3: SỬ DỤNG LÝ THUYẾT TẬP THÔ VÀO VIỆC QUY NẠP QUY TẮC QUYẾT ĐỊNH TỪ TẬP CÁC VÍ DỤ HỌC 43

3.1 Mở đầu 43

3.2 Một số khái niệm về quy nạp quy tắc quyết định 45

3.2.1 Quy tắc quyết định 45

3.2.2 Các loại thuật toán quy nạp quy tắc 49

3.3 Các thuật toán quy nạp quy tắc quyết định 50

3.3.1 Thuật toán sinh bộ quy tắc tối tiểu 51

3.3.2 Thuật toán sinh bộ quy tắc vét cạn 57

3.3.3 Các thuật toán sinh bộ quy tắc thỏa mãn yêu cầu 58

3.4 Về tính toán thực nghiệm 61

3.5 Kết luận chương 3 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tập đối tượng Động vật có xương sống 13

Bảng 1.2 Ma trận liên hợp (trường hợp 2 lớp) 17

Bảng 2.1 Một hệ thông tin đơn giản 20

Bảng 2.2 Một hệ quyết định với C = {Age, LEMS} và D = {Walk} 21

Bảng 2.3 Một bảng dữ liệu thừa thông tin 22

Bảng 2.4 Một hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng 25

Bảng 2.5 Hệ thông tin về thuộc tính của xe hơi 28

Bảng 2.6 Bảng quyết định dùng minh họa hàm thuộc thô 35

Bảng 2.7 Hệ thông tin dùng minh họa ma trận phân biệt 39

Bảng 3.1 Một ví dụ về tập dữ liệu 53

a ba thuật toán (thể hiện bằng %) 62 Bảng 3.3 So sánh đặc điểm của quy tắc quyết định 63

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các bước thực hiện quá trình khai phá dữ liệu 6Hình 1.2 Bài toán phân lớp 14Hình 1.3 Phương pháp tiếp cận phổ biến xây dựng mô hình phân lớp 17Hình 2.1: Xấp xỉ tập đối tượng trong bảng 1-2 bằng các thuộc tính điều kiện Age

và LEMS Mỗi vùng được thể hiện kèm theo tập các lớp tương ứng 28Hình 2.2: Ma trận phân biệt của Bảng 2.7 39Hình 2.3: Ma trận phân biệt của hệ thông tin Bảng 2.7 xây dựng trên tập thuộc tính {a,b} 40Hình 2.4: Ma trận phân biệt Hình 2.2 sau khi chọn c vào tập rút gọn fA =

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trong nhiều tình huống, ta cần phải xếp một đối tượng vào một trong những lớp khác nhau, dựa vào một số thuộc tính của nó Chẳng hạn, dựa vào các kết quả xét nghiệm (số đo huyết áp, mức cholesterol, số lượng hồng cầu,

số lượng bạch cầu, … ), ta cần khẳng định một người có mắc phải một chứng bệnh nào đó không Các tình huống như thế được gọi là các bài toán phân lớp (classification) hay bài toán nhận dạng mẫu (Pattern Recognition)

Để giải quyết một bài toán phân lớp, người ta dựa vào một tập các đối

tượng đã được phân lớp Tập các đối tượng này được gọi là tập các ví dụ học (set of learning examples) hay tập huấn luyện (training set)

Quy nạp quy tắc phân lớp (hay quy tắc quyết định) là việc phát hiện ra các quy tắc phân lớp từ tập các ví dụ học S đã cho Một quy tắc phân lớp có

thể được mô tả bằng một biểu thức toán học hoặc bằng một mệnh đề có dạng

if R then K

trong đó, R là hội của các biểu thức điều kiện liên quan đến các giá trị thuộc tính, K là biểu thức dạng d d i chỉ ra nhãn lớp gán cho đối tượng mới cần phân lớp

Phân lớp là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, con người thường phải đối mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống Nghiên cứu các phương pháp phân lớp

vì thế từ lâu đã trở thành lĩnh vực khoa học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Cho đến nay, nhiều phương pháp tiếp cận bài toán phân lớp đã được đề xuất Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhu cầu giải quyết các vấn đề phân lớp phức tạp xuất hiện ngày một nhiều, các phương pháp thống kê toán học tỏ ra kém hiệu quả Mặt khác, trong vài ba thập niên vừa qua, khả năng lưu trữ và xử lý dữ liệu của máy tính không ngừng được nâng cao, con người

sở hữu ngày một nhiều những cơ sở dữ liệu lớn, chứa đựng những tri thức

Trang 10

hữu ích Thực tế này đòi hỏi con người phải “Tìm cách dạy cho máy tính biết

khai thác những khối tri thức khổng lồ mà con người có được, từ đó làm cho

nó có thể nhận biết các sự kiện, bày tỏ cảm xúc với con người, có thể trả lời các câu hỏi một cách thông minh” [4] Do đó, nhiều lĩnh vực khoa học mới

đã ra đời: Học máy (Machine Learning) hay còn gọi là Học thống kê (Statistical Learning), Khai phá dữ liệu, Lý thuyết tập thô, … Các lĩnh vực khoa học mới này nhằm giải quyết nhiều vấn đề khác nhau của khoa học máy tính, trong đó có bài toán quy nạp quy tắc quyết định

Lý thuyết tập thô, do Z Pawlak đề xuất vào những năm đầu thập niên tám mươi thế kỷ hai mươi, là một công cụ toán học nhằm xử lý những sự mơ

hồ, không chắc chắn trong khai phá dữ liệu

Lý thuyết tập thô bắt nguồn từ quan sát rằng các đối tượng trong một quần thể nào đó có thể là bất khả phân biệt do thông tin có được về chúng bị hạn chế Do đó, sẽ tồn tại những khái niệm (là những tập các đối tượng trong

lý thuyết tập thô) không thể định nghĩa được một cách chính xác thông qua những thông tin có sẵn có mà chỉ có thể định nghĩa một cách xấp xỉ Với lý do

đó, Pawlak đã đề xuất khái niệm “tập thô” Tập thô được đặc trưng bởi một cặp khái niệm chính xác gọi là xấp xỉ dưới và xấp xỉ trên Xấp xỉ dưới của

một khái niệm X là tập tất cả các đối tượng trong U chắc chắn thuộc X , còn xấp xỉ trên là tập các đối tượng trong U có thể thuộc X dựa trên những thông

tin từ tập dữ liệu

Các nghiên cứu gần đây cho thấy Lý thuyết tập thô có thể được coi như

là cơ sở lý thuyết để giải quyết hiệu quả một số vấn đề quan trọng trong học máy, khai phá dữ liệu, trí tuệ nhân tạo Các vấn đề quan trọng nhất bao gồm: tìm kiếm mô tả cho các tập các đối tượng thông qua các giá trị thuộc tính, kiểm tra phụ thuộc (hoàn toàn hay một phần) giữa các thuộc tính, rút gọn

