Dân tộc Việt Nam anh hùng đã trải qua hơn bốn ngàn nǎm lịch sử, với ý chí quật cường ông cha ta đã viết nên những trang sử vàng chói lọi làm vẻ vang cho dân tộc ta, đất nước ta. Trong đó, thời kỳ phong kiến được coi là thời kỳ vẻ vang nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Sự xâm lăng và đồng hóa của cường quốc phong kiến rất mạnh ở phía bắc là Trung Quốc, đã ảnh hưởng nhiều đến nền chính trị và pháp lý nước ta thời kỳ bấy giờ, tuy nhiên qua hàng ngàn năm, mười triều đại phong kiến Việt Nam vẫn luôn giữ gìn được bản sắc và tinh thần dân tộc cũng với nhữg tinh hoa tiếp thu được và sự đẽo gọt sáng tạo để tạo nên những nét đặc sắc của các nhà nước phong kiến Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
Trang:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về nhà nước phong kiến Việt Nam 1
II Đặc điềm của nhà nước phong kiến Việt Nam 1
1 Nhà nước phong kiến Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố Trung Hoa và Đại Việt 1
2 Nhà nước phong kiến Việt Nam thể hiện tính xã hội cao 4
III Đánh giá về nhà nước phong kiến Việt Nam 5
KẾT LUẬN
Trang 2MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam anh hùng đã trải qua hơn bốn ngàn nǎm lịch
sử, với ý chí quật cường ông cha ta đã viết nên những trang sử vàng chói lọi làm vẻ vang cho dân tộc ta, đất nước ta Trong đó, thời kỳ phong kiến được coi là thời kỳ vẻ vang nhất trong lịch sử dựng nước
và giữ nước Sự xâm lăng và đồng hóa của cường quốc phong kiến rất mạnh ở phía bắc là Trung Quốc, đã ảnh hưởng nhiều đến nền chính trị và pháp lý nước ta thời kỳ bấy giờ, tuy nhiên qua hàng ngàn năm, mười triều đại phong kiến Việt Nam vẫn luôn giữ gìn được bản sắc và tinh thần dân tộc cũng với nhữg tinh hoa tiếp thu được và sự đẽo gọt sáng tạo để tạo nên những nét đặc sắc của các nhà nước phong kiến Việt Nam
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin được đi vào tìm hiểu
đề bài tập số 6: “Phân tích đặc điểm của nhà nước phong kiến Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập học kỳ môn Lịch sử nhà
nước và pháp luật của mình
Trang 3NỘI DUNG
I Khái quát chung về nhà nước phong kiến Việt Nam
Sau chiến thắng Bạch Đằng, sự kiện Ngô Quyền xưng vương đã khép lại hơn 10 thể kỷ Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam – kỷ nguyên xây dựng nhà nước phuong kiến Việt Nam độ lập, tự chủ với mười triều đại phong kiến kéo dài từ năm 939 đến năm 1884 Triều Ngô (939-965); Triều Đinh (968-980); Triều Tiền Lê (980-1009); Triều Lý (1010-1225); Triều Trần (1225-1400); Triều Hồ (1400-1407); Triều Hậu Lê (1428-1592); Triều Mạc (1527-1592); Triều Nguyễn (1802-1884)
II Đặc điềm của nhà nước phong kiến Việt Nam
1 Nhà nước phong kiến Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố Trung Hoa và Đại Việt
1.1 Tính Trung Hoa
a Biểu hiện
- Về tư tưởng Chính trị pháp lý
Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng như trong xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng
Tư tưởng Nho giáo Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá của các triều đại phong kiến Việt Nam, và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Các tư tưởng chủ yếu như Tam cương, gồm có Đạo quân thần, Đạo phụ tử, Đạo vợ chồng phu phụ Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức là Ngũ thường, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín cũng hoàn toàn giống tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc Bên cạnh đó còn có tư tưởng Pháp trị
