1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thúc đẩy an sinh trẻ em qua dự án “tăng cƣờng hiệu quả hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức childfund việt nam (nghiên cứu tại huyện kim bôi, tỉnh hòa bình)

120 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN LAM PHƯƠNG THÖC ĐẨY AN SINH TRẺ EM QUA DỰ ÁN “TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HỆ THỐNG CÁC DỊCH VỤ VỀ BẢO VỆ TRẺ EM TẠI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN LAM PHƯƠNG

THÖC ĐẨY AN SINH TRẺ EM QUA DỰ ÁN

“TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HỆ THỐNG CÁC DỊCH VỤ

VỀ BẢO VỆ TRẺ EM TẠI CỘNG ĐỒNG” CỦA TỔ CHỨC

CHILDFUND VIETNAM

(Nghiên cứu tại Huyện Kim Bôi, Tỉnh Hòa Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN LAM PHƯƠNG

THÖC ĐẨY AN SINH TRẺ EM QUA DỰ ÁN

“TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HỆ THỐNG CÁC DỊCH VỤ

VỀ BẢO VỆ TRẺ EM TẠI CỘNG ĐỒNG” CỦA TỔ CHỨC

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Nhờ có sự giúp đỡ của PGS TS Nguyễn Thị Như Trang cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Xã hội học nói chung và các cán bộ của tổ Chức ChildFund Việt Nam, cán bộ của Ủy Ban Nhân Dân Huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cùng với các cán bộ tại 06 xã thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện, góp ý chỉ bảo và hợp tác thực hiện đề tài nghiên cứu của tôi trong suốt quá trình tôi thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Để đảm bảo tính trung thực của thông tin, tôi xin cam đoan rằng:

Luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Thúc đẩy an sinh trẻ em qua dự án

“Tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức Childfund Việt Nam (nghiên cứu tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa

Bình)” là nghiên cứu riêng của cá nhân tôi, luận văn đảm bảo tính nguyên bản,

không vi phạm bản quyền tác giả, tác phẩm sở hữu trí tuệ, các nội dung nghiên cứu, kết quả trong nghiên cứu là trung thực chưa được công bố dưới mọi hình thức nào trước đây Các trích dẫn trong bài đều được ghi rõ nguồn tham khảo Tôi xin cam đoan và xin hứa sẽ chịu trách nghiệm với luận văn của mình

Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Như Trang, các thầy

cô Khoa Xã Hội Học, các cán bộ của tổ Chức ChildFund Việt Nam, cán bộ của

Ủy Ban Nhân Dân Huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cùng với các cán bộ tại 06 xã thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình

Ngày 15 tháng 12 năm 2020Tác giả luận văn

Nguyễn Lam Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Công tác xã hội là một nghề hoạt động dựa trên cơ sở tôn trọng quyền lợi,

sự bình đẳng, giá trị của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng Những giá trị này được thể hiện trong các nguyên tắc hoạt động cũng như các quy điều đạo đức của công tác xã hội Ở Việt Nam, nghề CTXH vẫn đang là một ngành nghề đang trong quá trình tự hoàn thiện và nâng cao tính chuyên nghiệp Muốn đạt được những điều này, hệ thống giáo dục và đào tạo của nghề CTXH cũng cần phải không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng đầu ra

Trong quá trình thực tập tại ChildFund Việt Nam tôi đã nhận được nhiều

sự hỗ trợ từ nhiều cá nhân tại cơ sở thực tập cũng như từ Ủy ban Nhân Dân Huyện Kim Bôi để phát triển từ thực tập tốt nghiệp lên thành đề tài luận văn tốt nghiệp Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, cán bộ tại tổ chức ChildFund và cán bộ Ủy Ban Nhân Dân Huyện Kim Bôi đã tận tình giúp đỡ

và tạo điều kiện để tôi hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp của mình và có cơ sở phát triển luận văn tốt nghiệp của mình!

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô Khoa Xã Hội Học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là giảng viên hướng dẫn của tôi, cô Nguyễn Thị Như Trang đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi về luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội,15 tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Lam Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ/LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 10

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 10

5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

7.Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 13

NỘI DUNG CHÍNH 14

CHƯƠNG1.CƠSỞLÝLUẬNCỦAĐỀTÀINGHIÊNCỨU 14

1.1 Khái niệm cơ bản 14

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 21

1.3 Quan điểm của nhà nước về An sinh trẻ em và Bảo vệ trẻ em 28

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “TĂNG CƯỜNG HIỆUQUẢ CÁC HỆ THỐNG CÁCDỊCH VỤ VỀBẢO VỆ TRẺ EM TẠI CỘNG ĐỒNG” CỦA TỔ CHỨC CHILDFUND VIỆT NAM TẠI HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH 31

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dự án “Tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của ChildFund Việt Nam tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 31

2.2 Hoạt động đào tạo năng lực cho cán bộ chuyên trách theo cơ chế bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng 40

2.3 Hoạt động xây dựng và phát triển khả năng thích ứng của trẻ em thông qua lồng ghép sự tham gia và bảo vệ trẻ em vào các sáng kiến cộng đồng 45

2.4 Kết quả thực hiện dự án tại địa bàn 57

Tiểu kết chương hai 67

Trang 6

CHƯƠNG 3:CÁC YẾU TỐTÁC ĐỘNGĐẾN HOẠT ĐỘNGDỰ ÁN “TĂNG CƯỜNGHỆTHỐNGCÁCDỊCHVỤBẢOVỆTRẺEM”TRONGVIỆCTHÚC

ĐẨYANSINHTRẺEM 68

3.1 Yếu tố kinh phí 68

3.2 Yếu tố về chính quyền, lãnh đạo địa phương 71

3.3 Yếu tố từ các cán bộ chuyên trách Bảo vệ trẻ em 76

3.4 Yếu tố về chính sách và thủ tục thực hiện chính sách 81

3.5 Yếu tố từ văn hóa địa phương 84

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 93

PHỤ LỤC 97

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 1: Hệ thống sinh thái của trẻ em và an sinh trẻ em tại địa bàn nghiên cứu 23

Hinh 2 1: Bản đồ nguy cơ trẻ em xã Nuông Dăm 65

DANH MỤC BẢNG BIỂU No table of figures entries found Bảng 2 1: Tổng số trẻ em tại địa bàn của dự án - địa bàn nghiên cứu 34

Bảng 2 2: Số trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn 35

Bảng 2 3: Hình thức hưởng lợi và cách xác định 39

Bảng 2 4: Số liệu về người hưởng lợi của dự án 58

Bảng 2 5: Trường hợp can thiệp số 1 61

Bảng 2 6: Trường hợp can thiệp số 2 62

Bảng 2 7: Trường hợp can thiệp số 3 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề/lý do chọn đề tài

Theo Báo cáo An sinh xã hội thế giới 2017-2019 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về vấn đề An sinh xã hội cho trẻ em: “Gần 2/3 số trẻ em toàn cầu – tương đương 1,3 tỉ trẻ em - vẫn chưa được tiếp cận an sinh xã hội, trong số đó hầu hết là trẻ em sinh sống tại Châu Phi và Châu Á” Báo cáo chỉ ra rằng trên toàn thế giới, ước tính 5,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết hàng năm, hầu hết trong

số chúng là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được, gần một nửa số ca tử vong này là do thiếu dinh dưỡng và đói nghèo

Tại Việt Nam, an sinh xã hội cho trẻ em tại được nhấn mạnh quan trọng vì trên thực tế, trẻ em là mầm non của mỗi quốc gia, đã có nhiều chính sách, đề án được đưa ra để bảo vệ trẻ em, an sinh trẻ em Tuy nhiên, theo báo cáo Bộ LĐTBXH, năm 2018, cả nước xảy ra 1.547 vụ xâm hại trẻ em, với gần 1.700 đối tượng, xâm hại 1.579 trẻ, trong đó có 1.293 em bị xâm hại tình dục Đại diện Bộ LĐTB&XH cũng thừa nhận số liệu do Unicef cung cấp là ở Việt Nam, 68,4% trẻ

em từng bị cha mẹ, người chăm sóc bạo lực tại nhà, xếp thứ 27 trên 75 quốc gia Bạo lực học đường diễn ra ngày càng nhiều, học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học, thầy cô giáo cũng có những hành vi bạo lực với trẻ em và nguyên nhân là do xã hội thay đổi, bất bình đẳng giới, bất bình đẳng kinh tế, tình trạng nghèo khó, các quan niệm, văn hóa ủng hộ bạo lực/xâm hại, tại trường học và gia đình, việc sử dụng bạo lực vẫn được coi như một phương pháp giáo dục "yêu cho roi cho vọt" Trong khi đó việc thực thi pháp luật, ý thức chấp hành các quy định của luật pháp ở nước ta hiện nay chưa nghiêm; hình thức xử lý đối với người có hành vi xâm hại trẻ em chưa kịp thời và còn nương nhẹ; nhiều trường hợp bị bỏ qua, không có tác dụng răn đe hoặc giáo dục Một bộ phận cán bộ có chức năng bảo vệ trẻ em làm việc thiếu trách nhiệm, sự phối hợp giữa các bên liên quan còn hạn chế

Tại địa bàn nghiên cứu – huyện Kim Bôi – huyện có tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều của toàn huyện là 35,04%, thực trạng đói nghèo đã dẫn đến một

số vấn đề đối với trẻ em và thanh thiếu niên như: Tình trạng xâm hại trẻ em (tình

Trang 10

dục, tinh thần) vẫn diễn ra ở một số địa phương, theo thống kê của phòng LĐTBXH huyện, trong năm 2014 tới đầu năm 2017 đã xảy ra 8 vụ xâm hại tình dục, nhiều trường hợp trẻ em bị bắt nạt, xâm hại ở các hình thức được coi là nhẹ hoặc được người dân can thiệp sớm thì thường bị lờ đi và không được báo cáo, can thiệp theo hệ thống s n có Bên cạnh đó, theo báo cáo của địa phương và khảo sát đánh giá của ChildFund, có khoảng 46% trẻ em trai và 37% trẻ em gái được báo cáo là không có tiếng nói trong gia đình, trường học và cộng đồng Hơn nữa, hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên không thể nêu tên bất kỳ hoạt động nào liên quan đến dự án bảo vệ trẻ em ở các xã Một số thậm chí còn không biết về sự tồn tại hệ của thống bảo vệ trẻ em Tình trạng tảo hôn có chiều hướng gia tăng, năm 2017 toàn huyện có 26 vụ tảo hôn, năm 2016 có 21 vụ tảo hôn