Trang 11

thuộc tính, phân tích mức ý nghĩa của các thuộc tính, quy nạp quy tắc phân lớp từ cơ sở dữ liệu mẫu

Luận văn nhằm nghiên vấn đề quy nạp quy tắc phân lớp sử dụng cơ sở toán học của lý thuyết tập thô

Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 trình bày tổng quan về khai phá dữ liệu và bài toán phân lớp Chương 2 nghiên cứu cơ sở lý thuyết tập thô

Chương 3 trình bày các thuật toán quy nạp quy tắc phân lớp sử dụng lý thuyết tập thô, gồm 3 loại: thuật toán quy nạp bộ quy tắc tối tiểu, thuật toán quy nạp bộ tất cả các quy tắc có thể và thuật toán quy nạp bộ quy tắc đáp ứng yêu cầu người sử dụng

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KHAI PHÁ DỮ LIỆU VÀ BÀI TOÁN PHÂN LỚP

1.1 Khái quát về khai phá dữ liệu

khoa học, Đúng như John Naisbett [4] đã cảnh báo “Chúng ta đang chìm

ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức”

Khai phá dữ liệu (Data Mining) là một lĩnh vực khoa học mới xuất hiện, nhằm tự động hóa khai thác những thông tin, tri thức hữu ích, tiềm ẩn trong các CSDL cho các tổ chức, doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy khả năng sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp này Các kết quả nghiên cứu cùng với những ứng dụng thành công trong khai phá dữ liệu, khám phá tri thức cho thấy khai phá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích, đồng thời có ưu thế hơn hẳn so với các công cụ phân tích dữ liệu truyền thống Hiện nay, khai phá dữ liệu được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như: Phân tích dữ liệu hỗ trợ ra quyết định, điều trị y học, tin-sinh học, thương mại, tài chính, bảo hiểm, khai phá văn bản, khai phá web

Trang 13

Do sự phát triển nhanh chóng về phạm vi áp dụng và các phương pháp tìm kiếm tri thức, nên đã có nhiều quan điểm khác nhau về khai phá dữ liệu Tuy nhiên, ở một mức độ trừu tượng nhất định, chúng ta định nghĩa khai phá

dữ liệu như sau [4]:

Khai phá dữ liệu là quá trình tìm kiếm, phát hiện các tri thức mới, hữu ích tiềm ẩn trong cơ sở dữ liệu lớn

1.1.2 Quy trình khai phá dữ liệu

Khám phá tri thức trong CSDL (Knowledge Discovery in Databases – KDD) là mục tiêu chính của khai phá dữ liệu, do vậy hai khái niệm khai phá

dữ liệu và KDD được các nhà khoa học xem là tương đương nhau Thế nhưng, nếu phân chia một cách chi tiết thì khai phá dữ liệu là một bước chính trong quá trình KDD

Khám phá tri thức trong CSDL là lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành như: CSDL, xác suất, thống kê, lý thuyết thông tin, học máy, lý thuyết thuật toán, trí tuệ nhân tạo, tính toán song song và hiệu năng cao, Các kỹ thuật chính áp dụng trong khám phá tri thức phần lớn được thừa kế từ các ngành này

Quá trình khám phá tri thức có thể phân ra các công đoạn sau [4]:

Trích chọn dữ liệu: Là bước tuyển chọn những tập dữ liệu cần được

khai phá từ các tập dữ liệu lớn (databases, data warehouses, data repositories) ban đầu theo một số tiêu chí nhất định

Tiền xử lý dữ liệu: Là bước làm sạch dữ liệu (xử lý dữ liệu không đầy

đủ, dữ liệu nhiễu, dữ liệu không nhất quán, ), tổng hợp dữ liệu (nén, nhóm

dữ liệu, xây dựng các histograms, lấy mẫu, tính toán các tham số đặc trưng ), rời rạc hóa dữ liệu, lựa chọn thuộc tính Sau bước tiền xử lý này, dữ liệu sẽ nhất quán, đầy đủ, được rút gọn

Trang 14

Biến đổi dữ liệu: Là bước chuẩn hóa và làm mịn dữ liệu để đưa dữ liệu

về dạng thuận lợi nhất nhằm phục vụ việc áp dụng các kỹ thuật khai phá ở bước sau

Khai phá dữ liệu: Là bước áp dụng những kỹ thuật phân tích (phần

nhiều là các kỹ thuật học máy) nhằm khai thác dữ liệu, trích lọc những mẫu tin (information patterns), những mối quan hệ đặc biệt trong dữ liệu Đây được xem là bước quan trọng và tiêu tốn thời gian nhất của toàn bộ quá trình KDD

Đánh giá và biểu diễn tri thức: Những mẫu thông tin và mối quan hệ

trong dữ liệu đã được phát hiện ở bước khai phá dữ liệu được chuyển sang và biểu diễn ở dạng gần gũi với người sử dụng như đồ thị, cây, bảng biểu, luật, Đồng thời bước này cũng đánh giá những tri thức khai phá được theo những tiêu chí nhất định

Hình 1.1 dưới đây mô tả các công đoạn của KDD:

Hình 1.1 Các bước thực hiện quá trình khai phá dữ liệu

1.1.3 Các kỹ thuật khai phá dữ liệu

Theo quan điểm của học máy (Machine Learning), thì các kỹ thuật khai phá dữ liệu bao gồm:

dữ liệu Tri thức

Trang 15

Học có giám sát (Supervised Learning): Là quá trình phân lớp các

đối tượng trong cơ sở dữ liệu dựa trên một tập các ví dụ huấn luyện

về các thông tin về nhãn lớp đã biết

Học không có giám sát (Unsupervised Learning): Là quá trình phân

chia một tập các đối tượng thành các lớp hay cụm (clusters) tương tự

nhau mà không biết trước các thông tin về nhãn lớp

Học nửa giám sát (Semi-Supervised Learning): Là quá trình phân

chia một tập các đối tượng thành các lớp dựa trên một tập nhỏ các ví

dụ huấn luyện với thông tin về nhãn lớp đã biết

Nếu căn cứ vào các lớp bài toán cần giải quyết, thì khai phá dữ liệu bao gồm các kỹ thuật sau:

Phân lớp và dự đoán (classification and prediction): Là việc xếp các

đối tượng vào những lớp đã biết trước Ví dụ, phân lớp các bệnh nhân, phân lớp các loài thực vật, Hướng tiếp cận này thường sử dụng một số kỹ thuật của học máy như cây quyết định (decision tree), mạng nơ-ron nhân tạo (neural network), Phân lớp và dự đoán còn được gọi là học có giám sát

Phân cụm (clustering/segmentation): Là việc xếp các đối tượng theo

từng cụm tự nhiên

Luật kết hợp (association rules): Là việc phát hiện các luật biểu diễn

tri thức dưới dạng khá đơn giản Ví dụ: “70% nữ giới vào siêu thị mua phấn thì có tới 80% trong số họ cũng mua thêm son”

Phân tích hồi quy (regression analysis): Là việc học một hàm ánh xạ

từ một tập dữ liệu thành một biến dự đoán có giá trị thực Nhiệm vụ của phân tích hồi quy tương tự như của phân lớp, điểm khác nhau là

ở chỗ thuộc tính dự báo là liên tục chứ không phải rời rạc

Trang 16

Phân tích các mẫu theo thời gian (sequential/temporal patterns):

Tương tự như khai phá luật kết hợp nhưng có quan tâm đến tính thứ

tự theo thời gian

Mô tả khái niệm và tổng hợp (concept description and zation): Thiên về mô tả, tổng hợp và tóm tắt các khái niệm Ví dụ

summari-tóm tắt văn bản

Hiện nay, các kỹ thuật khai phá dữ liệu có thể làm việc với rất nhiều kiểu

dữ liệu khác nhau Một số dạng dữ liệu điển hình là: CSDL quan hệ, CSDL đa chiều (Multidimensional Data Structures), CSDL giao tác, CSDL quan hệ hướng đối tượng, dữ liệu không gian và thời gian, CSDL đa phương tiện, dữ liệu văn bản và web,

1.1.4 Các ứng dụng của khai phá dữ liệu

Như đã nói ở trên, khai phá dữ liệu là một lĩnh vực liên quan tới nhiều ngành khoa học khác như: hệ CSDL, thống kê, trực quan hoá… Hơn nữa, tuỳ vào cách tiếp cận được sử dụng, khai phá dữ liệu còn có thể áp dụng một số kỹ thuật như mạng nơron, phương pháp hệ chuyên gia, lý thuyết tập thô, tập mờ

So với các phương pháp này, khai phá dữ liệu có một số ưu thế rõ rệt

Phương pháp học máy chủ yếu được áp dụng đối với các CSDL đầy

đủ, ít biến động và tập dữ liệu không qua lớn Trong khi đó, các kỹ thuật khai phá dữ liệu có thể được sử dụng đối với các CSDL chứa nhiễu, dữ liệu không đầy đủ hoặc biến đổi liên tục

Phương pháp hệ chuyên gia được xây dựng dựa trên những tri thức cung cấp bởi các chuyên gia Những dữ liệu này thường ở mức cao hơn nhiều

so với những dữ liệu trong CSDL khai phá, và chúng thường chỉ bao hàm được các trường hợp quan trọng Hơn nữa, giá trị và tính hữu ích của các mẫu phát hiện được bởi hệ chuyên gia cũng chỉ được xác nhận bởi các chuyên gia

Trang 17

Phương pháp thống kê là một trong những nền tảng lý thuyết của khai phá dữ liệu, nhưng khi so sánh hai phương pháp với nhau có thể thấy các phương pháp thống kê có một số điểm yếu mà chỉ khai phá dữ liệu mới khắc phục được

Với nhưng ưu điểm trên, khai phá dữ liệu hiện đang được áp dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh doanh và đời sống khác nhau như: marketing, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, khoa học, y tế, an ninh internet… Rất nhiều tổ chức và công ty lớn trên thế giới đã áp dụng thành công kỹ thuật khai phá dữ liệu vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình và thu được những lợi ích to lớn Các công ty phần mềm lớn trên thế giới cũng rất quan tâm và chú trọng tới việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật khai phá dữ liệu: Oracle tích hợp các công cụ khai phá dữ liệu vào bộ Oracle9i, IBM đã đi tiên phong trong việc phát triển các ứng dụng khai phá

dữ liệu với các ứng dụng như Intelligence Miner…

Các ứng dụng này được chia thành 3 nhóm ứng dụng khác nhau: Phát hiện gian lận (fraud detection), các ứng dụng hỗ trợ tiếp thị và quản lý khách hàng, cuối cùng là các ứng dụng vào phát hiện và xử lý lỗi hệ thống mạng

Phát hiện gian lận (fraud detection):

Gian lận là một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với các công ty viễn thông, nó có thể làm thất thoát hàng tỷ đồng mỗi năm Có thể chia ra làm 2 hình thức gian lận khác nhau thường xảy ra đối với các công ty viễn thông: Trường hợp thứ nhất xảy ra khi một khách hàng đăng ký thuê bao với ý định không bao giờ thanh toán khoản chi phí sử dụng dịch vụ Trường hợp thứ hai liên quan đến một thuê bao hợp lệ nhưng lại có một số hoạt động bất hợp pháp gây ra bởi một người khác Những ứng dụng này sẽ thực hiện theo thời gian thực bằng cách sử dụng dữ liệu chi tiết cuộc gọi, một khi xuất hiện một cuộc gọi nghi ngờ gian lận, lập tức hệ thống sẽ có hành động ứng xử phù hợp,

Trang 18

ví dụ như một cảnh báo xuất hiện hoặc từ chối cuộc gọi nếu biết đó là cuộc gọi gian lận

Các ứng dụng quản lý và chăm sóc khách hàng

Các công ty viễn thông quản lý một khối lượng lớn dữ liệu về thông tin khách hàng và chi tiết cuộc gọi (call detail records) Những thông tin này có thể cho ta nhận diện được những đặc tính của khách hàng và thông qua đó có thể đưa ra các chính sách chăm sóc khách hàng thích hợp dựa trên dự đoán hoặc có những chiến lược tiếp thị hiệu quả

