Trong đó, các dự án xây dựng nhà máy thủy điện đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất rất lớn; với tính chất đặc thù của công trình thủy điện là được xây dựng chủ yếu ở khu vực thuộc địa
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU PHƯƠNG
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản đặc biệt của quốc gia, là tài nguyên vô cùng quý giá,
là địa bàn phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, là nguồn lực to lớn để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nước ta đang thực hiện thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tất yếu phải chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp
Nhà nước thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục
vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế Trong
đó, các dự án xây dựng nhà máy thủy điện đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất rất lớn; với tính chất đặc thù của công trình thủy điện là được xây dựng chủ yếu ở khu vực thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng, mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng, nên việc thu hồi đất sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế -
xã hội liên quan tới ba đối tượng đó là: Nhà nước, các doanh nghiệp và người dân có đất bị thu hồi
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2003, bắt đầu triển khai xây dựng từ năm 2003 trên sông Gâm, công trình hoàn thành đưa vào khai thác năm 2007 Nhiệm vụ chính của dự án
Trang 3Thuỷ điện Tuyên Quang là cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với điện lượng bình quân hàng năm E0 = 1.295 triệu KWh; đồng thời góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp về mùa khô cho vùng
hạ du (cắt lũ tại thành phố Tuyên Quang từ 2,5 m đến 2,7 m và giảm mực
nước lũ tại Hà Nội từ 0,4 m đến 0,42 m; tăng lưu lượng nước mùa khô cho vùng hạ du từ 49 m 3 /s đến 52 m 3
/s)
Để hoàn thành xây dựng công trình, tỉnh Tuyên Quang phải di dời và tái định cư gần 4.200 hộ dân với 20.138 khẩu vùng lòng hồ và mặt bằng công trường đến 125 điểm tái định cư trên địa bàn 36 xã thuộc 04 huyện của tỉnh
Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn) Đến nay, cơ bản
đã hoàn thành công tác di dân, tái định cư; bước đầu cuộc sống của các hộ tái
định cư đã ổn định Tuy nhiên, so với mục tiêu của dự án là “di dân, tái định
cư thủy điện Tuyên Quang phải tạo được điều kiện để đồng bào tái định cư
có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ”, thì thực tế cho thấy người dân vùng tái định
cư vẫn còn gặp nhiều khó khăn do thiếu tư liệu sản xuất, số hộ nghèo còn ở mức cao (chiếm khoảng 53%), điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến các mục tiêu của dự án
Hiện tại, tỉnh Tuyên Quang đang triển khai thực hiện quy hoạch điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011 Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của phương án quy hoạch điều chỉnh, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận lại một cách toàn diện hiệu quả của các dự án tái định cư, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại và có những giải pháp cụ thể để khắc phục, đảm bảo đủ các điều kiện để người dân tái định cư công trình thủy
Trang 4điện Tuyên Quang ổn định chỗ ở và đời sống, trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá thực
trạng công tác di dân tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quang” là cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập của người dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quang
- Đề xuất một số giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tế góp phần nâng cao đời sống của hộ dân tái định cư và hiệu quả quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quang
3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững chính sách pháp luật về đất đai, môi trường và các lĩnh
vực có liên quan
- Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải đầy đủ, chính xác trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng
- Áp dụng đúng đối tượng, đúng mục đích và phạm vi cần nghiên cứu
từ đó đánh giá được những tồn tại, khó khăn do nguyên nhân từ đâu, để đưa
ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi cao
Trang 5Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên thế giới
1.1.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất của một số tổ chức quốc tế
ra bản hướng dẫn hoạt động về tái định cư không tự nguyện Chính sách tái định cư không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa chọn phương án tái định cư ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, đại diện của những người thiệt hại vào thiết kế, khai thác, theo dõi giám sát quá trình công việc tái định cư [1]
1.1.1.2 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của các Ngân hàng Mỹ, Ngân hàng châu Á và Ngân hàng phát triển Châu Phi
Tiếp theo chính sách tái định cư không tự nguyện được các ngân hàng khu vực đưa ra như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ (Inter Americal Development Bank - IDB) 1993; Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB (1995);
Sổ tay tái định cư (1998), Ngân hàng phát triển Châu Phi (1995) [1]
Trang 61.1.1.3 Các tổ chức quốc tế khác
Năm 1990, một số tổ chức quốc tế như: Trung tâm Liên hiệp quốc về định cư (United Nation Centre of Human Settlement/Habitats); Ủy ban Liên hiệp quốc về quyền con người (UNCHR); Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) đã tập trung nghiên cứu vấn đề thu hồi đất - chỗ ở bắt buôc; năm 1997 UNCHR đưa ra hướng dẫn thực tiễn thu hồi đất - chỗ ở bắt buôc Đặc điểm chung của các chính sách này là nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở tầm quốc gia đối với việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại với những vấn đề chủ yếu như: (1) Tổ chức tốt việc tái định cư cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại gắn với môi trường sống, việc làm, sinh hoạt của cộng đồng liên quan đến tập quán, văn hóa, tâm linh; (2) Bảo đảm quyền hưởng lợi của địa phương, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại từ thuế, phí, giá ưu đãi mua sản phẩm của dự án; (3) Sự gắn kết lâu dài giữa dự án và cộng đồng dân cư địa phương nhằm đảm bảo tự chủ, bình đẳng giữa hai bên với sự gắn kết quyền lợi lâu dài