Trước thực trạng đó, dự án “Tăng cường hiệu quả hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund Việt Nam tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình được xây dựng nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách theo

cơ chế bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng cũng như xây dựng và phát triển khả năng thích ứng của trẻ em (TE) và thanh thiếu niên (TTN) thông qua lồng ghép

sự tham gia và bảo vệ trẻ em (BVTE) vào các sáng kiến cộng đồng Để thực hiện mục tiêu đó, dự án thực hiện hai hoạt động chính, một là đào tạo một đội ngũ nhân viên công tác xã hội (CTXH) chuyên nghiệp đồng thời đào tạo, tập huấn về phương pháp bảo vệ trẻ em theo hướng công tác xã hội cho cán bộ địa phương, lãnh đạo và giáo viên của trường tiểu học, trung học cơ sở; Hai là xây dựng tài liệu xác định rủi ro cho trẻ em, thanh thiếu niên cũng như tập huấn, tổ chức những diễn đàn hành động vì trẻ em cung cấp kiến thức về bảo vệ trẻ em, những rủi ro mà trẻ em có thể gặp phải để trẻ và phụ huynh tham gia phát biểu ý kiến, đóng góp ý tưởng để xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em an toàn và chặt chẽ hơn Nhận thấy đây là một mô hình dự án tương đối hiệu quả trong lĩnh vực BVTE và phát triển nghề CTXH cũng như việc hỗ trợ trẻ em có thể đến gần hơn với quyền

của trẻ em, an sinh xã hội của trẻ, vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Thúc đẩy an sinh

trẻ em qua dự án “Tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức Childfund Việt Nam (nghiên cứu tại huyện

Trang 11

Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình)” nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của mô hình dự án

đến với việc thúc đẩy an sinh của trẻ cũng như công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em

2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài

2.1 Trên thế giới

Trong báo cáo “Những đổi mới trong chính sách dịch vụ y tế và con người của NYC” về Chính sách An sinh trẻ em của nhóm nghiên cứu đến từ Tổ chức về chính sách Vera (tháng 1, 2014): “Từ những năm 1990, các cơ quan về an sinh trẻ em ngày càng tập trung vào việc phát triển các dịch vụ thay thế để thúc đẩy các dịch vụ chăm sóc giáo dục nhằm mục đích nâng cao khả năng cho các gia đình và cung cấp cho cha mẹ sự hỗ trợ cần thiết để giữ an toàn cho con cái họ ở nhà Thập kỷ qua đã cho thấy sự thay đổi phi thường về số lượng trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng trên toàn quốc và địa phương Từ năm 2002 đến 2012, số trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng tại Hoa Kỳ đã giảm khoảng 23% từ 523.616 vào tháng 9/2002 xuống còn 399.546 vào tháng 9/2012 Sự giảm số lượng trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng tại Thành phố New York, thường là được gọi là điều tra chăm sóc nuôi dưỡng, thậm chí còn lớn hơn Từ tháng 9/2002 đến tháng 9/2012, tổng điều tra chăm sóc nuôi dưỡng tại Thành phố New York đã giảm từ 26.337 trẻ em xuống còn 13.289 trẻ em - mức giảm gần 50% Tổng điều tra dân

số này đã giảm xuống còn 11.917 trẻ em vào tháng 9/2013, sự sụt giảm trong tổng điều tra dân số xảy ra mặc dù số lượng báo cáo ngược đãi trẻ em tương đối

ổn định trong suốt giai đoạn này”.Bản tóm tắt chính sách này dựa trên các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia đại diện cho một loạt các quan điểm, bao gồm các thành viên của nhóm lãnh đạo điều hành Dịch vụ Trẻ em Thành phố New York (ACS), các nhà cung cấp dịch vụ phúc lợi trẻ em và người ủng hộ Bản tóm tắt cũng được thông báo bằng cách xem xét các tài liệu nội bộ và dữ liệu tổng hợp

do ACS cung cấp, xem xét các tài liệu liên quan và kinh nghiệm chuyên môn và chuyên môn của các tác giả Như vậy, việc phát triển các dịch vụ chăm sóc giáo dục trẻ em tại New York đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của trẻ tại chính gia đình của mình chứ không phải tại các cơ sở chăm sóc Chính phủ cũng tập trung

Trang 12

phát triển những dịch vụ giúp cho cha mẹ có những kỹ năng cơ bản để chăm sóc

và bảo vệ con cái của mình Đây chính là một trong những bước đầu tiên trong việc cung cấp kiến thức về bảo vệ trẻ em cho chính những người chăm sóc để giúp trẻ em có thể tiếp cận được tối đa quyền của mình [30]

Theo Báo cáo An sinh xã hội thế giới 2017-2019 của Tổ chức Lao động

Quốc tế (ILO) về vấn đề An sinh xã hội cho trẻ em: “Hiện nay mới chỉ có 35%

trẻ em trên toàn thế giới được tiếp cận thực tế với an sinh xã hội, dù vậy vẫn

còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực Gần 2/3 số trẻ em toàn cầu – tương đương 1,3 tỉ trẻ em - vẫn chưa được tiếp cận an sinh xã hội, trong số đó hầu hết là trẻ em sinh sống tại Châu Phi và Châu Á Tính trung bình, mức chi cho các chương trình an sinh xã hội cho trẻ em và hộ gia đình có trẻ trong độ tuổi 0-

14 tuổi chiếm 1.1% GDP, cho thấy đầu tư cho cho trẻ em thiếu hụt đáng kể” Trong báo cáo của ILO đưa ra nhận định rằng trẻ em chiếm một tỷ lệ không cân xứng trong dân số cực kỳ nghèo trên thế giới Báo cáo chỉ ra rằng trên toàn thế giới, ước tính 5,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết hàng năm, hầu hết trong số chúng

là do các nguyên nhân có thể phòng ngừa được, gần một nửa số ca tử vong này là

do thiếu dinh dưỡng và đói nghèo Trẻ em lớn lên trong nghèo khó có ít cơ hội tiếp cận dịch vụ, quyền lợi hơn so với các bạn cùng trang lứa Trẻ em có trải nghiệm bị tổn thương, nghèo đói và rủi ro khác với người lớn Đặc biệt là trong thời thơ ấu, trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc và không có bất kỳ phương tiện nào để tự bảo vệ mình Sự phụ thuộc của trẻ vào người lớn cũng khiến trẻ dễ bị bạo lực hoặc các hình thức lạm dụng và bóc lột khác như lao động trẻ em, buôn bán, kết hôn trẻ em, mang thai ở tuổi vị thành niên và các hành vi truyền thống khác, điều này xảy ra ở những khu vực đói nghèo và chưa phát triển nhiều hơn so với các nước phát triển, đang phát triển Ngay cả khi còn là thanh thiếu niên, trẻ thường không có tiếng nói, đặc biệt là trẻ lớn lên trong các tổ chức văn hóa và pháp lý truyền thống không đặt ưu tiên cho quyền và nhu cầu của trẻ

em Đặc biệt, Châu Phi là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất: “hơn hai phần ba trẻ

em châu Phi trải qua hai lần thiếu hoặc nhiều hơn các nhu cầu cơ bản của chúng (de Milliano và Plavgo, 2014)”

Trang 13

Tại Trung Quốc, có 322 triệu trẻ em, đại diện cho một trong sáu trẻ em trên toàn thế giới Hơn một triệu trẻ em ở Trung Quốc mồ côi hoặc bị bỏ rơi mà không có bất kỳ hình thức chăm sóc nào của cha mẹ, thường là kết quả của cái chết của cha mẹ hoặc cha mẹ bị giam giữ, bệnh tật hoặc khuyết tật Khoảng 110.000 trẻ em này được nhà nước chăm sóc, 80% trong số đó sống trong các tổ chức và trại trẻ mồ côi hơn là với một gia đình thay thế.

Trong một nghiên cứu về An sinh trẻ em và Bảo vệ Trẻ em tại Trung Quốc [1] do Trung tâm nghiên cứu chính sách xã hội (SPRC) tại Đại học New South Wales (Úc) đồng thực hiện vào năm 2013 đã ước tính rằng hơn 9% trẻ em gái và 8% trẻ em trai ở Trung Quốc - trong tổng số khoảng 30 triệu trẻ em - đã trải qua lạm dụng tình dục Một phần lạm dụng tình dục trẻ em là lạm dụng tình dục xâm nhập, ảnh hưởng đến khoảng 3 triệu trẻ em; một vấn đề lớn không có giải pháp chính sách rõ ràng Những vấn đề an sinh trẻ em và bảo vệ trẻ em đã được chú ý trên thế giới trong những tháng gần đây, với các báo cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng thu hút tranh luận sôi nổi về sự cần thiết phải bảo vệ trẻ em trước nguy cơ lạm dụng thể chất và tình dục, giải quyết các điều kiện sống trong trại trẻ mồ côi không chính thức và ngăn chặn tỷ lệ cao tử vong trẻ em trong các vụ hỏa hoạn, giao thông và các tai nạn khác do bỏ bê Để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em dễ bị tổn thương, Trung Quốc đã phát triển và thực hiện một hệ thống bảo vệ trẻ em một cách hiệu quả

Tại Hàn Quốc, theo trang bokjiro.go.kr (Cổng thông tin tra cứu về An sinh

xã hội – hướng dẫn thông tin an sinh xã hội tại Hàn Quốc), trẻ em từ 0 đến 6 tuổi (0 đến 71 tháng tuổi) trong các hộ gia đình có giới hạn thu nhập thấp hơn tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được nhận trợ cấp với điều kiện như sau: trẻ em có quốc tịch Hàn Quốc Ngay cả khi cha mẹ là người nước ngoài, nếu đứa trẻ mang quốc tịch Hàn Quốc, bao gồm người mang nhiều quốc tịch đang cư trú ở Hàn Quốc, bao gồm cả trẻ em được công nhận là người tị nạn theo điều 18 của "Luật tị nạn"; Trẻ

em có số đăng ký cư trú bình thường dựa trên Luật đăng ký cư trú Trợ cấp trẻ

em được trả cho trẻ em của các hộ gia đình có dưới 90% thu nhập của tất cả các

hộ gia đình có 2 người trở lên Nếu hộ gia đình hoặc người giám hộ chỉ có một

Trang 14

cha hay mẹ, hoặc chỉ có một ông hay bà (nội/ngoại), thì thêm 1 vào số thành viên trong gia đình Chỉ dành cho các gia đình có trẻ em, thêm 2 vào số lượng thành viên trong gia đình Đối với các hộ gia đình có từ 7 người trở lên, cứ mỗi lần thêm 1 thành viên trong gia đình thì cộng thêm 2,66 triệu won vào tiêu chuẩn lựa chọn[26].

