Sinh con đẻ cái là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi gia đình, nó là một phần của công cuộc duy trì sự sống trên hành tinh. Với quan niệm dân gian Việt Nam, việc sinh con đẻ cái là cái phúc cái đức, nhà nào càng có nhiều con cái thì là nhà có phúc. Tuy rằng quan điểm đó đã lỗi thời, không con phù hợp với cuộc sông hiện đại ngày này, nhưng không thể phủ nhận rằng việc sinh con đẻ cái là vấn đề quan trọng của mỗi gia đình, đứa con là sợi dây mới gắn kết cha mẹ với nhau, đại gia đình có thêm thành viên mới thêm vui cửa vui nhà. Vậy nhưng, không phải ai cũng có được niềm vui đó, Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ vô sinh trên thế giới trung bình từ 6%12%. Ở Việt Nam theo nghiên cứu toàn quốc của bệnh viện Phụ sản Trung ương tại Đại học Y Hà Nội năm 2016, tỉ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 7,7%, nghĩa là có từ 700.000 đến 1 triệu cặp vợ chồng không thể thực hiện được ước mơ làm cha mẹ. Đáp ứng niềm mong mỏi đó, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đã mang lại hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng. Theo đó, vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang ngày càng phổ biến và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc xác định cha, mẹ, con cùng với đó cũng trở phức tạp hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý.
Trang 1MỤC LỤC
Trang:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 1
I Khái quát chung 1
II Điều kiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm 1
1 Điều kiện đối với người cho noãn, tinh trùng, phôi 1
2 Điều kiện đối với người nhận noãn, tinh trùng, phôi 3
3 Điều kiện mang thai hộ 6
III Xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm 10
1 Căn cứ xác định cha, mẹ, con khi sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm 10
2 Thủ tục xác định cha, mẹ, con 13 KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Sinh con đẻ cái là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi gia đình, nó làmột phần của công cuộc duy trì sự sống trên hành tinh Với quanniệm dân gian Việt Nam, việc sinh con đẻ cái là cái phúc cái đức,nhà nào càng có nhiều con cái thì là nhà có phúc Tuy rằng quanđiểm đó đã lỗi thời, không con phù hợp với cuộc sông hiện đạingày này, nhưng không thể phủ nhận rằng việc sinh con đẻ cái làvấn đề quan trọng của mỗi gia đình, đứa con là sợi dây mới gắnkết cha mẹ với nhau, đại gia đình có thêm thành viên mới thêmvui cửa vui nhà Vậy nhưng, không phải ai cũng có được niềm vui
đó, Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ vô sinh trên thế giới trung bình
từ 6%-12% Ở Việt Nam theo nghiên cứu toàn quốc của bệnh việnPhụ sản Trung ương tại Đại học Y Hà Nội năm 2016, tỉ lệ vô sinhcủa các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 7,7%, nghĩa là có từ700.000 đến 1 triệu cặp vợ chồng không thể thực hiện được ước
mơ làm cha mẹ Đáp ứng niềm mong mỏi đó, kỹ thuật hỗ trợ sinhsản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đã manglại hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng Theo đó, vấn đềsinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang ngày càng phổ biến
và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc xác định cha, mẹ, concùng với đó cũng trở phức tạp hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực pháplý
Vậy để tìm hiểu rõ hơn về chủ đề này, em xin được đi vào tìm
hiểu đề bài số 8: “Phân tích và đánh giá điều kiện sinh con bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và xác định cha mẹ con trong trường hợp đó”.
Trang 3NỘI DUNG
I Khái quát chung
Theo Khoản 21, Điều 3, Luật Hôn Nhân và gia đình năm 2014 phần giải thích từ ngữ có nêu khái niệm: “Sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia thì “Thụ tinh trong ống nghiệm là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm Đây là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ
lý do gì đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên”.
II Điều kiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
1 Điều kiện đối với người cho noãn, tinh trùng, phôi
Điều kiện đối với người cho tinh trùng và cho noãn được quy
Do bộ gen di truyền của con sinh ra từ việc thực hiện sinh conbằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là tồng hợp gen từ sự kếthợp tinh trùng/noãn của người cho và noãn/tinh trùng của ngườinhận nên các yếu tố di truyền như tính trạng màu mắt, màu tóc,
da, chiều cao và cả bệnh di truyền đều sẽ có xác suất xuất hiện
ở con Tinh trùng, noãn được cho phải có chất lượng tốt, khỏe
Trang 4mạnh và không mang gen bệnh từ người cho Nếu người cho tinhtrùng, noãn mắc các bệnh trên, con sinh ra cũng sẽ bị bệnh ditruyền Quy định này để đảm bảo con sinh ra khỏe mạnh, đảmbảo chất lượng giống nòi, không làm suy thoái giống nòi Đồngthời, người mắc bệnh tâm thần hay các bệnh khác dẫn đến khônglàm chủ được nhận thức không được tiến hành kỹ thuật thụ tinhtrong ống nghiệm bởi bản thân họ không đáp ứng điều kiện thamgia vào các quan hệ pháp luật dân sự, không đáp ứng tiêu chínguyên tắc tự nguyện.
