Tài sản của vợ chồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống gia đình, nó là cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội cơ bản. Trong thời kỳ hôn nhân, việc xác định tài sản riêng tài sản chung của vợ chồng là nhằm hướng hành vi ứng xử của vợ, chồng đối với tài sản, là cơ sở pháp lý để vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và là cơ sở để đảm bảo nhu cầu đời sống chung của vợ chồng cũng như các thành viên trong gia đình. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã cho phép vợ, chồng được chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận và theo luật định, trong đó đáng chú ý là chế độ tài sản của vợ, chồng theo luật định hay còn gọi là chế độ tài sản theo quy định của pháp luật với nhiều điểm mới đáng chú ý.
Trang 1MỤC LỤC
Trang:
MỞ ĐẦU 1NỘI DUNG 2
I Khái quát chế độ tài sản của vợ chồng 2
II Đánh giá chế độ tài sản theo luật định trong luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 2III Nguyên nhân và giải pháp 14KẾT LUẬN 15DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Tài sản của vợ chồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trongđời sống gia đình, nó là cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốtcác chức năng xã hội cơ bản Trong thời kỳ hôn nhân, việc xácđịnh tài sản riêng tài sản chung của vợ chồng là nhằm hướng hành
vi ứng xử của vợ, chồng đối với tài sản, là cơ sở pháp lý để vợ,chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và là cơ sở đểđảm bảo nhu cầu đời sống chung của vợ chồng cũng như cácthành viên trong gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 rađời đã cho phép vợ, chồng được chọn chế độ tài sản theo thỏathuận và theo luật định, trong đó đáng chú ý là chế độ tài sản của
vợ, chồng theo luật định hay còn gọi là chế độ tài sản theo quyđịnh của pháp luật với nhiều điểm mới đáng chú ý
Vậy để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài tập
số 12: “Đánh giá chế độ tài sản theo luật định trong luật hôn nhân
và gia đình năm 2014” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập học kỳ
môn Luật hôn nhân và gia đình của mình
Trang 3NỘI DUNG
I Khái quát chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng là toàn bộ những quy định về
việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ (chồng), quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng vàviệc phân chia tài sản.1
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là đạo luật đầu tiên củaNhà nước ta quy định vợ chồng có quyền lựa chọn hai chế độ tàisản của vợ chồng là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tàisản theo quy định của pháp luật
Chế độ tài sản theo pháp luật quy định hay còn gọi là chế độ
tài sản theo luật định được áp trong trường hợp vợ, chồng khônglựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, hoặc có lựa chọn nhưngthỏa thuận của họ bị vô hiệu Luật hôn nhân và gia đình năm 2014quy định vợ và chồng có tài sản chung hợp nhất và vợ, chồng cótài sản riêng
II Đánh giá chế độ tài sản theo luật định trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014
1 Tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
1.1 Xác định tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
Căn cứ pháp lý tại Điều 33, Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 có quy định:
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều
40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
1 Bộ môn luật hôn nhân và gia đình – Đại học luật Hà Nội 2015, TS Ngô Hường (Chủ biên) – TS Nguyễn Thị Lan
– TS Bùi Thị Mừng, Hướng dẫn học tập – tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Lao Động,
Tr 80.
Trang 4được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản
mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”.
Qua đó, ta có thể hiểu, tài sản chung hợp nhất của vợ chồngbao gồm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;
- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoalợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên trong thời kỳ hônnhân;
- Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hônnhân gồm: Các khoản tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng
xổ số; tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bịchìm đắm; vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc,vật nuôi dưới nước và các thu nhập khác theo quy định của phápluật
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặngcho chung;
- Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trang 5Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn làtài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng đượcthừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giaodịch bằng tài sản riêng.
