1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm đối với thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh hòa bình (nghiên cứu trường hợp huyện mai châu)

137 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

69 CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO, TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT DÂN TỘC THIỂU SỐ .... Nhận thấy đượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HOÀI

THỰC TRẠNG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO VÀ TÌM KIẾM VIỆC LÀM

CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT CÁC DÂN TỘC

THIỂU SỐ Ở TỈNH HÒA BÌNH (Nghiên cứu tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HOÀI

THỰC TRẠNG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO VÀ TÌM KIẾM VIỆC LÀM

CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT CÁC DÂN TỘC

THIỂU SỐ Ở TỈNH HÒA BÌNH (Nghiên cứu tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 8760101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Thái Lan

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học ngành Công tác xã hội khóa 2018 Cảm ơn thầy cô đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức hữu ích và quý báu

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thái Lan đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có những giai đoạn không thuận lợi nhưng Cô đã luôn ân cần chỉ bảo và truyền cho tôi nhiều kinh nghiệm quý giá trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến sự hỗ trợ của chính quyền huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc lấy dữ liệu, thu thập thông tin

và khảo sát trên địa bàn cũng như sự hợp tác của 76 thanh niên khuyết tật và các cán

bộ hỗ trợ để tôi có những nguồn thông tin tin cậy hoàn thành luận văn

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tin tưởng, động viên

và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn của tôi cò nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy/ Cô và các anh chị học viên

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Thu Hoài

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Hạn chế của đề tài 11

10 Kết quả nghiên cứu 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Các khái niệm công cụ 13

1.1.1 Đào tạo và hỗ trợ đào tạo nghề 13

1.1.2 Việc làm và tìm kiếm việc làm 13

1.1.3 Thanh niên 15

1.1.4 Người khuyết tật 16

1.1.5 Dân tộc thiểu số 18

1.1.6 Công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội 19

1.1.7 Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số đào tạo và tìm kiếm việc làm 21

1.1.8 Hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số 24

1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 25

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 25

1.2.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái 27

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO VÀ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT DÂN TỘC THIỂU SỐ 31

Trang 5

2.1 Thông tin chung về khách thể tham gia nghiên cứu 31

2.2 Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm 35

2.2.1 Thực trạng hỗ trợ đào tạo nghề 35

2.2.2 Thực trạng hỗ trợ tìm kiếm việc làm 52

2.3 Nhu cầu hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm 65

2.3.1 Nhu cầu hỗ trợ đào tạo nghề 65

2.3.2 Nhu cầu tìm kiếm việc làm 69

CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO, TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT DÂN TỘC THIỂU SỐ 73

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số 73

3.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề 73

3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tìm kiếm việc làm 81

3.2 Những khó khăn thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số gặp phải trong học nghề và tìm kiếm việc làm 88

3.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong thực hiện các giải pháp trong hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 113

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Độ tuổi của khách thể tham gia nghiên cứu 31 Bảng 2.2 Sự hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề từ phía gia đình 39 Bảng 2.3 Sự hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề từ phía bạn bè 42 Bảng 2.4 Sự hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên khuyết tật từ phía hội người khuyết tật 43 Bảng 2.5 Sự hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề từ phía cán bộ LĐTBXH/ nhân viên CTXH 45 Bảng 2.6 Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương 47 Bảng 2.7 Sự hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề từ phía Đoàn/ Hội thanh niên 49 Bảng 2.8 Sự hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề từ phía các tổ chức phi chính phủ 51 Bảng 2.9 Sự hỗ trơ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía gia đình 54 Bảng 2.10 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía hội người khuyết tật 56 Bảng 2.11 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía chính quyền địa phương 57 Bảng 2.12 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía cán bộ LĐTBXH/ nhân viên CTXH 59 Bảng 2.13 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía Đoàn/ Hội thanh niên 61 Bảng 2.14 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía bạn bè 62 Bảng 2.15 Sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật từ phía tổ chức phi chính phủ 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các dạng khuyết tật của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số

trên địa bàn huyện Mai Châu 31

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ mức độ khuyết tật của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số huyện Mai Châu 32

Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mai Châu 33

Biểu đồ 2.4 Tình trạng nghề nghiệp hiện tại của thanh niên khuyết tật huyện Mai Châu 34

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ học nghề của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mai Châu 36

Biểu đồ 2.6 Thời gian của các khóa học nghề của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mai Châu 38

Biểu đồ 2.7 Việc làm thanh niên khuyết tật tìm kiếm 52

Biểu đồ 2.8.“Tỷ lệ thanh niên khuyết tật có nhu cầu hỗ trợ học nghề” 66

Biểu đồ 2.9 Việc làm mong muốn của thanh niên khuyết tật 69

Trang 9

Chưa kể đến, tỷ lệ có việc làm của người khuyết tật còn có khác biệt giữa các vùng Tỷ lệ này cao nhất ở vùng Tây Nguyên (39,8%), Trung du – Miền núi phía Bắc (37,9%) và thấp nhất ở vùng Đông Nam Bộ (24,3%) Tuy nhiên, cũng tại hai vùng này tỷ lệ người khuyết tật vận động thân dưới có việc làm thấp nhất (Tây Nguyên là 33,8% và Trung du – Miền núi phía Bắc là 31,9%) Nguyên nhân do đây

là vùng đồi núi điều kiện đi lại khó khăn, đã ảnh hưởng lớn tới cơ hội việc làm của người khuyết tật vận động thân dưới Điều này chỉ ra rằng tác động của khuyết tật tới cơ hội việc làm của người khuyết tật là không giống nhau, phụ thuộc vào những hoàn cảnh và môi trường cụ thể mà người lao động làm việc [27] Theo số liệu của Tổng cục thống kê về người khuyết tật ở Việt Nam năm 2016 thì người khuyết tật gặp khó khăn trong các vấn đề về tiếp cận dịch vụ, y tế, giáo dục Theo chuẩn tiếp cận nghèo đa chiều năm 2016, hộ gia đình có người khuyết tật sẽ có nguy cơ nghèo cao gấp hơn 2 lần so với hộ gia đình không có người khuyết tật (19,4% so với 8,9%) Cũng theo chuẩn nghèo đa chiều, tỷ lệ người khuyết tật sống trong hộ nghèo

đa chiều là 17,8% và tỷ lệ người không khuyết tật sống trong hộ nghèo đa chiều là 13,9% Như vậy người khuyết tật và nghèo là 2 khái niệm mang tính nhân quả với

Trang 10

nhau, chính vì vậy, người khuyết tật gặp rất nhiều rào cản về các mặt để tiếp cận xã hội về cơ hội giáo dục, sự hạn chế về sức khỏe, điều kiện sống cùng với hoàn cảnh sống khó khăn đã liên tiếp tạo nên những bức tường ngăn cách người khuyết tật với việc tiếp cận các thông tin, cơ hội tìm kiếm việc làm [27]

Như đã đề cập, người khuyết tật gặp khó khăn trong việc thực hiện các chức năng của mình, trong đó có khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm để tạo ra thu nhập và tự nuôi sống bản thân mình Rõ ràng, người khuyết tật nói chung gặp rất nhiều rào cản trong tìm kiếm việc làm, từ việc phân biệt đối xử, hạn chế về cơ hội tiếp cận về giáo dục, chênh lệch về bằng cấp, trình độ so với những người không khuyết tật khác …những người khuyết tật sinh ra sống ở vùng dân tộc thiểu số nói riêng còn bị hạn chế hơn rất nhiều so với nhiều vùng khác do cộng thêm yếu tố về điều kiện về địa hình, khả năng phát triển kinh tế - xã hội Và đặc biệt những thanh niên khuyết tật sinh sống tại các vùng có điều kiện khó khăn – họ là những người đang ở trong độ tuổi tạo ra các giá trị thông qua lao động cũng như muốn khẳng định mình – họ cũng như những thanh niên không khuyết tật khác, họ cũng cần lao động, cần việc làm để tạo ra thu nhập tự nuôi sống mình cũng như khẳng định giá trị của mình trong xã hội Việc không có công ăn việc làm, không được đóng góp cho xã hội trở thành một trong những yếu tố khiến người khuyết tật thêm phần mặc cảm tự ti cũng như tạo ra những gánh nặng cho gia đình và xã hội Như vậy, thanh niên là người khuyết tật, lại sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số sẽ gặp vô vàn rào cản cũng như khó khăn trong quá trình lựa chọn cho mình một con đường để phát triển Đứng trước những khó khăn đó, thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số cần những sự trợ giúp từ các nguồn lực, đặc biệt là sự hỗ trợ từ ngành công tác xã hội với vai trò là trợ giúp cho các đối tượng cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế trong xã hội thực hiện được cái vai trò, chức năng của mình Nhân viên CTXH sẽ là những người có nhiệm vụ hỗ trợ các đối tượng yếu thế, trong đó nhóm người khuyết tật, nhóm dân tộc thiểu số… giúp đáp ứng các nhu cầu đối tượng để không ai bị bỏ lại phía sau Đặc biệt là đối với thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số trong việc hỗ trợ

họ học nghề và tìm kiếm việc làm sẽ giúp họ nuôi sống và tự tin vào bản thân, giảm