Một trong các ứng dụng phổ biến của khai phá dữ liệu là phát hiện luật kết hợp giữa các dịch vụ viễn thông khách hàng sử dụng Hiện nay trên một đường điện thoại khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ khác nhau, ví

dụ như : gọi điện thoại, truy cập internet, tra cứu thông tin từ hộp thư tự động, nhắn tin, gọi 108, v.v Dựa trên cơ sở dữ liệu khách hàng, chúng ta có thể khám phá các liên kết trong việc sử dụng các dịch vụ, có thể đưa ra các luật như (khách hàng gọi điện thoai quốc tế) => (truy cập internet) v.v Trên

cơ sở phân tích được các luật như vậy, các công ty viễn thông có thể điều chỉnh việc bố trí nơi đăng ký các dịch vụ phù hợp, ví dụ điểm đăng ký điện thoại quốc tế nên bố trí gần với điểm đăng ký Internet chẳng hạn

Một ứng dụng khác phục vụ chiến lược marketing đó là sử dụng kỹ thuật khai phá luật kết hợp của khai phá dữ liệu để tìm ra tập các thành phố, tỉnh nào trong nước thường gọi điện thoại với nhau Ví dụ, ta có thể tìm ra tập phổ biến (Cần Thơ, HCM, Hà Nội ) chẳng hạn Điều này thật sự hữu dụng trong việc hoạch định chiến lược tiếp thị hoặc xây dựng các vùng cước phù hợp Cuối cùng, một ứng dụng cũng rất phổ biến đó là phân lớp khách hàng (classifying) Dựa vào kỹ thuật học trên cây quyết định (decision tree learning) xây dựng được từ dữ liệu khách hàng và chi tiết cuộc gọi có thể tìm

Trang 19

ra các luật để phân loại khách hàng Ví dụ ta có thể phân biệt được khách hàng nào thuộc đối tượng kinh doanh hay nhà riêng dựa vào các luật sau:

Luật 1 : Nếu không quá 43% cuộc gọi có thời gian từ 0 đến 10 giây và

không đến 13% cuộc gọi vào cuối tuần thì đó là khách hàng kinh doanh

Luật 2 : Nếu trong 2 tháng có các cuộc gọi đến hầu hết từ 3 mã vùng giống

nhau và dưới 56,6% cuộc gọi từ 0-10 giây thì có là khách hàng nhà riêng Trên cơ sở tìm được các luật tương tự như vậy, ta dễ dàng phân loại khách hàng, từ đó có chính sách phân khúc thị trường hợp lý

Các ứng dụng phát hiện và cô lập lỗi trên hệ thống mạng viễn thông (Network fault isolation )

Mạng viễn thông là một cấu trúc cực kỳ phức tạp với nhiều hệ thống phần cứng và phần mềm khác nhau Phần lớn các thiết bị trên mạng có khả năng tự chuẩn đoán và cho ra thông điệp trạng thái, cảnh báo lỗi (status and alarm message) Với mục tiêu là quản lý hiệu quả và duy trì độ tin cậy của hệ thống mạng, các thông tin cảnh báo phải được phân tích tự động và nhận diện lỗi trước khi nó xuất hiện làm giảm hiệu năng của mạng Bởi vì số lượng lớn các cảnh báo độc lập và có vẻ như không quan hệ gì với nhau nên vấn đề nhận diện lỗi không ít khó khăn Kỹ thuật khai phá dữ liệu có vai trò sinh ra các luật giúp hệ thống có thể phát hiện lỗi sớm hơn khi nó xảy ra Kỹ thuật khám phá mẫu tuần tự (sequential/temporal patterns) của data mining thường được ứng dụng trong lĩnh vực này thông qua việc khai thác cơ sở dữ liệu trạng thái mạng (network status data)

1.1.5 Một số thách thức đặt ra cho việc khai phá dữ liệu

Số đối tượng trong cơ sở dữ liệu thường rất lớn

Số chiều (thuộc tính) của cơ sở dữ liệu lớn

Dữ liệu và tri thức luôn thay đổi có thể làm cho các mẫu đã phát hiện không còn phù hợp

Trang 20

Dữ liệu bị thiếu hoặc nhiễu

Quan hệ phức tạp giữa các thuộc tính

Giao tiếp với người sử dụng và kết hợp với các tri thức đã có

Tích hợp với các hệ thống khác…

1.2 Bài toán phân lớp

1.2.1 Phát biểu bài toán

Chúng ta hiểu bài toán phân lớp ở đây là bài toán phân lớp có giám sát Bài toán phân lớp là bài toán tìm quy tắc xếp các đối tượng đã cho vào một trong các lớp đã được định nghĩa trước dựa vào một tập đối tượng mẫu (tập đối tượng huấn luyện) Bài toán phân lớp có rất nhiều ứng dụng Ví dụ như việc tìm kiếm các thư rác dựa vào tiêu đề và nội dung bức thư, phân loại u lành tính hay u ác tính dựa trên kết quả chụp MRI, phân loại dải ngân hà dựa trên hình dạng của chúng, …

Dữ liệu đầu vào của bài toán phân lớp là một tập hợp các bản ghi các thuộc tính của các đối tượng Mỗi bản ghi được xác định bởi một cặp tọa độ

(x, y), trong đó x là tập hợp các giá trị thuộc tính điều kiện và y là giá trị thuộc

tính quyết định (còn được gọi là thuộc tính đích) chỉ nhãn lớp Bảng 1.1 thể hiện một tập hợp dữ liệu mẫu, được sử dụng để phân loại các loài Động vật có xương sống thành một trong những loại sau: Động vật có vú, Chim, Cá, Bò sát, hay Động vật lưỡng cư

Trang 21

Bảng 1.1 Tập đối tượng Động vật có xương sống

nhiệt

Đẻ con

Sống dưới nước

Biết bay

Có chân

Ngủ đông

Nhãn lớp

Người Máu nóng Có Không Không Có Không Động vật

có vú Trăn Máu lạnh Không Không Không Không Có Bò sát

Cá hồi Máu lạnh Không Có Không Không Không Cá

Cá voi Máu nóng Có Có Không Không Không Động vật

có vú Ếch Máu lạnh Không Bán cư Không Có Có Động vật

lưỡng cư Thằn lằn Máu lạnh Không Không Không Có Không Bò sát

có vú Chim bồ

câu

Máu nóng Không Không Có Có Không Chim

Mèo Máu nóng Có Không Không Có Không Động vật

có vú

Cá mập Máu lạnh Có Có Không Không Không Cá Rùa Máu lạnh Không Bán cư Không Có Không Bò sát Chim

cánh cụt

Máu nóng Không Bán cư Không Có Không Chim

Nhím Máu nóng Có Không Không Có Có Động vật

có vú Rồng lửa Máu lạnh Không Bán cư Không Có Có Động vật

lưỡng cư

Trang 22

Tập thuộc tính trong bảng 1.1 bao gồm các đặc tính của loài Động vật

có xương sống như thân nhiệt, phương pháp sinh sản, khả năng bay, và khả năng sống dưới nước Các thuộc tính điều kiện trong bảng 1 đều là những thuộc tính định tính, nhưng trong nhiều ứng dụng thực tiễn khác thuộc tính

