1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số dẫn liệu về đa dạng kiến insecta hymenoptera formicidae ởkhu bảo tồn thiên nhiên hòn bà tỉnh khánh hòa

63 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ăn thịt, là con mồi và là sinh vật phân giải các chất hữu cơ trong hệ sinh thái Bolt

Trang 1

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ ĐA DẠNG KIẾN (INSECTA: HYMENOPTERA: FORMICIDAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ, KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ ĐA DẠNG KIẾN (INSECTA: HYMENOPTERA: FORMICIDAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ, KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI TUẤN VIỆT

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

DANH LỤC CÁC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT……… ……….i

DANH LỤC HÌNH……….…… ii

DANH LỤC BẢNG……… … iii

MỞ ĐẦU I 1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Nội dung của đề tài 2

4 Ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Vai trò quan trọng của kiến 3

1.2 Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới 4

1.3 Tình hình nghiên cứu kiến ở Việt Nam 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 11

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu 12

2.2.1 Nghiên cứu thực địa 12

2.2.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 13

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 13

2.2.4 Hình thái ngoài của kiến 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

3.1 Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại KBTTN Hòn Bà 15

3.2 Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại các khu vực độ cao 22

Trang 4

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

3.3 Phân bố của các giống kiến theo các nhóm chức năng 26

3.4 Khóa phân loại và đặc điểm hình thái của các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà 29

3.4.1 Khóa phân loại các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà 29

3.4.2 Một số đặc điểm hình thái của các phân họ kiến ở KBTTN Hòn Bà 36

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

4.1 Kết luận 44

4.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Tài liệu tiếng Việt 46

Tài liệu tiếng Anh 47 PHỤ LỤC

Trang 5

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

i

DANH LỤC CÁC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

KBTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên

Trang 6

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ii

DANH LỤC HÌNH

Hình 1 Hình thái cấu tạo cơ thể kiến 1 đốt eo ……… 14

Hình 2 Hình thái cấu tạo bộ phận đầu kiến 15

Hình 3 Hình thái cấu tạo cơ thể kiến 2 đốt eo 15

Hình 4 Phân bố các loài trong các giống và nhóm giống kiến 20

Hình 5 Các giống và phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà và tại khu hệ kiến Việt Nam 21

Hình 6e Biểu đồ các giống và phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà ………….22

Hình 6f Biểu đồ các giống và phân họ kiến tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu……… 22

Hình 7 Đa dạng giống và loài kiến ở các khu vực độ cao 26

Hình 8 Sự phân bố của các giống kiến trong các nhóm chức năng ….…… 29

Hình 1a Tấm lưng của đốt bụng thứ VII (pygidium) 33

Hình 1b Tấm lưng của đốt bụng thứ VII (pygidium) 32

Hình 1c Tấm bụng của đốt bụng thứ VII (hypopygium) 32

Hình 2a Lỗ thở 32

Hình 2b Lỗ thở 32

Hình 2c Lưng ngực 32

Hình 2d Lưng ngực 32

Hình 3a Eo cơ thể 1 đốt(petiola) 33

Hình 3b Eo cơ thể 2 đốt (petiola) 33

Hình 5a Đốt bụng thứ IV dạng uốn cong 33

Hình 5b Đốt bụng thứ IV dạng không uốn cong 33

Trang 7

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

iii

Hình 6a Ổ râu đầu nằm dưới đường ngang gốc hàm 33

Hình 6b Ổ râu đầu nằm dưới đường ngang gốc hàm 33

Hình 6c Ổ râu đầu nằm trên đường ngang gốc hàm 33

Hình 8a Đốt bụng thứ I 34

Hình 8b Đốt bụng thứ I 34

Hình 22 Đường rãnh của tấm lưng và tấm bụng của đốt bụng thứ I; ngòi châm 34

Hình 23 Đường rãnh của tấm lưng và tấm bụng của đốt bụng thứ I 34

Hình 24 Lỗ chứa axit 35

Hình 25 Đỉnh của tấm bụng của đốt bụng thứ VII 35

Hình 34 Ổ râu đầu 35

Hình 33 Bộ phận miệng 35

Hình 35 Bộ phận miệng 35

Hình 36 Ổ râu đầu 35

DANH LỤC BẢNG Bảng 1 Thành phần loài kiến 16

Bảng 2 Sự phân bố của các loài kiến ở các khu vực độ cao 23

Bảng 3 Sự phân bố của các loài kiến trong các nhóm chức năng 27

Trang 8

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ăn thịt, là con mồi và là sinh vật phân giải các chất hữu cơ trong hệ sinh thái (Bolton, 2003) [15].Việc nghiên cứu sinh học và sinh thái của các loài kiến nhiệt đới sẽ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu các hệ sinh thái, song kiến thức của chúng ta về kiến còn nhiều hạn chế Thậm chí việc phân loại kiến, cơ sở nghiên cứu của nhiều lĩnh vực sinh học, đang còn phải trong quá trình tiến tới hoàn thiện (Ito et al., 2001) [30] Đặc biệt trong vùng Đông Phương (Oriental region), trong đó có Việt Nam, khu hệ kiến vẫn ít được điều tra khám phá sau các công trình tiên phong vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của một số tác giả phương Tây:Frederick Smith, Carlo Emery, Auguste Forel, William Morton Wheeler (Radchenko, 2001) [36] Bên cạnh vai trò chức năng quan trong trọng hệ sinh thái, kiến đang được xem như là những vật chỉ thị đánh giá đa dạng sinh học (Ito et al., 2001) [30] Một số loài kiến đang được ứng dụng trong phòng trừ sinh học các loài sâu hại bảo vệ cây trồng, một số loài kiến có thể khai thác và nhân nuôi dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho con người (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015)[2]