Như vậy, vấn đề an sinh đối với trẻ em tại các quốc gia trên thế giới, cụ thể là các quốc gia tại Châu Á đều được quan tâm và phát triển

2.2 Tại Việt Nam

Bà Ann M.Veneman, Giám đốc Điều hành Giám đốc điều hành Quỹ Nhi

đồng Liên hiệp quốc (UNICEF): “Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu

đáng khích lệ trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em” Theo đánh giá chung của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm đáng kể tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi, từ 53/1.000 trẻ sinh ra năm 1990 xuống còn 19/1.000 năm 2005 Tương tự, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cũng được giảm từ 38/1.000 xuống 16/1.000 Tỷ lệ nhập học

và hoàn thành chương trình tiểu học đã được cải thiện đáng kể [18]

Thực tế, vẫn còn hàng triệu trẻ em Việt Nam chưa được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu bao gồm giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường, nhà ở, vui chơi giải trí, an sinh xã hội và phòng, chống nguy cơ lao động trẻ em Cụ thể trong báo cáo của Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Việt Nam (World Vision) năm

2015, tỷ lệ thấp còi trung bình ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc đã giảm đáng

kể từ 43,3% trong năm 2000 xuống còn 24,9% trong năm 2014 (theo số liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia – NIN, 2014) tuy nhiên vẫn còn sự chênh lệch giữa các vùng Nguyên nhân chính của sự chênh lệch này bao gồm: mất an ninh lương thực và thu nhập gia đình thấp do thiếu năng lực, vốn và khả năng tiếp cận thị trường, thiếu những thực hành tốt về chăm sóc sức khỏe/dinh dưỡng cho bà

mẹ và trẻ em do sự hạn chế kiến thức ở các bà mẹ và người chăm sóc trẻ, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng do thiếu cơ sở vật chất và năng lực cán

bộ y tế chưa cao, Bên cạnh đó, theo báo cáo của dự án Đảm bảo Chất Lượng Giáo dục trong Nhà trường (SEQAP), mặc dù có 98% học sinh tiểu học thi tốt phần tập đọc 9 và kỹ năng đọc của học sinh có tiến bộ thì các em vẫn gặp khó

Trang 15

khăn trong phần đọc hiểu của bài kiểm tra Những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này được World Vision nghiên cứu và đưa ra bao gồm phương pháp giảng dạy kém hiệu quả, môi trường học tập còn nghèo nàn và thiếu sự vào cuộc của cha mẹ học sinh, giáo viên bằng cấp nhưng vẫn dạy học theo phương pháp thuyết giảng một chiều gây cản trở khả năng tư duy và kỹ năng học của học sinh và phần lớn những thư viện của trường học chỉ được dùng làm kho chứa đồ và không có hoạt động đọc sách Ngoài ra, vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em ở Việt Nam bao gồm lao động trẻ em, tảo hôn, và tai nạn thương tích ở trẻ cũng là vấn đề gây nhức nhối Theo World Vision nguyên nhân gốc rễ của vấn đề lao động trẻ em là nghèo đói, thiếu nhận thức hoặc hạn chế trong nhận thức về quyền trẻ em ở cha mẹ, người chăm sóc trẻ, trẻ em, người sử dụng lao động và môi giới lao động Trẻ em nghèo ở các vùng nông thôn thường bị dụ dỗ bỏ học để làm việc tại các thành phố lớn với hy vọng có thu nhập tốt giúp đỡ gia đình Việc thiếu các kỹ năng phù hợp với thị trường việc làm cũng như thiếu thông tin về điều kiện làm việc thường dẫn đến lao động trẻ em và các hình thức bóc lột khác

Tỷ lệ tảo hôn ngày càng gia tăng ở các cộng đồng DTTS do phong tục tập quán

và do cha mẹ không hướng dẫn con cái về quan hệ trước hôn nhân và sức khỏe sinh sản Tai nạn giao thông và đuối nước cũng là vấn đề thường xảy ra với trẻ

em, nguyên nhân chính gây ra thương tích cho trẻ em do hành vi lái xe không an toàn, vi phạm luật giao thông và thiếu kiến thức, kỹ năng bảo vệ bản thân

Theo báo cáo tại Hội thảo tham vấn kết quả nghiên cứu xây dựng hệ thống Bảo trợ xã hội có khả năng ứng phó với các cú sốc lấy trẻ em làm trọng tâm tại Việt Nam[21], thiên tai tác động vào Việt Nam đã làm chết và mất tích 40 trẻ em, trên 1.400 trường học bị ảnh hưởng vào năm 2017, tới năm 2018 thời tiết và thiên tai làm chết và mất tích 31 trẻ em Trẻ em là đối tượng bị ảnh hưởng nặng

nề bởi thiên tai, các em bị mất đi những cơ hội tiếp cận giáo dục, dinh dưỡng, y

tế và bảo trợ Ngoài ra, các em còn dễ gặp rủi ro về lạm dụng tình dục, bạo hành, Hiện tại hệ thống an sinh xã hội gồm 5 nhóm chính là: Trợ giúp khẩn cấp (trợ giúp đột xuất); Trợ cấp tiền mặt; Nhận chăm sóc thay thế; Chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở chăm sóc xã hội; Chăm sóc xã hội tại cộng đồng được

Trang 16

thực hiện để góp phần hỗ trợ cho người dân, đặc biệt là trẻ em Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hệ thống chính sách bảo trợ xã hội hiện còn thiếu sự thống nhất, toàn diện, mức trợ giúp thấp, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu Tính thích ứng để ứng phó với vấn đề rủi ro ở trẻ em chưa cao và rào cản trong việc tiếp cận chính sách, thủ tục hành chính, công nghệ thông tin vẫn còn tồn tại Trên

cơ sở buổi hội thảo, Bộ LĐTBXH kết hợp với các ban ngành và đặc biệt là UNICEF đề xuất giải pháp, định hướng xây dựng chiến lược về an sinh xã hội trong giai đoạn 2021- 2030 và nghiên cứu xây dựng Nghị định 136 sửa đổi

Bên cạnh đó, theo khảo sát được thực hiện trong đề tài “Thực hiện quyền

an sinh xã hội của người dân thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp

ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hồi Loan (2018) Có đến 124 người (chiếm 41,3%) tham gia khảo sát chưa có nhận thức cụ thể về phòng tránh nguy

cơ bị ngược đãi, lạm dụng tại cộng đồng, 185 người đã từng biết hoặc là nạn nhân của lạm dụng, ngược đãi trong cộng đồng Trong đề tài, tác giả đã chỉ ra việc thực hiện quyền an sinh xã hội tại một số tỉnh thành của Việt Nam, trong đó

có Kim Bôi, Hoà Bình Khảo sát chỉ ra rằng hiện tại có 108/145 trẻ xác nhận được cung cấp kiến thức phòng tránh nguy cơ lạm dụng, ngược đãi tại cộng đồng; 129/145 trẻ được bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột sức lao động tại cộng đồng; 131/145 trẻ được bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực tại cộng đồng Để cải thiện được hiện trạng này, nhân viên CTXH chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp tại địa phương đã sử dụng một số phương pháp như tuyên truyền chính sách, tư vấn chính sách và kết nối nguồn lực để hỗ trợ trẻ và gia đình của trẻ

Theo báo cáo của Đề án trợ giúp xã hội, tính đến năm 2019, chỉ có 17,7% trẻ em dưới 16 tuổi sống trong các hộ gia đình được hưởng trợ cấp xã hội (cụ thể

là Nghị định 136)[29] Trong đó nhiều trẻ thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo thì chưa được hưởng trợ cấp do chưa đủ điều kiện xác nhận dựa trong các khoản mục trong đề án Lý do dẫn tới hệ quả này là do phương pháp xác định đối tượng phức tạp và có quá nhiều chương trình liên quan tới an sinh trẻ em được thiết kế chồng chéo lên nhau Theo nghiên cứu về “Cải thiện hiệu quả và phạm vi trợ giúp xã hội cho trẻ em” và các kết quả xác thực được từ các nghiên cứu khác, hệ

Trang 17

thống trợ giúp xã hội của Việt Nam được chỉ ra là hệ thống rời rạc và bao gồm nhiều chương trình chồng chéo nhau dưới sự quản lý của nhiều ban ngành khác nhau trong bộ máy nhà nước và Bộ LĐTB-XH.

Để thực hiện tốt hơn công tác thúc đẩy an sinh trẻ em, các cán bộ Công tác xã hội chuyên nghiệp là đội ngũ không thể thiếu trong hệ thống, chính vì vậy, trong cuộc họp thường niên Dự án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) tại Việt Nam của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) tổ chức vào tháng 3/2014 [23], đại diện của Bộ LĐTBXH đã phát biểu đánh giá kết quả 4 năm triển khai Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020, đề án đã tạo

ra nhiều kết quả khả quan bước đầu trong xây dựng chính sách, củng cố đội ngũ

và mạng lưới, xây dựng giáo trình, tăng cường truyền thông cũng như hợp tác quốc tế Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên CTXH đã được củng cố, phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, việc thực hiện Đề án còn nhiều vấn đề tồn tại: Việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nhân viên CTXH mới dừng lại ở giai đoạn đầu, kinh nghiệm đào tạo ít; chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy CTXH còn thiếu, nhiều bất cập, đội ngũ cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH còn quá mỏng và cũng chưa chuyên nghiệp; các hoạt động hiện tại mang nặng tính quản lý Nhà nước hơn là hướng dẫn, hỗ trợ cung cấp dịch vụ công cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm giúp đỡ họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh; cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng Từ nội dung cuộc họp thường niên

Dự án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) tại Việt Nam của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) cho thấy cả mặt mạnh, cả mặt yếu của việc thực hiện dự án phát triển nghề công tác xã hội Tuy nhiên, về mặt yếu, chủ yếu

là vì đội ngũ nhân viên CTXH còn mỏng và chưa thật sự chuyên nghiệp, chưa phát huy được hết những khả năng, kỹ năng của bản thân để đóng góp vào công cuộc phát triển nghề

Như vậy, việc phát triển nghề CTXH còn nhiều hạn chế mà chủ yếu là hạn chế về các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực Hiện tại, nguồn nhân lực rất dồi

Trang 18

dào vì đã có nhiều trường đại học đào tạo ngành Công tác xã hội, tuy nhiên đây mới chỉ là những kiến thức trên sách vở, thiếu thực tế; Những chức năng vai trò của nhân viên công tác xã hội chưa được tận dụng triệt để, họ mới chỉ làm theo những chỉ thị từ nhà nước, thiếu những công việc cung cấp hệ thống dịch vụ cho người yếu thế, đặc biệt là đối tượng trẻ em, người khuyết tật,

Do đó, với nghiên cứu "Thúc đẩy An sinh trẻ em qua dự án: Tăng cường

hiệu quả hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund Việt Nam”, sẽ đem lại một cái nhìn toàn diện về việc thực hành nghề

công tác xã hội về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng nói riêng, việc thúc đẩy an sinh trẻ em tại địa phương nói chung dựa trên những hoạt động của dự án

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các hoạt động của dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức ChildFund VN được thực hiện như thế nào?

- Vai trò của dự án trong việc thúc đẩy an sinh trẻ em là gì?