Nguyên tắc Chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án đã được
áp dụng trong nhiều dự án đã triển khai ở các nước trên thế giới, đặc biệt các
Trang 7hai dạng là: Đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước; đất nông thôn, ngoại thành, ngoại thị thuộc sở hữu tập thể Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định
“Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường” Các nhà làm luật giải thích
rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền
sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất
thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất mà thôi [19]
Luật Đất đai ra đời năm 1986, đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1988, 1998 và 2004, chia đất đai thành đất nông dụng, đất dùng vào xây dựng (kiến thiết) và đất chưa lợi dụng Luật quy định mọi đơn vị và cá nhân khi cần đất đai để tiến hành xây dựng thì phải căn cứ vào pháp luật mà
xin sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước, trừ trường hợp xây dựng nhà ở nông
thôn, cơ sở hạ tầng và công ích hương trấn Nếu Nhà nước chấp nhận đề nghị
đó thì trưng dụng đất thuộc sở hữu nhà nước để cung ứng (trong một số trường hợp thì gọi là thu hồi quyền sử dụng đất), khi không có hoặc không đủ loại đất này thì trưng thu đất thuộc sở hữu tập thể để chuyển đổi thành đất
thuộc sở hữu nhà nước [19]
Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là “đất
ruộng cơ bản” đã được chính quyền xác định dùng vào sản xuất lương thực,
bông, dầu ăn, rau, hoặc đã có công trình thuỷ lợi tốt Luật còn quy định cụ thể đất ruộng cơ bản phải chiếm 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh Nguyên tắc bảo vệ đất canh tác là “chiếm bao nhiêu, khẩn bấy nhiêu”, nếu không có điều kiện thì nộp phí khai khẩn cho cấp tỉnh dùng để khai hoang Cấm không được chiếm dụng đất canh tác để xây lò gạch, mồ mả hoặc tự ý xây nhà, đào lấy đất cát, khai thác đá, quặng Việc trưng thu các đất sau đây phải được Quốc vụ viện (Chính phủ) phê chuẩn: Đất ruộng cơ bản; đất canh tác vượt
Trang 8quá 35 ha; đất khác vượt quá 70 ha Trưng thu các đất khác do chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn rồi báo cáo Quốc vụ viện [19]
Chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên có nhiệm vụ công bố và
tổ chức thực hiện việc trưng thu đất đai, rồi cung ứng đất thuộc sở hữu nhà
nước cho các đơn vị kiến thiết theo phương thức xuất nhượng có thu tiền
Thế nhưng, các đất xây dựng sau đây nếu được chính quyền cấp huyện trở lên
phê chuẩn thì cung theo phương thức giao sử dụng: Đất cơ quan nhà nước và
đất quân sự; đất cơ sở hạ tầng đô thị và sự nghiệp công ích; đất cơ sở hạ tầng trọng điểm được nhà nước chăm lo về năng lượng, giao thông, thủy lợi ; các đất khác được văn bản pháp luật, hành chính cho phép [19]
Khi trưng thu đất đai thì phải bồi thường theo hiện trạng sử dụng đất lúc đó Chi phí bồi thường bao gồm tiền bồi thường đất, tiền trợ giúp an cư tính theo số nhân khẩu của hộ gia đình và tiền hoa màu Tiền bồi thường đất bằng 6~10 lần, còn tổng số tiền trợ giúp an cư tối đa không quá 15 lần giá trị trung bình sản lượng hằng năm của 3 năm trước trưng thu [19]
Đối với đất thuộc sở hữu nhà nước, khi nhu cầu đất vì lợi ích công cộng hoặc để cải tạo các khu đô thị cũ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn
thì được thu hồi quyền sử dụng đất có bồi thường Khi đó để thu hồi đất buộc phải di dời nhà cửa, vì vậy năm 1991 Quốc vụ viện ban hành Điều lệ quản lý
di dời nhà cửa đô thị, đến năm 2001 thì thay bằng Điều lệ mới Theo Điều lệ này thì bên di dời phải bồi thường về nhà cửa cho bên bị di dời bằng tiền tính theo giá thị trường hoặc bằng cách chuyển đổi tài sản Không bồi thường nhà xây trái phép hoặc nhà tạm đã hết hạn Nói chung, chính quyền các thành phố lớn đều dựa trên văn bản pháp quy của nhà nước để ban hành các quy định, điều lệ của địa phương về trưng thu đất và di dời nhà cửa [19]
Trang 91.1.2.2 Inđonexia
Công tác bồi thường, tái định cư được hết sức coi trọng Việc bồi thường thiệt hại do thu hồi đất gây ra bao gồm: Bồi thường về tài sản bị thiệt hại, chuyển đổi nghề nghiệp, trợ cấp di chuyển, bố trí nơi ở mới đảm bảo cho người có đất bị thu hồi có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ Các chủ đầu tư phải hết sức coi trọng cuộc sống của người nghèo [25]
1.1.2.3 Australia
Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Luật Đất đai bảo hộ quyền và nghĩa vụ của người chủ sở hữu đất Chủ sở hữu đất có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế Luật đất đai quy định Nhà nước có quyền thu hồi đất tư nhân để sử dụng cho mục đích công cộng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bồi thường theo quy định: Giá bồi thường theo giá thị trường, bồi thường những tài sản trên đất (hoa màu, nhà cửa, các công trình ) cũng tạo mọi điều kiện di chuyển, tạo nơi ở mới, đảm bảo cuộc sống hiện tại và tương lai [25]
1.1.2.4 Thái Lan
Không có chính sách đền bù tái định cư quốc gia, vì đa hình thức sở hữu đất đai nhưng Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc đền bù phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các qui định này, các ngành
có qui định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình [32]
Trang 10Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào các mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị đền bù các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các qui định cụ thể về trình tự tiến hành đền bù TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị đền bù, các bước lập và phê duyệt dự án đền bù, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán đền bù TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền đền bù, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa ra toà án [32]
Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều
dự án đền bù TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “ Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án [32]