- Việc tiến hành cho tinh trùng, cho noãn phải hoàn toàn tựnguyện, tức là người cho tinh trùng, cho noãn phải tự mình quyếtđịnh có tiến hành hay không theo nguyện vọng của cá nhân mình,
mà không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quannào từ người khác
Một lần nữa nguyên tắc tự nguyện của các chủ thể khi thamgia thực hiện mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệmđược cụ thể hóa là một trong những điều kiện bắt buộc để tiếnhành kỹ thuật này Điều này không chỉ tuân theo nguyên tắc cơbản của Luật Dân sự là thỏa thuận, bình đẳng, tự nguyện mà cònbảo vệ các chủ thể tham gia thông qua sự biểu đạt bằng ý chí củamình Quy định này nhằm tránh dẫn đến tranh chấp, đảm bảo choquyền và lợi ích của các bên chủ thể, đặc biệt là lợi ích đứa trẻ
- Việc cho nhận phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh,chữa bệnh được Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụtinh trong ống nghiệm Quy định này nhằm đảm bảo sự kiểm soátcủa nhà nước về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,đồng thời đảm bảo về mặt y tế, tránh dẫn đến những hậu quảđáng tiếc khi tiến hành tại các cơ sở y tế không đảm bảo Bêncạnh đó, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên,tuổi,
Trang 5địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng Điều này nhằmđảm bảo nguyên tắc bí mật và nguyên tắc này chỉ được áp dụngđối với người cho tinh trùng mà không áp dụng đối với người chonoãn.
- Tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho mộtngười, nếu không sinh con thành công mới sử dụng cho ngườikhác Quy định này sẽ hạn chế tình trạng những đứa trẻ sinh ra cócùng huyết thống nhưng có bố mẹ pháp lý khác nhau
Bắt đầu từ năm 2003 khi xây dựng nghị định về sinh con bằngphương pháp khoa học, Bộ Y tế đã tổ chức nhiều hội thảo phối hợpvới Bộ Tư pháp, trường Đại học Luật, mời các chuyên gia nướcngoài để nói về nguy cơ có thể người hiến tinh trùng sẽ hiến nhiềulần, và từ đó sẽ có hôn nhân cận huyết ở thể hệ con cháu sau này
do không xác định được người hiến tinh trùng Dù theo đánh giá
và phân tích của các chuyên gia nước ngoài, khả năng này là vôcùng hiếm để xảy ra, nhưng nhà làm luật Việt Nam vẫn lựa chọnđưa quy định chỉ được hiến một lần đối với người hiến tinh trùng,noãn vào luật để đảm bảo hạn chế nhất tỉ lệ rủi ro hôn nhân cậnhuyết có thể xảy ra ở thế hệ con cháu
Khác với điều kiện được quy định trước đây trong Nghị định 12/2003/NĐ- CP, các nhà làm luật đã bỏ quy định về độ tuổi luật
định đối với người cho tinh trùng, cho noãn Cụ thể, theo quy định
Nghị định 12/2003/NĐ-CP, người cho tinh trùng phải từ đủ 22 tuổi
đến 55 tuổi, người cho noãn phải từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi Việc
Nghị định 12/2003/NĐ-CP quy định như vậy là căn cứ vào các
nghiên cứu khoa học, đây là độ tuổi đảm bảo tốt nhất chất lượngtinh trùng và trứng Tuy nhiên, trong điều kiện khoa học ngàycàng phát triển, chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng chămsóc y tế ngày càng được nâng cao, tình trạng sức khỏe trung bìnhcủa con người ngày càng được cải thiện, việc không quy định về
Trang 6độ tuổi đã giúp mở rộng đối tượng có thể cho tinh trùng, cho noãn,phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội.