- Các yếu tố nào tác động đến hoạt động của dự án“Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức ChildFund VN trong việc thúc đẩy quyền An sinh trẻ em?

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Các hoạt động của dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ

em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN

- Chỉ ra vai trò của dự án này trong việc thúc đẩy an sinh trẻ em tại địa phương

- Chỉ ra các yếu tố tác động đến hoạt động của dự án“Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của tổ chức ChildFund VN trong việc thúc đẩy quyền An sinh trẻ em

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Thúc đẩy an sinh trẻ em thông qua dự án “Tăng cường hệ thống các dịch

vụ về bảo vệ trẻ em” tại địa phương của tổ chức ChildFund VN

Trang 19

b Khách thể nghiên cứu

- Cán bộ điều phối dự án về BVTE tại ChildFund VietNam

- Cán bộ phòng LĐTBXH huyện Kim Bôi

- Cán bộ BVTE thuộc UBND sáu xã Đú Sáng, Hợp Đồng, Kim Truy, Thượng Tiến, Cuối Hạ, Nuông Dăm

- Trẻ em, bố mẹ của trẻ/người chăm sóc trẻ trong các vùng thực hiện mô hình CTXH về BVTE

c Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi địa bàn: Xã Đú Sáng, Hợp Đồng, Thượng Tiến, Kim Truy, Cuối

Hạ, Nuông Dăm, Huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

- Phạm vi thời gian: tháng 4/2019 – 12/2019

- Phạm vi nội dung: Trong luận văn này, tác giả tập trung khai thác và đánh

giá về mô hình dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN Từ đó chỉ ra vai trò của dự án trong việc thúc đẩy an sinh trẻ em, cụ thể là việc bảo vệ trẻ em và việc thúc đẩy sự tham gia của trẻ em vào các sáng kiến cộng đồng Đồng thời tôi chỉ ra những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện dự án tại địa phương

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu:

Để thực hiện được nghiên cứu, tôi tiến hành thu thập thông tin và phân tích những tài liệu của địa phương về công tác thực hiện an sinh xã hội cho trẻ

em, tìm hiểu những hoạt động liên quan đến trẻ em được tổ chức tại địa phương, những hoạt động này có thúc đẩy quyền an sinh của trẻ em hay không

Trong nghiên cứu này, tôi cũng tiến hành điều tra những số liệu, cơ sở thông tin, quá trình tập huấn, kiếm huấn các cán bộ BVTE, CTXH Bên cạnh đó, tôi tiến hành thu thập các số liệu các ca, trường hợp được hỗ trợ bởi các cán bộ CTXH, số lượng trẻ em hưởng lợi bởi mô hình CTXH về BVTE để xác định được việc cán bộ CTXH cũng như dự án đóng góp như thế nào trong việc thúc đẩy quyền an sinh trẻ em

Trang 20

Được biết, trong hoạt động dự án “Tăng c ờng hiệu quả hệ th ng các dịch

v bảo vệ tr em tại địa ph ơng , các cán bộ CTXH là người trực tiếp điều tra

khảo sát và thiết kế các tài liệu xác định yếu tố nguy cơ và bảo vệ trong trường học, do đó, dựa vào những số liệu khảo sát trên và bảng thiết kế của nhóm cán bộ công tác xã hội, tôi tiến hành đánh giá những hoạt động trên nhằm tìm ra những ưu/nhược điểm của hoạt động cũng như các yếu tố tác động đến hoạt động dự án

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Bởi đây là luận văn đánh giá trường hợp một địa bàn, cụ thể là 06 xã thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, dự án được thực hiện bởi nhiều bên liên quan, vì vậy, nếu tác giả sử dụng bảng hỏi thì không có đủ mẫu điều tra Đồng thời ChildFund và Hagar là hai tổ chức đặt nguyên tắc bảo mật thông tin trẻ em lên hàng đầu dẫn đến hạn chế trong việc thu thông tin trẻ tại địa bàn nên chỉ có thể làm phỏng vấn sâu các bên liên quan Cụ thể:

+ Có 01 cán bộ dự án của Childfund và 01 cán bộ dự án của Hagar tham gia điều phối và thực hiện dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” Tác giả tiến hành phỏng vấn 02 cán bộ Dự án trực tiếp để thu thập thông tin về quá trình hoạt động của mô hình, số lượng người hưởng lợi cũng như những ưu điểm, thách thức khi tiến hành mô hình tại địa phương;

+ Phỏng vấn 06 cán bộ của Phòng LĐTBXH và 02 giáo viên Tổng phụ trách tham gia trực tiếp dự án để tìm hiểu cơ chế hoạt động của các cán bộ CTXH tại địa phương, những hiệu quả mà mô hình CTXH đem lại trước

và sau khi được thực hiện cũng như sự khác nhau giữa những cán bộ LĐTB&XH và cán bộ CTXH – những người được đào tạo chuyên môn bởi các tổ chức phi chính phủ và các trường đại học có đào tạo CTXH;

+ Phỏng vấn 04 cán bộ CTXH tại địa phương để điều tra hoạt động đào tạo

và thực hành CTXH về BVTE tại địa phương cũng như những khó khăn hay thách thức mà họ gặp phải trong quá trình thực hành nghề;

Trang 21

+ Phỏng vấn 04 phụ huynh người chăm sóc trẻ để đo lường sự hiệu quả của

mô hình công tác xã hội trước và sau khi được thực hiện, sự khác biệt trước và sau khi mô hình được đi vào hoạt động

7 Ý nghĩa nghiên cứu

7.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài “Thúc đẩy an sinh trẻ em qua dự án “Tăng cường hiệu quả các hệ thống dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund Vienam” nhằm đánh giá các hoạt động của dự án, chỉ ra của các cán bộ về BVTE tại cộng đồng (thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình) đóng vai trò như thế nào trong việc thúc đẩy an sinh của trẻ em tại cộng đồng Qua bài nghiên cứu sẽ chỉ ra những thành công và hạn chế trong công tác của đội ngũ CTXH tại địa phương và một

số tác động thực tế của quá trình thực hiện dự án “Tăng cường hệ thống các dịch

vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN trong việc thúc đẩy an sinh trẻ em tại cộng đồng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài “Thúc đẩy an sinh trẻ em qua dự án “Tăng cường hệ

thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN (nghiên cứu tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình)” có thể sử dụng làm tài liệu

tham khảo cho:

- An sinh trẻ em tại địa phương (tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình)

- Kết quả đánh giá các hoạt động của dự án “Tăng cường hệ thống các dịch

vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN, sẽ cung cấp tài liệu cho địa phương và quốc gia trong việc phát triển nghề công tác

xã hội trong việc bảo vệ trẻ em và thúc đẩy an sinh trẻ em tại cộng đồng

Trang 22

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Trẻ em

Công ước Quốc tế về quyền trẻ em quy định “trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi vị thành niên sớm hơn” (điều 1)

Theo Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là

“Công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, tuy nhiên đến năm 2016, Luật Bảo vệ và Chăm sóc giáo dục trẻ em đã sửa đổi và quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi”

để đảm bảo những ai dưới 16 tuổi đang sinh sống tại Việt Nam đều được bảo vệ

và hưởng đầy đủ quyền lợi mà Nhà nước Quy định

Tại điều 60, mục 3, chương II về Quyền và Bổn phận của trẻ em quy định:

“Việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em phải dựa trên nhu cầu, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ của trẻ em và bảo đảm quyền của trẻ em, bảo đảm an toàn cho trẻ em, bảo đảm ổn định, liên tục và gắn kết giữa trẻ em với người chăm sóc trẻ em Phải xem xét ý kiến, nguyện vọng, tình cảm, thái độ của trẻ em tùy theo độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em; trường hợp trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên phải lấy ý kiến của trẻ em.Ưu tiên trẻ em được chăm sóc thay thế bởi người thân thích Trường hợp trẻ em có anh, chị, em ruột thì được ưu tiên sống cùng nhau.”

Có nhiều quy định khác nhau về trẻ em nhưng đều hướng đến một tiêu chí chung: trẻ em chưa là người trưởng thành Nếu xét về kết cấu sinh học, là giai đoạn ở khoảng giữa thời kỳ mới được sinh ra và chưa qua tuổi dậy thì Trẻ em là một trong những thành viên thuộc gia đình, và hầu như là được yêu thương nhiều nhất Việc đối xử với trẻ em theo thời gian có nhiều sự thay đổi, và cũng tùy thuộc vào nền văn hóa của từng nơi khác nhau Mặc dù là trẻ em nhưng theo một

độ tuổi nào đó cũng phải tự chịu trách nhiệm về chính hành động của mình Đồng thời được thể hiện theo những quy định của luật pháp.Nói cách khác, trẻ

em có những hạn chế cần được quan tâm, giáo dục một cách đặc biệt để trẻ lớn

Trang 23

lên và phát triển; Trẻ em cần sự chăm sóc về dinh dưỡng cũng như giáo dục về tinh thần.

Như vậy, trong đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm về trẻ em của Luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em (năm 2016) tại Việt Nam Đối tượng trẻ

em trong nghiên cứu là người dưới 16 tuổi

1.1.2 An sinh trẻ em

Theo The Child Welfare Information Gateway về an sinh trẻ em theo định hướng về luật, định hướng về chăm sóc sức khỏe tâm thần và định hướng về giáo

dục thì nhìn tổng thêr: “ n sinh tr em à một nh m các dịch v công và dịch v

t , tập trung vào việc đảm bảo cho tất cả tr em s ng trong một môi tr ờng an toàn, dài hạn và ổn đinh, đảm bảo đ ợc hạnh phúc cho chúng n sinh tr em c thể t ơng tác qua các gia đình hoặc họ c thể tập trung can thiệp thẳng vào chính tr em”[37].

Theo Hiệp hội An sinh trẻ em của Mỹ, 2005 (Child Welfare League of

America, 2005): “ n sinh xã hội cho tr em bao gồm một oạt các dịch v nh

dựa vào gia đình, bảo vệ tr em, giải cứu tr em, ch ơng trình nhận con nuôi; bao gồm các hoạt động phòng ngừa, can thiệp và trị iệu Các dịch v h ớng tới việc bảo vệ tr em và hạnh phúc của tr em, sức mạnh gia đình, cung cấp một cách dài hạn khi tr không thể nhận đ ợc sự an toàn khi ở cùng gia đình Dịch

v an sinh tr em nên dựa trên sức mạnh; ấy gia đình àm trọng tâm; các thông báo về th ơng tích, chấn th ơng; và tôn trọng niềm tin, nhu cầu, giá trị, văn h a của từng gia đinh”.