áp lực lên gia đình và xã hội

Trang 11

Tại tỉnh Hòa Bình, theo thống kê tính đến năm 2020, toàn tỉnh có 22.038 người khuyết tật, chiếm 3% dân số của tỉnh, với các dạng khuyết tật như: khuyết tật vận động, nghe nói, nhìn; khuyết tật trí tuệ, thần kinh, tâm thần, trong đó người khuyết tật không có khả năng lao động 6.123 người, chiếm 27,2% [1] Như vậy, số lượng người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là khá cao, ngoài ra đây còn là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Nhu cầu học nghề và đào tạo nghề cho người khuyết tật là rất cao trong khi toàn tỉnh mới chỉ có 03 cơ sở dạy nghề riêng cho người khuyết tật với quy mô nhỏ và đều thuộc tư nhân Số người được đào tạo còn quá ít so với nhu cầu thực tế Điều đó cho thấy, vấn đề sinh kế cho người khuyết tật nói chung và thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số nói riêng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình vẫn còn là một bài toán khó

Nhận thấy được những rào cản, khó khăn đó của thanh niên khuyết tật là người

dân tộc thiểu số, vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm

kiếm việc làm đối với thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình (nghiên cứu trường hợp huyện Mai Châu)” để làm rõ thực trạng hỗ trợ đào tạo và

tìm kiếm việc cho thanh niên khuyết tật ở địa bàn, từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp công tác xã hội phù hợp và có thể phát huy hiệu quả đối với quá trình hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về khó khăn, thách thức của nhóm thanh niên khuyết tật và nhóm dân tộc thiểu số trong hòa nhập cuộc sống, giáo dục, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm

Báo cáo về Kiểm soát giáo dục toàn cầu (GEM) (GEM report summary on

disabilities and education) tóm tắt về vấn đề khuyết tật và giáo dục của tổ chức UNESCO (2017) đưa ra 10 thông điệp chính với các bằng chứng kèm theo cùng với

đó là 10 khuyến nghị về chính sách giáo dục để chống lại sự thiệt thòi do khuyết tật gây ra Báo cáo chỉ ra một số điểm như: Có một số lượng lớn trẻ em khuyết tật tương đối lớn sống ở các quốc gia nghèo; trẻ em khuyết tật ít đi học hơn và hoàn thành chương trình tiểu học hơn các trẻ không khuyết tật; nhiều người khuyết tật không có kỹ năng đọc viết cơ bản; khuyết tật giao nhau với những bất lợi khác để

Trang 12

làm trầm trọng thêm bất lợi của người khuyết tật như: nghèo đói vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khuyết tật …

Một công trình khá tổng hợp dựa trên phân tích so sánh giữa Mỹ và Vương Quốc Anh của Cameron (2012)về Thanh niên khuyết tật trong việc chuyển đổi từ

trường học đến công việc hoặc sau khi đào tạo trung học phổ thông: tổng quan nghiên cứu tại Mỹ và Vương quốc Anh (Youth with Disabilities in Transition from

School to Work or Post-Secondary Education and Training: A Review of the Literature in the United States and United KingStatechir chỉ ra rằng thanh niên khuyết tật ở cả hai nước là cao (Mỹ có xu hướng cải thiện hơn) Có nhiều nỗ lực trong việc gắn kết nhóm thanh thiếu niên khuyết tật với thị trường lao động, ví dụ như việc xây dựng mạng lưới liên lạc với các nhà tuyển dụng tiềm năng sau khi kết thúc nghề nghiệp Ngoài ra, tỷ lệ bỏ học ở bậc phổ thông của thanh niên khuyết tật cao hơn cũng là một vấn đề khó khăn Bên cạnh đó, sự thiếu hụt đáng kể trong cơ chế phối hợp giữa các thể chế và các bên liên quan trong việc hỗ trợ và lập kế hoạch chuyển tiếp [2]

Bài viết với tiêu đề Làm việc với nhóm thanh niên từ nhóm dân tộc thiểu số

(Working with young people from aminority ethinic background) tại Bắc Ireland, Vương Quốc Anh chỉ ra rằng nhóm thanh niên dân tộc thiểu số có rất nhiều nhu cầu trong đó có việc tiếp cận với thông tin Họ gặp nhiều vấn đề về ngôn ngữ và di sản văn hoá cũng như hoà nhập xã hội liên quan đến đào tạo và việc làm [21]

Bài viết Cơ hội việc làm: Liệu vấn đề về chủng tộc và dân tộc thiểu số có

phải là vấn đề? (Employment opportunities: Do race and ethnicity matter?) của Ban phát triển xã hội toàn diện/bao gồm đã phân tích báo cáo về tình hình xã hội thế giới năm 2016 mô tả tỷ lệ lao động thiểu số trong dân tộc thiểu số có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và nghề nghiệp thấp hơn so với người lao động ở đa số hoặc dân tộc chiếm ưu thế ở phần lớn các quốc gia có số liệu báo cáo Đối với nhóm đối tượng

là người dân bản địa và một số dân tộc thiểu số, cơ hội việc làm cũng bị giảm bớt

do bất lợi về mặt không gian do ở nông thôn, vùng sâu vùng xa nơi cơ sở hạ tầng kém và ít tiếp cận với công việc phi nông nghiệp [4]

Trang 13

Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đã đề cập đến vấn đề của người khuyết

tật tại Việt Nam, đặc biệt là người khuyết tật với vấn đề về việc làm và sự hỗ trợ của của các cơ quan ban ngành tại Việt Nam với vấn đề này Báo cáo phân tích về các vấn đề pháp lý và môi trường chính sách tại Việt Nam cũng như đưa ra được khảo sát các hỗ trợ cho người khuyết tật về đào tạo nghề và tìm việc làm theo các tỉnh Kết quả phân tích của báo cáo cho thấy tại Việt Nam rất ít người khuyết tật được đào tạo nghề, hướng dẫn việc làm [26]

Theo Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các

văn bản pháp luật liên quan của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội ngày 15

tháng 07 năm 2019 đã chỉ rõ vấn sự ảnh hưởng của Pháp lệnh đối với vấn đề học nghề và tìm kiếm việc làm Kể từ khi có Pháp lệnh đến nay, số lượng người khuyết tật được học nghề ngày càng tăng Trong những năm qua nhà nước đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo để đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về dạy nghề từ Trung ương đến địa phương đã được kiện toàn một bước, tuy nhiên, theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008 cho thấy tỷ lệ người khuyết tật được học nghề còn thấp chiếm 12,1% Theo khảo sát năm 2008, có trên 50% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm Tuy nhiên, phần lớn những người khuyết tật có việc làm không ổn định, chủ yếu là tự tạo việc làm, làm việc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo từ thiện Rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Pháp luật lao động quy định các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải nhận từ 2-3% lao động là người tàn tật vào làm việc tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động là người tàn tật theo quy định phải đóng một khoản tiền vào Quỹ việc làm cho người tàn tật Hầu hết các doanh nghiệp không thực hiện được quy định này Nguyên nhân là do công tác tuyên truyền phổ biến, kiểm tra giám sát chưa được quan tâm thực hiện Mặt khác bản thân người khuyết tật chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời do tính chất sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm của người khuyết

Trang 14

tật, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề đặc thù như luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải [4]

2.2 Những công trình về đề xuất hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập trong đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm

Trong cuốn tài liệu hướng dẫn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về cách

thức thu hút sự tham gia của người khuyết tật trong đào tạo nghề (Inclusion of People

with disabilities in vocational training: A practical guide) (2013) đưa ra những đề xuất

quan trọng: i) những nhà quản lý cần phải cùng làm việc với nhau để xây dựng được một môi trường hoà nhập cho người khuyết tật dựa trên những sự thống nhất về các quy định và các nguồn lực cho công tác đào tạo nghề; ii) cần phát triển hệ thống luật pháp và chính sách cung cấp những cơ hội, nguồn lực cho người khuyết tật; iii) Xây dựng kế hoạch về chính sách và tài chính cho hoạt động này [12]

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và

bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu Châu Á –Thái

Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) Hơn 20 bài tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện, xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho NKT hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm và hỗ trợ việc làm ổn định đời sống có đóng góp cho xã hội

Mai Thị Phương (2014), “Vấn đề CTXH với NKT”, đề tài đã nêu lên vai trò

của công tác xã hội đối với NKT trên tất cả các phương diện,đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm Đề tài viết về những tồn tại yếu kém trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình

và các thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư phạm và quản lý Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKTchưa nghiêm, hoạt động

Trang 15

kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKTchịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm [10]

Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội với đề tài: “Vai trò của

tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của Bộ thương binh lao động và xã hội (1993)

Nghiên cứu này nói về việc xây dựng các chương trình, chính sách và thực hiện các chính sách cho NKTđể NKT có thể tìm được việc làm cho chính mình NKTsẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và sở thích của mình Qua quá trình tư vấn NKTtìm được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được một công việc phù hợp với bản thân mình [3]

2.3 Các công trình nghiên cứu về công tác xã hội với dân tộc thiểu số

Công tác xã hội như một nghề trợ giúp và trao quyền cho các cá nhân, các nhóm và cộng đồng nhằm tác động hỗ trợ giải quyết những vấn đề dễ bị tổn thương của các nhóm đối tượng và giúp họ vươn lên, phát triển hết tiềm năng phục vụ và đóng góp cho xã hội Có rất nhiều tác giả ngay từ những năm 90 đã có các công trình nghiên cứu về công tác xã hội và dân tộc thiểu số

Green (1995) với tác phẩm Nhận thức về văn hoá trong các dịch vụ cho con

người: Cách tiếp cận đa dân tộc (Cultural awareness in the human services: A

multi-ethnic approach) – đề xuất một mô hình công tác xã hội trong việc hỗ trợ thực hành công tác xã hội trong bối cảnh đa sắc tộc và làm rõ vào các can thiệp công việc xã hội với các nhóm dân tộc khác nhau giúp họ vượ qua những định kiến trong việc hoà nhập xã hội [8]

Tác phẩm Thực hành công tác xã hội với tiếp cận nhậy cảm với tính dân tộc

(Ethnic-sensitive social work practicecủa hai tác giả Devore & Schlesinger (1996) Đây là một trong những cuốn sách cung cấp một mô hình thực hành cho công tác

xã hội trong lĩnh vực hỗ trợ dân tộc thiểu số, chống sự phân biệt đối xử Tác phẩm

dã nhấn mạnh đến khía cạnh “dân tộc và “văn hóa” là những khái niệm then chốt trong quá trình hỗ trợ của công tác xã hội đối với các nhóm dân tộc thiểu số [5]

Cuốn sách Công tác xã hội và dân tộc thiểu số: Quan điểm của Châu Âu

(Social work and Minorities: European Pespectives của tác giả Williams, Soydan

Trang 16

và Johnson (1998) đã tập trung vào phân tích những vấn đề trong quá trình làm việc với người dân tộc thiểu số ở Châu Âu Bên cạnh đó nguyên tắc công bằng trong việc tiếp cận của công tác xã hội là một trong những khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích Ngoài ra, tác giả đã phân tích sự đóng góp khác nhau về quyền lực trong hệ thống liên quan đến cá nhân dưới góc độ xã hội học [22]

Nghiên cứu Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại địa bàn cư

trú của Nguyễn Phùng Quân đã nghiên cứu về (1) Thực trạng và nguyên nhân ảnh

hưởng tới lao động dân tộc thiểu số làm việc tại địa bàn cư trú; (2) Những nghiên cứu giải quyết việc làm lao động dân tộc thiểu số làm việc tại địa bàn cư trú; (3) Định hướng và giải pháp đổi mới chính sách giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số làm việc trên địa bàn cư trú [12]

Nghiên cứu Thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và đề xuất các

giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi của nhóm nghiên

cứu: Trần Thị Hạnh, Phạm Văn Hùng, Nguyễn Cao Thịnh, Hà Quang Khuê, Lò Giàng Páo, Đặng Văn Thuận, Trần Trung Hiếu trong khuôn khổ Dự án VIE02/001 – SEDEMA & EMPCD “Tăng cường Năng lực cho Ủy ban Dân tộc Xây dựng Thực hiện và Giám sát Chính sách Dân tộc” đã phân tích và đánh giá các chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi hiện nay; điều tra về nhu cầu phát triển nguồn nhân lực dân tộc và miền núi cũng như đưa ra một số giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số [28]

Như vậy có thể thấy vai trò đặc biệt của công tác xã hội trong việc đưa ra cách tiếp cận trong nghiên cứu này và đề xuất các giải pháp và mô hình dịch vụ công tác xã hội phù hợp, hiệu quả nhằm hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số khuyết tật học nghề, tìm kiếm việc làm, khởi nghiệp

Thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số là một nhóm đặc thù trong xã hội, vừa mang những điểm mạnh của nhóm dân cư trong độ tuổi lao động (thanh niên), vừa mang các đặc điểm làm cho họ trở thành yếu thế: khuyết tật, dân tộc thiểu số Công tác xã hội nhìn nhận nhóm dân cư này như một nhóm khách hàng đặc biệt cần được trợ giúp từ chính sách và thực hành, đồng thời cũng là một nhóm nhiều tiềm năng, thế mạnh trong cộng đồng của mình (cộng đồng người dân tộc

Trang 17

thiểu số, cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người dân tộc thiểu số khuyết tật)

Trong khi đó, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm là một hoạt động quan trọng tạo ra sinh kế cho các nhóm dân cư Do đó, đây là một cấu phần quan trọng và đầu tiên trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Với nhóm thanh niên dân tộc thiểu số khuyết tật, hoạt động này càng có tính quan trọng và mang nhiều đặc thù Chính vì thế, đây là một mảng nghiên cứu và thực hành được nhiều tác giả quan tâm với những quan điểm đa dạng

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả từ nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, phục vụ cho hoạt động đào tạo đại học và sau đại học của ngành công tác xã hội trong hướng tiếp cận hỗ trợ nhóm thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số Ngoài ra, nghiên cứu sẽ cung cấp lý luận tiếp cận hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số từ góc độ công tác xã hội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp thông tin và đề xuất cho địa bàn nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ việc làm nói chung và cho nhóm thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số nói riêng

4 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm đối với thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình

4.2 Khách thể nghiên cứu

Thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình (nghiên cứu địa bàn huyện Mai Châu)

Cán bộ chính quyền địa phương, cán bộ của ngành Lao động Thương binh và

Xã hội, trường đào tạo nghề, Đoàn thanh niên Cộng sản HCM

5 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: 4/2019 – 4/2020

Trang 18

Không gian nghiên cứu: huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình

Nội dung nghiên cứu: Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mai Châu cũng như nguyên nhân

và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật tại đây

6 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số khuyết tật tỉnh Hòa Bình hiện nay như thế nào?

Thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số tại Hòa Bình có nhu cầu được hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm như thế nào?

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình?

Những giải pháp và vai trò của nhân viên công tác xã hội thể hiện như thế nào trong việc hỗ trợ thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số học nghề, tìm kiếm việc làm?