2 Điều kiện đối với người nhận noãn, tinh trùng, phôi
2.1 Điều kiện đổi với người nhận tinh trùng
Điều kiện này được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 10/2015/NĐ- CP Theo đó, người nhận tinh trùng phải là người vợ
trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh
là do người chồng hoặc người nhận tinh trùng có thể là người phụ
nữ độc thân có mong muốn sinh con và noãn của họ đảm bảo chấtlượng để thụ thai
Cặp vợ chồng vô sinh là cặp vợ chồng trong tình trạng vợchồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2-
3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫnkhông có thai Trước hết, cặp vợ chồng này phải là vợ chồng hợppháp, có giấy đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Đây là
cơ sở pháp lý để ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quátrình sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và với trẻsinh ra trong tương lai Người nhận tinh trùng còn có thể là là phụ
nữ độc thân có nhu cầu sinh con Quy định này đảm bảo việc thựchiện quyền làm mẹ của những người phụ nữ không kết hôn nhưngvẫn mong muốn có con
Trong trường hợp này, người phụ nữ độc thân muốn sinh conbằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không nhất thiết phải đáp ứng điềukiện là người đó bị vô sinh Tuy nhiên, phụ nữ độc thân muốn sinhcon bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ có thể nhận tinh trùng nếunoãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai
2.2 Điều kiện đối với người nhận noãn
Khoản 2 Điều 5 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định người nhận
noãn phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và là người
vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô
Trang 7sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chấtlượng để thụ thai Người nhận noãn phải là người Việt Nam hoặc
có gốc Việt Nam Tức là, cặp vợ chồng vô sinh người nước ngoài,người phụ nữ độc thân người nước ngoài chỉ được nhận tinh trùng
mà không được nhận noãn Đây cũng là sự khác biệt so với phápluật Hôn nhân và gia đình trước đây, không cho phép thực hiệnviệc cho, nhận noãn; cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi đối vớingười nước ngoài Quy định sửa đổi đã mở rộng đổi tượng áp dụngcủa luật, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể người nướcngoài
2.3 Điều kiện đối với người nhận phôi
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về việc sinh con bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, chỉ ba trường hợp sau đâyđược nhận phôi: người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh
mà nguyền nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng; người
vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà vợ chồng đã thựchiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại, trừtrường hợp mang thai hộ và phụ nữ độc thân mà không có noãnhoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Đây là quy định
mới của Nghị định 10/2015/NĐ-CP so với Nghị định
12/2003/NĐ-CP Trước đó, pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ có phép người
phụ nữ độc thân nhận tinh trùng mà nghiêm cấm nhận noãn vàphôi Lý giải cho việc cấm phụ nữ độc thân nhận noãn và phôi bởitrước ngày 01 tháng 01 năm 2015, việc mang thai hộ hoàn toàn bịnghiêm cấm Việc cho phép người phụ nữ độc thân thực hiện sinhcon bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhận noãn hoặc phôi sẽ là kẽ
hở, dễ dẫn tới nhiều biến tướng “mang thai hộ vì mục đích thươngmại”, “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thươngmại” Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép mang thai hộ vìmục đích nhân đạo đã mở rộng phạm vi điều kiện đối với người
Trang 8được nhận phôi Việc sửa đồi quy định này đã góp phần đảm bảoquyền làm mẹ của người phụ nữ độc thân.
Ngoài những điều kiện riêng biệt đối với từng đối tượng, ngườinhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe đểthực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinhcon; không mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV,bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền cóảnh hưởng đến tính mạng và sự phát triển của trẻ khi sinh ra;không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhậnthức, làm chủ được hành vi của mình Người phụ nữ phải đảm bảođiều kiện về sức khỏe khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để thụthai, mang thai và sinh đẻ, tránh tình trạng người phụ nữ mắc một
số bệnh như bệnh tim vẫn thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ốngnghiệm, gây nguy hiểm trong quá trình mang thai và sinh đẻ Xácnhận đáp ứng đủ các tiêu chuẩn này để thực hiện kỹ thuật thụtinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con của người được thựchiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cần được xác nhận bằngvăn bản của người đứng đầu cơ sở được phép thực hiện thụ tinhtrong ống nghiệm
Những đối tượng mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác màkhông thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình sẽ dễ dàng
là đối tượng bị lợi dụng để thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợsinh sản vì mục đích thương mại hoặc mang thai hộ vì mục đíchthương mại Chính bởi vậy, pháp luật không cho phép đối tượngnày nhận hoặc cho tinh trùng, noãn
Đối với người cho tinh trùng, noãn, pháp luật quy định phải lànhững người không bị nhiễm HIV Nếu người cho tinh trùng nhiễmHIV, virus HIV sẽ tồn tại ở tinh tương bên ngoài tinh trùng Để phôikhông nhiễm virus HIV, tinh dịch được rửa sạch tinh tương Chotinh trùng thụ tinh với noãn đã bóc tách từ buồng trứng của người
Trang 9phụ nữ rồi nuôi cấy mô phôi và đưa trở lại vào tử cung người mẹ.Phương pháp này có xác suất thành công cao hơn nhưng chi phírất cao đồng thời yêu cầu rất phức tạp về kỹ thuật chuyên ngành.Đây là biện pháp dành cho một số trường hợp cặp vợ chồng muốn
có con mà chồng mang virus HIV, người cho tinh trùng sẽ là ngườichồng Tuy nhiên, đa số trường hợp, bác sĩ đều đưa ra lời khuyênnên xin tinh trùng từ người khác
Ngoài ra, tương tự như đối với người cho tinh trùng, cho noãn,
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địachỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi Quy địnhnày cũng nhằm tránh xảy ra tranh chấp, giúp ổn định mối quan hệcha, mẹ, con và đảm bảo quyền lợi của các bên
3 Điều kiện mang thai hộ
3.1 Điều kiện đối với người mang thai hộ
- Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của
bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ
Quy định này nhằm hạn chế tối đa tình trạng mang thai hộ vì
mục đích thương mại Khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
quy định:
7 Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chủ, con bác, con cô, con cậu, con
dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ.