điều kiện có thể là thuộc tính định lượng liên tục Trong tất cả các trường

hợp, thuộc tính quyết định luôn là một thuộc tính định tính, nó chỉ ra nhãn lớp

của dữ liệu Đó là đặc điểm chính để phân biệt bài toán phân lớp so với bài

toán hồi quy, bài toán dự đoán trong đó y là một thuộc tính liên tục

Định nghĩa 1.1 (Phân lớp) Phân lớp là việc phát hiện ra hàm mục tiêu f, ánh

xạ từ tập các thuộc tính x lên tập các nhãn lớp đã được định nghĩa trước y dựa

vào một tập đối tượng mẫu (tập đối tượng huấn luyện)

Hình 1.2 Bài toán phân lớp

Hàm mục tiêu thường được biết đến như là một mô hình phân lớp Mô hình phân lớp thường được sử dụng cho những mục đích sau:

Miêu tả: Một mô hình phân lớp có thể dùng như một công cụ vừa để

giải thích vừa để phân biệt giữa các đối tượng thuộc các lớp khác nhau Ví dụ, như đối với bài toán phân loại các loài động vật trên đây, mô hình phân lớp sẽ giúp cho các nhà sinh học có một công cụ vừa để miêu tả, tóm tắt dữ liệu cho trong bảng 1 vừa để giải thích được đặc tính nào xác định một loài Động vật

có xương sống là loài Động vật có vú, loài Bò sát, loài Chim, loài cá, hay loài lưỡng cư

Dự đoán: Mô hình phân lớp cũng có thể được dùng để dự đoán nhãn lớp

chưa xác định Hình 2 cho thấy một mô hình phân lớp có thể được dùng như

Trang 23

một hộp đen để tự động gắn nhãn lớp khi cho biết tập hợp các thuộc tính của đối tượng mới

Giả sử chúng ta cĩ các thuộc tính của một lồi sinh vật đã được biết đến

là quái vật gila Chúng ta cĩ thể sử dụng mơ hình phân lớp được xây dựng từ bảng 1 để xác định nhãn lớp mà lồi vật này thuộc vào

Các kỹ thuật phân lớp thích hợp cho hầu hết các trường hợp cần dự đốn hay miêu tả các tập đối tượng nhị phân hoặc đa phân Chúng ít hiệu quả hơn với các loại dữ liệu thơng thường (ví dụ như chiều cao, trọng lượng…), bởi vì các kỹ thuật này khơng xem xét đến thứ tự ngầm giữa các loại

1.2.2 Phương pháp tiếp cận chung để giải quyết bài tốn phân lớp

Kỹ thuật phân lớp là cách tiếp cận cĩ hệ thống nhằm xây dựng mơ hình phân lớp từ một tập đối tượng đầu vào Cĩ nhiều phương pháp phân lớp: Phương pháp phân biệt tuyến tính của Fisher, phương pháp nạve Bayes, phương pháp mạng nơron, phương pháp máy véc-tơ hỗ trợ, phương pháp cây quyết định, … Mỗi phương pháp cần một giải thuật học để tìm ra mơ hình tốt nhất, phù hợp với mối quan hệ giữa tập các thuộc tính điều kiện và và thuộc tính nhãn lớp của dữ liệu đầu vào Mơ hình được tạo ra bởi một giải thuật học cần phải phù hợp với cả dữ liệu nhập vào và dự đốn chính xác nhãn lớp của tập đối tượng mà nĩ chưa gặp trước đĩ Do đĩ, đối tượng chính của việc nghiên cứu thuật tốn là xây dựng một mơ hình cĩ khả năng khái quát tốt, nghĩa là các mơ hình phải dự đốn chính xác nhãn lớp của các tập đối tượng chưa từng xuất hiện trước đĩ

nhiệt

Đẻ con

Sống dưới nước

Biết bay

Cĩ chân

Ngủ đơng

Nhãn lớp

Quái vật Gila Máu

lạnh

Trang 24

Hình 3 thể hiện cách tiếp cận phổ biến để giải quyết bài toán phân lớp Đầu tiên, cung cấp một tập đối tượng huấn luyện bao gồm các tập đối tượng

mà nhãn lớp đã được xác định Tập huấn luyện này được sử dụng để xây dựng

mô hình phân lớp rồi sau đó áp dụng cho các tập đối tượng kiểm tra, tập này bao gồm các tập đối tượng chưa xác định nhãn lớp

Việc đánh giá một mô hình phân lớp dựa trên số lượng tập kiểm tra mà

mô hình dự đoán chính xác và chưa chính xác Các con số này được sắp xếp trong một bảng tạo thành một ma trận liên hợp Bảng 2 mô tả ma trận liên hợp cho bài toán phân lớp nhị phân Mỗi thành phần fij trong bảng thể hiện số tập đối tượng từ lớp i được dự đoán thuộc lớp j Ví dụ, f01 là số tập đối tượng ở lớp 0 nhưng được dự đoán không chính xác là ở lớp 1 Từ các thành phần của

ma trận ta có tổng số dự đoán đúng của mô hình là (f11 + f00), và tổng số dự đoán sai là (f10 + f01)

Mặc dù ma trận liên hợp cung cấp những thông tin cần thiết để xác định một mô hình phân lớp thực hiện tốt tới mức độ nào, nhưng việc đúc kết những thông tin này thành các con số sẽ thuận tiện hơn cho việc so sánh các mô hình khác nhau Điều này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng một số đo gọi

là “độ chính xác” Độ chính xác của mô hình được định nghĩa như sau:

độ chính xác = số dự đoán đúngtổng số dự đoán = f11 + f00

f11 + f10 + f01 + f00 Một cách tương đương, chất lượng của một mô hình có thể được miêu

tả bởi “sai số”, xác định như sau:

sai số = số dự đoán sai

tổng số dự đoán =

f10 + f01

f11 + f10 + f01 + f00 Hầu hết các thuật toán phân lớp đều tìm kiếm những mô hình cho phép đạt được độ chính xác cao nhất (sai số thấp nhất) khi ứng dụng vào tập đối tượng kiểm tra