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

7.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, nhu cầu hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình hiện nay từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy vai trò của công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật

7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá thực trạng và nhu cầu hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số khuyết tật tỉnh Hoà bình hiện nay

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số khuyết tật tỉnh Hoà bình hiện nay

- Đề xuất được các giải pháp và chỉ ra được các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ để đạt thanh niên các dân tộc thiểu số khuyết tật học nghề, tìm kiếm việc làm

-

Trang 19

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp tổng quan tài liệu

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề chính sách của nhà nước dành cho nhóm người khuyết tật và nhóm dân tộc thiểu số, các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội của vùng dân tộc thiểu số và báo cáo triển khai hoạt động hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật trên địa bàn Tài liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau, tuy nhiên có các nguồn cụ thể là: thuyết minh đề tài

“Thực trạng chính sách đào tạo và tìm kiếm việc làm đối với thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình”; tài liệu do chính quyền địa phương thực hiện, triển khai hoạt động hỗ trợ đào tạo, tìm kiếm việc làm; tài liệu từ các trang Web uy tín, chính thống và thu thập qua các tài liệu nghiên cứu về đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số

Tìm hiểu, đọc và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến người khuyết tật

và người dân tộc thiểu số để hệ thống lại các thông tin để xây dựng cơ sở lý luận Đánh giá số liệu và tìm ra các biện pháp kết nối nguồn lực nhằm hỗ trợ thanh niên khuyết tật trong việc học nghề và tìm kiếm việc làm

8.2 Phương pháp tổng hợp số liệu

Tác giả được cho phép sử dụng một phần số liệu nghiên cứu trong đề tài “Thực trạng chính sách đào tạo và tìm kiếm việc làm đối với thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình Nghiên cứu sử dụng kết quả khảo sát với 76 thanh niên là người khuyết tật thuộc dân tộc thiểu số sống trên địa bàn Đây là số lượng tất

cả thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số có thể tiếp cận và trả lời khảo sát Số lượng mẫu là 76 thanh niên khuyết là người dân tộc thiểu số sinh sống tại huyện Mai Châu, đây là huyện có số lượng thanh niên khuyết tật là người dân tộc thiểu số khá cao ở tỉnh Hòa Bình với điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn Trong

đó, đối tượng tham gia khảo sát đảm bảo cơ cấu đại diện cho nhóm tuổi thanh niên

và là người dân tộc thiểu số

Trang 20

Để thực hiện đề tài, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 06 thanh niên khuyết tật là người dân tộc thiểu số, 01 cán bộ UBND xã, 02 công chức thuộc phòng LĐTB&XH cấp huyện, 01 cán bộ LĐTB&XH cấp tỉnh, 01 chủ cơ sở đào tạo, 01 Bí thư Đoàn cấp xã

Các kết quả nghiên cứu từ phỏng vấn sâu bán cấu trúc giúp nghiên cứu có những thông tin cụ thể hơn dưới góc nhìn của những thanh niên khuyết tật và dưới góc nhìn của những cán bộ tham gia vào việc hỗ trợ đối tượng trong vấn đề học nghề và tìm kiếm việc làm

sử dụng khái niệm “đào tạo nghề” nhưng trong phạm vi nghiên cứu, tác chỉ chỉ đề cập đến đào tạo nghề dưới góc độ đào tạo nghề cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số huyện Mai Châu

10 Kết quả nghiên cứu

Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Đánh giá thực trạng hỗ trợ, đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình

Trang 21

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Đào tạo và hỗ trợ đào tạo nghề

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quy chế đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức Bộ Tư pháp ban hành kèm theo Quyết định 273-BTP năm 2018: “Đào tạo là quá trình truyền thu tiếp nhận có hệ thống những tri thức kỹ năng theo quy định của

từng cấp học bậc học” [5]

“Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức kỹ năng

và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có tìm được việc làm hoặc tự tạo

việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [19]

Hỗ trợ đào tạo nghề trong phạm vi nghiên cứu này được hiểu là sự giúp đỡ trong việc tiếp cận với việc học nghề đào tạo nghề nhằm giúp các cá nhân được trang bị kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần có Sau khi được hỗ trợ đào tạo nghề các cá nhân có thể tìm được một công việc phù hợp với nhu cầu năng lực và hoàn cảnh của bản thân

1.1.2 Việc làm và tìm kiếm việc làm

Theo quan niệm quốc tế, ILO (International Labour Organization) người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước

122 (1964)…

Ở Việt Nam, đã được hơn 30 năm kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm về việc làm và vấn đề liên quan như thất nghiệp,

Trang 22

chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản Điều 55 Hiến Pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [6] Từ quan điểm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định:

“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13 Bộ Luật Lao động) [20] Như vậy, dưới góc

độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:

- Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định

- Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập

- Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm

Như vậy, theo các định nghĩa vừa nêu, việc làm được hiểu là các hoạt động lao động, tạo ra được thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho sự phát triển của xã hội Hoạt động lao động tạo ra thu nhập đó không bị pháp luật cấm hay vi phạm đạo đức, quy định của pháp luật thì đều được gọi là việc làm

Tìm kiếm việc làm là hoạt động mà các các nhân có thể chủ động tìm thấy được hoặc được người khác hỗ trợ tìm được các công việc có thể tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, hành vi đó không bị pháp luật cấm hay vi phạm các chuẩn mực đạo đức trong xã hội

Trang 23

1.1.3 Thanh niên

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người

ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Về mặt độ tuổi, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho

đó là tuổi 40 Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác Còn tại điều 1, Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11 ngày 29/11/2005, thanh niên là là công dân Việt Nam đủ từ 16 tuổi đến 30 tuổi [21]

Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn quan trọng trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể

Về mặt tâm lý, các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân Nhà nghiên cứu Raymond J Corsini (1999) đã định nghĩa về thanh niên trong

Từ điển tâm lý học: “Thanh niên là giai đoạn của nam hoặc nữ đã qua tuổi thiếu niên và ở mức độ cao về thể chất và tinh thần, hướng đến sự độc lập khỏi gia đình, hướng đến sự lựa chọn nghề nghiệp, đối tác giao tiếp thường xuyên trong không gian sống của mình”

Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Trang 24

Khái niệm thanh niên trong nghiên cứu được hiểu là nhóm xã hội có độ tuổi từ

15 đến 30 tuổi Đây là lứa tuổi đạt mức độ cao về thể chất và tinh thần, là lực lượng lao động xã hội chính của xã hội trong tất cả các lĩnh vực, thanh niên trong giai đoạn này dần tách ra với gia đình gốc của mình để chuẩn bị xây dựng một cuộc sống riêng của người trưởng thành

1.1.4 Người khuyết tật

Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa khuyết tật như sau: “Bất kỳ hạn chế hoặc thiếu hụt (do suy giảm) khả năng thực hiện một hoạt động theo cách thức hoặc trong phạm vi được coi là bình thường đối với con người Thuật ngữ khuyết tật phản ánh hậu quả của sự suy giảm trong điều kiện về hiệu suất và hoạt động chức năng của cá nhân Khuyết tật do dó đại diện cho các rối loạn ở cấp độ của con người”

Công ước Quốc tế các quyền của người khuyết tật (2006) đã nêu rõ: “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở

sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” (Công ước Quốc tế về quyền của Người khuyết tật, Đại hội đồng Liên hợp quốc, 2006) [8]

Theo Luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [17]

Trên thế giới có rất nhiều cách phân loại về khuyết tật, tuy nhiên, việc phân loại khuyết tật ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Luật Người khuyết tật 2010 như sau:

- Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

- Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói, hoặc

cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

Trang 25

- Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

- Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

- Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

- Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ abnr khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các dạng trên

Về mức độ khuyết tật: Theo Điều 3 Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật có 3 mức độ khuyết tật:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do khuyết tật đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn

- Người khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một

số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục

vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc…

- Người khuyết tật nhẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại hai mức độ trên

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, người khuyết tật là đối tượng bị khiếm khuyết hoặc suy giảm chức năng ở một hoặc nhiều bộ phận, khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống, gặp nhiều bất lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực trong

xã hội so với những người không khuyết tật khác

Trang 26

1.1.5 Dân tộc thiểu số

Theo Louis Wirth (1945), thuật ngữ thiểu số (minority) “là một nhóm người, do lý

do khác biệt về ngoại hình, văn hóa mà bị bài trừ trong xã hội, nơi mà họ phải chịu nhiều đối xử bất công, nên có tự nhận thức về bản thân là đối tượng của sự kỳ thị tập thể” Theo Wirth, một nhóm được xác định là thiểu số, không phải dựa trên thiểu số số lượng, mà là nhóm chịu hành vi đối xử không công bằng trong xã hội”

Theo nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra một số định nghĩa liên quan đến dân tộc thiểu số như sau:

- Dân tộc thiểu số: “là những dân tộc ít người hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” Dân tộc đa

số là “dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước”

- Dân tộc thiểu số rất ít người “là dân tộc có dân số dưới 10.000 người”

- Vùng dân tộc thiểu số: “là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [7]

Khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng trong nghiên cứu này được hiểu là nhóm người có số lượng ít hơn nhóm người đa số trong xã hội đó Họ sống cùng nhau có đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, có đặc trưng riêng của tộc người, thường sinh sống ở các vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, thường gặp nhiều bất lợi trong việc tiếp cận với các dịch vụ về y

tế, giáo dục…

Thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số trong nghiên cứu này được hiểu là những

cá nhận có độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi Họ là đối tượng bị khiếm khuyết hoặc suy giảm chức năng ở một hoặc nhiều bộ phận, khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống, gặp nhiều bất lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội so với những người không khuyết tật khác Họ sinh sống ở các vùng núi có điều kiện kinh

tế - xã hội còn nhiều khó khăn và thiếu thốn Các cá nhân là người thuộc nhóm dân tộc thiểu số, có số lượng ít hơn nhóm đa số trong xã hội, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội

Trang 27

1.1.6 Công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội

1.1.6.1 Công tác xã hội

Công tác xã hội được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ hơn một thế kỷ nay và có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH Theo Hiệp hội quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ - NASW 1970: Công tác xã hội

là một nghề chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy [13]

Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên CTXH quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Hội nghị Quốc tế Montreal (Canada) vào tháng 7/2000 lại nhấn mạnh sứ mệnh thúc đẩy công bằng xã hội và quyền con người thông qua việc giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của con người: Nghề CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi

xã hội tiến trình giải quyết vấn đề trong môi quan hệ con người sự tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và

dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền

và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề [13]

Theo đề án 32 phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống hướng tới xã hội lành mạnh công bằng hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [23]

Từ những quan niệm trên đây về CTXH theo Nguyễn Hồi Loan “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội được thực hiện theo nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống của họ vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội” [13]

Tóm lại, CTXH có thể hiểu là một ngành khoa học ứng dụng nhằm hỗ trợ các

cá nhân, nhóm, cộng đồng có vấn đề về mặt xã hội tham gia giải quyết, cải thiện hoàn cảnh và vươn lên hòa nhập cộng đồng theo hướng tích cực và bền vững

Trang 28

CTXH là một nghề chuyên nghiệp nên những người làm CTXH cần được đào tạo bồi dưỡng có hệ thống thôngqua các hình thức chính quy và không chính quy như các lớp ngắn ngày và dài ngày; các cấp học từ trung cấp, cao đẳng lên đại học và trên đại học Họ được học các kiến thức, kỹ năng làm việc với từng cá nhân con người, nhóm, cộng đồng và làm việc tuân theo những quy định đạo đức nghề nghiệp

1.1.6.2 Nhân viên công tác xã hội

Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội Hoa Kỳ, nhân viên công tác xã hội phải là người được đào tạo chuyên nghiệp, có bằng cấp chuyên môn phù hợp, hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ trợ giúp cho nhóm yếu thế và tuân thủ đạo đức nghề công tác xã hội [13]

Theo Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế, nhân viên CTXH phải là người được đào tạo và trang bị kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các thân chủ tiếp cận được nguồn lực cần thiết thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhâ và môi trường, vận động chính sách xã hội vì lợi ích của cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu thực tiễn (Nguyễn

An Lịch, 2013)

Nhân viên CTXH là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển những kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề CTXH (Dubois and Miley, 2005)

Khái niệm về NV CTXH ở trên cho thấy nhân viên xã hội là người cần được đào tạo và trang bị những kiến thức kỹ năng chuyên môn Ở hầu hết các nước có nền CTXH đã khá phát triển, nhân viên xã hội phải được đào tạo ít nhất từ trình độ đại học trở lên Không những thế có nhiều nước ở Bắc Mỹ hay Bắc Âu như nước Mỹ, Canada, Anh và ngay cả một số nước trong khu vực như Singapore, Indonesia, Philipines, những nhân viên xã hội còn phải có bằng hành nghề mới được phép thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ, ví dụ như tham vấn, thuộc lĩnh vực hành nghề phải thi sát hạch bởi hội đồng nghề nghiệp và được quản lý nghiêm chặt với những quy định về kiểm tra định kỳ sau vài năm hành nghề Mặc dù đã có bằng cử nhân hay thạc sỹ về CTXH, nhưng nếu chưa có bằng hành nghề thì những nhân viên xã

Trang 29

hội đó vẫn chưa được mở văn phòng hành nghề của mình Điều này cũng tương tự như quy định trong một số nghề như nghề y, nghề dược, nghề luật sư

Cũng từ khái niệm trêm, có thể thấy nhân viên xã hội cần phải thực thi các hoạt động nghề nghiệp của mình như:

- Trợ giúp cá nhân, gia đình giải quyết các vấn đề khó khăn

- Nối kết họ với các dịch vụ và nguồn lực trong xã hội

- Thúc đẩy sự cung cấp dịch vụ trợ giúp và nguồn lực có hiệu quả

- Tham gia vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội

1.1.7 Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số đào tạo và tìm kiếm việc làm

Vai trò giáo dục:

Bản thân thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tiếp cận với giáo dục nên họ là đối tượng thiếu rất nhiều kiến thức về các lĩnh vực khác nhau trong đó có các vấn đề về học nghề và tìm kiếm việc làm do vậy với vai trò và chức năng của người giáo dục, nhân viên CTXH khi làm việc với thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số cung cấp cho đối tượng những kiến thức

cơ bản về các vấn đề liên quan đến các nội dung khác nhau về vấn đề mà họ quan tâm để trang bị kiến thức, tăng cường hiểu biết cho đối tương về các vấn đề

đó Ví dụ khi làm việc với đối tượng là thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số cần cung cấp cho đối tượng các kiến thức về kỹ năng sống để không bị lôi cuốn vào các tệ nạn xã hội; các kỹ năng làm việc tại cơ sở; kỹ năng tìm kiếm việc làm trên không gian mạng…Bên cạnh đó, đối với cộng đồng sinh sống trên địa bàn, nhân viên CTXH cũng có vai trò trong việc giáo dục cho cộng đồng các kiến thức về người khuyết tật cũng như vấn đề học nghề và tìm việc làm của người khuyết tật để giúp cộng đồng giảm bớt những kỳ thị với nhóm đối tượng này cũng như tạo cơ hội cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

Theo Sheafor và Hoejsi (2003), để thực hiện vai trò này nhân viên xã hội có ba chức năng:

Thứ nhất là chức năng dạy những kỹ năng sống, ví dụ như dạy đối tượng ký năng giải quyết xung đột trong môi trường làm việc; quản lý tiền;điều chỉnh, hòa

Trang 30

nhập với môi trường cuộc sống tại nơi làm việc, kỹ năng phòng vệ bản than như nói

“không” với những thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử ở không gian làm việc…

Thứ hai là chức năng thúc đẩy sự thay đổi hành vi của đối tượng Nhân viên xã hội thúc đẩy sự thay đổi hành vi của đối trượng thông qua việc huấn luyện đối tượng qua sắm vai, mô phỏng hành vi tốt và thực hiện hành vi tốt

Thứ ba là chức năng ngăn ngừa Nhân viên xã hội thực hiện chức năng này thông qua việc cung cấp, trao đổi kiến thức, tài liệu liên quan giúp đối tượng nâng cao nhận thức, hiểu rõ vấn đề và nguyên nhân của vấn đề, từ đó đối tượng có thẻ ngăn ngừa được vấn đề nảy sinh Ví dụ như cung cấp kiến thức và tài liệu về quyền của người khuyết tật, những quyền họ được hưởng trong vấn đề đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm

Vai trò tham vấn tâm lý

Trong quá trình hỗ trợ cá nhân, dịch vụ được nhân viên xã hội cung cấp nhiều nhất cho đối tượng là nhà tham vấn Vì vậy, vai trò tham vấn của nhân viên xã hội trong giúp đỡ cá nhân đối tượng là rất quan trọng Mục đích của tham vấn là giúp

đỡ đối tượng nâng cao chức năng xã hội thông qua việc để họ hiểu hơn về những cảm xúc, chỉnh sửa hàn vi và học cách ứng phó với tình huống có vấn đề

