1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ môn Tổ chức và hoạt động của TAND, VKSND (9 điểm) Đề bài: “Sự kế thừa và phát triển quy định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lịch sử lập pháp Việt Nam”

17 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 32,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân cùng với tòa án nhân dân được hình thành gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của Nhà nước trong mỗi giai đoạn, góp phần đấu tranh chống mọi hành vi phạm tội, nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chế độ xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong lịch sử lập Hiến, Viện kiểm sát nhân dân không ngừng phát triển để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cũng như yếu tố thời đại của từng giai đoạn khác nhau

Trang 1

MỤC LỤC

Trang:

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2

I Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân 2

II Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lịch sử lập pháp Việt Nam 4

1 Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1959 4

2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp

1959 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 .5

3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp

1980 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 .6

4 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp

1992 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 .7

5 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp

1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 8

6 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp

2013 sửa đổi bổ sung năm 2001 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 9 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân cùng với tòa án nhân dân được hình thành gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của Nhà nước trong mỗi giai đoạn, góp phần đấu tranh chống mọi hành vi phạm tội, nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chế

độ xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Trong lịch

sử lập Hiến, Viện kiểm sát nhân dân không ngừng phát triển để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cũng như yếu tố thời đại của từng giai đoạn khác nhau, chính vì vậy, để tìm hiểu về quá trình hình thành cũng như sự phát triển của Viện kiểm sát nhân

dân trong từng thời kỳ, em xin chọn đề bài “Sự kế thừa và phát

triển quy định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lịch sử lập pháp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập

học kỳ môn “Tổ chức và hoạt động của toàn án nhân dân và

Viện kiểm sát nhân dân” của mình.

Trang 4

NỘI DUNG

I Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân

Cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta giành được độc lập, tự do Trong bối cảnh mới giành được chính quyền, hệ thống cơ quan tư pháp Cách mạng cũng được hình thành nhằm góp phần bảo vệ Nhà nước non trẻ, trong đó có sự hình thành cơ quan Công tố Công tố Viện cũng như chức năng công tố được quy định ở nhiều văn bản như Sắc lệnh số 33-A ngày 14/9/1945, Sắc lệnh số 7 ngày 15/01/1946, Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946, Sắc lệnh số 42 ngày 03/4/1946, Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 do Chủ tịch

Hồ Chí Minh ký ban hành

Cơ quan Công tố ban đầu nằm trong hệ thống Toà án, nhưng sau đó đã tách ra thành một hệ thống cơ quan độc lập;

có vị trí, vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự và bộ máy Nhà nước ta

Trong giai đoạn từ năm 1945 - 1959, hoạt động điều tra không chỉ nằm trong một Cơ quan điều tra mà còn ở nhiều bộ phận khác: Kiểm soát viên Kiểm lâm, Hoả xa, Thương chính và tất cả các viên chức mà pháp luật giao phó nhiệm vụ cho tư pháp công an đối với những việc phạm pháp riêng cho từng

ngành (Điều 3 Sắc lệnh số 131) Toàn bộ hoạt động điều tra

trong giai đoạn này đều thuộc quyền kiểm soát, điều hành của Công tố Viện, mà trực tiếp là Biện lý, Phó Biện lý và trên hết là Chưởng lý ở Toà thượng thẩm Quy định này của pháp luật cho thấy hoạt động điều tra thực chất là hoạt động công tố (nhưng

ở giai đoạn tiền công tố), giúp cơ quan công tố thay mặt Nhà nước buộc tội người phạm tội trước Toà án Các nhân viên và

Trang 5

cơ quan có thẩm quyền điều tra không theo sự chỉ đạo của cơ quan chủ quản hành chính mà đều dưới sự chỉ đạo của Công tố Viện; đồng thời, pháp luật cũng có quy định bảo đảm để các cơ

quan này phải tuân theo sự chi đạo đó, như Điều 13, Sắc lệnh

số 131 đã ghi nhận: “Việc bổ sung, thăng thưởng và trừng phạt hành chính những uỷ viên Tư pháp công an không phải là Thẩm phán viên đều làm sau khi hỏi ý kiến của Biện lý và Chưởng lý”.