Trong khi đó, Khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định:
“Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người
có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời”
- Người có quan hệ hôn nhân bao gồm vợ - chồng Người cóquan hệ nuôi dưỡng bao gồm con với bố, mẹ Người có cùng dòng
Trang 10máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó,người này sinh ra người kia kế tiếp nhau, bao gồm cha, mẹ đối vớicon; ông, bà đối với cháu nội; ông, bà đổi với tháu ngoại Người có
họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồmcha mẹ ỉà đời thử nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, conbác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba Có nghĩa là “anh rể, em
rể, chị dâu, em dâu cùa người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha” vẫn là đối tượng thỏa mãn điều kiện ngườimang thai hộ là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bênchồng theo như định nghĩa của Nghị định Quy định này mặc dùgiúp mở rộng phạm vi những người được mang thai hộ, tuy nhiên
lại là sự mâu thuẫn giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP Thèm vào đó, đối với điều kiện người
mang thai hộ, Nghị định đã đưa ra những đối tượng không cànthiết như “anh rể”, “em rể” Vì theo quy luật tự nhiên cơ bàn, chỉ
có nữ giới mới thực hiện được việc mang thai và sinh con
- Người mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mangthai hộ một lần
Lí giải cho việc quy định người mang thai hộ phải đã từng sinhcon bởi mang thai và sinh con là một quá trình đặc biệt Việc đãtừng sinh con sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lý cũngnhư có kinh nghiệm, kỹ năng trong vấn đề chăm sóc bản thân vàthai nhi nhằm đảm bảo thực hiện việc mang thai hộ Quy định chỉđược mang thai hộ một lần nhằm hạn chế xảy ra tình trụng mangthai hộ vì mục đích thương mại
- Người mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhậncủa tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ
Tụy nhiên, pháp luật chưa có quy định thế nào là độ tuổi phùhợp Có thể suy đoán độ tuổi phù hợp là độ tuổi sinh đẻ nói chung
Trang 11theo các nghiên cứu khoa học cũng như quan niệm của xã hội.Thông thường, độ tuổi sinh sản tôt nhất của người phụ nữ làkhoảng từ 20 đến 30 tuổi, lúc này cơ thể người phụ nữ đã pháttriển đầy đủ cả về tâm sinh lý cho việc làm mẹ Khoa học cũngnghiên cứu, những con số thống kê về các trường hợp sảy thai ởphụ nữ đã cho thấy gần 15% phụ nữ bị sảy thai dưới độ tuổi 35.Nhưng ở độ tuổi 35 đến 37, nguy cơ sảy thai đã lên đến 25% Nếumang thai ở độ tuổi trên 40, nguy cơ sảy thai sẽ là 40% Đồngthời, tỷ lệ con sinh ra bị dị tật bẩm sinh (phả biến nhất là bệnhDown) cao gấp năm lần so với phụ nữ sinh con ở độ tuổi dưới 30.Việc quy định về độ tuổi phù hợp và xác nhận của tổ chức y tế cóthẩm quyền nhằm bảo đảm tối đa kết quả thành công cho việcsinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trong trườnghợp mang thai hộ nói riêng và mang thai hộ nói chung.
Điều kiện có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khảnăng mang thai hộ không chi nhằm đảm bảo cho sức khỏe củangười mang thai hộ mà còn đảm bảo cho sức khỏe của đứa trẻ,hạn chế các rủi ro có thể xảy ra Tính tới thời điểm hiện tại, cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện ngay kỹ thuậtmang thai hộ vì mục đích nhân đạo gồm Bệnh viện Phụ sản trungương; Bệnh viện Đa khoa trung ương Huế; Bệnh viện phụ sản Từ
Dũ thành phố Hồ Chí Minh
- Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có
sự đồng ý bằng văn bản của người chồng
Đây là một trong những điều kiện mà pháp luật quy định, đặt
ra bắt buộc đối với người phụ nữ mang thai hộ nếu có chồng LuậtHôn nhân và gia đình 2014 đặt ra nguyên tắc xây dựng gia đìnhtiến bộ, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quantâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau Việc mang thai Hộ không chỉlàm người vợ có nguy cơ đối mặt với một số biến chứng, ảnh