Theo điều 2, mục 3 khoản 1, Luật về Hoạt động An sinh xã hội cho trẻ em

sửa đổi tháng 1 năm 2014 của Hàn Quốc: “Thuật ngữ "an sinh tr em" c nghĩa

à hỗ trợ kinh tế, xã hội và tình cảm dành cho tr em để tạo ra các điều kiện cơ bản cho tr em để tận h ởng cuộc s ng hạnh phúc và ớn ên và phát triển hài hòa

Bên cạnh đó về Quyền An sinh trẻ em theo Luật trẻ em 2016 có hiệu lực ngày 1.7.2017 tại Điều 32 – Quyền được bảo đảm an sinh xã hội, trẻ em là đối tượng được bảo đảm an sinh xã hội phù hợp với nơi mà trẻ sinh sống cũng như

Trang 24

điều kiện kinh tế của gia đình Theo điều 32 được nêu trong luật, trẻ em sẽ được đảm bảo an sinh xã hội và trẻ có quyền được chăm sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Trẻ em cũng có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân

và được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh Bên cạnh đó theo báo cáo An sinh trẻ em của tổ chức World Vision năm 2014, an sinh trẻ em định hướng an sinh trẻ em theo những mục tiêu cụ thể như: khả năng tiếp cận và chất lượng giáo dục cho trẻ em, giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi cũng như những vấn đề về sức khỏe cho trẻ em, thúc đẩy và nâng cao năng lực cho cộng đồng và đối tác địa phương nhằm cải thiện vấn đề ASTE và cuối cùng là thúc đẩy quyền trẻ em[10]

Theo quy định tại Luật trẻ em 2016 tại điều 43: Nhà nước có chính sách phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ để hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được chăm sóc sức khỏe, ưu tiên cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ

em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Những chính sách động đảm bảo cho trẻ em theo từng thời kỳ từ khi còn trong bụng mẹ đều được đề rõ trong điều này Nhà nước cũng có biện pháp thực hiện cho những khía cạnh liên quan tới sức khỏe, giáo dục, bảo hiểm của trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Về Chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế Theo Luật Bảo hiểm y

tế, Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội Cụ thể Nhà nước đóng tiền đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm: Học sinh, sinh viên

Trẻ em có Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu Trẻ

em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh

Trang 25

Luật trẻ em 2016 tại Điều 44 Bảo đảm về giáo dục cho trẻ em: (i) Nhà nước có chính sách hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được đi học, giảm thiểu tình trạng trẻ em bỏ học; có chính sách hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận giáo dục phổ cập, giáo dục hòa nhập, được học nghề và giới thiệu việc làm phù hợp với độ tuổi và pháp luật về lao động (ii) Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, bảo đảm công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em; giáo dục hòa nhập cho trẻ em khuyết tật; có chính sách miễn, giảm học phí cho từng nhóm đối tượng trẻ em phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ (iii) Chương trình, nội dung giáo dục phải phù hợp với từng độ tuổi, từng nhóm đối tượng trẻ em, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện và yêu cầu hội nhập; chú trọng giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và phát triển nhân cách, kỹ năng sống, tài năng, năng khiếu của trẻ em; giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho trẻ em (iv) Nhà nước quy định môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường (v) Nhà nước có chính sách phù hợp để phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi và chính sách hỗ trợ để trẻ em trong độ tuổi được giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ; khuyến khích, thu hút các nguồn đầu tư khác để phát triển giáo dục, đào tạo.

Theo quy định của Luật giáo dục học sinh tiểu học trường công lập không phải đóng học phí Học sinh, sinh viên được hưởng chế độ miễn, giảm phí khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí, khi tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hóa theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn vượt khó học tập Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ

em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành

Trang 26

chương trình giáo dục phổ cập theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển tài năng, năng khiếu của trẻ

em Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi

Nhìn chung, an sinh trẻ em chính là việc hỗ trợ trẻ em đạt được những quyền mà chúng được hưởng Ở nghiên cứu về „Thúc đẩy quyền an sinh trẻ em qua dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ bảo vệ trẻ em” tại cộng đồng của ChildFund Vietnam, tôi sử dụng khái niệm “an sinh trẻ em” của Hiệp hội An sinh trẻ em của Mỹ Đặc biệt nhấn mạnh đến dịch vụ dựa vào gia đình, bảo vệ trẻ em

và quyền tham gia, quyền được tôn trọng tiếng nói của cá nhân

Chính vì vậy, “thúc đẩy an sinh trẻ em” tại đề tài luận văn này chính là những hoạt động nhằm thúc đẩy hơn nữa những biện pháp nhằm đảm bảo trẻ em được tiếp cận đầy đủ về dinh dưỡng, sự an toàn, giáo dục, y tế, cũng như những biện pháp nhằm thúc đẩy sự tiếp cận thông tin của trẻ em về các biện pháp phòng ngừa rủi ro như xâm hại, bạo lực và đặc biệt là quyền được tham gia, quyền lên tiếng của trẻ tại địa phương

1.1.3 Bảo vệ trẻ em

Theo Luật trẻ em 2016, điều 4, mục 1: Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[12, Điều 1]

Theo UNICEF: Bảo vệ trẻ em tức là tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em và gia đình khỏi một loạt các rủi ro Bao gồm việc đảm bảo mọi trẻ em có được môi trường gia đình thân thiện, tiếp cận hỗ trợ tư pháp và bảo

vệ khỏi bị bạo hành, lạm dụng và bóc lột

Như vậy, bảo vệ trẻ em là một thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ hệ thống nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những nguy cơ và rủi ro, đảm bảo trẻ em sống an toàn, lành mạnh và tiếp cận được những quyền lợi mà trẻ em được hưởng

Trang 27

1.1.4 Dịch vụ

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho

những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà N ng, tr256]

Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999: ) Theo tài liệu “Tăng cường lực lượng lao động Công tác xã hội và Dịch vụ xã hội ở Châu Âu và Trung Á như một khoản đầu tư cho tương lai của trẻ em: Lời kêu gọi hành động” phát hành bởi UNICEF Châu

Âu và Oxford Policy Management: “Dịch vụ xã hội được định nghĩa là một tập hợp các hành động được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội của một người / gia đình nhằm vượt qua hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống và chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, hỗ trợ bảo vệ trẻ em gái và trẻ em trai, phụ nữ và nam giới dễ bị tổn thương và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho các đối tượng là trẻ em

và người lớn” Người cung cấp dịch vụ xã hội này có thể là các tổ chức, cơ cấu

và cơ quan chính phủ và phi chính phủ

Vậy, dịch vụ xã hội chính là những hệ th ng cung cấp dịch v nhằm đáp

ứng những nhu cầu cơ bản của con ng ời và đ ợc xã hội thừa nhận, bao gồm:

- Dịch v đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh,

chăm sóc, nhà ở mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

- Dịch v y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục

hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

- Dịch v giáo d c: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống,

các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt

Trang 28

- Dịch v về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội

rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao, nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hòa nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng

Để tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ xã hội để hỗ trợ và bảo vệ trẻ em, một lực lượng thực hiện các dịch vụ xã hội cần được thành lập và phát triển, theo UNICEF và OXFORD, đây phải là lực lượng mạnh mẽ và có khả năng thay đổi cuộc sống cho trẻ em trai và trẻ em gái, nam giới và phụ nữ, gia đình và cộng đồng và thực hiện nhiều mục tiêu trong cuộc chiến chống đói nghèo, loại trừ xã hội và bạo lực Lực lượng này có thể bảo vệ trẻ em tốt hơn, giúp mọi người giải quyết những thách thức trong cuộc sống hàng ngày và thay đổi hoàn cảnh của họ tốt hơn, ngăn ngừa và ứng phó với phân biệt đối xử và bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm bị loại trừ khác Những thách thức cấp bách và lâu dài chung đối với hầu hết các quốc gia trong khu vực mà lực lượng lao động phục vụ xã hội mạnh mẽ có thể giúp giải quyết đáng kể:

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ

khác nhau nhưng xét trên góc độ về dịch vụ xã hội thì: Các dịch v của con

ng ời à các dịch v xã hội đ ợc tổ chức c hệ th ng đ ợc thiết kế để đáp ứng nhu cầu của con ng ời cần thiết để duy trì hoặc thúc đẩy chất ợng cuộc s ng chung của các quần thể dịch v t ơng ai Các dịch v của con ng ời đ ợc định nghĩa à các dịch v xã hội đ ợc tổ chức c hệ th ng, đ ợc thiết kế để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con ng ời, n cần thiết để duy trì hoặc thúc đẩy chất ợng cuộc s ng của các nh m xã hội khác biệt[31].

1.1.5 Công tác xã hội

Có không ít các khái niệm về Công tác xã hội được nêu ra bởi các tổ chức như: Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Công tác xã hội Mỹ (NASW-1970), hay tổ chức Foundation of Social Work Practice Tuy nhiên để dễ hiểu hơn và thuận tiện trong quá trình nghiên cứu tôi chỉ xin đưa ra một khái niệm do tác giả Nguyễn Hồi Loan đưa ra: “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực

Trang 29

hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ

sở, văn hóa của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”[7,tr11]

1.1.6 Nhân viên Công tác xã hội

Theo Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Hoa Kỳ, “Nhân viên Công tác xã hội là người được đào tạo chuyên nghiệp , có bằng cấp chuyên môn phù hợp, hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ trợ giúp cho nhóm yếu thế và tuân thủ đạo đức nghề công tác xã hội”

Theo Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế, “Nhân viên Công tác

xã hội là những người được đào tạo và trang bị kiến thức và kĩ năng trong công tác xã hội , có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các thân chủ tiếp cận được nguồn lực cần thiết thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân và mội trường, vận động chính sách xã hội vì lợi ích cá nhân, nhóm cộng đồng, thông qua hoạt động nghiên cứu và thực tiễn.[7,tr14]

Với dự án “Tăng cường hệ thống các dịch vụ về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của tổ chức ChildFund VN, cán bộ dự án đã sử dụng khái niệm Cán bộ chuyên trách bảo vệ trẻ em tương tự như một nhân viên Công tác xã hội

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống

Quan điểm sinh thái có nguồn gốc từ quan niệm của Lewinian rằng hành

vi là một hoạt động của con người có sự tương tác với môi trường của họ Quan điểm sinh thái trùng với quan điểm tâm lý học động năng ở phần coi trọng yếu tố

về sự tương tác qua lại giữa con người và môi trường tác động lên hành vi

Quan điểm sinh thái đề cập đến các tương tác tương hỗ, phức tạp và rộng lớn giữa cơ thể sống và môi trường xung quanh Nói cách khác, quan điểm sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người và môi trường xã hội mà họ đang sống, tìm kiếm nguyên nhân nảy sinh vấn đề cũng như phương hướng giải quyết vấn đề từ phía môi trường Quan điểm này cho rằng con người sống trong

Trang 30

môi trường xã hội, phải chịu tác động từ những thay đổi các yếu tố trong môi trường này, vì vậy khi vấn đề nảy sinh không nhất thiết là do khuyết điểm của cá nhân mà có thể do những bất hợp lý từ phía môi trường Quan điểm này sẽ định hướng để người nhân viên CTXH khi tiếp cận với cá nhân có vấn đề, cố gắng thay đổi những bất hợp lý trong môi trường xã hội, thay vì tiếp cận tâm lý học cố gắng thay đổi bản thân cá nhân đang gặp vấn đề.