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát chung
Trang 111.2.1.4 Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và sản xuất Qua nghiên cứu chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với sự phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự ổn định trong phát triển, khuyến khích đầu tư và giữ được nguyên tắc công bằng
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và công tác quy hoạch xây dựng khu tái định cư diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn nhiều vướng mắc gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, triển khai dự án
Việc bồi thường thiệt hại nhìn chung cơ bản các địa phương đã áp dụng đúng chính sách tại thời điểm thu hồi Nhà nước chỉ bồi thường về giá trị đất và tài sản trên đất còn cuộc sống của người dân bị mất đất sau thu hồi thì chưa quan tâm [29]
Trang 121.2.2 Chính sách pháp luật có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để xây dựng các công trình thuỷ điện
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng cái khác
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển
Những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại tại Nghị định này đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời
Luật đất đai năm 1988 ban hành quy định về bồi thường cũng cơ bản dựa trên những quy định tai Hiến pháp 1980 [1]
Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT
về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường [9] Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng
Trang 13và vị trí đất UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất [1]
Quan niệm việc đền bù, tái định cư cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện cũng như các công trình phục vụ lợi ích quốc gia khác chủ yếu dựa trên quan niệm đất đai là tài sản quốc gia, nên trong trường hợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất không nhất thiết đền bù cho dân mà chỉ hỗ trợ một phần Nếu có chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hay tập thể đang sử dụng đất về các tài sản bị thiệt hại theo sự thỏa thuận Khi xây dựng các công trình thủy điện Thác Bà, Hòa Bình thì hàng chục vạn đồng bào các dân tộc đã hy sinh quyền lợi của mình đóng góp cho
sự phát triển quốc gia Trong thời gian này có ba văn bản chính liên quan đến việc hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất, đó là:
- Nghị định số 151/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 4 năm 1959 về “Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất” là văn bản pháp quy liên quan đến việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý [2]
- Thông tư số 1792-TTg ban hành ngày 11 tháng 01 năm 1970 quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố
- Quyết định số 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 31
Trang 14tháng 5 năm 1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác đã đưa ra căn cứ để tính mức đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo diện tích, chất lượng và vị trí của đất Hơn nữa mức đền bù còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời [18]
Có thể thấy thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá nên chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trị bồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan và công bằng thì những chính sách này cũng đã đóng góp một vai trò tích cực trong giải phóng mặt bằng để có quỹ đất cho nhu cầu xây dựng và phát triển các công trình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng của đất nước
1.2.2.2 Từ năm 1993 cho đến nay
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hồi đất hoặc là cơ sở cho việc tính toán để thực hiện việc đền bù cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất:
- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Đây là tài liệu cơ bản nhất về chính sách nông nghiệp hiện hành quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trong khi hạn chế tối đa việc phân bổ lại đất bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hầu hết những người đang sử dụng đất [5]
- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1993 quy định khung giá các loại đất
Trang 15và phân loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp Việc tính thuế đất dựa trên việc phân chia theo vị trí đồng bằng, trung du và miền núi Dựa vào khung giá đất này, Ủy ban nhân dân các tỉnh quy định giá đất cho việc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất và giá này có thể được Ủy ban nhân dân các tỉnh điều chỉnh cho phù hợp với thực tế biến động của giá cả thị trường đất [4]
- Thông tư số 05-BXD/TT ngày 09/02/1993, là phân cấp nhà ở với mục đích đánh giá mức thuế, đền bù và bán công trình, Chính phủ Việt Nam đã xác lập một hệ thống về phân cấp nhà cửa Đây là cơ sở để các tỉnh tính toán xây dựng đơn giá đền bù cho vật kiến trúc bị ảnh hưởng
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 Đây là Nghị định đầu tiên của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong giai đoạn này, cùng với việc phát triển các cơ sở hạ tầng, việc thu hồi đất của người dân có tác động lớn đến kinh tế - xã hội, những Nghị định này mới chỉ chú trọng đến việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất mà chưa đề cập đầy đủ đến việc tái định cư
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự
án có thu hồi đất ở và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những người bị ảnh hưởng có thể ổn định đời sống và khôi phục thu nhập [7]
Nội dung chính của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Quy định đền bù thiệt hại về đất, điều kiện được đền bù đất, khung giá đất; Quy định đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất: cây trồng, vật kiến trúc, nhà ở, di chuyển mồ mả, công trình văn hóa, di tích lịch sử…; quy định về khu tái định cư: Quỹ đất xây dựng khu tái định cư, quy hoạch xây dựng điểm dân cư, hệ thống kết cấu hạ tầng,…; quy