- Về quan niệm về người đứng đầu đất nước
Ngôi vị đứng đầu nhà nước là vua, hay còn gọi là hoàng đế, chúng ta tiếp thu quan niệm của Trung quốc, vua, hoàng đế là con trời, là người đại diện cho thần linh cai quản đất nước, có địa vị độc tôn, nắm cả vương quyền lẫn thần quyền Có quyền lực tối ca trong
cả ba lĩnh vực lập phát, hành pháp, tư phát và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Ngoài ra Hoàng Đế Việt Nam còn tiếp thu cả các nghi thức về tên gọi, niên hiệu, hiếu hiệu từ Hoàng Đế Trung Quốc
- Về hình thức chính thể
Hình thức chính thể của nhà nước phong kiến Việt Nam cũng giống Trung Quốc, đó là hình thức chính thể quân chủ chuyên chế
Cơ bản các triều đại phong kiến Việt Nam đều tổ chức nhà nước chế theo các nguyên tắc tổ chức Nhà nước của Trung Quốc như nguyên tắc tôn quân quyền, nguyên tắc chính danh, nguyên tắc liên kết dòng tộc
Trang 4- Về tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương
Trong tổ chức bộ máy chính quyền ở trung ương, từ tên gọi, cách thức tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan, chức quan,… trong bộ máy nhà nước ở chính quyền Trung ương chúng ta cũng tiếp thu rất nhiều từ Trung Quốc Ví dụ như từ tên gọi các phong quan như tể tướng, các quan đại thần, thượng thư, ngự sử đài, ngự sử đại phu,… Đều tiếp thu từ Trung Quốc
Về các cơ quan ở Trung ương, chúng ta cũng tiếp thu từ Trung Quốc, Ví dụ ở triều Lê Thánh Tông, các cơ quan như là Lục Bộ, Lục
Khoa, Lục Tự,… và các cơ quan chuyên môn khác, từ tên gọi, thẩm
quyền, chức năng nhiệm vụ đều như thế Ví dụ ở Lục Bộ, cơ cấu tổ
chứ giống hệt triều nhà Minh, như người đứng đầu là thượng thư, cơ cấu thường trực cũng là các tư, vụ, sảnh, cơ cấu chuyên môn cũng là các thanh, lại, ty
- Về hệ thống chính quyền ở địa phương, chúng ta cũng tiếp thu
cách thức tổ chức nhà nước theo cơ cấu tổ chức chính quyền của
Trung Quốc, Ví dụ: Cơ cấu tổ chức cấp đạo thời kỳ Lê Thánh Tông
giống như thời Minh ở Trung Quốc… và cấp tỉnh thời kỳ nhà Nguyễn giống nhà Thanh ở Trung Quốc, cơ cấu tam ty… Các chính quyền trung gian ở địa phương như cấp phủ, cấp châu, cấp huyện,… người đứng đầu cũng là Chi phủ, Chi châu, Chi huyện
- Về quan chế
Ngạch quan lại được sắp xết theo vị trí và vai trò trong bộ máy nhà nước, được phân làm hai ngạch quan và lại Theo địa bàn làm việc thì được phân làm quan trong và quan ngoài
Chế độ tuyển dụng gồm có khoa cử và tuyển chọn trong quý tộc hoặc thậm chí là mua tước phẩm, cũng đề giống với các hình thức hình thành quan lại của Trung Quốc
Chế độ khảo xét quan lại hay còn gọi là khảo khóa nhằm loại bỏ những người không có năng lực và phẩm hạnh ở triều Lê Sơ giống với nhà Minh ở Trung Quốc
Đối với tước phẩm, cũng có sáu bậc tước vị là Vương, Công, Hầu,
Bá, Tử, Nam và chín phẩm
Quan lại ở các triều đại phong kiến Việt Nam cũng được hưởng nhiều chế độ đãi ngộ quan lại như các triều đại phong kiến Trung
Quốc Ví dụ: Quan lại được phong tước phẩm, thậm chí phong tước
phẩm cho thân thích theo lệ truy phong và ấm phong Quý tộc, quan lại còn được nhà nước bảo vệ sức khởe, tính mạng, danh dự tuyệt đối hơn so với bách tính Được hưởng lệ trí sĩ Trong trường hợp phạm tội, quý tộc, quan chức cao cấp được hưởng những nguyên tắc có lợi trong quá trình tố tụng
2
Trang 5b Nguyên nhân
Thứ nhất, yếu tố Trung Hoa sâu sắc trong văn hóa các triều đại phong kiến Việt Nam là kết quả của giai đoạn 1000 năm Bắc Thuộc cùng chính sách đồng hóa dân tộc