Bên cạnh những mặt có lợi phục vụ phát triển kinh tế và đời sống con người, kiến còn có một số mặt tiêu cực, chẳng hạn như một số loài kiến sống trong các khu dân cư và thường kéo theo bầy đàn với số lượng lớn, chúng trở thành đối tượng gây phiền toái cho con người Sự xuất hiện của kiến trong thức ăn, đồ uống đã gây nên sự kinh hãi cho nhiều người Một số loài khi cắn

Trang 9

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2

hoặc đốt gây ra những mụn ngứa hoặc bỏng rộp cho con người Một số loài kiến làm tổ trong gỗ gây hại các cấu kiện của gỗ Kiến cũng là một trong những vectơ truyền nhiều loại bệnh cho người và gia súc (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5] Vì vậy nghiên cứu kiến cũng có ý nghĩa chỉ ra thành phần loài kiến

có hại, tạo cơ sở cho việc phòng trừ chúng

Để góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá tính đa dạng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bổ sung dẫn liệu về đa dạng kiến

Việt Nam thêm phong phú, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đưa ra “Một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ởKhu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa”

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu sự đa dạng của các phân họ và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà

- Nghiên cứu giá sự đa dạng của các giống kiến trong các nhóm chức năng

- Nghiên cứu thành phần loài kiến ở các đới độ cao khác nhau tạiKhu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà

3 Nội dung của đề tài

- Thống kê thành phần loài và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà

- Xác định sự phân bố của các loài kiến trong các nhóm chức năng

- Xây dựng khóa phân loại các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, mô tả đặc trưng hình thái các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà

4 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài cung cấp một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa nói riêng và khu hệ kiến Việt Nam nói chung

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 10

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

3

1.1 Vai trò quan trọng của kiến

Kiến (Hymenoptera: Formicidae) là một trong những nhóm côn trùng

xã hội cánh màng có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015) [2], chúng có mặt ở khắp mọi nơi, những khoảng không có sẵn đều có thể trở thành nơi cư trú của kiến, chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái

Trong thực tế,ở một vài nơi kiến phát triển với số lượng cực lớn và có thể tạo ra sinh khối rất lớn Ở Tây Phi, Lamotte (1947) đã xác nhận kiến chiếm 27% số lượng động vật không xương sống và 4% sinh khối Ở vùng đồng cỏ Bắc Mỹ kiến bắt mồi chiếm 1-15% tổng sinh khối của động vật không xương sống dưới mặt đất Trong nhiều sa mạc, kiến là vật tiêu thụ chủ yếu hạt của các cây hàng năm và thường gây áp lực đối với tỷ lệ tăng trưởng quần thể của loài chuột, vì cả hai đều có chung một loại thức ăn (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5]

Khi xâm nhập vào nhà cửa, các loài kiến thuộc giống Eciton ở châu Mỹ

và các loài của giống Dorylus ở châu Âu và châu Á, đã tiêu diệt tất cả các côn

trùng gây hại khác chẳng hạn như gián, rệp … Một điều rất kỳ lạ là dọc theo những cột di chuyển của kiến, người ta không thấy có sâu và chuột gây hại (Bùi Công Hiển và nnk, 2014)[3]

Ở đa số những nơi cư trú, kiến dẫn đầu những vật ăn thịt trong số các loài côn trùng và các loài động vật không xương sống nhỏ bé sống trong đất (Jeanne, 1979; Willson, 1971) [31, 42].Pierre Jolivet (1966) đã nhận thấy kiến

có tác dụng làm xốp đất giống như giun đất [33]

Trong rừng ôn đới ở New York, kiến có tác dụng phát tán gần 1/3 số loài cây hòa thảo, các loài cây này đã sản xuất đến 40% sinh khối trên mặt đất (Handel et al., 1981) [28] Kiến còn vận chuyển phân tán các hạt cây rừng lên

Trang 11

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

4

các tảng đá trần trụi ở Phần Lan (Oinonen, 1956) [32].Những vùng có tổ kiến thường có lượng carbon, nitrogen và phospho cao Nồng độ nitrogen thường phân bố không đồng đều trên mặt đất do đó tạo ra sự phân bố không đồng đều của thảm thực vật (Briese, 1982) [17].Thành phần dinh dưỡng trong các tổ kiến khác với thành phần dinh dưỡng vùng đất xung quanh tổ kiến Hiệu quả dinh dưỡng trong tổ kiến duy trì được trong thời gian dài, đôi khi trong suốt năm sau khi tách chúng ra khỏi các tổ (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5].Nói chung cây trồng thường phát triển tốt hơn trên đất của các tổ kiến cũ