Trang 16định về hỗ trợ tái định cư: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ lương thực, y tế, giáo dục, hỗ trợ gia đình chính sách, thưởng di chuyển đúng tiến độ; tổ chức tái định cư: vai trò của chủ đầu tư, chính quyền địa phương, hộ dân phải di chuyển Nghị định số 22/1998/NĐ-CP cung cấp chi tiết hơn về kiểm đếm tài sản, phương pháp và mức đền bù, cách thức nhận đền bù và tổ chức thực hiện, quy định giá đất đền bù được tính theo giá của địa phương
ban hành nhân với hệ số K Hệ số “K” là hệ số quan hệ tỷ lệ giữa giá đất tính
theo khả năng sinh lợi hoặc giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế với giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định Nghị định số 22/1998/NĐ-CP
là căn cứ pháp lý chính thức để xây dựng các bản Quy định tạm thời và chính thức cho việc triển khai công tác tái định cư của các dự án thủy điện [7]
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã có nhiều cải thiện như các quy định ở trên Tuy nhiên qua quá trình thực hiện đã cho thấy một số hạn chế: Đơn giá
do Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng để thực hiện đền bù đối với đất, các loại tài sản bị thiệt hại của người dân như nhà cửa, đất đai, nhất là đất thổ cư thường thấp hơn giá thị trường; Các chính sách hỗ trợ chủ yếu chỉ tập trung vào ổn định cuộc sống trong giai đoạn đầu tái định cư mà chưa chú ý tới hỗ trợ sản xuất và phục hồi thu nhập
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004, riêng về đền bù, hỗ trợ và tái định cư có ba điểm mới so với Luật Đất đai trước đó về bồi thường là: Khung đơn giá, chính sách
về tái định cư và hạn chế quy mô giải phóng mặt bằng Trong Luật Đất đai
2003 từ Điều 38 đến Điều 45 trình bày về nội dung thu hồi đất , đền bù và tái định cư Nội dung của Điều 42 nói về việc bồi thường , tái định cư cho người
có đất bị thu hồi Khi Nhà nước thu hồi đất , người sử dụng đất có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận
Trang 17quyền sử dụng đất theo quy định thì được bồi thườn g Người bị thu hồi đất sẽ
được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất Nếu phải di chuyển chỗ ở sẽ được bố trí vào các khu tái định cư có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Trường hợp thu hồi đất của các hộ dân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ để
ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới [24]
Tuy nhiên, những chính sách trên còn có nhiều hạn chế đặc biệt là với đối tượng tái định cư ở các công trình thủy điện Về phạm vi áp dụng: việc thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện chiếm một diện tích lớn đất đai, gồm cả đất ở và đất canh tác, số lượng dân cư di dời lớn, tập trung có tính chất đặc thù nên áp dụng các chính sách trên là chưa phù hợp; Về đối tượng đền bù thiệt hại
và điều kiện để được đền bù về đất: Quy định tính hợp pháp của đất đai của chủ
sở hữu Điều này sẽ gây khó khăn cho đồng bào miền núi, dân tộc vì đất đai của
họ mới trong quá trình được hợp pháp hóa, chưa đủ các thủ tục Hơn nữa việc sở hữu đất truyền thống, tập quán du canh cũng làm khó khăn hơn việc xác định tính pháp lý của đất đai để thực hiện đền bù
Trên thực tế, nảy sinh nhiều vướng mắc trong công tác thống kê, kiểm kê
và đền bù không đầy đủ, dẫn đến khiếu kiện; các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khi đưa ra các chính sách cụ thể và phương án tái định cư, tạo lập môi trường sống mới để bảo đảm yếu tố phù hợp đối với các cộng đồng dân cư; lập khu tái định cư; các Nghị định của Chính phủ chưa hướng dẫn cụ thể về mặt tiêu chí quy mô cũng như các tiêu chuẩn đối với việc quy hoạch thiết kế xây dựng khu tái định cư, dẫn đến không thống nhất giữa các dự án; quy định về xây dựng các khu tái định cư ở miền núi theo tiêu chuẩn nông thôn (400 m2 đất ở/hộ) là
Trang 18chưa phù hợp với đặc điểm, tập quán sinh sống của người dân; giá đất để tính đền bù thiệt hại chỉ quy định mục đích sử dụng đất và số lượng chứ không quy định về tính ngang bằng chất lượng đất đền bù cho dân Hầu hết người dân phải tiếp nhận diện tích đất ít hơn nhiều so với diện tích đất họ đã có trước đó; chính sách hỗ trợ còn thấp và chưa đủ để người dân ổn định được cuộc sống [13]
1.2.3 Khái quát công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Để thống nhất công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 21/10/2009 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc Ban hành Quy định
về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triền kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 13/2008/QĐ-UBND ngày 26/7/2008 về việc ban hành Quy định chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành quyết định số 16/2009/QĐ-UBND ngày 21/10/2009 về việc ban hành Quy định về trình
tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái dịnh cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (thay
Trang 19thế cho Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh); quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 ban hành quy định về Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh
tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (thay thế cho Quyết định số UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh)
13/2008/QĐ-Từ năm 2003 đến nay, do nguồn vốn đầu tư cho phát triển của tỉnh còn hạn chế, tốc độ đô thị hoá chưa cao nên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của tỉnh chưa nhiều Để tạo điều kiện giúp người dân có đất bị thu hồi phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo áp dụng chính sách bồi thường đúng quy định, giá bồi thường ở mức cao trong khung giá quy định chính phủ, đáng chú ý là tỉnh đã chỉ đạo triển khai chủ trương bố trí đất ở và dịch vụ cho các hộ dân có đất thu hồi trước khi thực hiện các dự án nên đã tạo sự đồng thuận của người có đất thu hồi Ngoài ra, tỉnh còn
hỗ trợ các địa phương có đất nông nghiệp bị thu hồi xây dựng các công trình đường giao thông, bê tông hoá kênh mương trong khu vực có đất thu hồi Đối với các dự án có đất thu hồi lớn, tập trung như: Nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang có chính sách bồi thường riêng
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định của Luật đất đai đối với những dự