Chức năng của nhân viên xã hội trong vai trò của nhà tham vấn là đánh giá và chẩn đoán về tâm lý xã hội; cung cấp dịch vụ chăm sóc,ổn định tâm lý cho đối tượng Cụ thể, với đối tượng là thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số, họ không có nhiều cơ hội được lắng nghe, được chia sẻ hay có người hiểu được nguyện vọng của

họ Chính vì vậy, nhân viên CTXH với vai trò là nhà tham vấn, cần có những đánh giá, chẩn đoán về tâm lý và thực hiện hoạt động tham vấn để cùng đối tượng giải quyết các vấn đề cản trở tâm lý của mình Tuy nhiên, đối với những vấn đề tâm lý phức tạp, chuyên sâu, cần sự hỗ trợ của các chuyên gia tâm lý, tâm thần, nhân viên CTXH sẽ đóng vai trò hỗ trợ, kết nối dịch vụ đến với đối tượng

Để có thể đánh giá và chẩn đoán tâm lý xã hội của đối tượng, nhân viên xã hội phải có được sự đồng cảm với tâm tư, tình cảm; hiểu được năng lực và nguồn lực của đối tượng Bên cạnh đó, trong quá trình tham vấn, nhân viên xã hội thường

Trang 31

xuyên động viên, khích lệ đối tượng thay đổi tích cực Sau quá trình tham vấn, nhân viên xã hội đánh giá sự tiến bộ của đối tượng, kết quả của quá trình giúp đỡ

Vai trò, chức năng của người kết nối và vận động nguồn lực

Trong vấn đề học nghề và tìm kiếm việc làm của thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu

số, nhân viên CTXH không thể là người có thể tự làm tất cả mọi vấn đề để hỗ trợ đối tượng Nhân viên CTXH sẽ là người kết nối với các nguồn lực, phát huy tối đa

sự hỗ trợ của các nguồn lực đó trong việc hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề và tìm kiếm được việc làm phù hợp với bản thân Nhân viên CTXH giúp thân chủ và gia đình của họ tiếp cận với các dịch vụ, chính sách, các nguồn lực đang có sẵn trong cộng đồng

Nhân viên xã hội thực hiện vai trò, chức năng này bằng việc là người kết nối đối tượng với các dịch vụ và nguồn lực thích hợp Nhân viên xã họi sẽ thực hiện 3 chức năng cụ thể sau:

- Đánh giá tình hình đối tượng: đây là hoạt động nhân viên xã hội sẽ phải đánh giá chính xác các nhu cầu và khả năng của thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số

- Đánh giá nguồn lực: nhân viên xa hội tìm kiếm và đánh giá các nguồn lực sẵn xung quanh của thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số

- Chuyển giao/kết nối: nhân viên xã hội liên lạc, chắp nối nguồn lực tìm kiếm được với nhu cầu của đối tượng Đôi khi nhân viên xã hội điều chỉnh cả hai bên có nhu cầu và bên đáp ứng nhu cầu để đảm bảo phù hợp và hài hòa với lợi ích của cả hai bên

Vai trò, chức năng của người biện hộ

Bản thân nhân viên CTXH là người thực hành trong thực tế, làm việc trực tiếp

hỗ trợ đối tượng, cụ thể là hỗ trợ thanh niên khuyết tật trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm Do vậy, nhân viên CTXH là những người hiểu được các khó khăn của đối tượng, hiểu được vai trò cũng như những hạn chế của các chính sách trong quá trình áp dụng vào thực tế Vì vậy, vai trò và chức năng của người biên hộ (hay còn được gọi là viên động chính sách) là việc nhân viên xã hội đứng trên quan điểm của đối tượng đảm bảo quyền lợi của đối tượng tiếp cận với nguồn lực và

Trang 32

nguồn lực do chính sách xã hội quy định Vai trò, chức năng của người biện hộ được thể hiện ở cả hai bên trong và bên ngoài cơ quan để có được các nguồn lực đầy đủ và phù hợp đáp ứng nhu cầu cảu đối tượng Ở cấp độ vĩ mô, khi người cán

bộ xã hội làm việc với các tổ chức, cộng đồng, chính phủ, vai trò biên hộ của họ là thay đổi chính sách và luật pháp Những thay đổi này nhằm cải thiện các điều kiện

xã hội để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân đối tượng dễ bị tổn thương và thúc đẩy công bằng xã hội Người cán bộ xã hội có thể thể hiện vai trò biện hộ ở cấp vĩ mô hơn cho cá nhân đối tượng

1.1.8 Hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số

Như vậy, hỗ trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số là các hoạt động trợ giúp, tạo điều kiện cho các đối tượng bị khiếm khuyết, suy giảm chức năng của một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ trong xã hội Họ là những người trong độ tuổi từ 15 đến dưới 30 tuổi, là những người thuộc dân tộc thiểu số, sinh sống trên các địa bàn dân tộc ít người có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Đây là đối tượng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn lực cũng như các

cơ hôi để có thể học nghề và tìm kiếm việc làm Họ cần được trợ giúp, tạo điều kiện

để có thể tiếp cận với đào tạo nghề từ đó có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm được việc làm phù hợp để nuôi sống bản thân Bản thân thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số vốn đã gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt là với giáo dục Việc không được đi học, không có bằng cấp, mối quan hệ xã hội hạn hẹp khiến họ vốn đã có nhiều khó khăn nay lại càng khó khăn hơn gấp nhiều lần khi đến tuổi lao động họ vẫn không thể có một công việc nuôi sống được bản thân và gia đình Bản thân thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số không có việc làm và không có thu nhập càng khắc sâu hơn sự tự ti của họ trong cuộc sống, khiến họ càng ngày càng trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội Do vậy, nhà nước luôn có những chính sách để hỗ trợ cho thanh niên khuyết tật, người dân tộc thiểu số trong vấn đề học nghề và tìm kiếm việc làm để hỗ trợ các đối tượng Từ đó, các cá nhân,

tổ chức, ban ngành có liên quan sẽ chung tay vào kết nối, hỗ trợ thực hiện các chính sách, chỉ đạo của nhà nước để phát huy tối ta những nguồn lực trong việc hỗ trợ

Trang 33

thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số tìm kiếm việc làm Công tác xã hội với vai trò

là một nghề trợ giúp các đối tượng yếu thế, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số học nghề và tìm kiếm việc làm

1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX

Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi Trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang Trong hệ thống thứ bậc của Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước Nếu như nhu cầu trước cá nhân không được đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các nhu cầu cao hơn về sau [16]

Để tồn tại, con người cần phải đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cơ bản cho sự sống như: ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế, ; để phát triển, con người cần đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cần được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định Xét cho cùng, sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mucju đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người Việc đáp ứng nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội

Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh-tâm lý xã hội

Do đó con người có nhu cầu cá nhân cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu

xã hội Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành 5 thanh bậc từ thấp đến cao:

1 Nhu cầu sống còn, bao gồm: Nhu cầu về không khí, nước, thức ăn , quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi

2 Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp

bị mất kế sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ

Trang 34

3 Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: Là con người xa hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ Họ không muốn sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng)

4 Nhu cầu được tôn trọng: Tự tôn trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người; được người khác tôn trọng là mong muốn được nguwoif khác thừa nhận giá trị của mình

5 Nhu cầu hoàn thiện: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để để hoàn thiện và phát triển cá nhân., [16]

Tuy nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại những người thường thiếu thốn nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình Trong đó, có những nguời đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân từ việc lo ăn, lo mặc đến chữa bệnh và học hành và có nguy cơ bị đe dọa sự an toàn của cuộc sống Những đối tượng này rất cần sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội

Thuyết nhu cầu của Maslow làm căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên, đói với những đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau Vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong những bối cảnh không giống nhau Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội tránh được việc “đánh đồng” và “chủ quan” khi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó nhân viên xã hội cần tìm kiếm những nhu cầu thực mà đối tượng mong muốn được thỏa mãn Đối tượng và vấn đề của họ được đặt vào vị trí trung tâm, chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên xã hội Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề của đối tượng Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ tợ các đối tượng Thứ nhất, trong xã hội vẫn tồn tại những người thường thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình Trong đó có những người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân từ việc lo

ăn, lo mặc đến chữa bệnh và học hành và có nguy cơ đe dọa đến an toàn của cuộc

Trang 35

sống Những đối tượng này rất cần được sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội Thứ hai, việc đáp ứng nhu cầu của con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt sản xuất, hoạt động xã hội Nếu không đáp ứng nhu cầu của con người thì

họ cũng mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xa hội, thay vào đó là những hành

vi chống đối và phá hoại ví dụ như nghiện hút, trộm cắp, gây rối, Thứ ba, tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hỗ trợ xã hội giảm kinh phí và tăng hiệu quả khi tránh được sự dư thừa hay không đầy đủ khi hỗ trợ [6]