Môi trường xã hội trong quan điểm sinh thái biểu thị ở 3 cấp độ: vĩ mô, trung mô và vi mô Cấp độ vi mô là bản thân những hệ thống vi mô trong cuộc sống của cá nhân đó (lớp học, gia đình, cơ quan ), cấp độ trung mô là những tương tác giữa các hệ thống vi mô có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cá nhân (mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ), Cấp độ vĩ mô được xem xét trên bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa có ảnh hưởng đến cá nhân (các thiết chế, chính sách ) Như vậy, nhân viên xã hội khi xét trên quan điểm sinh thái cũng cần phải xác định những điểm nào của môi trường sinh thái thực sự gây nên vấn

đề của thân chủ để có những tác động hợp lý

Quan điểm sinh thái đã mở ra một cách tiếp cận rộng hơn, giúp người nhân viên CTXH nhận biết tầm quan trọng của mối quan hệ giữa con người và môi trường trong việc hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề của họ

Trong quá trình quan sát và phỏng vấn Cán bộ chuyên trách Bảo vệ trẻ

em, Cán bộ xã tại Huyện Kim Bôi, Hòa Bình, hệ thống xung quanh trẻ em và an sinh trẻ em tại địa bàn được thể hiện rõ về cấp độ như Hình 1 Nguyên nhân của những cấp độ này là vì theo phong tục tập quán, văn hóa địa phương gia đình, họ hàng, hàng xóm là những người đầu tiên có thể giải quyết được vấn đề cho trẻ và

là những người quan trọng, gần gũi mà trẻ nên tin tường nhất Tiếp đó là nhà trường, giáo viên, đoàn thanh niên công an, là những đơn vị được người dân địa phương coi là đại diện pháp luật trong việc giải quyết vấn đề của trẻ em Tại địa phương, trung tâm hỗ trợ tâm lý và pháp lý đều là những khái niệm xa lạ với người dân và trẻ em

Trang 31

Hình 1 1: Hệ thống sinh thái của trẻ em và an sinh trẻ em tại địa bàn nghiên cứu

Từ sơ đồ hệ thống xung quanh trẻ em và an sinh trẻ em, có thể lý giải như

sau:

Tại cấp độ vi mô, trẻ em có thể đạt được quyền an sinh nhiều nhất phụ

thuộc vào gia đình, họ hàng và hàng xóm, sở dĩ như vậy vì trẻ được sinh ra và

lớn lên trong môi trường mà xung quanh là các thành viên trong gia đình, họ

hàng và tiếp đó là hàng xóm Đây là hệ thống gần nhất đối với trẻ, vì vậy, cũng là

hệ thống hỗ trợ trẻ tiếp cận quyền an sinh trẻ em Tại gia đình và họ hàng, trẻ

được đảm bảo các như cầu cơ bản: ăn, mặc, ở, được an toàn và chăm sóc Các gia

đình đang trở nên dân chủ hơn, trẻ em và cha mẹ cũng trao đổi với nhau nhiều

hơn Điều này có thể cho thấy cha mẹ đang ngày càng có thiện chí và có khả

năng lắng nghe con cái họ; tuy nhiên vẫn có một con số nhất định về việc trẻ em

không “dám nói thẳng ra” nếu các em cho rằng cha mẹ mình không công

bằng.Có thể thấy, hệ thống gia đình chính là nơi đặt nền móng đầu tiên giúp trẻ

tiếp cận quyền an sinh xã hội

Tại cấp độ trung mô:

Trang 32

Trường học: Việc giảng dạy cho trẻ em về quyền tham gia của các em phần lớn vẫn mang tính rải rác và lý thuyết Nhà trường thường tập trung vào kiến thức, chứ chưa chú trọng đến việc phát triển các kỹ năng ví dụ như kỹ năng giao tiếp, tư duy đa chiều và kỹ năng lựa chọn (các kỹ năng này là thiết yếu để thực hành việc đưa ra các sự lựa chọn trong cuộc sống) Việc một số học sinh còn chứng kiến hoặc trực tiếp bị xâm phạm quyền dưới các hình thức khác nhau như trừng phạt thân thể đã thể hiện thực tế là quyền được tham gia của trẻ em không thể được thực hiện trong một môi trường học đường không thân thiện và không an toàn.Hơn nữa, hệ thống đánh giá hiện tại trong ngành giáo dục còn khuyến khích học sinh sao chép lại những gì đã có trong bài giảng và học vì điểm

số, thay vì phân tích vấn đề bằng sự tự do tư duy hoặc tính sáng tạo của học sinh Tình trạng dạy thêm đã trở thành vấn đề gây rất nhiều tranh cãi Tình trạng này khuyến khích học sinh làm theo những đáp án mẫu đã được thầy/cô giáo dạy thêm đưa ra Trường học còn có thể là nơi mà những trẻ em không có gia đình hoặc môi trường gia đình không tạo điều kiện được tham gia vào những hoạt động có ý nghĩa Những học sinh có thành tích học tập tốt được chọn để đảm nhận các vị trí lãnh đạo, ví dụ như làm liên đội trưởng, lớp trưởng hoặc làm người điều hành/dẫn chương trình cho một số hoạt động của toàn trường Tuy nhiên không phải tất cả những học sinh này đều được đào tạo hoặc được hỗ trợ

để đảm nhiệm vai trò đại diện cho các bạn cùng trang lứa mình một cách có hiệu quả Mặc dù nhiệm vụ của các tổ chức trong trường học là hỗ trợ sự tham gia của học sinh, nhưng các tổ chức này còn có xu hướng chú trọng đến những hoạt động mang tính hô hào, khẩu hiệu

- Đoàn thanh niên: Là đơn vị gần gũi và mật thiết với trẻ em tuy nhiên chưa thật sự có nhiều hoạt động thúc đẩy quyền an sinh trẻ em Những hoạt động của đoàn thanh niên mang tính chất phong trào văn nghệ và có xu hướng thiên về thành tích Chưa có nhiều phong trào hoạt động để hỗ trợ trẻ em nhận biết quyền lợi hay tự bảo vệ bản thân

Trang 33

- Hội phụ nữ và Lao động thương binh xã hội: Đơn thuần là đơn vị hỗ trợ trẻ em dựa trên những văn bản hướng dẫn có s n từ nhà nước Chưa có tính chủ động trong việc tìm kiếm và hỗ trợ trẻ em có nguy cơ hoặc rủi ro.

- Y tế, công an, tư pháp: hỗ trợ trẻ em dựa trên những văn bản pháp luật

có s n hoặc những chỉ đạo từ lãnh đạo các cấp phía trên Về y tế, hỗ trợ dịch vụ khám – chữa bệnh đối với trẻ em Về công an, đảm bảo sự an toàn của trẻ trong những sự kiện lớn, có tính rủi ro, hỗ trợ trẻ trong những trường hợp khẩn cấp như: thiên tai, giao thông, Về tư pháp, là

bộ phận hỗ trợ trẻ và người chăm sóc trẻ tiếp cận những văn bản pháp luật, giúp trẻ cũng như người chăm sóc tiếp cận quyền an sinh trẻ em.Tại cấp độ vĩ mô:

- Trung tâm hỗ trợ tâm lý: Trẻ chưa được tiếp cận với dịch vụ về hỗ trợ tâm

lý chuyên nghiệp cả ở trong trường học lẫn những hoạt động của địa phương

- Trung tâm hỗ trợ pháp lý: Hệ thống hỗ trợ pháp lý cho trẻ còn chưa thật

sự gần gũi và dễ dàng để trẻ hay người chăm sóc trẻ có thể tiếp cận

Như vậy, với hệ thống xung quanh trẻ em và quyền an sinh trẻ em tại địa bàn dự án, có thể thấy việc tiếp cận quyền an sinh trẻ em còn gặp nhiều khó khăn

và hạn chế, chính vì vậy, hoạt động dự án “ Tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ bảo vệ trẻ em tại cộng đồng của ChildFund Việt Nam sẽ kết nối những dịch vụ xung quanh trẻ, hỗ trợ trẻ tiếp cận chúng một cách dễ dàng và hiệu quả nhất thông qua sự hỗ trợ của đội ngũ NVCTXH

1.2.2 Hệ thống An sinh trẻ em

Hệ thống An sinh Trẻ em được hình thành và phát triển từ sớm tại một số quốc gia phát triển nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động sớm và ngược đãi ở trẻ em Đầu những năm 1900, Chính phủ Mỹ đã thành lập Cục Trẻ

em liên bang với mục đích điều tra và báo cáo các trường hợp liên quan đến an sinh trẻ em và cuộc sống của trẻ em không phân biệt tầng lớp trên khắp Quốc gia Đến đầu của những năm 1930, các nhà lãnh đạo của Cục Trẻ em ban hành những văn bản đầu tiên liên quan đến Dịch vụ An sinh trẻ em Cụ thể, hàng năm, dịch

Trang 34

vụ An sinh trẻ em sẽ sử dụng 1,5 triệu đô la trong ngân sách “nhằm mục đích cho phép Hoa Kỳ, thông qua Cục Trẻ em, hợp tác với các cơ quan phúc lợi công cộng của Tiểu bang trong việc thiết lập, mở rộng và củng cố, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, các dịch vụ phúc lợi công cộng để bảo vệ và chăm sóc trẻ em vô gia cư, phụ thuộc và trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em có nguy cơ trở thành tội phạm.”[33]

Kể từ năm 1993, Chính phủ Mỹ đã đưa ra các chính sách, chương trình nhằm cỉa thiện việc cung cấp dịch vụ ASTE cũng như hình thành hệ thống an sinh trẻ em công - hệ thống thực hiện các chương trình và dịch vụ báo cáo, xác thực trường hợp lạm dụng và bỏ rơi trẻ em Chính phủ Mỹ đã thực hiện tuyên truyền về các dịch vụ an sinh trẻ em cho toàn bộ công dân Sự hiểu biết về dịch

vụ ASTE có thể giúp xác định được nguy cơ bị lạm dụng hoặc bỏ rơi của trẻ và

từ đó hỗ trợ định hướng phương pháp can thiệp, hình thức hỗ trợ và kết quả đối với trẻ em và gia đình Các cơ quan thực hiện An sinh trẻ em Công tại Mỹ cung cấp bốn nhóm dịch vụ chính – điều tra bảo vệ trẻ em (1), các dịch vụ và hỗ trợ lấy gia đình làm trung tâm (2), chăm sóc nuôi dưỡng (3) và nhận con nuôi (4)