Trang 25

Hình 1.3 Phương pháp tiếp cận phổ biến xây dựng mô hình phân lớp

Bảng 1.2 Ma trận liên hợp (trường hợp 2 lớp)

Nhãn lớp dự đoán Lớp = 1 Lớp =0 Nhãn lớp

thực tế

Lớp = 1 f11 f10

Lớp = 2 f01 f00

Trang 26

1.3 Kết luận chương 1

Khai phá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học mới xuất hiện, nhằm tự động hóa khai thác những thông tin, tri thức hữu ích, tiềm ẩn trong các CSDL, giúp

chúng ta giải quyết tình trạng ngày một gia tăng trong những năm qua: “Ngập

trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức” Các kết quả nghiên cứu cùng với những

ứng dụng thành công trong khai phá dữ liệu, khám phá tri thức cho thấy khai phá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích, đồng thời có ưu thế hơn hẳn so với các công cụ phân tích dữ liệu truyền thống Nội dung của chương 1 đã trình bày khái quát về khai phá dữ liệu và bài toán phân lớp Nội dụng khái quát về khai phá dữ liệu bao gồm tóm tắt quá trình khai phá, các phương pháp, các ứng dụng và những thách thức Với bài toán phân lớp, học viên đã phát biểu bài toán, các phương pháp tiếp cận,

phương pháp đánh giá mô hình và thuật toán giải bài toán phân lớp

Trang 27

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẬP THÔ

2.1 Giới thiệu

Lý thuyết tập thô (rough set theory) lần đầu tiên được đề xuất bởi Z

Pawlak và nhanh chóng được xem như một công cụ xử lý các thông tin mơ hồ

và không chắc chắn Phương pháp này đóng vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và các ngành khoa học khác liên quan đến nhận thức, đặc biệt là lĩnh vực máy học, thu nhận tri thức, phân tích quyết định, phát hiện

và khám phá tri thức từ cơ sở dữ liệu, các hệ chuyên gia, các hệ hỗ trợ quyết định, lập luận dựa trên quy nạp và nhận dạng [1,3,7]

Lý thuyết tập thô dựa trên giả thiết rằng đề định nghĩa một tập hợp, chúng ra cần phải có thông tin về mọi đối tượng trong tập vũ trụ Ví dụ, nếu các đối tượng là những bệnh nhân bị một bệnh nhất định thì các triệu chứng của bệnh tạo thành thông tin về bệnh nhân Như vậy tập thô có quan điểm hoàn toàn khác với quan điểm truyền thống của tập hợp, trong đó mọi tập hợp đều được định nghĩa duy nhất bởi các phần tử của tập hợp Rõ ràng, có thể tồn tại một số đối tượng giống nhau ở một số thông tin nào đó, và ta nói chúng có quan hệ bất khả phân biệt với nhau Đây chính là quan hệ mấu chốt và là điểm xuất phát của lý thuyết tập thô: biên giới tập thô là không rõ ràng, và để xác định nó chúng ta phải đi xấp xỉ nó bằng các tập hợp khác nhằm mục đích cuối cùng là trả lời được (tất nhiên càng xác định càng tốt) rằng một đối tượng nào

đó thuộc tập hợp hay không Lý thuyết tập thô với cách tiếp cận như vậy đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu các khái niệm và ý nghĩa cơ bản của lý thuyết tập thô Đây là những kiến thức quan trọng cho việc áp dụng tập thô vào bài toán quy nạp các quy tắc phân lớp được đề cập trong chương 3

Trang 28

2.2 Hệ thông tin

Một tập dữ liệu dưới dạng bảng, trong đó mỗi dòng thể hiện một đối tượng, mỗi cột thể hiện một thuộc tính (một đặc trưng) của các đối tượng,

được gọi là một hệ thông tin (information system)

Một cách hình thức, người ta định nghĩa hệ thông tin là một cặp S = (U,

A) trong đó U là tập hữu hạn không rỗng các đối tượng và được gọi là tập vũ trụ, A là tập hữu hạn không rỗng các thuộc tính sao cho a : U → V a với mọi

a A Tập V a được gọi là tập giá trị của thuộc tính a

Ví dụ 1-1 : Bảng dữ liệu trong Bảng 2.1 dưới đây cho ta hình ảnh về

một hệ thông tin với 7 đối tượng và 2 thuộc tính [1]

Bảng 2.1: Một hệ thông tin đơn giản

Ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong bảng trên, các cặp đối tượng x 3,

x 4 và x 5 , x 7 có giá trị bằng nhau tại cả hai thuộc tính Khi đó ta nói rằng các

đối tượng này không phân biệt từng đôi đối với thuộc tính {Age, LEMS}

Trong nhiều ứng dụng, tập vũ trụ được chia thành các tập đối tượng con

bởi một tập các thuộc tính phân biệt được gọi là tập thuộc tính quyết định

Nói cách khác tập vũ trụ đã được phân lớp bởi tập thuộc tính quyết định Hệ

thông tin trong trường hợp này được gọi là một hệ quyết định hay bảng quyết

Trang 29

định Như vậy hệ quyết định là một hệ thông tin có dạng S = (u, C D)

trong đó A = C D, C ∩ D = C và D lần lượt được gọi là tập thuộc tính

điều kiện và tập thuộc tính quyết định của hệ thông tin

Ví dụ 1-2 : Bảng 2.2 dưới đây thể hiện một hệ quyết định, trong đó tập

thuộc tính điều kiện giống như trong Bảng 1-1 và một thuộc tính quyết định

{Walk} được thêm vào nhận hai giá trị kết xuất là Yes và No [1]

Bảng 2.2: Một hệ quyết định với C = {Age, LEMS} và D = {Walk}

Age LEMS Walk

Một lần nữa ta thấy rằng, các cặp đối tượng x 3 , x 4 và x 5 , x 7 vẫn có giá trị

như nhau tại hai thuộc tính điều kiện, nhưng cặp thứ nhất {x 3 , x 4 } thì có giá trị

kết xuất khác nhau (tức giá trị tại thuộc tính quyết định khác nhau), trong khi

đó cặp thứ hai {x 5 , x 7 } thì bằng nhau tại thuộc tính quyết định

2.3 Quan hệ bất khả phân biệt

2.3.1 Sự dư thừa thông tin

Một hệ quyết định (hay một bảng quyết định) thể hiện tri thức về các đối tượng trong thế giới thực Tuy nhiên trong nhiều trường hợp bảng này có thể được tinh giảm do tồn tại ít nhất hai khả năng dư thừa thông tin sau đây:

- Nhiều đối tượng giống nhau, hay không thể phân biệt với nhau lại được thể hiện lặp lại nhiều lần

Trang 30

- Một số thuộc tính có thể là dư thừa, theo định nghĩa khi bỏ đi các thuộc tính này thì thông tin do bảng quyết định cung cấp mà chúng ta quan tâm sẽ không bị mất mát

Ví dụ 1-3: Trong bảng 2.3 dưới đây nếu chúng ta chỉ quan tâm tới tập

thuộc tính {a,b,c} của các đối tượng thì ta sẽ có nhận xét: có thể bỏ đi thuộc tính c mà thông tin về các đối tượng vẫn không đổi, chẳng hạn nếu ta có một đối tượng với hai thuộc tính a, b nhận hai giá trị 0, 1 thì có thể nói ngay rằng giá trị của nó tại thuộc tính c là 1

Bảng 2.3: Một bảng dữ liệu thừa thông tin

2.3.2 Quan hệ tương đương - Lớp tương đương

Chúng ta bắt đầu xem xét vấn đề dư thừa thông tin nói trên qua khái

niệm quan hệ tương đương Một quan hệ hai ngôi R X X được gọi là quan

hệ tương đương khi và chỉ khi:

-R là quan hệ phản xạ: xRx, X

-R là quan hệ đối xứng : xRy yRx,

Trang 31

-R là quan hệ bắc cầu : xRy và yRx xRz,

Một quan hệ tương đương R sẽ phân hoạch tập đối tượng thành các lớp

tương đương, trong đó lớp tương đương của một đối tượng x là tập tất các đối

tượng có quan hệ R với x

Tiếp theo, xét hệ thông tin S = (U, A) Khi đó mỗi tập thuộc tính B A đều tạo ra tương ứng một quan hệ tương đương IND A :

INDA (B) = {(x,x’) 2 |

INDA(B) được gọi là quan hệ B – bất khả phân biệt Nếu (x, x’)

A(B) thì các đối tượng x và x’ là không thể phân biệt được với nhau qua tập thuộc tính B Với mọi đối tượng x U , lớp tương đương của x trong quan hệ INDA(B) được ký hiệu bởi [x] B Nếu không bị nhầm lẫn ta viết

IND(B) thay cho INDA(B) Cuối cùng, quan hệ B – bất khả phân biệt phân hoạch tập đối tượng U thành các lớp tương đương mà ta ký hiệu là U |

IND(B)

Ví dụ 1-4: Tập thuộc tính {a, b, c} trong bảng 1-3 phân tập đối tượng

{1,2,…,9} thành các lớp tương đương sau:

Trang 32

L = L Bước 4 : Thực hiện bước 2

Trang 33

có thể được mô tả một cách rõ ràng thông qua tập các giá trị tại các tập thuộc tính điều kiện Để làm rõ ý tưởng quan trọng này ta xem ví dụ dưới đây

Ví dụ 1-5 : Xét hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng sau đây : Bảng 2.4 : Một hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng

4 Trung bình Không Không cháy nắng

Trong hệ quyết định trên, thuộc tính Kết quả là thuộc tính quyết định

và hai thuộc tính giữa là thuộc tính điều kiện Tập thuộc tính điều kiện C =

{Trọng lượng, Dùng thuốc} phân hoạch tập các đối tượng thành các lớp

tương đương:

U | IND(C) = {1,2}, {3}, {4}}

Nhận xét rằng tất cả các đối tượng thuộc cùng một lớp tương đương đều

có cùng giá trị tại thuộc tính quyết định Do đó ta có thể mô tả thuộc tính quyết định như sau :

- Kết quả sẽ là không cháy nắng nếu và chỉ nếu

trọng lượng là nhẹ và có dùng thuốc hoặc

trọng lượng là trung bình và không dùng thuốc

- Kết quả sẽ là cháy nắng nếu và chỉ nếu

trọng lượng là nặng và không dùng thuốc

Ta nói hai khái niệm Cháy nắng và Không cháy nắng trong thuộc tính

Kết quả có thể được định nghĩa rõ ràng qua hai thuộc tính Trọng lượng và Dùng thuốc Tuy vậy không phải lúc nào cũng có thể định nghĩa một khái

Trang 34

niệm nào đó một cách rõ ràng như vậy Chẳng hạn với bảng quyết định trong

Bảng 1-2, khái niệm Walk không thể định nghĩa rõ ràng qua hai thuộc tính điều kiện Age và LEMS : hai đối tượng x 3 và x 4 thuộc cùng một lớp tương đương tạo bởi 2 thuộc tính có điều kiện nhưng lại có giá trị khác nhau tại

Walk, vì vậy nếu một đối tượng nào đó có (Age, LEMS) = (31 – 45, 1 – 25)

thì ta vẫn không thể biết chắc chắn giá trị của nó tại thuộc tính Walk (Yes hay

No ?), nói cách khác ta sẽ không thể có một luật như sau : “Walk là Yes nếu Age là 31 – 45 và LEMS là 1 – 25” Và đây chính là nơi mà khái niệm tập thô được sử dụng!

Mặc dù không thể mô tả khái niệm Walk một cách rõ ràng nhưng căn cứ tập thuộc tính {Age, LEMS} ta vẫn có thể chỉ ra được chắc chắn một số đối tượng có Walk là Yes, một số đối tượng có Walk là No, còn lại là các đối tượng thuộc về biên giới của hai giá trị Yes và No, cụ thể :

- Nếu đối tượng nào đó có giá trị tập thuộc tính {Age,LEMS} thuộc tập {16 – 30, 50}, {16- 30, 26 – 49}} thì có Walk là Yes

- Nếu đối tượng nào có giá trị tại tập thuộc tính {Age,LEMS} thuộc tập {{16 – 30, 0}, {46 – 60, 26 – 49}} thì có Walk là No

- Nếu đối tượng nào có giá trị tại tập thuộc tính {Age, LEMS} thuộc tập {{31 – 45, 1- 25}} thì có Walk là Yes hoặc No Những đối tượng này, như nói ở trên thuộc về biên giới của 2 giá trị Yes và No