Kiến đặc biệt thích hợp với các chương trình đánh giá và kiểm soát môi trường, vì tính đa dạng và sự phong phú của chúng ở hầu hết các nơi cư trú

Đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng kiến trong đánh giá và kiểm soát môi trường, ví dụ như nghiên cứu sự đa dạng của kiến theo độ cao địa hình ở Madagascar (Fisher, 1996), kết quả đã thu được 148 loài kiến thuộc 28 giống, thành phần loài kiến thay đổi theo độ cao từ 785-825m tới 1275-1680m, từ vùng đất thấp tới vùng đất cao Andersen (1992) đã sử dụng kiến để đánh giá khả năng phục hồi môi trường sau khi khai mỏ tại đất rừng savan Australia Kết quả cho thấy thành phần loài kiến tăng theo thời gian sau 8 năm, tuy nhiên mức độ tăng vẫn chưa đạt số lượng loài so với công thức đối chứng (Bolton, 1995) [13]

Kiến là một trong những nhóm côn trùng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt như khả năng thông tin trong các quần thể kiến, sự phản ứng của chúng với những thay đổi của môi trường luôn thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới

1.2 Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới

Hệ thống phân loại kiến mà chúng ta tiếp thu được ngày nay là thành tựu hơn một thế kỷ tích lũy công sức của nhiều nhà khoa học Các tác giả đầu tiên như Nylander (1846a, 1846b, 1849), Smith (1858), Mayr (1861, 1863) và

Trang 12

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

5

Roger (1863b) đã tiến hành nghiên cứu tập hợp tên các taxon ở mức độ giống

và loài, song họ chưa quan tâm nhiều đến việc sắp xếp các taxon trên thành hệ thống phân loại chuẩn theo quy định Tiếp theo là thế hệ các nhà phân loại kiến thứ hai, bên cạnh việc bổ sung số lượng lớn tên vào danh sách các loài kiến đang phát triển nhanh chóng, họ bắt đầu sắp xếp tên vào hệ thống phân loại chuẩn Sau đó, Emery (1877a, 1895j, 1896e, 1901a, 1914a, 1915i) và Forel (1878, 1893) đã phát triển thành hệ thống phân loại như ngày nay Chính hệ thống này đã được nhiều tác giả sử dụng, như Emery sử dụng trong một loạt công trình về các giống côn trùng công bố vào các năm 1910, 1911,

1912, 1921, 1922, 1925 và các công trình của Wheeler (1920, 1925) Kết quả của họ được gọi là hệ thống phân loại Emery- Wheeler (Brown, 1958g), trong

đó hai tác giả đã trình bày khóa phân loại các giống kiến của thế giới và các taxon bậc cao hơn, hệ thống phân loại này đã có ảnh hưởng to lớn trong việc giải quyết những khó khăn tồn tại trong nhiều năm (Bolton, 1995) [13] Vào năm 1950, sau một thời gian dài sử dụng, các nhà khoa học đã nhận thấy hệ thống phân loại kiến của Emery-Wheeler xuất hiện những sai sót rất khó có thể khắc phục và đã không được sử dụng nhiều trong giới khoa học Đến năm

1951, Clark và Bernard đề xuất đưa ra hai hệ thống phân loại đặc trưng của các phân họ kiến Hệ thống này đã nhanh chóng được Brown (1954e) sử dụng, đồng thời đề xuất ra những thay đổi cơ bản trong phương hướng phân loại kiến Những công trình của Brown đã hình thành nền tảng cho các nghiên cứu hiện đại trong cả hai lĩnh vực phân loại và phát sinh loài kiến (Bolton, 1995) [13] Trong khuôn khổ hệ thống phân loại trên bao gồm các bảng danh lục của Brown (1973b), Snelling (1981), Wheeler (1985), Dlussky và Fedoseeva (1987), Holldobler và Wilson (1990), Bolton (1994)

Về việc nghiên cứu phát sinh loài kiến hoặc những ý định giải thích nguồn gốc của các dạng phân họ kiến đã được Wheeler khởi thảo từ năm

Trang 13

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Về nghiên cứu tổ chức xã hội loài kiến và sự đa dạng sinh học của chúng đã bùng nổ thông qua nhiều tác giả như Beattie (1985), Blum (1984), Dlussky (1981a), Holldobler và Willson (1990)

Trên thế giới, lực lượng các nhà khoa học nghiên cứu kiến đang phát triển rộng rãi, theo thống kê vào năm 2003 có khoảng 400 người tham gia nghiên cứu kiến Ở Nhật Bản có hội nghiên cứu kiến khoảng trên 30 người Vùng Đông Nam châu Á đã thành lập mạng lưới nghiên cứu kiến (AneT), trong đó có Việt Nam