“Các cơ quan phúc lợi trẻ em cần có sự s n sàng 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, để phản hồi các báo cáo về lạm dụng và bỏ bê trẻ em”[36] Những đơn vị thực hiện ASTE sẽ là cơ sở đáp ứng nhu cầu của các nhóm trẻ em bản địa hoặc nhập cư, không có sự phân biệt về lịch sử, nhu cầu, nguồn lực, văn hóa và kỳ vọng khác nhau của các gia đình

Tương tự tại Canada, các tổ chức thực hiện An sinh trẻ em ở Canada được

ủy quyền cấp tỉnh hoặc cấp lãnh thổ để cung cấp các dịch vụ phúc lợi trẻ em từ những năm 1900 Ở hầu hết các tỉnh, các dịch vụ phúc lợi trẻ em được tập trung

và chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc cung cấp các dịch vụ Tại Ontario, có tất cả 47 Hiệp hội Viện trợ Trẻ em (CAS) hợp pháp để cung cấp các dịch vụ an sinh trẻ em Hiệp hội Viện trợ Trẻ em ở Ontario được vận hành một cách độc lập, thúc đẩy sự an toàn, hạnh phúc của trẻ em là những mục tiêu hàng đầu của Hiệp hội Các Hiệp hội này thực hiện những điều luật được ban hành vào năm 1984 về sự cân bằng giữa an toàn cho trẻ em và lợi ích tốt nhất của trẻ Vào

Trang 35

cuối những năm 2000 ở Ontario, Chương trình Chuyển đổi An Sinh Trẻ em đã được đưa ra để bảo vệ trẻ em có nguy cơ bị ngược đãi và cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ Theo đó, các cuộc điều tra về sự ngược đãi và sao nhãng đối với trẻ em được thực hiện Đã có nhiều thay đổi đáng kể đối với các cuộc điều tra trong thời gian từ 1998 đến năm 2003 Trong năm 2013, 41% trẻ em được điều tra có ít nhất một mối quan tâm về chức năng của trẻ như gây hấn, các vấn đề liên quan đến sự gắn bó và 76% người chăm sóc có ít nhất một yếu tố nguy cơ như lạm dụng rượu bia, chất kích thích, [33].

Công tác về an sinh trẻ em là một trong những lĩnh vực thực hành đòi hỏi nhiều thách thức và khó khăn nhất Để đạt được các mục tiêu của hệ thống an sinh trẻ em, các quốc gia, tổ chức phải xây dựng một lực lượng nhân viên an sinh trẻ em hiệu quả bằng cách tuyển dụng các cá nhân có trình độ và đặc điểm cần thiết để cung cấp các dịch vụ hiệu quả, xây dựng năng lực của nhân viên an sinh trẻ em và cung cấp một môi trường tổ chức thúc đẩy thực hành hiệu quả với trẻ

em và gia đình Theo Kristen Lwin và các cộng sự, ở Ontario điều kiện để tuyển dụng là lực lượng nhân viên an sinh trẻ em phải có điều kiện bao gồm có bằng công tác xã hội, bằng Thạc sĩ, kinh nghiệm làm an sinh trẻ em,

Tại Mỹ, các Bang trung bình có khoảng 2,9 nhân viên phụ trách trên 1000 trẻ em nghèo, nhân viên phụ trách xử lý 55 trường hợp mỗi năm[31] Như vậy có nghĩa là mỗi nhân viên phụ trách và giám sát đang xử lý các trường hợp trong 1 năm đặc biệt cao và theo nghiên cứu, mỗi nhân viên an sinh trẻ em sẽ làm việc trung bình dưới 1,8 năm mặc dù chế độ cho họ tương đối cao Theo Frank Edwards và Christopher Wildeman, sự mơ hồ về vai trò và định hướng rõ ràng cho công việc cũng đã được xác định là một yếu tố tác động tiêu cực đến việc giữ chân nhân viên an sinh trẻ em Tác giả chỉ ra rằng, khi người thực hiện an sinh trẻ em hiểu rõ về các kỳ vọng của tổ chức và nắm được thông tin cụ thể và rõ ràng về vai trò của họ cùng các nhiệm vụ mà họ cần thực hiện, họ sẽ có nhận thức rõ ràng về công việc và trách nhiệm cá nhân Ngược lại, quốc gia, tổ chức cũng cần nhận thức được mô tả công việc cho nhân viên, phân định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của nhân viên thực hiện an sinh trẻ em Nhận thức được điều

Trang 36

này, tổ chức có thể xem xét và phát triển đào tạo nhân viên để họ có sự gắn kết mạnh mẽ hơn với kiến thức chuyên môn, vai trò cũng như trách nhiệm của nhân viên trong công việc.

Để hình thành hệ thống an sinh trẻ em hiệu quả, các quốc gia, tổ chức, dựa trên những điều luật về nhân quyền, xây dựng cho mình hệ thống luật pháp, chính sách phù hợp để bảo vệ trẻ em, chăm sóc và hỗ trợ sự phát triển của trẻ em trên lãnh thổ của mình Đặc biệt, các quốc gia và tổ chức có biện pháp để nâng cao chuyên môn, phúc lợi dành cho những nhân viên an sinh trẻ em của mình, đây chính là lực lượng góp phần giúp hệ thống an sinh trẻ em trở nên tối ưu và hiệu quả nhất

Hiện nay, việc phát triển hệ thống phúc lợi của các quốc gia ngày càng được cải thiện, thậm chí họ hình thành những tổ chức phi chính phủ, đưa các gói tài trợ và chương trình phát triển đến những quốc gia đang phát triển và kém phát triển, góp phần thực hiện an sinh trẻ em tại các quốc gia này Quan điểm an sinh hiện tại của các tổ chức Phi chính phủ chuyên trách về bảo vệ và an sinh trẻ em được thể hiện dựa trên tháp nhu cầu của Maslow như: Chăm sóc y tế cơ bản (về dinh dưỡng, sức khỏe bà mẹ và trẻ em), Vệ sinh nước sạch, Giáo dục, Bảo vệ sự

an toàn cho trẻ và gia đình trẻ, bảo vệ trẻ em ( khỏi những vấn đề bạo lực, xao nhãng, xâm hại, ), tạo cơ hội để trẻ được lên tiếng,

1.3 Quan điểm của nhà nước về An sinh trẻ em và Bảo vệ trẻ em

Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều văn bản với những quan điểm, chủ trương, định hướng cụ thể để lãnh đạo đối với công tác trẻ em Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20/CT-TW ngày 5-11-2012 về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới” Trong đó, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải quán triệt và thực hiện tốt 7 nhiệm vụ trọng tâm về công tác trẻ

em Sau khi Chỉ thị 20/CT-TW được ban hành, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về công tác trẻ em ở Trung ương đã thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Chỉ thị thành các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước về chăm sóc, giáo dục và

Trang 37

bảo vệ trẻ em Cấp ủy, chính quyền các địa phương cũng đã kịp thời tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 20/CTTW Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đã có sự chuyển biến tích cực.

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em vào năm 1990 Theo đó, suốt ba thập kỷ, hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em đã được rà soát, sửa đổi và bổ sung theo hướng mở rộng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, đồng thời bảo đảm phù hợp và thực hiện đầy đủ Công ước quốc tế về quyền trẻ

em mà Việt Nam đã phê chuẩn; tập trung phòng ngừa, giải quyết tình trạng trẻ

em bị xâm hại, bị bạo lực, bị lạm dụng sức lao động và một số vấn đề liên quan đến trẻ em gây bức xúc xã hội Các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, nhất là cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt đã được các bộ, ngành và nhiều địa phương quan tâm chỉ đạo, đầu

tư nguồn lực cũng như huy động các nguồn lực trong xã hội, góp phần quan trọng để trẻ em được chăm sóc sức khỏe và có cơ hội, điều kiện để phát triển cả

về thể chất, tinh thần và xã hội Nhiều chương trình, đề án, dự án về trẻ em đã được triển khai cho giai đoạn 2016-2020 như: Chương trình hành động quốc gia

vì trẻ em; Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em; Chương trình phòng, chống bạo lực đối với trẻ em; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em và các chương trình chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em Như vậy, việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em được xem là một vấn đề mà nhà nước đặc biệt quan tâm và có những đề án, dự án phát triển

Bên cạnh những chương trình Quốc gia về bảo vệ và chăm sóc trẻ em Nhân viên Công tác xã hội về bảo vệ trẻ em không thể thực hành nghề mà không tuân thủ theo một số thông tư, nghị định, nghị quyết và luật về bảo vệ trẻ em như: Luật số: 102/2016/QH13 - Luật Trẻ em[12]; Thông tư Số: 98/2017/TT-BTC: Thông tư về Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-

Trang 38

2020[14]; Nghị định 56/2017/NĐ-CP: Quy định chi tiết một số điều của luật trẻ em[13]; Quyết định 565/QĐ-TTg: Quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016 – 2020[15]; Chỉ thị 18/CT-TTg:chỉ thị về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em[11].

Tiểu kết chương 1

An sinh trẻ em là một trong những mối quan tâm hàng chung của toàn thế giới Đặc biệt tại Việt Nam, an sinh trẻ em ngày càng được chú trọng, những nghiên cứu, nhận định, quy định, văn bản pháp luật về bảo vệ trẻ em ngày càng được làm rõ và chi tiết cách thức sử dụng và thực hiện

An sinh trẻ em bao hàm nhiều khía cạnh về vật chất cơ bản (ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở ); về y tế (khám chữa bệnh, ); về giáo d c; về giải trí,

tham gia và thông tin để nâng cao sự hiểu biết, kiến thức Đặc biệt, để trẻ có thể

tiếp cận những khía cạnh an sinh trẻ em này, đội ngũ nhân viên CTXH là lực lượng không thể thiếu Họ đóng vai trò kết nối những nguồn lực về đời sống, y

tế, giáo dục, họ đóng vai trò là người biện hộ cho các trường hợp trẻ chưa nhận được quyền lợi mà đáng ra trẻ được nhận, họ còn là người cung cấp thông tin, thúc đẩy sự tham gia của trẻ tại cộng đồng Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn được ưu tiên tạo điều kiện để mọi trẻ em được phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và phát huy tối đa tiềm năng của mỗi trẻ

Nhà nước và pháp luật cũng đã ban hành nhiều văn bản, đề án nhằm đảm bảo quyền trẻ em, an sinh trẻ em Và để thực hiện được công tác trên thì cần có sự giám sát việc báo cáo, giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền trẻ em Đặc biệt căn cứ vào những nghiên cứu đi trước và sự phát triển của công tác xã hội với trẻ em tại các quốc gia trên thế giới cũng như hệ thống sinh thái của trẻ em tại đại bàn nghiên cứu, tác giả nhận thấy để đảm bảo an sinh trẻ

em bên cạnh Pháp luật, chính quyền địa phương, nhà trường thì gia đình, họ hàng và hàng xóm chính là những nguồn lực s n có và gần gũi nhất với trẻ Họ cần phải nắm được những thông tin, kiến thức về dinh dưỡng, bảo vệ trẻ em, phòng chống và ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy đến với trẻ