án nhà nước không thu hồi đất, các chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các hộ dân, do vậy để có đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh một số chủ đầu tư đã bị một số người dân ép nâng giá đất; trong cùng một dự án giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các
hộ khác nhau, cá biệt có một số hộ không nhất trí chuyển nhượng cho nhà đầu tư đã dẫn đến tình trạng dự án dở dang, chậm thực hiện do không đủ mặt bằng để xây dựng, điều này đã gây không ít khó khăn cho các dự án đầu tư khi nhà nước thu hồi đất
Trang 20Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Kết quả thực hiện các dự án di dân tái định cư thủy diện Tuyên Quang
- Diện tích đất đai, kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại các
điểm tái định cư thực hiện Dự án thuỷ điện Tuyên Quang
- Cuộc sống, việc làm, thu nhập của các hộ dân tái định cư
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Kết quả thực hiện quy hoạch tổng thể tái định cư dự án thuỷ điện
Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (gồm 04 huyện: Yên Sơn,
Hàm Yên, Na Hang và Chiêm Hóa)
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
2.2.1.1 Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang và thực trạng kinh tế -
xã hội vùng lòng hồ thuỷ điện trước khi thực hiện dự án
- Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang
- Mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu di dân, tái định cư của dự án thuỷ điện Tuyên Quang
- Thực trạng kinh tế - xã hội vùng lòng hồ thuỷ điện trước khi thực hiện
dự án thuỷ điện Tuyên Quang (cơ cấu kinh tế, dân số, thu nhập và việc làm
của hộ dân vùng lòng hồ)
- Mức độ thiệt hại khi triển khai dự án tại khu vực xây dựng công trình
Trang 21thuỷ điện Tuyên Quang (diện tích đất bị thu hồi; tài sản gắn liền đất phải di dời; mò mả phải di chuyển; tài sản gắn liền với đất của hộ không phải di dời; các công trình kết cấu hạ tầng )
2.2.1.2 Kết quả thực hiện các dự án di dân tái định cư
- Kết quả di chuyển dân của dự án; kết quả xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư trên địa bàn tỉnh
- Kết quả thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, giao đất tái định cư; khả năng sử dụng vốn và tình hình sản xuất của các hộ tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá thực trạng công tác di dân tái định cư, trong đó nêu rõ những mặt đã đặt được, những tồn tại, hạn chế và phân tích rõ những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.2.1.3 Đề xuất các giải pháp cụ thể cho công tác quy hoạch tổng thể di dân tái định cư, ổn định đời sống cho người dân tái định cư
- Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống
- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu tái định cư
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp điều tra cơ bản
Trang 22- Thu thập tài liệu, số liệu về kinh tế, xã hội, đời sống, việc làm của các
hộ tái định cư trong khu vực nghiên cứu (các số liệu được thu thập tại Ban Di dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang và các sở, ban ngành có liên quan)
b) Tài liệu sơ cấp
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân tại các khu tái định cư thông qua việc sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn của phiếu điều tra đã được xây dựng phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
2.2.2.2 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu điều tra
Thống kê các số liệu về diện tích đất thu hồi, tổng thiệt hại về vật chất khi thực hiện dự án; tổng số dân phải di chuyển; kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư; kết quả hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho các hộ tái định cư; tổng hợp, so sánh các thông tin, số liệu điều tra thu thập được phục vụ mục đích nghiên cứu
2.2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác tái định cư trên cơ sở các số liệu điều tra đã thu thập được và đề xuất các giải pháp có tính khoa học, phù hợp với thực tiễn để nâng cao hiệu quả các dự án tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang
2.2.2.4 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến tham giá góp ý của các
nhà quản lý, nhà khoa học
Trang 23Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang và thực trạng đời sống việc làm người dân bị thu hồi đất trước khi thực hiện dự án
3.1.1 Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang
Dự án đầu tư xây dựng công trình nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang được khởi công xây dựng năm 2003 theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2003 của Thủ Tướng Chính phủ Công trình được xây dựng trên sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang; đập của công trình là đập đá đổ đầm nén bản mặt bê tông cốt thép được xây dựng đầu tiên
ở Việt Nam, đập cao gần 100m
Nhà máy thủy điện Tuyên Quang là một trong những công trình trọng điểm của đất nước được thi công tại huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang với tổng vốn đầu tư 7.500 tỷ đồng Công trình này do Tổng công ty Điện Lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và Tổng công ty Sông Đà thực hiện thi công Công trình được xây dựng dưới hình thức tổng thầu EPC (đơn vị trúng thầu vừa thiết kế, vừa thi công và mua sắm, lắp đặt trang thiết bị) Đây là nhà máy thuỷ điện có công suất lớn thứ Ba của miền Bắc sau nhà máy thuỷ điện Sơn La và Hoà Bình Sau khi hoàn thành, dung tích hồ chứa nước từ 1.000 triệu đến 1.500 triệu m3
để phòng chống lũ cho thành phố Tuyên Quang và tham gia vào giảm lũ đồng bằng sông Hồng, tạo nguồn cấp nước mùa khô cho đồng bằng sông Hồng; nhà máy cung cấp cho lưới điện quốc gia với công suất lắp đặt 342 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1.295 KWh.Với lưu vực rộng lớn 14.972 km2
gồm của sông Gâm, sông Lăng và hồ Ba
Bể, lại có cột nước thấp, công trình thủy điện Tuyên Quang có ưu thế lớn với công suất thiết kế
Trang 243.1.2 Về mục tiêu, yêu cầu di dân, tái định cư của Dự án
3.1.2.1 Mục tiêu
Di dân, tái định cư Dự án thuỷ điện Tuyên Quang phải tạo được các điều kiện thuận lợi để đồng bào tái định cư có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, trên
cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi
cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân tái định cư, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ; hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh
và bảo vệ môi trường sinh thái
3.1.2.2 Yêu cầu
Công tác di dân, tái định cư phải được các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ để tổ chức thực hiện theo phương châm: Trung ương quy định cơ chế, chính sách chung; tỉnh cụ thể hoá và triển khai thực hiện
- Tái định cư trong vùng, trong tỉnh là chính thực hiện các hình thức tái định cư khác nhau: Tái định cư tập trung nông thôn, tái định cư đô thị, tái định
cư xen ghép và tái định cư tự nguyện di chuyển, phù hợp với các điều kiện cho sản xuất, phong tục, tập quán và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc ở nơi
đi cũng như nơi đến Khuyến khích đồng bào tự di chuyển nhà cũ, tự xây dựng nhà ở tại nơi tái định cư theo quy hoạch và khuyến khích hình thức tái định cư xen ghép Di dân, tái định cư cần coi trọng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, sự đoàn kết giữa người dân tái định cư và người dân sở tại
Đến năm 2007 hoàn thành việc bồi thường, di chuyển và tái định cư các
hộ gia đình và cá nhân thuộc đối tượng di dân tái định cư; bồi thường và xây
Trang 25dựng lại kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc - văn hoá xã hội của các tổ chức, đơn vị trong mặt bằng thi công và vùng ngập hồ chứa thuỷ điện
3.1.3 Về số dân phải di chuyển và phương án tạo lập các điểm TĐC
3.1.3.1 Về số dân phải di chuyển
Tổng số dân phải di chuyển là 4.821 hộ, với 23.630 khẩu (trong đó: Tỉnh
Tuyên Quang 4.139 hộ, với 20.138 khẩu thuộc 88 thôn, bản; tỉnh Hà Giang
624 hộ, với 3.172 khẩu; tỉnh Bắc Kạn 58 hộ, với 320 khẩu); có 4 xã phải di
chuyển 100% số thôn bản Số dân bố trí tại điểm tái định cư là 4.310 hộ,
21.163 khẩu (trong đó: Tỉnh Tuyên Quang 4.099 hộ, 19.980 khẩu; tỉnh Hà
Giang 153 hộ, 863 khẩu; tỉnh Bắc Kạn 58 hộ, 320 khẩu) Số hộ tái định cư tự
di chuyển là 511 hộ, 2.467 khẩu Người dân bị thu hồi đất chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể: Tày 54,8%, Dao 29,2%, H Mông 5,8% còn lại là dân tộc kinh 10,25% Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 92%)
Tổng số có 4.139 căn nhà với tổng diện tích là 323.700 m2
và 6.016 mồ
mả phải di chuyển Ngoài ra còn thiệt hại rất lớn về cây trồng, vật nuôi trên đất bị thu hồi, các công trình giao thông, trường học và các công trình công cộng khác
3.1.3.2 Phương án tạo quỹ đất lập khu, điểm tái định cư
- Quỹ đất lập khu, điểm tái định cư được hình thành chủ yếu từ việc khai hoang mở rộng diện tích; chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người dân sở tại với người dân tái định cư và từ quỹ đất chưa sử dụng tại địa bàn 04 huyện của tỉnh Tuyên Quang
- Về diện tích đất giao cho các hộ tái định cư: Đất ở giao cho hộ tái định cư nông nghiệp từ 200 m2
- 400 m2/hộ; hộ tái định cư phi nông nghiệp
từ 150 m2
- 200 m2/hộ; đất sản xuất nông nghiệp giao cho hộ tái định cư tuỳ thuộc vào quỹ đất của từng vùng tái định cư, được quy định cụ thể
Trang 263.1.4 Thực trạng đời sống, sản xuất của người dân bị thu hồi đất trước khi thực hiện dự án
3.1.4.1 Cơ cấu kinh tế và dân số tỉnh Tuyên Quang (năm 2003)
- Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 44,67%; công nghiệp, xây dựng chiếm 22,62%; các ngành dịch vụ chiếm 32,71%
- Dân số của tỉnh là 702.769 người, trong đó: Khu vực thành thị 65.685 người (chiếm 9,3 %); khu vực nông thôn 637.084 người (chiếm 90,7 %)
3.1.4.2 Thực trạng sản xuất và thu nhập của hộ dân vùng lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang
a) Về sản xuất của các hộ dân bị thu hồi đất
Các hộ dân vùng lòng hồ dự án thuỷ điện Tuyên Quang sống chủ yếu bằng sản xuất nông, lâm nghiệp, bình quân 01 hộ có từ 8.400 m2
đến 8.700 m2 đất nông nghiệp; trong đó: Đất 1 vụ lúa từ 1.100 m2 đến 1.200
b) Về thu nhập các hộ dân bị thu hồi đất
Tổng hợp số liệu điều tra bình quân thu nhập của 1 hộ dân vùng lòng hồ
năm 2003 khoảng 7.000.000 đồng/năm (khoảng 1.400.000 đồng/người/năm)
Thu nhập của các hộ dân vùng lòng hồ từ sản xuất nông nghiệp chiếm tới 90%, các nghề khác chiếm khoảng 10%, giá trị sản xuất nông nghiệp gồm trồng trọt (chủ yếu là trồng cây hàng năm) chiếm tới 80 %; chăn nuôi chiếm 20% (chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò và lợn thịt)
Trang 27c) Kết quả điều tra phân loại hộ giàu, nghèo của các hộ dân bị thu hồi đất
Theo kết quả phân loại hộ đến cuối năm 2003 của huyện Na Hang cho thấy trên địa bàn 11 xã của vùng lòng hồ (gồm: Vĩnh Yên, Sơn Phú, Khâu Tinh, Đà Vị, Yên Hoa, Trùng Khánh, Phúc Yên, Khuôn Hà, Thuý Loa, Xuân Tân, Xuân Tiến) như sau: Hộ giàu chiếm 1,2 %; hộ khá chiếm 10,4 %; hộ trung bình 80,3 % và hộ nghèo chiếm 8,1% Nguyên nhân chính dẫn đến nghèo là hầu hết các hộ được hỏi cho rằng thiếu kinh nghiệm sản xuất (chiếm khoảng 46,5% số hộ); có 15,9% số hộ cho là lý do thiếu đất canh tác; 12% cho rằng thiếu vốn cho sản xuất; 8% do đông khẩu; 5% do thiếu lao động và tàn tật; các nguyên nhân khác chiếm 7,6%
Do đó, trong quá trình tổ chức tái định cư cho nhân dân vùng lòng cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề như: Đảm bảo đủ diện tích đất canh tác, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất và hỗ trợ vốn đầu tư vào sản xuất cho các hộ tái định cư
d) Cơ cấu về dân tộc và nghề nghiệp các hộ di dân bị thu hồi đất
- Về cơ cấu dân tộc: Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất cao (89,8%); cụ thể: Tày (54,8 %); Dao (29,2 %); H’Mông (5,8 %); dân tộc Kinh (10,2 %); mỗi dân tộc có những đặc điểm về văn hoá, tập quán định cư và canh tác rất khác nhau
+ Người Tày sống định canh, định cư thành từng bản ở vùng thấp ven các thung lũng gần sông, suối, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, trồng lúa nước chiếm vị trí quan trọng
+ Người Dao và người H’Mông thường cư trú ở trên sườn núi cao, canh tác ruộng nước, nương rẫy Cây lương thực chính là lúa và ngô; ngoài việc làm ruộng và làm nương rẫy tuỳ theo điều kiện cụ thể và tập quán canh tác của từng dân tộc mà đồng bào còn trồng hoa mầu, cây ăn quả, cây lấy sợi dệt vải, chăn