1000 năm Bắc thuộc diễn ra sự giao thoa văn hóa tự nhiên và cưỡng bức Hệ quả của nó là văn Hóa Trung hoa cũng như văn hóa Chính Trị pháp lý Trung Hoa dần dần đã thấm sâu vào đời sống cộng đồng nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trên, tần lớp hào trưởng, sau này trở thành giai cấp địa chủ Kéo cơ tầng văn hóa Việt Nam cũng như
cơ tầng văn hóa chính trị pháp lý việt nam ra khỏi không gian văn hóa Đông Nam Á và hòa nhập vào không gian văn hóa Đông Á mà Trung Quốc là trung tâm
Thứ hai, vị trí địa lý gần kề nên việc giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia dân tộc diễn ra tự nhiên và dễ dàng
Do vị trí địa lý của hai đất nước Đại Việt và Trung Hoa tiếp giáp nhau, núi liền núi, sông liền sông, do vậy, quá trình sinh sống và phát triển, hai dân tộc có sự qua lại giao lưu học hỏi kinh nghiệm sản xuất, làm ăn, buôn bán, dần dần học tập những tập quán, hay những văn hóa hay, tốt của nước bạn Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai cộng đồng dân cư diễn ra dễ dàng và thường xuyên, dẫn đến sự ảnh hưởng lẫn nhau
Thứ ba, các triều đại phong kiến Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi sự phát triển của các triều đại phong kiến Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có lịch sử lâu đời, có một nền văn hóa chính trị pháp lý đạt tới trình độ cao Khi các triều đại Phong kiến Việt Nam xây dựng bộ máy chính quyền, các triều đại phong kiến Việt Nam nhận thấy mô hình tổ chức bộ máy quyền lực của Trung Quốc đáp ứng được mọi điều kiện về nhu cầu xây dựng được một đất nước có thể cai trị và đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị
1.2 Tính Đại Việt
a Biển hiện
Mặc dù bị ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc nhưng không hoàn toàn là sao chép, mà có sự biến đổi phù hợp với hoàn cảnh đất nước
Sự mô phỏng mô hình nhà nước phong kiến Trung Quốc còn rất mờ nhạt ở các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, và chỉ mới bước đầu rõ nét ở các triều đại Lý, Trần và đặc biệt là ở triều Lê Dù là ở các vương triều Lý, Trần hay Lê, Nguyễn thì đó cũng là sự mô phỏng đã được đẽo gọt về quy mô và có phần đơn giản về quy chế, lễ nghi và uyển chuyển về hình thức
- Về tư tưởng pháp lý
Trang 6Tư tưởng và nhiều quy chế chính trị của nho giáo được áp dụng một cách mềm dẻo, và thậm chí nhiều quy chế bị lược bỏ hoặc
không được thực hiện Ví dụ: Trong một số triều đại, triều định tự
nguyện đưa người khac hoàng tộc lên ngôi, việc làm đó đã hoàn toàn trái ngược với tư tưởng chính trị của nho giáo, hay nhiều vị vua trong triều đại phong kiến Đại Việt đã truyền ngôi cho con thứ mà không truyền ngôi cho con trưởng thiếu tài thiếu đức, điều này trai với nguyên tắc trọng trưởng của Nho giáo Thậm chí cuối triều Lý, ngôi vua còn được truyền cho con gái, trái với nguyên tắc trọng nam của Nho giáo
- Về người đứng đầu
Các vua thời Đinh, Tiền Lê và đầu thời Lý, mỗi vị lập đồng thời nhiều hoàng hậu Hoặc vai trò của Thái Thượng Hoàng đời Trần cũng
có quyền lực và vai trò khác với các Thái Thượng Hoàng ở các triều đại phong kiến Trung Hoa Ở mô hình nhà nước lưỡng lầu hay đàng trong đàng ngoài thì quyền lực của vua cũng bị hạn chế
- Về thể chế nhà nước
Bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam không quá cồng kềnh, xơ cứng và quan liêu như Trung Quốc Tùy từng hoàn cảnh cụ thể của nước ta mà các triều đại phong kiến có những sự biến đổi tạo nên khác biệt về cơ cấu tổ chức cũng như tính chất của bộ máy nhà nước, hay còn gọi là tính Đại Việt, khác biệt với của Trung Quốc, để