Năm 1950, Đảng và nhà nước tiến hành cuộc cải cách tư pháp, thành lập tòa án nhân dân các cấp Tổ chức và hoạt

động của Viện công tố có sự thay đổi cơ bản Điều 15 Sắc lệnh

số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố

tụng quy định: “Công tố viên có quyền kháng cáo về việc hộ

cũng như về việc hình” Biện lý chỉ chuyển hồ sơ sang phòng

dự thẩm điều tra thêm về vụ phạm pháp nếu xét thấy cần

Ngày 7/6/1950 Thủ tướng Chính phủ ra thông tư số 21/TTg và

thông tư liên bộ số 18/BKT-TT ngày 8/6/1950 của bộ kinh tế và

Bộ tư pháp quy định quyền quản lí, chỉ đạo, điều hành của ủy ban kháng chiến hành chính đối với Viện công tố địa phương:

“Ủy ban các cấp điều khiển Viện công tố trong địa hạt mình,

Ủy ban kháng cHiến hành chính có thể ra mệnh lệnh cho Viện công tố Đại diện Viện công tố phải tuân theo mệnh lệnh của

Ủy ban”.

Cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung, Viện công tố từng bước được kiện toàn và phát triển Năm 1959,

thực hiện theo tinh thần các văn bản: Nghị quyết ngày

29/9/1958 của Quốc hội khóa I, Nghị định số 256/TTg ngày 01/07/1959 và nghị định số 321/TTg ngày 2/7/1959 của chính

phủ, các Viện công tố được tổ chức thành hệ thống gồm: Viện

Trang 6

công tố trung ương, Viện công tố địa phương (tỉnh, huyện, quân sự) trong đó, Viện công tố trung ương thuộc chính phủ có trách nhiệm, quyền hạn ngang như một bộ Tiếp đó ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp 1959 Nếu như do hoàn cảnh lịch sử, Hiến pháp năm 1946 chưa quy định

về cơ quan công tố thì Hiến pháp năm 1959 dành chương VIII (từ điều 105 đến108) quy định về Viện kiểm sát nhân dân – một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước Ngày

26/7/1960 Lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

số 20 LCT công bố luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, và

ngày 18/4/1962, chủ tịch nước ban hành Lệnh số 12/LCT về tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Kể từ đó đến nay, Viện kiểm sát nhân dân trở thành một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được quy định trong chương X Hiến pháp năm 1980, 1992 Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Nhà nước trong giai đoạn mới Quốc hội đã tiền hành sửa đổi bản Hiến pháp năm 1992 Sau một thời gian lấy ý kiến nhân dân, bản Hiến pháp mới đã được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 và chủ tịch nước đã công bố ngày 8/12/2013, có hiệu lực bắt đầu kể từ ngày 01/01/2014

Hiến pháp mới dành chương VIII quy định về toàn án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân So với các bản Hiến pháp trước

đó, những quy định của chương VIII có nhiều thay đổi, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bộ máy nhà nước Cùng với đó, ngày 24/11/2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng được ban hành

Trang 7

II Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lịch

sử lập pháp Việt Nam

1 Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1959

Từ năm 1945 đến năm 1958, cơ quan Công tố nước ta chưa được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập mà được đặt trong hệ thống cơ quan Tòa án, được giao thực hiện đồng thời hai chức năng là: Thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư pháp (chỉ đạo điều tra, trực tiếp điều tra một số loại tội phạm; quyết định việc truy tố; buộc tội trước tòa; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án và giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành án; tham gia trong một số loại việc dân sự quan trọng

để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội) Chức năng, nhiệm vụ đó của cơ quan Công tố nước ta có nhiều điểm tương đồng với Viện Công tố nhiều nước theo truyền thống luật của châu Âu, điển hình là nước Cộng hòa Pháp