Theo Bolton 2010, trên thế giới có khoảng 22 phân họ, 299 giống và

14095 loài kiến đã được mô tả Năm 2011,Pfeiffer và những người khácđã thống kê và đưa ra danh sách các loài kiến của vùng Borneo (Brunei, Sabah

và Sarawak của Malaysia và Kalimantan của Indonesia) gồm 97 giống, 12 phân họ và 769 loài và phân loài (Pfeiffer et al., 2011) [34] Theo thống kê vào năm 2012, khu hệ kiến Trung Quốc có 939 loài và phân loài thuộc 103 giống và 12 phân họ (Guénard et al., 2012) [27]

1.3 Tình hình nghiên cứu kiến ở Việt Nam

Trang 14

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

7

Nghiên cứu khu hệ kiến Việt Nam được khởi xướng từ những năm đầu thế kỷ 20 do một số tác giả người nước ngoài thực hiện: Bingham, 1903; Santchi, 1920; Wheeler, 1927; Karawajew, 1935

Thời gian từ sau hòa bình lặp lại (1954) cũng có một số tác giả nước ngoài điều tra nghiên cứu kiến tại miền Bắc Việt Nam như Pisarski và Proszynski, 1959; Pisarski và Bielawski, 1966.Đã thống kê và công bố được danh sách 31 loài kiến thuộc ba phân họ Pseudomyrmecinae, Dorylinae,

Ponerinae.Tám loài lần đầu tiên ghi nhận tại Việt Nam: Aenictus laeviceps, A brevicornis, Cerapachys sulcinodis, C sauteri, Leptogenys minchini, L lucidula, Pseudoponera amblyops, Brachyponera jerdoni(Radchenko,1993]

[35]

Năm 1965-1966, Chương trình điều tra côn trùng tổng hợp của Bộ Nông nghiệp, 36 loài kiến được ghi lại.Tuy nhiên danh sách các loài kiến cần được sửa đổi dựa trên các nguyên tắc phân loại hiện đại (Eguchi et al., 2011) [24] Năm 2008,Katsuyuki Eguchi đã sửa đổi và sắp xếp một số loài trong giống Pheidole (Insecta: Hymenoptera: Formicidae: Myrmicinae)[23]

Từ năm 2001 đến 2006,Radchenko vànnklần đầu tiên ghi nhận giống

Myrmica ở miền Bắc Việt Nam với ba loài mới M yamanei, M titanica và M schoedli(Radchenko et al., 2006) [37]

Nghiên cứu khu hệ kiến Việt Nam được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ,tuy nhiên đến cuối thế kỷ 20đầu thế kỷ 21 mới có tác giả người Việt Namnghiên cứu kiến như Bùi Tuấn Việt, Bùi Công Hiển, Nguyễn Văn Quảng

… thể hiện qua các công trình công bố,danh sách các loài kiến của khu hệ kiến Việt Nam không ngừng được tăng trưởng

Năm 2003, từ bộ mẫu kiến thu thập tại các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia (Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Vì, Bái Tử Long, Cát Bà, Hoàng

Trang 15

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

8

Liên, Hữu Liên, Kim Hỷ, Phong Điền, Tây Yên Tử, Kỳ Thượng) và 8 địa điểm thuộc khu vực thành thị và nông thôn, Bùi Tuấn Việt đã bước đầu phân tích và đưa ra kết quả với 281 loài thuộc 59 giống tại miền Bắc Việt Nam [6]

Năm 2004, Bùi Tuấn Việt đã phân tích và bổ sung thêm 26 loài và 15 giống kiếm mới, đưa số lượng loài kiến ở miền Bắc Việt Nam được biết đến lên 307 loài thuộc 74 giống, 9 phân họ [9]

Các nhà khoa học cũng đã điều tra, nghiên cứu kiến ở một số khu vực tại miền Nam Việt Nam Năm 2004, Bùi Công Hiển và nnk đã công bố tìm thấy 25 loài kiến thuộc 16 giống, 6 phân họ ở Vườn Quốc gia Côn Đảo Sau hai đợt điều tra nghiên cứu, Bùi Tuấn Việt và nnkđã phát hiện được 103 loài kiến thuộc 44 giống, 11 phân họ ở Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên[8]

Năm 2011, trong chương trình hợp tác Việt – Nga, Zryanin đã đưa ra danh sách các loài kiến ở miền Nam Việt Nam với 272 loài, 68 giống và 12

phân họ.Trong đó nhiều nhất là các giống: Polyrhachis (31 loài), Camponotus (21 loài), Pheidole (21 loài), Leptogenys (17 loài) vàCrematogaster (13 loài) Bảy giống:Echinopla Smith, 1857;Indomyrma Brown, 1986; Liomyrmex Mayr, 1865; Paratopula Wheeler, 1919;Proatta Forel, 1912;Protanilla Taylor, 1990 và Rotastruma Bolton, 1991 lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt

Trang 16

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

9

Pseudomyrmecinae (1 giống): Tetraponera; Phân họCerapachyinae (2 giống): Cerapachys, Simopone; Phân họ Aenictinae (1 giống): Aenictus; Phân họ Dorylinae (1 giống): Dorylus; Phân họ Leptanillinae (2 giống): Leptanilla, Protanilla; Phân họ Amblyoponinae (5 giống): Stigmatomma, Myopopone, Mystrium, Opamyrma, Prionopelta; Phân họ Ponerinae (12 giống): Anochetus, Centromyrmex, Cryptopone, Diacamma, Harpegnathos, Hypoponera, Leptogenys, Odontomachus, Odontoponera, Pachycondyla, Platythyrea, Ponera; Phân họ Ectatomminae (1 giống): Gnamptogenys; Phân

họ Proceratiinae (3 giống): Discothyrea, Probolomyrmex, Proceratium; Phân

họ Myrmicinae (38 giống): Acanthomyrmex, Anillomyrma, Aphaenogaster, Calyptomyrmex, Cardiocondyla, Cataulacus, Crematogaster, Dacatria, Dilobocondyla, Gauromyrmex, Kartidris, Lasiomyrma, Liomyrmex, Lophomyrmex, Lordomyrma, Mayeriella, Meranoplus, Monomorium, Myrmecina, Myrmica, Myrmicaria, Oligomyrmex, Paratopula, Parvimyrma, Pheidole, Pheidologeton, Pristomyrmex, Proatta, Pyramica, Recurvidris, Rhopalomastix, Rhoptromyrmex, Solenopsis, Strumigenys, Temnothorax, Tetramorium, Vollenhovia, Vombisidris [24]

Trong quá trình nghiên cứu khu hệ kiến Việt Nam các nhà khoa học đã phát hiện và công bố được rất nhiều loài mới cho khoa học [18,19,20,21, 28,36, 37, 39], trong đó có mẫu chuẩn của 25 loàihiện đang lưu giữ tại Bảo

tàng Thiên nhiên Việt Nam:Myrmoteras cuneonodum Xu,1998; Pheidole aspidata Eguchi et Bui, 2005; Pheidole fortis Eguchi, 2006; Cladomyrma scopulosa Eguchi et Bui, 2006; Pheidole colpigaleata Eguchi, 2006; Pheidole foveolata Eguchi, 2006; Pheidole laevicolor Eguchi, 2006; Pheidole vulgaris Eguchi, 2006; Probolomyrmex vieti Eguch, Yoshimura et Yamane, 2006; Pheidole magna Eguchi, 2006; Parvimyrma sangi Eguchi et Bui, 2007; Pheidole elongate Eguchi, 2008; Pheidolelaevithorax Eguchi, 2008;

Trang 17

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

10

Pheidoleochracea Eguchi, 2008; Pheidolerugithorax Eguchi, 2008; Pheidoletumidan Eguchi, 2008; Opamyrmahungvuong, Yamane, Bui et Eguchi, 2008; Pheidolevieti Eguchi, 2008; Acanthomyrmexhumilis Eguchi, Bui et Yamane, 2008; Aenictus vieti Jaistrong et Yamane, 2010; Aenictus eguchi Jaistrong et Yamane, 2010; Myrmoteras namphuong Bui, Eguchi et Yamane, 2013; Myrmoteras concolor Bui, Eguchi et Yamane, 2013; Myrmoteras opalinum Bui, Eguchi et Yamane, 2013; Myrmoteras tonimasai

Bui, Eguchi et Yamane, 2013

Trang 18

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

11

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Họ Kiến (Formicidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera), lớp Côn trùng (Insecta), ngành Chân khớp (Arthropoda)

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 03/2013 đến tháng 12/2015

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Hòn Bà được bác sĩ Alexandre Yersin khám phá vào năm 1863và ông

đã cho xây dựng khu nghiên cứu, thực nghiệm nhiều loại cây thuốc có giá trị(baochinhphu.vn)[48]

Năm 2005,Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN)Hòn Bàchính thức được thành lậptheo Quyết định số 98/QĐ-UBND ngày 15/12/2005 của UBND tỉnh Khánh Hòa, thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp quản lý.Là một trong những KBTTN vùng Nam Trung Bộ, nằm ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa, cách Nha Trang gần 30km (theo đường chim bay).Với tọa độ địa lý: 12°01’45" đến 12°12’00" vĩ Bắc và 108°54’04" đến 109°05’00" kinh Đông Vùng đệm của Khu Bảo tồn (KBT) nằm trên địa bàn 08 xã thuộc 04 huyện KBT gồm núi Hòn Bà có độ cao 1574m so với mặt nước biển, hệ thống đỉnh và dãy núi xung quanh, là một vùng rộng lớn với rừng thường xanh á nhiệt đới núi thấp, một trong những hệ sinh thái đã và đang bị đe dọa ở Việt Nam Tổng diện tích KBT: 20.978 ha; bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (10.448 ha), phân khu phục hồi sinh thái và khu hành chính (10.530 ha).Nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm, độ ẩm cao, được ví như "Đà lạt

Trang 19

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

12

thứ hai" của miền Trung bởi khí hậu ôn hòa, độ ẩm quanh năm cao vì có mưa thường xuyên (khanhhoa.tavico.vn)[46]

Theo số liệu điều tra sơ bộ, Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà có khoảng

592 loài thực vật bậc cao, thuộc 401 chi và 120 họ, trong đó có 43 loài quý hiếm được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam.Đặc biệt trong năm 2015, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều loài thực vật mới cho khoa học như Giác đế Hòn