Những khái niệm trên được thể hiện một cách hình thức như sau

Cho những hệ thông tin A = (U, A), tập thuộc tính B A, tập đối tượng

X U Chúng ta có thể xấp xỉ tập hợp bằng cách chỉ sở dụng các thuộc tính

trong B từ việc xây dựng các tập hợp B – xấp xỉ dưới và xấp xỉ trên được

định nghĩa như sau :

- B – xấp xỉ dưới của tập X : BX = {x | [x] B X}

- B – xấp xỉ trên của tập X : B X = { x | [x]B X

Trang 35

Tập hợp BX là tập các đối tượng trong U mà sử dụng các thuộc tính trong B ta có thể biết chắc chắn là các phần tử của X

Tập hợp B X là tập các đối tượng trong U mà sử dụng các thuộc tính

trong B ta chỉ có thể nói rằng chúng có thể là các phần tử của X

Tập hợp BN B (X) = B X \ BX được gọi là B-biên của tập X và chứa những

đối tượng mà sử dụng các thuộc tính của B ta không thể xác định được chúng

có thuộc tập X hay không

Tập hợp U \ B X được gọi là B-ngoài của tập X, gồm những đối tượng

mà sử dụng tập thuộc tính B ta biết chắc chắn chúng không thuộc tập X

Mọt tập hợp được gọi là thô nếu đường biên của nó là không rỗng, ngược lại ta nói tập này là rõ Lưu ý rằng do khái niệm biên của một tập đối

tượng gắn liền với một tập thuộc tính nào đó nên khái niệm thô hay rõ ở đây cũng gắn liền với tập thuộc tính đó

Trong đa số trường hợp, người ta luôn muốn hình thành các định nghĩa của các lớp quyết định từ các thuộc tính điều kiện

Ví dụ 1-7 :

Xét bảng 1-2 ở trên với tập đối tượng W = {x | Walk (x) = Yes} = {x 1 , x 4 ,

x 6 } và tập thuộc tính B = {Age,LEMS} Khi đó ta nhận được các vùng xấp xỉ

sau đây của W thông qua B :

BW = {x 1 , x 6 }, B W = {x 1 , x 3 , x 4 , x 6 }

BN B (W) = {x 3 , x 4 }, U \ W B = {x 2 , x 5 , x 7 }

Trang 36

Hình 2.1: Xấp xỉ tập đối tượng trong bảng 1-2 bằng các thuộc tính điều kiện Age và LEMS Mỗi vùng được thể hiện kèm theo tập các lớp tương ứng

Ví dụ 1-6 : Ta xét một ví dụ khác với bảng giá trị về thuộc tính của xe

hơi như sau :

Bảng 2.5 : Hệ thông tin về thuộc tính của xe hơi

Đối

tượng Model Cylinder Door Power Weight Mileage

Trang 37

Ta có tập vũ trụ U = {1,2,…,14} Giả sử chọn tập thuộc tính B =

{Cylinder, Power, Weight} và chọn thuộc tính quyết định là D = Mileage

Như vậy thuộc tính quyết định gồm 2 khái niệm D Medium = “Mileage = Medium” và D High = “Mileage = High”

Trang 38

Nên : P B(Y), từ đó : o B(Y)

Vậy : B(X) B(Y) Tương tự ta chứng minh được B (X) B (Y)

Ngày đăng: 24/03/2021, 17:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Andrzej Skowron, Ning Zong (2000), Rought Sets in KDD, Tutorial Notes Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rought Sets in KDD
Tác giả: Andrzej Skowron, Ning Zong
Năm: 2000
[2] Grzymala-Busse J. W., LERS - a system for learning from examples based on rough sets. In R. Slowínski, (ed.) Intel ligent Decision Support, Kluwer Academic Publishers, 1992, 3-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intel ligent Decision Support
[4] Jiawei Han, Michline Kamber (2001), Data Mining: Concepts and Techniques, Morgan Kaupmann Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Data Mining: Concepts and Techniques
Tác giả: Jiawei Han, Michline Kamber
Năm: 2001
[5] Jiye Li and Nick Cercone (2006). Introducing A Rule Importance Measure. Technical Report, School of Computer Science, University of Waterloo, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical Report
Tác giả: Jiye Li and Nick Cercone
Năm: 2006
[6] Mienko R., Stefanowski J., Toumi K., Vanderpooten D., Discovery- Oriented Induction of Decision Rules. Cahier du Lamsade no. 141, Paris Dauphine, Septembre 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cahier du Lamsade
[7] Pawlak Z. (1991), Rough Sets - Theoritical Aspects of Reasoning about Data, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rough Sets - Theoritical Aspects of Reasoning about Data
Tác giả: Pawlak Z
Năm: 1991
[8] Pawlak Z., Skowron A., A rough set approach for decision rules generation, ICS Research Report, 23/93 Warsaw University of Technology, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ICS Research Report
[9] Skowron A., Extracting Laws from Decision Tables. Computational Intelligence: An International Journal 11 (2), 1995, pp. 371-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computational Intelligence: An International Journal
[10] Skowron A., Boolean reasoning for decision rules generation. In Komorowski J., Ras Z. (eds), Methodologies for Intelligent Systems, LNAI 689, Springer-Verlag, Berlin, 1993, pp. 295-305 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methodologies for Intelligent Systems
[12] Stefanowski J., On rough set based approaches to induction of deci- sion rules, in Polkowski L., Skowron A. (eds.), Rough Sets in Data Mining and Knowledge Discovery, Physica-Verlag, 1998, 500–530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rough Sets in Data Mining and Knowledge Discovery
[13] Stefanowski J., Classification support based on the rough sets. Foundations of Computing and Decision Sciences, vol 18, no, 3-4.1993, 371-380 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foundations of Computing and Decision Sciences
[14] Stefanowski J., Vanderpooten D., A general two stage approach to rule induction from examples. In W. Ziarko, editor, Rough Sets, Fuzzy Sets and Knowledge Discovery, Springer-Verlag, 1994, pp. 317-325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rough Sets, Fuzzy Sets and Knowledge Discovery
[3] Jan Komorowski, Zdzislaw Pawlak, Lech Polkowski, Andrzej Skowron (1999), Rough Sets: A Tutorial Khác
[11] Slowinski R., Stefanowski J., Rough classiffication with valued closeness relation. In Diday E. (ed). New Approaches in Classication Khác
[15] Torgeir R. Hvidsten, A tutorial-based guide to the ROSETTA system: A Rough Set Toolkit for Analysis of Data Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w