Trang 28nuôi gia súc, thả cá và làm các nghề thủ công như thêu, dệt, đan lát, rèn
- Về nghề nghiệp: Hộ nông nghiệp là chủ yếu chiếm 92,0 %, kỹ thuật canh tác của các hộ thuộc đối tượng di chuyển đã được hướng dẫn về khuyến nông, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sản xuất theo kinh nghiệm; hộ phi nông nghiệp chỉ chiếm 8,0% tập chung chủ yếu ở thị trấn Na Hang, các trung tâm
xã, cụm xã, nghề nghiệp chính là thương nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các bộ công chức
Bảng 3.1 Dân số phải di chuyển dự án thuỷ điện Tuyên Quang
Trang 29liền kề, đất lâm nghiệp, còn lại là đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng)
+ Diện tích đất thu hồi vùng lòng hồ công trình thuỷ điện Tuyên Quang
là 6.989,90 ha (đất nông nghiệp là 7165,90 ha, đất phi nông nghiệp là 369,70
ha, đất chưa sử dụng là 113,6 ha)
Bình quân diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi của mỗi hộ là 8.000m2, trong đó đất lúa khoảng 2.700 m2
Xã có diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi lớn nhất trong huyện là xã Đà Vị, huyện Na Hang
- Tổng giá trị thiệt hại về đất đai vùng lòng hồ và mặt bằng công trường chỉ tính đất ở và đất nông nghiệp (không tính đất lâm nghiệp) làm
Tổng giá trị thiệt hại về nhà ở là 98,7 tỷ đồng, bình quân 01 căn nhà
phải di chuyển thiệt hại khoảng 23,9 triệu đồng Nhà ở của các hộ di chuyển
có khác nhau theo mỗi dân tộc
- Nhà ở của đồng bào Tày là nhà sàn với kiểu dáng, kiến trúc: Nhà 3 hoặc 5 gian, 2 chái, vách bưng phên liếp nứa, sàn bằng tre hoặc gỗ, cột tròn
- Nhà ở của đồng bào Dao đỏ là nhà đất, làm bằng gỗ, hình chữ nhật, 3 đến 5 gian, có 2 hoặc 4 mái Cách bố trí trong nhà đơn giản nhưng theo trật tự riêng về nơi đặt bàn thờ, nơi ngủ, bếp
- Nhà ở của đồng bào H’Mông là nhà đất làm bằng gỗ, mái lợp lá cọ hoặc cỏ danh, nhà từ 2 đến 3 gian, có 1 cửa chính và 2 cửa phục ở 2 đầu nhà,
Trang 30ở gian đầu có 1 bếp nấu ăn Nhà có gác để lúa, ngô và những đồ dùng khác
- Nhà ở của người Kinh là nhà trệt, chủ yếu là nhà khung gỗ
3.2.2.2 Vật kiến trúc kèm theo nhà
Tổng giá trị thiệt hại về vật kiến trúc kèm theo nhà là 50,08 tỷ đồng,
bình quân 01 hộ phải di chuyển bị thiệt hại 12,1 triệu đồng, gồm: Nhà bếp,
bể, giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh, chuồng gia súc
3.2.4 Về tài sản gắn liền với đất của hộ không phải di chuyển
Tổng số có 347 hộ không phải di chuyển giá trị thiệt hại về tài sản trên đất 1.358,0 triệu đồng, trong đó:
- Thiệt hại về cây trồng: 353,1 triệu đồng
- Thiệt hại về vật nuôi: 8,1 triệu đồng
- Thiệt hại về vật kiến trúc (lều, lán …): 996,8 triệu đồng
3.2.5 Về lâm sản trong vườn rừng hộ gia đình vùng lòng hồ và mặt bằng công trường
Diện tích đất lâm nghiệp bị thiệt hại là: 3.554,0 ha, trong đó:
Trang 31- Đất lâm nghiệp do hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng là 1.925,6 ha
(rừng trồng thuần loài 18,2 ha, rừng trồng hỗn giao 108,3 ha)
- Đất lâm nghiệp do Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý là 1.628,40 ha Phương án khai thác tận thu lâm sản vùng ngập lòng hồ là cần thiết nhằm tận dụng một khối lượng lớn lâm sản, đồng thời đây cũng là một công việc chính trong công tác thu dọn lòng hồ
3.2.6 Về công trình kết cấu hạ tầng
3.2.6.1 Về giao thông
Khi xây dựng thuỷ điện Tuyên Quang, với cao độ mực nước là 120 m các tuyến đường bị ngập, gồm:
- Tuyến Quốc lộ 279 (đoạn Na Hang - Đà Vị dài 32 km), bị ngập 22 km
- Tuyến đường tỉnh lộ 176 (đoạn Đà Vị - Thượng Giáp dài 32 km), bị ngập 12 km
- Tám (08) tuyến đường huyện dài 148,5 km, bị ngập 47,3 km
- Sáu (06) tuyến đường xã với tổng chiều dài 54 km, bị ngập 33 km
- Thiệt hại về hệ thống giao thông là 188.000,0 triệu đồng, trong đó: + Đường tỉnh: 36.000,0 triệu đồng
+ Đường huyện: 65.000,0 triệu đồng
+ Đường xã: 50.000,0 triệu đồng
+ Các công trình trên đường: 37.000,0 triệu đồng
Nhìn chung các tuyến đường giao thông trong vùng bị ngập chủ yếu là đường đất hoặc đường nhựa + đá có kết cấu kỹ thuật đơn giản
Trang 323.2.6.2 Về công trình thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi bị ảnh hưởng do xây dựng nhà máy thuỷ điện
Tuyên Quang là 61 công trình (gồm: 39 đập xây, 1 đập đất, 20 phai tạm, 1 hồ
chứa và các công trình dẫn nước) Năng lực tưới toàn vùng bị giảm 371,7 ha
3.2.6.4 Về công trình cấp nước sinh hoạt
Toàn vùng có 11 công trình cấp nước tập trung, 47 giếng đào lắp bơm tay VN6 và 130 bồn chứa nước 2 m3 bị ngập với năng lực cấp nước sinh hoạt cho khoảng 4.100 người thuộc địa bàn của 7 xã: Vĩnh Yên, Sơn Phú, Đà Vị, Yên Hoa, Khâu Tinh, Xuân Tân, Xuân Tiến Tổng giá trị thiệt hại về hệ thống các công trình cấp nước sinh hoạt là 3.412,0 triệu đồng
3.2.6.5 Về công trình kiến trúc công cộng
Các công trình kiến trúc công cộng bị thiệt hại, bao gồm:
- Trụ sở Uỷ ban nhân dân các xã: Vĩnh Yên, Sơn Phú, Đà Vị, Yên Hoa, Trùng Khánh, Phúc Yên, Xuân Tiến, Xuân Tân, Thuý Loa với tổng diện tích xây dựng là 2.088 m2
toàn bộ là nhà cấp 4, giá trị tương ứng là 1.011,0 triệu đồng
- Trạm y tế các xã: Vĩnh Yên, Sơn Phú, Đà Vị, Trùng Khánh, Phúc Yên, Xuân Tân, Xuân Tiến, Thuý Loa và phòng khám đa khoa khu vực xã Yên Hoa, tổng diện tích xây dựng là 2.068 m2 nhà cấp 4 với giá trị tương ứng
là 897,0 triệu đồng
Trang 33- Về trường học: Các trường Tiểu học và trường Trung học cơ sở các xã: Vĩnh Yên, Sơn Phú, Đà Vị, Yên Hoa, Khâu Tinh, Trùng Khánh, Khuôn Hà, Phúc Yên, Xuân Tân, Xuân Tiến, Thúy Loa nhà cấp 4, nhà gỗ Ngoài ra trên địa bàn xã Yên Hoa có trường Trung học phổ thông (nhà cấp 3, cấp 4) Tổng diện tích xây dựng trường học bị ngập là 29.330 m2
Trang 34Tổng giá trị thiệt hại về các di sản văn hoá vật thể 5.480,0 triệu đồng (không tính thiệt hại về nhà ở của đồng bào các dân tộc: Tày, Dao, H’Mông)
3.2.7.2 Di sản văn hoá phi vật thể
Số hộ phải di chuyển khỏi vùng lòng hồ nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (Tày, Dao, H’ Mông), chiếm 91,9% tổng số hộ phải di chuyển Địa điểm tái định cư không tập trung, được phân bố ở nhiều điểm trên địa bàn của 04 huyện, nên tính cộng đồng bị sáo trộn sẽ ảnh đến sinh hoạt, bảo tồn văn hoá phi vật thể