Có thể nói ở giai đoạn này, chức năng của viện công tố đã được xác định tương đối cụ thể và rõ ràng, thẩm quyền được

mở rộng, không chỉ được giới hạn ở thực hành quyền công tố, giám sát hoạt động điều tra, mà còn trực tiếp tiếng hành điều tra, thực hiện giám sát đối với các hạt động tư pháp và tham gia hoạt động tố tụng dân sư, có quyền kháng cáo cả bản án hình sự và dân sự Cơ quan công tố được tổ chức thành bộ máy độc lập, đó là bước phát triển quan trọng trong tổ chức và hoạt động của viện công tố, là bước phát triển quan trọng trong tổ chức và hoạt động của viện công tố, là bước chuổn bị cho việc chuyển cơ quan công tố thành hệ thống Viện kiểm sát nhân dân vào năm 1960

Trang 8

2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp 1959 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960

Từ năm 1960 đến năm 1975 là thời kỳ của quá trình hình thành hệ thống tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở miền

Bắc Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III

của Đảng năm 1960, Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và các luật lệ hiện hành, kế thừa

kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Viện Công tố, toàn ngành Kiểm sát vừa tiến hành củng cố, xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy, vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đấu tranh phòng chống tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát các cấp định hướng công tác kiểm sát gắn với việc phục vụ các nhiệm

vụ chính trị, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Hiến pháp 1959 cùng với luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 là hai cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho tổ

chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó, Điều

2, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định chức năng của

Viện kiểm sát như sau: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc

tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững” Theo quy định của pháp luật các chức năng

này được thực hiện bằng cách:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ và của các cơ quan nhà nước ở địa

Trang 9

phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên Nhà nước và của công dân

- Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam

- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và công dân Như vậy, ở giai đoạn này, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hai chức năng chính, đó là chức thực hành quyền công tố và kiểm sát chung Có thể thấy, phạm vi chức năng của giai đoạn này rất rộng, liên quan đến việc chấp hành pháp luật của các

bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân

3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp 1980 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981

Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp

1980 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 so với Hiến pháp năm 1960 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1961 không có nhiều thay đổi Viện kiểm sát nhân dẫn vẫn giữ hai chắc năng chính là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật hay còn gọi là chức năng kiểm sát chung Tuy nhiên, về chức

năng thực hành quyền công tố, Hiến pháp năm 1980 ra đời đã hoàn thiện thêm một bước hệ thống Viện kiểm sát Điều 138,

Hiến pháp 1980 khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân

Trang 10

theo pháp luật của các bộ và các cơ quan khác thuộc hội đồng

bộ trưởng… Thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Như vậy, chức

năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát lần đầu tiên

đã trở thành chức năng Hiến định Theo Hiến pháp 1960 thì việc thực hành quyền công tố được xác định như là một hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Đến Hiến pháp năm 1980, chức năng này được hiểu là một

chức năng độc lập Trong quá trình kiểm sát chung, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật đến mức truy cứu trách nhiệm hình

sự thì Viện kiểm sát có quyền truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử, đảm bảo không để lọt tội phạm Cụ thể:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước nói trên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;

Trang 11

- Điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định

4 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp 1992 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992

Hiến pháp năm 1992 ra đời, tiếp tục khẳng định Viện kiểm

sát thực hiện đồng thời hai chức năng là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Cụ thể, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 vẫn được trải rộng ra hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội, đó là kiểm sát việc tuân teo pháp luật của các bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và

công dân Cụ thể, Điều 3, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

năm 1992 quy định việc thực hiện hai chức năng này qua các

công tác như sau:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước nói trên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

Trang 12

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;

- Điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định

Như vậy, về cơ bản, chức năng của Viện kiểm sát ở giai đoạn này không có nhiều thay đổi

5 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã giảm bớt gánh nặng

cho Viện kiểm sát nhân dân bằng cách thu hẹp thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân, thu hẹp chức năng kiểm sát

chung của Viện kiểm sát nhân dân, cụ thể, Điều 137, Hiến

pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm

vi trách nhiệm do luật định” Như vậy, qua bản Hiến pháp này,

chức năng của Viện Viện kiểm sát đã bị thu hẹp lại, theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát lĩnh vực hoạt động tư pháp Thực hiện chức năng kiểm sát các lĩnh vực hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân thực chất là hoạt động thực hành nhánh quyền lực tư pháp do Quốc hội giao trên cơ sở luật định Tính chất của

Ngày đăng: 24/03/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w