Trong trường hợp không có căn cứ cho rằng tài sản mà vợchồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của một bên thì tài sản
đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng là bất động sản hoặc là tài sản
mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong Giấychứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ
và chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Quy địnhnày tạo căn cứ pháp lý để xác định tài sản chung của vợ chồng khi
có tranh chấp
* Như vậy, dựa trên tính chất cộng đồng của quan hệ hônnhân mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung của vợ
chồng khá rõ ràng và chi tiết, nhằm bảo đảm nhu cầu của gia
đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
1.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với tài sản chung
Căn cứ pháp lý tại Điều 35, Luật hôn nhân và gia đình năm
2014, quy định về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung như sau:
“1 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2 Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
Trang 6c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”
Qua đó, có thể hiểu:
Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triểnkhối tài sản chung và bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, vàđịnh đoạt tài sản chung
Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý, bảo vệ tài sản
chung Vợ chồng cùng quản lý, nắm giữ tài sản chung Vợ chồng
có thể uỷ quyền cho nhau trong việc chiếm hữu tài sản chung.Người được ủy quyền có toàn quyền chiếm hữu tài sản chung của
vợ chồng Trong trường hợp vì lý do nào đó mà cả vợ và chồngđều không thể chiếm hữu tài sản chung thì vợ chồng có thể ủyquyền cho người khác chiếm hữu tài sản chung theo quy định của
Bộ luật Dân sự
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi,
lợi tức từ tài sản Trên nguyên tắc bình đẳng, việc sử dụng tài sảnchung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoảthuận Nếu vợ chồng ủy quyền cho nhau trong việc sử dụng tàisản chung thì người được uỷ quyền có toàn quyền sử dụng tài sảnchung vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh Hoa lợi, lợi tức thuđược từ việc khai thác công dụng của tài sản là tài sản chung của
vợ chồng
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản
hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Việc xác lập, thực hiện và chấm dứtgiao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là bấtđộng sản, là động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng
ký quyền sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủyếu của gia đình thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợchồng Văn bản phải có chữ ký của cả vợ chồng, văn bản đó có thể
Trang 7được công chứng, chứng thực Nếu vợ chồng uỷ quyền cho nhautrong việc định đoạt tài sản chung thì người được uỷ quyền cótoàn quyền định đoạt tài sản chung mà không cần phải bàn bạc,thoả thuận với bên kia Vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đớiđối với những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợchồng nhằm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngàycủa gia đình.
* Với quy định này, ta lại một lần nữa thấy cụm từ “thỏathuận” Hôn nhân với tính chất là sự tâm đầu ý hợp, cũng có thểhiểu là sự thống nhất về ý chí giữa hai chủ thể của mối quan hệhôn nhân Việc pháp luật tạo điều kiện cho vợ, chồng thỏa thuận
về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của họ một lầnnữa cho thấy sự tôn trọng của pháp luật đối với ý chí của chủ tàisản Trong cuộc sống, vì lý do nào đó mà một hoặc cả hai vợchồng không thể thực hiện quyền của mình thì vợ, chồng có quyền
ủy quyền cho nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Khi
đó, người được ủy quyền có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng vàđịnh đoạt tài sản mà không cần bàn bạc với bên kia Hoa lợi, lợitức phát sinh trong việc khai thác tài sản là tài sản chung và vợchồng phải chịu trách nhiệm liên đới với những giao dịch dân sựliên quan đến tài sản chung nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu hàngngày của gia đình Đây là quy định thể hiện sự ghi nhận tình cảm,
sự gắn bó, tin tưởng giữa vợ chồng với nhau, phù hợp và đượctriển khai thực hiện khá hiệu quả trên thực tế Tuy nhiên, việc ủyquyền không được lập văn bản cũng dẫn đến nhiều hạn chế nếuhai bên có xung đột, người ủy quyền có thể trốn tránh trách nhiệm
và người được ủy quyền rất khó chứng minh việc ủy quyền là cóthật
1.3 Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Trang 8Căn cứ pháp lý tại Điều 37, Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như
sau:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2 Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3 Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4 Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6 Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Như vậy, có thể hiểu, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể
có những khoản nợ, bồi thường thiệt hại mà vợ chồng có nghĩa
vụ thực hiện, gọi là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng LuậtHôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có các nghĩa
vụ chung về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuậnxác lập (như vay tài sản, thuê tài sản );
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của phápluật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
Trang 9- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầuthiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tàisản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì,phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủyếu của gia đình Ví dụ: Ngôi nhà là tài sản riêng của vợ, tiền chothuê nhà là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình Khi cần sửachữa nhà thì chi phí sửa nhà được xác định là nghĩa vụ chung vềtài sản của vợ chồng;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường như: Bồithường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan
* Các quy định trên được đánh giá là hợp lý và tương đối đầy
đủ các trường hợp Việc bồi thường các nghĩa vụ liên quan đến tàisản chung, ví dụ như dùng chúng tham gia giao dịch, phát triểnchúng hoặc nghĩa vụ chịu trách nhiệm với thiệt hại do con chunggây ra,… đương nhiên phải do cả hai vợ chồng gánh chịu Tuynhiên, việc quy định trường hợp nghĩa vụ phát sinh từ việc sửdụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc
để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình chưa thực sự hoànchỉnh do việc xác định hay chứng minh mục đích duy trì, pháttriển khói tài sản chung là tương đối khó xác định, tạo thành lỗhổng cho các sai phạm
2 Tài sản riêng
2.1 Xác định tài sản riêng của vợ, chồng
Trang 10Căn cứ pháp lý tại Điều 43, Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau:
“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng
là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Qua đó, ta có thể hiểu tài sản riêng của vợ chồng gồm:
- Tài sản mà vợ hoặc chồng có từ trước khi kết hôn;
- Những tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hoặcđược tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ hoặc chồng được chia từ tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từtài sản đó;
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;
- Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sờ hữuriêng của vợ, chồng gồm: Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữutrí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; tài sản mà vợ,chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; khoản trợ cấp, ưu đãi mà
vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người
cỏ công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thâncủa vợ, chồng
Trang 11* Trên cơ sở nghiên cứu và phận tích các quy định của Luậthôn nhân và gia đình năm 2014, ta có thể đưa ra một số căn cứ đểxác định tài sản riêng của vợ chồng, điều này có ý nghĩa quantrọng trong vấn đề chia tài sản khi ly hôn.
Đối với tài sản mà vợ chồng có từ trước khi ly hôn, việc địnhđoạt tài sản này do ý chí của họ quyết định và nếu họ không thỏathuận tài sản đó của họ là tài sản chung thì tài sản đó đương nhiên
là tài sản riêng của họ Quy định này dựa trên tính chất pháp lýcủa sự kiện kết hôn, tức là từ khi kết hôn, Nhà nước công nhận haingười chính thức là vợ chồng, thì mới bắt đầu chung sống, sinhhoạt, lao động, cùng nhau tạo lập tài sản chung
Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hoặcđược tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì trong thực tế, chủ
sở hữu - người tặng cho khi quyết định tặng cho hoặc để thừa kếtài sản của mình thi không phải trường hợp nào ý chí của họ cũng
để lại cho cả hai vợ chồng, mà đôi khi chỉ là để lại thừa kế hoặctặng cho riêng chồng hoặc vợ Vì vậy, pháp luật tôn trọng quyềnđịnh đoạt của họ bằng cách ghi nhận đó là tài sản riêng của ngườiđược thừa kế riêng, tặng cho riêng Ngoài ra, nguồn gốc loại tàisản này không phải do vợ chồng cùng tạo ra hay do lao động tạothu nhập của mỗi bên nên không thể coi đây là tài sản chung Vìvậy, quy định loại tài sản trên là tài sản riêng của vợ, chồng làhoàn toàn phù hợp
Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng được chia từ tài sản chungcủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phátsinh từ tài sản đó thì sau khi chia tài sản chung, hoa lợi, lợi tứcphát sinh từ phần riêng của mỗi người đương nhiên được coi là tàisản riêng, đồng thời thu nhập của từng người sau khi chia tài sảncũng là tài sản riêng của người đó Tuy nhiên, với quy định này sẽtạo điều kiện để các cặp vợ chồng lạm dụng, làm phai mờ nguyên