Bà - Goniothalamus flagellistylusthuộc họ Na(Annonaceae); Xú hương Yahara -Lasianthus yaharaethuộc họ Cà phê (Rubiaceae);Zingiberdiscolor và Zingiber yersiniithuộc họ Gừng (Zingiberaceae); Miguelia cruentathuộc họ Lan (Orchidaceae) (itb.ac.vn)[47].Hệ động vật rừng gồm 255 loài thuộc 88 họ nằm trong 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái, đặc biệt có sự hiện diện của các đàn Chà vá chân đen và Vượn bạc má (baochinhphu.vn)[48]

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu thực địa

- Thu thập kiến bằng tay: Sử dụng khay nhựa (kích thước 30x40 cm)

và lưới kim loại (kích thước mắt lưới 5x5mm) thu các lớp đất thảm mục rồi

sử dụng panh hoặc ống hút để thu các mẫu kiến vào các ống nghiệm chứa cồn 80%

- Thu thập kiến bằng bẫy đào: Sử dụng các ống nhựa dài 15cm, nhọn đáy, có nắp đậy Trên mỗi ống nhựa, có hai hàng lỗ (¢=3mm) cách đều nhau

Trang 20

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

13

Nắp ống nhựa có buộc một đoạn dây dài khoảng 1m Đặt 5gram mồi xúc xích vào mỗi ống và chôn xuống mặt đất, độ sâu khoảng 20cm, 20 ống được chôn thành hàng liên tục, mỗi ống cách nhau khoảng 1m Sau 24 giờ, tiến hành rút các bẫy và thu tất cả kiến có trong mỗi ống

2.2.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Làm tiêu bản: Làm tiêu bản khô từ các mẫu được bảo quản trong các

lọ cồn thu được ngoài thực địa

- Định loại kiến: Sử dụng các khóa phân loại tới giống trên thế giới của Bolton (1994, 2003, 2007) và các khóa định loại trên phần mềm Lucid để phân loại các phân họ, giống kiến của Việt Nam (Katsuyuki Eguchiet al.,

2012, 2013, 2014), kết hợp so sánh với bộ mẫu kiến chuẩn tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

- Sử dụng máy ảnh kỹ thuật số Nikon Coolpix 8400 chụp qua kính lúp Nikon AZ100 để đạt được các hình ảnh phân loại

2.2.4 Hình thái ngoài của kiến

- Hình thái ngoài cơ thể kiến với 3 phần chính, bao gồm: phần đầu (captu), phần ngực (thorax) và phần bụng (abdomen)

Phần đầu có mắt, râu (anten), hàm (răng) Râu có đốt gốc dài vươn ra khỏi đầu để nối với anten Số lượng đốt của anten thường dao động, phụ thuộc vào đặc điểm của loài kiến Phần ngực mang 3 đôi chân Ở dạng cá thể sinh sản (con đực hoặc con cái) thì ngực có thêm 2 đôi cánh Phần bụng bao gồm phần eo (petiole) và phần bụng (gaster) Phần eo cơ thể thường có 1 hoặc

Trang 21

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

14

2 đốt tùy thuộc vào nhóm kiến Phần cuối bụng (gaster) có hình dáng, cấu tạo khác nhau tùy thuộc các nhóm kiến khác nhau, nhƣ một số loài kiến có ngòi châm ở phía cuối bụng (Bùi Công Hiển và nnk, 2014) [3]

Hình 1 Hình thái cấu tạo cơ thể kiến 1 đốt eo (Bolton, 1997)

Trang 22

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

15

Hình 2 Hình thái cấu tạo bộ phận đầu kiến(Bolton, 1997)

Hình 3 Hình thái cấu tạo cơ thể kiến 2 đốt eo(Bolton, 1997)

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại KBTTN Hòn Bà

Trang 23

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

16

Bằng phương pháp thu mẫu bằng bẫy đào kết hợp với thu bắt bằng tay, kết quả đã phát hiện được 79 loài kiến thuộc 39 giống, 11 phân họ tại KBTTN Hòn Bà,thể hiện ở Bảng 1dưới đây:

Bảng 1 Thành phần loàikiếntại KBTTN Hòn Bà

Tổng số loài của giống

và phân họ

1 Aenictus appressipilosusJaitrong & Yamane, 2013 3

2 Aenictus brevinodusJaitrong & Yamane, 2011

3 Aenictus concavus Jaitrong & Yamane, 2013

4 Amblyopone australis Erichson, 1842 1

6 Cerapachys dohertyi Emery, 1902

7 Cerapachys sp

8 Philidris brunnea(Donisthorpe, 1949) 1

10 Technomyrmex albipes (Smith, 1861)

11 Technomyrmex horni Forel, 1912

12 Technomyrmex kraepelini Forel, 1905

Trang 24

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

17

17 Myrmoteras concolor Bui, Eguchi&Yamane, 2013 2

18 Myrmoteras donisthorpeiWheeler,1916

19 Paratrechina ankarana LaPolla&Fisher, 2014 2

20 Paratrechina longicornis (Latreille, 1802)

22 Acanthomyrmex glabfemoralisZhou & Zheng, 1997 2

23 Acanthomyrmex humilis Eguchi, Bui & Yamane, 2008

35 Pheidole fervida Smith, 1874

36 Pheidole colpigaleata Eguchi, 2006

37 Pheidole elongicephala Eguchi, 2008

38 Pheidole capellinii Emery, 1887

39 Pheidole dugasi Forel, 1911

40 Pheidole indosinensis Wheeler, 1928

41 Pheidole fervens Smith, 1874

42 Pheidole fortis Eguchi, 2006

43 Pheidole foveolata Eguchi, 2006

44 Pheidole sp

Trang 25

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

18

49 Strumigenys trixodens Bolton, 2000

50 Tetramorium bicarinatum (Nylander, 1846) 5

51 Tetramorium bicolorum Vasquez-Bolanos, 2007

52 Tetramorium confusum Bolton, 1977

53 Tetramorium lanuginosumMayr, 1870

54 Tetramorium flavipes Emery, 1893

67 Hypoponera confinis (Roger, 1860)

69 Leptogenys chinensis (Mayr, 1870)

70 Leptogenys diminuta (Smith, 1857)

71 Leptogenys kitteli (Mayr, 1870)

72 Leptogenys lutidula Emery, 1895

73 Leptogenys sp 1

74 Leptogenys sp 2

75 Pachycondyla annamitus(Andre, 1892) 1

Trang 26

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

(Acanthomyrmex, Aphaenogaster, Crematogaster, Lophomyrmex, Monomorium, Myrmecina, Myrmicaria, Oligomyrmex, Pristomyrmex, Pheidole, Recurvidris, Rhoptromyrmex, Solenopsis, Strumigenys, Tetramorium, Vollenhovia), chiếm 46% tổng số loài và 41% tổng số giống;tiếp đến là phân họ Ponerinae với 17 loài 9 giống (Anochetus, Brachyponera, Cryptopone, Diacamma, Harpegnathos, Hypoponera, Leptogenys, Pachycondyla, Ponera), chiếm 22% tổng số loài và 23% tổng số giống; phân họ Formicinae với 7 loài 4 giống(Camponotus, Myrmoteras, Paratrechina, Pseudolasius), chiếm 9% tổng số loài và 10% tổng số giống; phân họDolichoderinae với 5 loài 2 giống (Philidris, Technomyrmex), chiếm

6% tổng số loài và 5% tổng số giống; phân họ Proceratiinae với 3 loài 2 giống

(Discothyrea, Probolomyrmex ), chiếm 4% tổng số loài và 5% tổng số giống; phân họ Aenictinae (Aenictus) và Cerapachyinae (Cerapachys) có số loài và

giống bằng nhau với 3 loài 1 giống, chiếm 4% tổng số loài và 3% tổng số

giống; phân họ Leptanillinae (Leptanilla) có 2 loài 1 giống, chiếm 3% tổng số

loài và 3% tổng số giống; cuối cùng là các phân họ

Amblyoponinae(Amblyopone), Dorylinae (Dorylus) và Ectatomminae (Gnamptogenys) với 1 loài 1 giống, chiếm hơn 1% tổng số loài và 3% tổng số

giống

Trang 27

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

20

Nghiên cứu sự đa dạng thành phần các loài kiến trong từng giống cho

thấy giống Pheidole có số lƣợng loài lớn nhất (11 loài), tiếp theo là các giống Leptogenys (7 loài), Tetramorium (5 loài), Technomyrmex (4 loài), các giống Vollenhovia, Cerapachys, Aenictus gồm 3 loài (nhóm giống 3), các giống Strumigenys, Pristomyrmex, Paratrechina, Oligomyrmex, Myrmoteras, Leptanilla, Hypoponera, Discothyrea, Camponotus, Brachyponera, Acanthomyrmex gồm 2 loài (nhóm giống 2),các giống còn lại chỉ ghi nhận một loài là Solenopsis, Rhoptrmyrmex, Recurvidris, Philidris, Pseudolasius, Probolomyrmex, Ponera, Pachycondyla, Myrmicaria, Myrmecina Monomorium, Lophomyrmex, Harpegnatos, Gnamptogenys, Dorylus, Diacamma, Cryptomyrmex, Crematogaster, Aphaenogaster, Anochetus vàAmblyopone (nhóm giống 1) (Hình 4)

Hình 4.Phân bố các loài trong các giống và nhóm giống kiến

Trang 28

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

21

Các phân họ và giống kiến đƣợc biết đến tại Việt Nam có 92 giống thuộc 12 phân họ (Dolichoderinae, Formicinae, Pseudomyrmecinae, Cerapachyinae, Aenictinae, Dorylinae, Leptanillinae, Amblyoponinae, Ponerinae, Ectatomminae, Proceratiinae, Myrmicinae) (Eguchi et al., 2011)[24] Ta thấythành phần các bậc phân loại kiến tại KBTTN Hòn Bà chiếm 92% số phân họ và 42% số giống, chỉ thiếu các đại diện của phân họ Pseudomyrmecinae (chiếm 8% số phân họ).Số giống kiến của phân họ Myrmicinae có số lƣợng lớn nhất với 38 giống, chiếm 41,3% tổng số giống; thấp nhất là các phân họ Dorylinae và Ectatomminae với 1 giống, chiếm hơn 1% tổng số loài và 1% tổng số giống (Hình 5)