Ứng dụng lý thuyết vào đề tài: Thông qua lý thuyết nhu cầu của Maslow tác giả

có thể tìm hiểu được nhu cầu của thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số về vấn đề

hỗ trợ và tìm kiếm việc làm Chỉ khi thanh niên khuyết tật đáp ứng được nhu cầu bậc thấp, cơ bản nhất thì họ mới có cơ hội để thực hiện những nhu cầu ở bậc cao hơn Khi họ chưa thể tự đáp ứng được những nhu cầu sống còn của mình trong đời sống của mình thì họ không thể vươn lên những bậc nhu cầu cao hơn và yêu cầu những nhu cầu ở bậc cao Trong nghiên cứu thực trạng hỗ trợ đào tạo nghề, lý thuyết nhu cầu có thể giúp xác định nhu cầu này nằm ở bậc bao nhiêu, bao gồm những nhu cầu nhỏ nào cần đáp ứng, khi thực hiện được nhu cầu này thì sẽ tạo thuận lợi gì cho việc tiếp cận với các nhu cầu ở bậc cao hơn Tương tự với việc nghiên cứu về nhu cầu trong việc tìm kiếm việc làm, có thể thấy được vai trò của vấn đề với thanh niên khuyết tật, họ cần gì và mong muốn nhận được gì trong việc

hỗ trợ tìm kiếm việc làm

1.2.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Quan điểm sinh thái có nguồn gốc từ quan niệm của Lewinian (1936) rằng hành

vi là một hoạt động của con người có sự tương tác với môi trường của họ Quan điểm sinh thái đề cập đến tương tác tương hỗ, phức tạp và rộng lớn giữa cơ thể sống

và môi trường xunh quanh Nói cách khác, quan điểm sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người với môi trường xã hội mà họ đang sống và tìm kiếm nguyên nhân nảy sinh vấn đề cũng như phương hướng giải quyết vấn đề từ phía môi trường Quan điểm này cho rằng con người sống trong môi trường xã hội và phải chịu tác động từ những thay đổi của các yếu tố trong môi trường này, vì vậy khi vấn

đề nảy sinh không nhất thiết phải do những bất hợp lý từ phía môi trường [16]

Trang 36

Môi trường trong quan điểm sinh thái biểu thị ở 3 cấp độ: vi mô, trung mô và vĩ

mô Cấp độ vi mô là bản thân những hệ thống vi mô trong cuộc sống của cá nhân đó (lớp học, gia đình, cơ quan, bạn bè…) Cấp độ trung mô à những tương tác giữa các

hệ thống vi mô có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cá nhân (mối liên hệ giữa gia đình và nhà trường, mối quan hệ giữa cha mẹ và nơi làm việc…) Cấp độ vĩ mô được xem xét trên bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa có ảnh hưởng đến cá nhân (các thiết chế, chính sách của Nhà nước…) Như vậy, nhân viên xã hội khi xét trên quan điểm sinh thái cũng cần phải xác định những quan điểm nào của môi trường sinh thái thực sự gây nên vấn đề của thân chủ có những tác động hợp lý [16]

Theo quan điểm sinh thái, nhân viên CTXH khi làm việc với thân chủ cần nhận thức về sự ảnh hưởng của các yếu tố bất hợp lý trong môi trường sinh thái, từ cấp độ

vi mô đến cấp độ vĩ mô, đến việc hình thành các chức năng xã hội của cá nhân và cũng là nguồn gốc của việc nảy sinh những tình huống hay khó khăn cho cá nhân đó

Ứng dụng lý thuyết vào nghiên cứu: Lý thuyết giúp tác giả hình dung được vị trí của cá nhân con người trong một hệ thống xã hội với những quan hệ tương tác với các hệ thống khác trong xã hội Chúng tác có thể thấy được cuộc sống và những vấn đề của mỗi con người trong xã hội đều ít nhiều phải chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ xung quanh họ Việc xác định được mối quan hệ của đối tượng với các

hệ thống xung quanh cũng như xem xét chất lượng của mối quan hệ đó là một vấn

đề rất quan trọng Các ảnh hưởng của từng hệ thống lên đối tượng là không giống nhau, từ đó xem xét khả năng hỗ trợ của từng hệ thống Tìm những nguồn lực trong các hệ thống để có thể vận động, kết nối các nguồn lực trong xã hội trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số Việc ứng dụng lý thuyết vào nghiên cứu sẽ giúp dễ dàng nhận thấy điểm mạnh của các nguồn lực có thể khai thác, từ đó kết nối và phát huy sự hỗ trợ của các hệ thống xung quanh đối tượng

Mỗi cá nhân, gia đình là một tế bào của xã hội, nếu một tế bào cso vấn đề thì xã hội cũng sẽ bị ảnh hưởng và ngược lại, những vấn đề mà xã hội đang gặp phải cũng

sẽ ảnh hưởng đến các cá nhân, gia đình thuộc xã hội đó Do vậy, quan điểm hệ thống sinh thái rất thích hợp với bối cảnh xã hội Việt Nam, đặc biệt những vùng còn kém phát triển, sự cố kết về cộng đồng còn rất cao, quan điểm đặc biệt phù hợp với

Trang 37

hoạt động công tác xã hội hỗ trợ thanh niên khuyết tật học nghề và tìm kiếm việc làm khi có thể phân tích được sự ảnh hưởng của các hệ thống xung quanh đối tượng cũng như các nguồn lực hỗ trợ từ các hệ thống xã hộikhác chung quanh các thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số và gia đình của họ

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Mai Châu trước kia được gọi là Mường Mai, được hình thành vào khoảng thế kỷ XIII Thời nhà Trần, Mường Mai thuộc lộ Đà Giang, trấn Gia Hưng, xứ Hưng Hoá Dưới triều Nguyễn, Mai Châu gồm tổng Thanh Mai và tổng Bạch Mai

Mai Châu là một huyện vùng cao, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hoà Bình, có toạ độ địa lý 20o24’ - 20o45’ vĩ bắc và 104o31’ - 105o16’ kinh đông; phía Đông giáp huyện

Đà Bắc và huyện Tân Lạc, phía Tây và phía Nam giáp huyện Quan Hóa của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Vân Hồ của tỉnh Sơn La

Theo số liệu thống kê năm 2015, huyện Mai Châu có tổng diện tích tự nhiên là 57.127,98 ha; dân số 54.537 người

Địa hình Mai Châu khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối và núi cao Theo đặc điểm địa hình, có thể chia thành hai vùng rõ rệt:

- Vùng thấp phân bố dọc theo suối Xia, suối Mùn và quốc lộ 15, có diện tích

gần 2.000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ

- Vùng cao giống như một vành đai bao quanh huyện, gồm 8 xã với tổng

diện tích trên 400 km2, có nhiều dãy núi, địa hình cao và hiểm trở Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 800 - 900m, điểm cao nhất là 1.536m (thuộc địa phận xã Pà Cò), điểm thấp nhất là 220m (thị trấn Mai Châu) Độ dốc trung bình từ 30 đến 35o

.Nhìn tổng thể, địa hình Mai Châu thấp dần theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Năm 2016, tổng giá trị sản xuất đạt 1.672.700 triệu đồng (giá hiện hành), vượt 3,25% so với kế hoạch và tăng 25,11% so với cùng kỳ, trong đó: Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt 604.700 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 36,15%; giá trị công nghiệp - xây dựng đạt 578.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 34,56%; giá trị thương mại - dịch vụ đạt 490.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 29,29%; tổng thu ngân sách

Trang 38

trên địa bàn đạt 52.054 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 20,373 triệu đồng/người/năm

Du lịch được coi là thế mạnh của huyện Mai Châu với một số địa danh du lịch văn hoá nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả đối với du khách nước ngoài như bản Lác (Chiềng Châu), bản Củm (Vạn Mai), bản Pom Coọng (thị trấn Mai Châu), bản Bước (Xăm Khòe) Với 800 ha diện tích mặt nước, hồ sông Đà là một danh lam thắng cảnh đẹp, có thể thu hút nhiều khách du lịch đến với Mai Châu