Do vậy, cùng với tổ chức tái định cư cho nhân dân vùng lòng hồ cần có biện pháp bảo tồn di sản văn hoá vùng lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang
3.2.8 Tài nguyên khoáng sản bị ngập vùng lòng hồ
Theo báo cáo số 302/BC-CV-TCN ngày 16/9/2003 của Sở Công nghiệp -
Thủ công nghiệp tỉnh Tuyên Quang (nay là Sở Công thương Tuyên Quang),
trong vùng lòng hồ dự án thuỷ điện Tuyên Quang có một số điểm quặng như:
- Điểm quặng Chì - Kẽm Tà Tổng, xã Xuân Tiến: Đây là điểm quặng
đã được khảo sát gồm thân quặng dày (0,1- 0,15) m, dài 5 m gồm các khoáng vật Galenit, Limonit
- Điểm chì - kẽm Khâu Tinh Luông, xã Khau Tinh: Đây là điểm quặng
đã được tìm kiếm, đánh giá gồm 4 thân quặng
- Điểm chì - kẽm Pù Pảo, xã Côn Lôn: Thân quặng dạng thấu kinh dài (10 - 15) m, dày 1,5m, hàm lượng Zn (3,15 - 12,7)%, Pb (0,35 - 4,04)%
- Điểm chì - kẽm Nà Chang, Lũng Thi xã Sơn Phú, Pác Tạ xã Vĩnh Yên đều chưa được đánh giá
- Quặng Pyrite Khau Tinh Luông: Đây là điểm quặng thuộc xã Khau Tinh đã được tìm kiếm đánh giá gồm 2 thân quặng
Trang 35- Antimon Lăng Can: Quặng thuộc xã Lăng Can chưa được đánh giá trữ lượng, chất lượng
- Điểm quặng vàng Đông La Hiên, xã Trùng Khánh: được đánh giá trữ lượng ở cấp P2 = 7,886 kg A0, gồm có 2 thân quặng
- Điểm quặng vàng Tây Na Hiên, xã Trùng Khánh: được đánh giá trữ lượng ở cấp P2 = 4,278 kg A0, gồm có 2 thân quặng
Ngoài ra, có các điểm vàng sa khoáng lòng sông Gâm, sông Năng thuộc các xã: Vĩnh Yên, Xuân Tân, Xuân Tiến, Thuý Loa, Trùng Khánh, Sơn Phú, Đà vị, Khau Tinh đều chưa được đánh giá trữ lượng, chất lượng
3.2.9 Đánh về mức độ ảnh hưởng của dự án
Ảnh hưởng của dự án thuỷ điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang là rất lớn, trên nhiều phương diện, trong đó thể hiện ở các mặt chủ yếu được tổng hợp lại như sau:
- Dân số phải di chuyển tương đối lớn với 4.139 hộ, 20.138 khẩu (gồm
cả hộ tự di chuyển) Dân số phải di chuyển chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu
số (chiếm 89,8%), sản xuất chính là nông nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn nên việc bố trí tái định cư cần được coi trọng hơn các dự án di dân khác
- Tổng giá trị thiệt hại về vật chất do xây dựng công trình thuỷ điện
Tuyên Quang là 524,6 tỷ đồng, trong đó: Thiệt hại về đất đai 97,3 tỷ đồng (chiếm 18,6%), về tài sản gắn liền với đất của hộ dân 184,9 tỷ đồng (chiếm 35,2%) và thiệt hại về công trình kết cấu hạ tầng 242,4 tỷ đồng (chiếm 46,2%)
- Diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn (48,9% diện tích đất bị thu
hồi); trong khi quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Hang hạn chế, không có khả tiếp nhận toàn bộ các hộ dân phải di chuyển Do vậy, cần thiết
bố trí tái định cư địa bàn các huyện khác
Trang 36- Ngoài ra hồ thuỷ điện Tuyên Quang còn làm ngập và chia cắt nhiều
điểm dân cư với các trung tâm vùng, làm xáo trộn lớn về việc làm, thu nhập một bộ phận dân cư của 12 xã và thị trấn Na Hang và có ảnh hưởng rất lớn đến các hệ sinh thái vùng lòng hồ Trong quá trình phục hồi sản xuất và thu nhập cho dân vùng lòng hồ đồng thời phải điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Na Hang
Bảng 3.2 Tổng hợp giá trị thiệt hại về vật chất do thực hiện dự án
2 Hộ không phải di chuyển 1,4
Trang 373.3 Thực trạng việc triển khai thực hiện dự án di dân tái định cƣ
3.3.1 Xây dựng khu tái định cư
3.3.1.1 Tiêu trí lựa chọn khu tái định cư
- Có đủ đất ở và đất sản xuất cho dân tái định cư theo Quyết định 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nguồn đất để bố trí cho dân TĐC có thể bằng hình thức khai hoang, cải tạo hoặc nhận chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất của các hộ dân sở tại
- Việc thu hồi đất để lập khu tái định cư phải dựa trên nguyên tắc:
Tự nguyện, công bằng và cùng có lợi, đảm bảo người nhượng quyền sử dụng đất vẫn còn đủ đất sản xuất, tiền thu được từ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đầu tư vào thâm canh hoặc chuyển đổi nghề nghiệp
- Có đủ nguồn nước đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
- Khả năng quan hệ liên vùng thuận lợi; dễ tiếp cận được hệ thống dịch
vụ công cộng: y tế, giáo dục, thị trường… Được sự nhất trí cao của các cấp chính quyền và nhân dân địa phương
3.3.1.2 Phương án bố trí tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Căn cứ Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ và thực tế điều kiện từng địa phương, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện xây dựng bốn (4) vùng tái định cư thuộc 4 huyện (Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn) với 42 khu, 125 điểm tái định cư, tiếp nhận 4.099 hộ với
19.980 khẩu (trong đó: Phi nông nghiệp 357 hộ, 1.312 khẩu; nông nghiệp
3.742 hộ, 18.668 khẩu), cụ thể:
- Vùng tái định cư huyện Na Hang: Gồm 16 khu, 31 điểm tái định cư,
Trang 38bố trí tiếp nhận 1.396 hộ, 6.349 khẩu (trong đó, toàn bộ các hộ phi nông
nghiệp được bố trí tái định cư tại địa bàn xã Yên Hoa, xã Thanh Tương và thị trấn Na Hang)
- Vùng tái định cư huyện Chiêm Hoá: Gồm 10 khu, 33 điểm tái định
cư, bố trí tiếp nhận 807 hộ, 4.197 khẩu tái định cư nông nghiệp
- Vùng tái định cư huyện Hàm Yên: Gồm 4 khu, 28 điểm tái định cư,
bố trí tiếp nhận 481 hộ, 2.377 khẩu tái định cư nông nghiệp
- Vùng tái định cư huyện Yên Sơn: Gồm 12 khu, 33 điểm tái định cư,
bố trí tiếp nhận 1.415 hộ, 7.057 khẩu tái định cư nông nghiệp
Như vậy, địa bàn tái định cư là đảm bảo đủ 100% số hộ phải tái định
cư từ vùng lòng hồ và mặt bằng công trường
Bảng 3.3 Tổng hợp khả năng tiếp nhận tái định cƣ
trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác di dân, tái định cư Dự án thuỷ điện Tuyên Quang của Ban Di dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang)
3.3.2 Kết quả di chuyển dân đến các khu tái định cư
Việc di chuyển và bố trí tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thực
hiện từ năm 2003 theo kế hoạch di chuyển các hộ dân của dự án, cụ thể:
Số
TT Tên huyện
Khả năng tiếp nhận tái định cƣ
Trong đó
Hộ nông nghiệp
Hộ phi nông nghiệp