Hình 5 Các giống và phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà và tại khu hệ kiến

Trang 29

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

22

So sánh với khu hệ kiến tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu (cách KBTTN Hòn Bà khoảng 360 km về phía Nam) có tọa độ địa lý 10027’ đến

10037’ vĩ Bắc và 107024’ đến 1070

36 kinh Đông (archives.gov.vn) [49], với

79 loài thuộc 43 giống 11 phân họ (Dolichoderinae, Formicinae, Pseudomyrmecinae, Cerapachyinae, Aenictinae, Dorylinae, Amblyoponinae, Ponerinae, Ectatomminae, Proceratiinae, Myrmicinae) (Bùi Tuấn Việt và nnk, 2011) [5] Giống như khu hệ kiến tại KBTTN Hòn Bà, phân họ chiếm số lượng giống và loài lớn nhất là Myrmicinae với 28 loài, 14 giống, chiếm 35% tổng số loài và 32,5% tổng số giống; thứ hai là phân họ Ponerinae với 19 loài

và 9 giống, chiếm 24% tổng số loài và 20,9% tổng số giống; phân họ chiếm

số lượng loài và giống ít nhất là Dorylinae và Ectatomminae với 1 loài 1 giống, chiếm hơn 1% tổng số loài và 2% tổng số giống Khác với khu hệ kiến tại KBTTN Hòn Bà là phong phú hơn về số lượng giống(Hình6e, 6f)

3.2 Đa dạngthành phần loài và giống kiến tại các khu vực độ cao

Trong tổng số 79 loài thuộc 39 giống kiến đã thu được tại khu vực nghiên cứu phân bố theo các khu vực độ cao: 1505-1564m; 913-1038m; 740-

Hình 6e Biểu đồ các giống và phân

họ kiến tại KBTTN Hòn Bà

Hình 6f Biểu đồ các giống và phân họ kiến tại KBTTN Bình Châu - Phước Bửu

Trang 30

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

23

1038m; 740-800m; 372-410m (Bảng 2) Số lượng loài cao nhất (29và 28 loài) thu được thuộc khu vực có độ cao lớn nhất (1505-1564m) và khu vực có độ cao trung bình (740-800m) của KBTTN Hòn Bà, chiếm tỉ lệ tương ứng 36,7%

và 35,4% Khu vực tiếp theo (913-1038m) có số loài thấp hơn (19 loài) chiếm 24% Khu vực độ cao thấp nhất từ 372-410m có số loài thấp nhất (17 loài)

chiếm tỷ lệ 21,5% (Bảng 2, Hình 7)

Bảng 2 Sự phân bố của các loài kiến ở các khu vực độ cao

tại KBTTN Hòn Bà Tên khoa học

Độ cao (m) 1505-

Trang 31

Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Ngày đăng: 24/03/2021, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn An (2014). Đa dạng kiến (Hymenoptera: Formicidae) trong lớp thảm mục ở Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng. Luận văn Thạc sĩ sinh học - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, 53 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ sinh học - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
Tác giả: Đặng Văn An
Năm: 2014
2. Nguyễn Đắc Đại,Nguyễn Thị Phương Liên (2015). Nghiên cứu sự đa dạng và biến động số lƣợng của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae (Hymenoptera: Formicidae) trên các sinh cảnh tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, tr. 63-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6
Tác giả: Nguyễn Đắc Đại,Nguyễn Thị Phương Liên
Nhà XB: Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2015
3. Bùi Công Hiển, Trịnh Văn Hạnh, Bùi Tuấn Việt, Nguyễn Quốc Huy (2014). Động vật gây hại kho tàng và nhà cửa. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 296 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật gây hại kho tàng và nhà cửa
Tác giả: Bùi Công Hiển, Trịnh Văn Hạnh, Bùi Tuấn Việt, Nguyễn Quốc Huy
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2014
4. Nguyễn Thị Thu Hường, Phạm Văn Sáng, Bùi Tuấn Việt (2015). Bước đầu nghiên cứu đa dạng kiến (Hymenoptera: Formicidae) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, tr. 614-620 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường, Phạm Văn Sáng, Bùi Tuấn Việt
Nhà XB: Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2015
5. Vũ Quang Mạnh (2000). Tài nguyên sinh vật đất và sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 324tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên sinh vật đất và sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất
Tác giả: Vũ Quang Mạnh
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
6. Bùi Tuấn Việt (2003). Kết quả bước đầu nghiên cứu đa dạng sinh học kiến (Hymenoptera, Formicidae) ở khu vực phía Bắc Việt Nam. Báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc lần thứ hai, nghiên cứu cơ bản trong sinh học, nông nghiệp, y học, Huế 25-26/2003. Nxb. KH&KT, tr. 279-281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc lần thứ hai, nghiên cứu cơ bản trong sinh học, nông nghiệp, y học, Huế 25-26/2003
Tác giả: Bùi Tuấn Việt
Nhà XB: Nxb. KH&KT
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w