Mai Châu là nơi tập trung sinh sống của nhiều dân tộc Năm 2016, dân số huyện Mai Châu khoảng trên 55.000 người Trong đó, người Thái chiếm đa số gần 60%, dân tộc Mường chiếm14,05%, người Kinh chiếm 14,01%, người Mông chiếm 9,6%, người Dao chiếm 2,02%, còn lại là đồng bào các dân tộc khác chiếm tỷ

lệ rất nhỏ

Ngoài thị trấn Mai Châu tập trung đông dân cư, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của huyện, hiện nay ở huyện cũng đã hình thành những tụ điểm dân cư theo hướng đô thị hoá như: Co Lương (Vạn Mai), Đồng Bảng (Đồng Bảng) , những khu dân cư này phân bố chủ yếu dọc theo quốc lộ 15 và là những hạt nhân làm chuyển biến tích cực cho kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Mai Châu

Theo thống kê, toàn tỉnh Hòa Bình có 22.038 người khuyết tật, chiếm 3% dân số của tỉnh, người khuyết tật không có khả năng lao động 6.123 người, chiếm 27.7% Trên địa bàn huyện Mai Châu có cơ sở bảo trợ xã hội Thuận Hòa do chị Vi Thị Thuận sáng lập, là nơi dạy nghề cho người khuyết tật dân tộc thiểu số, giúp họ có nghề, có việc làm và thu nhập ổn định

Tiểu kết chương 1

Như vậy, ở chương 1 đã làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài; các khái niệm về đào tạo; đào tạo nghề; việc làm; tìm kiếm việc làm; thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số; công tác xã hội…đã được thao tác hóa khái niệm cụ thể

và dễ hiểu Ở chương 1 còn đề cập về đặc điểm địa bàn nghiên cứu với những thông tin về đặc điểm địa lý, dân cư, xã hội cũng như số lượng người khuyết tật, thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO VÀ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1 Thông tin chung về khách thể tham gia nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu “Thực trạng hỗ trợ và tìm kiếm việc làm cho thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số tại tỉnh Hòa Bình”, tác giả đã tiến hành khảo sát 76 trường hợp là thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để phục vụ cho nghiên cứu

Trong tổng số 76 trường hợp là người khuyết tật trên địa bàn huyện Mai Châu được khảo sát để phục vụ cho nghiên cứu có độ tuổi cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Độ tuổi của khách thể tham gia nghiên cứu

Nguồn: số liệu từ nghiên cứu

Tỷ lệ thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số nằm trong nhóm tuổi lao động

là rất cao, có đến 77,6% số thanh niên khuyết tật đươc khảo sát đang ở độ tuổi là lao động chính đóng góp chủ yếu trong việc tạo ra của cải cho xã hội

Theo khảo sát giới tính nam chiếm 52,7%, người khuyết tật nữ chiếm 47,3% Dân tộc Mường chiếm 64,5% số lượng người khuyết tật trên địa bàn huyện Mai Châu, các dân tộc khác (bao gồm: Kinh, Dao, Tày, Thái) chiếm 35,5%

Dạng khuyết tật của khách thể tham gia nghiên cứu như sau:

Nguồn: số liệu từ nghiên cứu) Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các dạng khuyết tật của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số

trên địa bàn huyện Mai Châu (Đơn vị: %)

41,7 23,6

9,7

Khuyết tật nghe - nói Khuyết tật nhìn Khuyết tật thần kinh - tâm thần

Trang 40

Khuyết tật vận động chiếm 41,7%; khuyết tật nghe – nói chiếm 23,6%; khuyết tật nhìn chiếm 9,7%; khuyết tật thần kinh – tâm thần và khuyết tật trí tuệ lần lượt chiếm 12,5% trên tổng số người khuyết tật được khảo sát

Nguồn: số liệu từ nghiên cứu Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ mức độ khuyết tật của thanh niên khuyết tật các dân tộc thiểu số

huyện Mai Châu (Đơn vị: %)

Với những dạng khuyết tật đã kể trên, mức độ khuyết tật từ nhẹ đến đặc biệt nặng lần lượt là: khuyết tật nhẹ chiếm 12,3%; khuyết tật nặng chiếm 60,3%; khuyết tật đặc biệt nặng chiếm 11,0%; số lượng chưa xác định được mức độ khuyết tật là 16,4% Trong đó khuyết tật nặng chiếm tỷ lệ cao nhất với 60%, khuyết tật đặc biệt nặng chiếm tỷ lệ 11% và vẫn còn 17% chưa xác định được mức độ khuyết tật của mình Với những đối tượng chưa xác định được mức độ khuyết tật thì số người chưa làm hồ sơ chiếm 83,3%, đã làm hồ sơ nhưng chưa xác định là 8,3% còn lại 8,4% là những người không biết về thông tin Và trong 76 người khuyết tật được khảo sát, có 79,7% người có giấy xác nhận tình trạng khuyết tật còn 20,3% không

Ngày đăng: 24/03/2021, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hòa Bình (2017) Tổng quan tỉnh Hòa Bình http://tinhuyhoabinhvn/chuyenmuc/tabid/235/cMenu1/20/cMenu0/155/TopMenuId/155/cMenu/155/stParentMenuId/20/Defaultaspx truy cập ngày 23/03/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tỉnh Hòa Bình
2. Bảo Bình (2017), Dạy nghề cho người khuyết tật còn nhiều bất cập http://hoanhapvn/bai-viet/day-nghe-cho-nguoi-khuyet-tat-con-nhieu-bat-cap-19623 truy cập ngày 23/03/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề cho người khuyết tật còn nhiều bất cập
Tác giả: Bảo Bình
Năm: 2017
5. Bộ Tư pháp (2018) Quyết định về việc ban hành Quy chế đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức, Thư viện Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành Quy chế đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức
6. Bùi Thị Xuân Mai (2014), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2014
7. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam(2020) Nghị định số 05/2011/NĐ-CP: Nghị định về công tác dân tộc, Thư viện Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP: Nghị định về công tác dân tộc
8. Đại hội đồng Liên hợp quốc (2007), Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật, Thư viện pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật
Tác giả: Đại hội đồng Liên hợp quốc
Năm: 2007
11. Minh Châu (2019) Hơn 7% dân số Việt Nam là người khuyết tật, Báo Dân Sinh (Cơ quan của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã Hội) 03/12/2019 truy cập ngày 20/04/2020 http://baodansinhvn/hon-7-dan-so-viet-nam-la-nguoi-khuyet-tat-20191203083819443htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 7% dân số Việt Nam là người khuyết tật
12. Nguyễn Phùng Quân (2007), Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số, Tạp chí điện tử thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
Tác giả: Nguyễn Phùng Quân
Năm: 2007
13. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), Công tác xã hội đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
14. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), Công tác xã hội với người khuyết tật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
15. Nguyễn Thị Thái Lan (2014), Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2014
16. Nguyễn Thị Thái Lan (2014), Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2014
17. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010) Luật số 51/2012/QH12 của Quốc hội: Luật người khuyết tật, Thư viện Pháp luật 18. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến phápNước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Thư viện Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người khuyết tật", Thư viện Pháp luật 18. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), "Hiến pháp "Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010) Luật số 51/2012/QH12 của Quốc hội: Luật người khuyết tật, Thư viện Pháp luật 18. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
20. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật số 45/2019/QH14 Bộ Luật Lao động, Thư viện Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 45/2019/QH14 Bộ Luật Lao động
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2019
21. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật số 57/2020/QH14 Luật Thanh niên, Thư viện Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 57/2020/QH14 Luật Thanh niên
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2020
24. Tiểu Bảo Linh (2014), Về khái niệm thiểu số và bản sắc của nhóm thiểu số http://tadriorg/vi/news/Tri-thuc/Ve-khai-niem-thieu-so-va-ban-sac-cua-nhom-dan-toc-thieu-so-132/ truy cập ngày 25/04/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thiểu số và bản sắc của nhóm thiểu số
Tác giả: Tiểu Bảo Linh
Năm: 2014
27. Tổng cục thống kê (2018), Điều tra quốc gia người khuyết tật năm 2016, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia người khuyết tật năm 2016
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2018
1. (Wirth Louis 1945 “The Problem of Minority Groups” The Science of Man in the World Crisis ed By Ralph liton p347) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Problem of Minority Groups
3. Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (2018), Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của Bộ thương binh lao động và xã hội Khác
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w