Trang 39

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CÁC HỆ THỐNG CÁC DỊCH VỤ VỀ BẢO VỆ TRẺ EM TẠI CỘNG

ĐỒNG” CỦA TỔ CHỨC CHILDFUND VIỆT NAM TẠI HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÕA BÌNH

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dự án “Tăng cường hiệu quả hệ thống các dịch vụ bảo vệ trẻ em tại cộng đồng” của ChildFund Việt Nam tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Vị trí địa lý địa bàn nghiên cứu

Huyện Kim Bôi đã từng có thời gian tên là Lương Thủy - là một huyện miền núi, phần cuối của vùng Tây Bắc (Việt Nam), là đầu nguồn của dòng sông Bôi, một phụ lưu chính của sông Đáy (góp nước cho sông Đáy), thuộc hệ thống sông Hồng Nơi đây có nguồn suối nước khoáng nóng, rất tốt cho trị liệu y học Huyện được thành lập ngày 17/4/1959 từ việc tách huyện Lương Sơn Huyện Kim Bôi phía bắc giáp huyện Lương Sơn và huyện Kỳ Sơn, phía tây giáp thành phố Hòa Bình và huyện Cao Phong, phía nam giáp các huyện Lạc Sơn, Yên Thủy và Lạc Thủy, phía đông giáp huyện Lạc Thủy và huyện Lương Sơn, tất cả các huyện thị này đều thuộc tỉnh Hòa Bình Diện tích tự nhiên của huyện Kim Bôi là 551,0338 km² Huyện có các núi Đồi Thơi cao 1.198m, Đồi Bù cao 833m Huyện Kim Bôi được tách ra từ huyện Lương Sơn theo Nghị định số 153-TTg ngày 17/4/1959 của Chính phủ Từ đó ngày 17/4/1959 được lấy là ngày thành lập huyện Khi mới tách ra huyện có 22 xã: Bắc Sơn, Bình Sơn, Đông Bắc, Dũng Tiến, Hạ Bì, Hợp Đồng, Hợp Kim, Hùng Tiến, Kim Bình, Kim Bôi, Kim Sơn, Kim Tiến, Kim Truy, Lập Chiệng, Nật Sơn, Sơn Thủy, Thượng Bì, Thượng Tiến, Trung Bì, Tú Sơn, Vĩnh Đồng, Vĩnh Tiến

Theo QĐ số 211/BNV ngày 07/12/1963 của Bộ Nội vụ (do Thứ trưởng Lê Tất Đắc ký) xã Dũng Tiến được tách ra thành xã Nuông Dăm, Mị Hòa, Sào Báy (bỏ tên xã Dũng Tiến); xã Kim Truy được tách ra thành lập thêm xã Cuối Hạ và

xã Nam Thượng; xã Tú Sơn tách ra thành lập thêm xã Đú Sáng Lúc này huyện

có 27 xã Từ 1/10/2009 huyện Kim Bôi có 27 xã và 1 thị trấn

Trang 40

Ngày 17 tháng 12 năm 2019, Ủy ban thường vụ ban hành Nghị quyết số 830/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Hòa Bình: Sáp nhập 2 xã Hạ Bì và Kim Bình vào thị trấn Bo; Hợp nhất 3 xã Hùng Tiến, Bắc Sơn, Nật Sơn thành xã Hùng Sơn; Hợp nhất 3 xã: Kim Sơn, Lập Chiệng, Hợp Kim thành xã Kim Lập; Hợp nhất 3 xã Thượng Bì, Trung Bì, Sơn Thủy thành xã Xuân Thủy; Hợp nhất 2 xã Hợp Đồng và Thượng Tiến thành xã Hợp Tiến; Sáp nhập 2 xã Kim Tiến và Kim Truy vào xã Kim Bôi Huyện Kim Bôi có 1 thị trấn và 16 xã như hiện nay.

Đến thời điểm 31/12/2014, huyện Kim Bôi có 114 ngàn người gồm dân tộc Mường, Kinh, Dao và các dân tộc khác Ngày trước, giao thông chưa phát triển, Kim Bôi là vùng sâu ít người sinh sống, khai khẩn Người Mường có câu:

"Yêu nhau cho thịt cho xôi/Ghét nhau đ a đến Kim Bôi, Hạ Bì" với hàm ý Kim

Bôi là vùng đất khó sinh sống Ngày nay, hệ thống giao thông đường bộ phát triển thuận lợi hơn: Quốc lộ 21A chạy gần rìa ranh giới với huyện Mỹ Đức (Hà Nội) song song với đường Hồ Chí Minh và giao cắt với đường Hồ Chí Minh tại Đồng Danh, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, gần như theo hướng Bắc Nam, từ huyện Lương Sơn sang tới huyện Lạc Thủy Đường quốc lộ 12B nối đường 21A (Tại ngã Ba Hàng Đồi, xã Thanh Nông, huyện Lạc Thủy) với đường 6 (Tại đỉnh Cun, huyện Cao Phong), chạy dọc địa bàn huyện, theo hướng Tây Bắc Đông Nam Gần cạnh Đường Hồ Chí Minh mới (đoạn Hòa Lạc - Cúc Phương) chạy qua

Huyện Kim Bôi là một huyện nằm ở phía đông tỉnh Hòa Bình với diện tích 549,5km², bao gồm 1 thị trấn và 16 xã Dân số 114.015 người với các thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Mường, dân tộc Kinh và dân tộc Dao, người dân

ở đây sống chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp[27]

Khoảng đầu năm 2012 tổ chức ChildFund Việt Nam bắt đầu thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển cộng đồng tại sáu xã (cũ) của huyện Kim Bôi đó là các xã Đú Sáng, Hợp Đồng, Thượng Tiến, Kim Truy, Cuối Hạ, Nuông Dăm, đây

là những xã nghèo và đặc biệt khó khăn của huyện Kim Bôi Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều của toàn huyện là 35,04%, tỷ lệ này tại 6 xã dự án là 49,8%

Ngày đăng: 24/03/2021, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Hồi Loan - Nguyễn Thị Kim Hoa, (2014), Giáo trình Công tác xã hội đại c ơng, NXB: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội đại c ơng
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan - Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB: Đại học Quốc gia
Năm: 2014
8. Nguyễn Hồi Loan, 2018, “Thực hiện quyền an sinh xã hội của người dân thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quyền an sinh xã hội của người dân thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay
28. Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, Ngày 27/6/2019, Ph ơng pháp tiếp cận an sinh xã hội thân thiện với tr em của Unicef, Trang thông tin điện tử Hội Đồng Lý Luận Trung Ương. Truy xuất từ: http://hdll.vn/vi/thong-tin-ly-luan/phuong-phap-tiep-can-an-sinh-xa-hoi-than-thien-voi-tre-em-cua-unicef.html. Ngày cập nhật: 12/05/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph ơng pháp tiếp cận an sinh xã hội thân thiện với tr em của Unicef, Trang thông tin điện tử Hội Đồng Lý Luận Trung Ương
30. Allon Yaroni, PhD, and Ryan Shanahan, PhD, Vera Institute of Justice Randi Rosenblum, PhD and Timothy Ross, PhD, Action Research Partners, January 2014, Innovations in NYC Health and Human Services Policy "Child Welfare Policy", by the Vera Institute of Justice Sách, tạp chí
Tiêu đề: Child Welfare Policy
17. Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội, 2019, Thực hiện Luật Trẻ em và thúc đẩy Quyền trẻ em rất cần sự vào cuộc của toàn thể xã hội. Truy xuất từ:http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=219371. Ngày cập nhật: 20/5/2020 Link
18. Bộ Ngoại giao, Giám đốc UNICEF: Việt Nam đạt nhiều thành tựu về chăm sóc trẻ em. Truy xuất từ:http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr040807104143/nr040807105001/ns070509095844. Ngày cập nhật: 20/05/2020 Link
19. Công tác xã hội – Nghề mới mẻ ở Việt Nam, 2014, Hướng Nghiệp 24h.Truy xuất từ: http://huongnghiep24h.com/tu-van-nghe-nghiep/cong-tac-xa-hoi-nghe-moi-me-o-viet-nam.html. Ngày cập nhật: 12/05/2020 Link
20. Ngân sách chi tiết thực hiện quyền trẻ em ở nhiều lĩnh vực. Truy xuất từ: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2019-04-25/ngan-sach-chi-thuc-hien-quyen-tre-em-o-nhieu-linh-vuc-70597.aspx Link
22. Hồ Thị Nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Truy xuất từ:http://www.thuvienbinhduong.org.vn/Resources/Docs/PDF/2016/1.pdf Link
23. Họp thường niên Dự án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) tại Việt Nam của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH). Truy xuất từ:http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=20667. Ngày cập nhật: 20/05/2020 Link
24. Mạng lưới nhân viên Công tác xã hội. Ngày 15/11/2019: Dự báo triển vọng phát triển công tác xã hội tại việt nam đến năm 2020.Truy xuất từ: https://congtacxahoi.net/du-bao-trien-vong-phat-trien-cong-tac-xa-hoi-tai-viet-nam-den-nam-2020/. Ngày cập nhật: 12/05/2020 Link
25. Tạp Chí Bảo Hiểm Xã Hội Số Tháng 3/2007, Đinh Thu Hiền 26. Thông tin phúc lợi Hàn Quốc. Truy xuất từ:(https://www.bokjiro.go.kr/nwel/html/world/vn/WII00000496.html).Ngày truy cập 12/05/2020 Link
27. Trang Thông Tin Điện Tử UBND Huyện Kim Bôi, Tỉnh Hòa Bình – Giới thiệu chung. Truy xuất từ: http://kimboi.hoabinh.gov.vn/index.php/thong-tin-co-quan. Ngày cập nhật: 12/05/2020 Link
1. An sinh trẻ em và Bảo vệ Trẻ em tại Trung Quốc do Trung tâm nghiên cứu chính sách xã hội (SPRC) tại Đại học New South Wales (Úc), 2013 - 2018 2. Báo cáo tình hình thực hiện Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về Phát Triển NghềCTXH Tại Việt Nam (Rà soát Tiến độ của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và UNICEF Việt Nam), Tháng 8 năm 2014 Khác
3. Báo cáo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015, áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 của UBND huyện Kim Bôi Khác
6. Nguyễn Thị Thái Lan, (2013), Công tác xã hội với bảo vệ trẻ em (tài liệu hướng dẫn thực hành dành cho cán bộ cấp cơ sở, Hà Nội Khác
9. Kế hoạch chương trình phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Khác
11. Chỉ thị 18/CT-ttg: Về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em.12. Luật TRẺ EM, 2016 Khác
14. Thông tƣ 98/2017/TT-BTC: Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 Khác
15. Quyết định 565/QĐ-Ttg: Phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016 – 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w