phù hợp với hoàn cảnh đất nước Ví dụ: Thời kỳ Lê Trịnh xuất hiện
nhà nước lưỡng lầu,… Cơ cấu lục bộ lục thiên
- Về các cơ quan nhà nước
Các cơ quan trong bộ máy nhà nước và chức năng của các cơ quan đó trong các triều đại phong kiế Việt Nam tuy học tập Trung Quốc nhưng cũng có những biesn đổi nhất định để phù hợp với điề
kiện hoàn cảnh, cũng như để đạt hiệu quả hoạt động cao nhất Ví dụ
như trong cơ cấu văn phòng, các cơ quan văn phòng của nhà Minh là nội các, đóng vai trò là cơ quan văn phòng của nhà vua, tuy nhiên cũng thời kỳ đó ở nước Đại Việt, triều Lê Thánh Tông, khối cơ quan văn phòng lại do năm khối cơ quan cùng đảm nhiệm, và không có nội các
- Về cơ cấu tổ chức chính quyền ở địa phương
Các mô hình làng xã tự quản là một nét đặc trưng ở các triều đại phong kiến Việt Nam mà không gặp ở các triều đại phong kiến
phương Bắc, Ví dụ ở triều Lê, tồn tại chính quyền cấp xã với hình
thức là hoạt động tự quản của dân một làng, có nội quy, lệ làng quy định rõ ràng
b Nguyên nhân
4
Trang 7- Người dân Việt Nam có tinh thần dân tộc, ý thức được lòng tự hào dân tộc và có các phong tục tập quán riêng, nên trong việc tiếp thu văn hóa Trung Quốc có sự miễn cưỡng nhất định
- Có cơ sở nền tảng kinh tế khác biệt, cơ sở văn hóa xã hội lâu đời Vì những nét đặc thù riêng mà đòi hỏi phải có thể chế nhà nước
và pháp luật phù hợp, không thể áp dụng triệt để mô hình nhà nước
và pháp luật của Trung Quốc vào hoàn cảnh của Việt Nam
2 Nhà nước phong kiến Việt Nam thể hiện tính xã hội cao
a Biểu hiện
- Một là, kết cấu giai cấp và kết cấu đẳng cấp của Việt Nam
tương đối mờ nhạt mà mang tính chất mở
Các thành phần Sĩ, nông, công, thương trong xã hội có sự chuyển đổi cho nhau dễ dàng Khiến cho tính chất giai cấp và đẳng cấp hết sực mờ nhạt, từ đó quy định tính xã hội nổi bật của nhà nước
phong kiến Việt Nam Ví dụ, giai cấp địa chủ Việt Nam lại chia thành
Trung và tiểu địa chủ, giai cấp nông dân thì chia thành cố nông, bần nông, trung nông,… Vì vậy, từ địa chủ, nếu vì một biến cố nào đó mà tán gia bại sản thì có thể trở thành nông dân, ngược lại, người nông dân nếu học hành thi cử đỗ đạt thì hoàn toàn có thể trở trở thành quan lại và gia nhập tầng lớp địa chủ quan liêu
- Hai là, cấu trúc xã hội theo mô hình các làng, xã tự quản, và
chính sách hòa đồng giữa làng với nước
Ở các triều đại phong kiến Việt Nam, nhân dân sống quây quần thành các làng, xã Các làng, xã này có nội quy, luật lệ riêng của mình Các đời vua cũng luôn tôn trọng chế độ sở hữu công của các làng, xã, tôn trọng tính tự quản và quyền quyết định của nội bộ của các làng, xã, và chỉ can thiệp ở mức độ nhất định đối với các làng, xã đó
- Ba là, các đời vua luôn coi trọng việc bảo vệ độc lập, chủ quyền
lãnh thổ bên cạnh sự hòa bình, ổn định để phát triển đất nước bằng cách thực hiện các chính sách đối ngoại mềm dẻo, thần phục
Do địa thế của đất nước ta giáp với một cường quốc phong kiến mạnh, phát triển và thường xuyên có tư tưởng tư tưởng bành trướng,
mở rộng lãnh thổ Chính vì vậy mà các triều đại phong kiến Việt Nam luôn chọn cách thức ngoại giao khéo léo, thần phục, hàng năm đề cho sứ giả sang diện kiến hoàng đế phương bắc, mang lễ vật, cống phẩm sang cống nạp, mỗi lần chiến thắng quân xâm lược Trung Quốc, ta đều thả tù binh và cho sứ giả cùng cống vật sang cầu hòa
- Bốn là, các đời vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam luôn
trú trọng vấn đề an sinh xã hội và phòng chống thiên tai
Trang 8Bằng các chính sách như xây dựng đê điều và các chính sách an sinh xã hội khác Như thời kỳ nhà Lý, đã xây dựng những hệ thống đê gọi là đê Cơ Xá, thời kỳ Hồng Đức cũng rất trú trọng vấn đề này, đặc biệt là các khu vực nông nghiệm lớn như vùng Thái Bình – Nam Định
đã cho xây dựng nhiều đoạn đê gọi là đê Hồng Đức, đặc biệt là thời
kỳ nhà Nguyễn, vô cùng trú trọng vấn đề đê điều, bằng chứng là ở thời kỳ này, tổng số lượng đê điều được xây dựng bằng tổng số đê của các triều đại trước đó cộng lại Nhà nước đặt ra các chức quan phụ trách vấn đề thủy lợi như Hà Đê Sứ,… Nhà nước đảm bảo cơ sở kinh tế cho người dân, thực hiện chính sách trọng nông, bảo vệ chế
độ sở hữu công làng xã, bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp, cấm giết trâu Ngoài ra mỗi lần sau khi lũ lụt, thiên tai, mất mùa… Các đời vua đều thực hiện các chính sách an sinh, cứu đói, hỗ trợ nhân dân làm
ăn, ổn định đời sống
b Nguyên nhân
- Thứ nhất, do quy luật lịch sử của Việt Nam, dựng nước đi đôi
với giữ nước, trước nguy cơ xâm lược luôn thường trực, nên Nhà nước phong kiến Việt Nam hiểu rằng cần phải đoàn kết và hạn chế mâu thuẫn đấu tranh giai cấp đề cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước,
do vậy, nhà nước cần phải thực hiện những chính sách để đảm bảo yêu cầu lịch sử đó
- Thứ hai, do cấu trúc xã hội Việt Nam truyền thống, nhà, làng,
nước,… Các làng xã có vai trò rất to lớn, các làng xã tồn tại có tính tự trị tự quản, nhưng lại đồng thời là trung tâm cung cấp sức người sức của đề nhà nước thực hiện các chính sách đối nội đối ngoại của mình Chính yếu tố làng xã đó, góp phần làm cho các triều đại dù có muốn bảo vệ lợi ích của mình đến đâu nhưng cũng phải luôn luôn đảm bảo sự hòa đồng trong mối quan hệ giữa làng với nước Các triều đại phong kiến thực hiện chính sách tạo nên sự hòa đồng
- Thứ ba, để đảm bảo an sinh, xã hội, nhà nước phong kiến Việt
Nam rất trú trọng hai chức năng đối nội và đối ngoại Về đối nội, nhà nước rất trú trọng vấn đề về an sinh, trị thủy và thủy lợi Về đối ngoại, vấn đề được Nhà nước coi trọng nhất là vấn đề bảo vệ độc lập chủ quyền, thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, thần phục, đề bảo đảm hòa bình cho dân tộc Đặt lợi ích dân tộc lên lợi ích của gia tộc
III Đánh giá về nhà nước phong kiến Việt Nam
Nhìn chung, các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp thu được nhiều tinh hoa chính trị pháp lý của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tuy nhiên đã có sự sáng tạo, đẽo gọt, tiếp thu có chọn lọc để
áp dụng vào thực tiễn của đất nước để có những thể chế và pháp
6
Trang 9luật phù hợp với Đại Việt qua từng thời kỳ, làm phát huy được tính xã hội vốn có, duy trì hòa bình ổn định, đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước
Trang 10KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên, ta đã hiểu được phần nào thấy được đặc điểm của nhà nước phong kiến Việt Nam cũng như nguyên ngân dẫn đénw những đặc điểm đó Sự kế thừa tinh hoa văn hóa cùng quá trình sáng tạo đẽo gọt nó sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước của cha ông ta là một bài học kinh nghiệm đắt giá cho thế hệ ngày nay trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, để làm sao chúng ta “Hòa nhập mà không hòa tan”