ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN DUY THÁI TRỢ GIÚP CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO DÀNH CHO NGƯỜI CÔNG GIÁO DI CƯ ĐẾN HÀ NỘI NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DUY THÁI
TRỢ GIÚP CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO DÀNH CHO
NGƯỜI CÔNG GIÁO DI CƯ ĐẾN HÀ NỘI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ THÁI HÀ VÀ
GIÁO XỨ CỔ NHUẾ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội-2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DUY THÁI
TRỢ GIÚP CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO DÀNH CHO
NGƯỜI CÔNG GIÁO DI CƯ ĐẾN HÀ NỘI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ THÁI HÀ VÀ
GIÁO XỨ CỔ NHUẾ)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 8310301.01
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Hoàng Thu Hương
2 TS Bùi Phương Thanh
Hà Nội-2020
Trang 3Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học
Sau cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Duy Thái
Là học viên cao học xã hội học khóa QH2018-X của Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là do tôi thực hiện Dựa trên các số liệu được khai thác từ đề tài Nafosted 504.01-2019.01 dưới sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, tôi đã thu thập bổ sung một số dữ liệu định tính để phân tích vấn
đề nghiên cứu Các nội dung trình bày trong luận văn này là do tôi thực hiện một cách trung thực, được trích dẫn nguồn đầy đủ
Học viên
Nguyễn Duy Thái
Trang 5Về việc đồng ý cho học viên sử dụng dữ liệu nghiên cứu
PGS.TS Hoàng Thu Hương – Chủ nhiệm đề tài ―Đặc điểm và sự biến đổi sinh hoạt
tôn giáo của người Công giáo di cư trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện
nay”, mã số 504.01-2019.01 do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia
(Nafosted) tài trợ nghiên cứu từ năm 2019 – 2021 xác nhận:
Học viên Nguyễn Duy Thái là cán bộ tham gia đoàn khảo sát thu thập và xử lý
thông tin của đề tài ―Đặc điểm và sự biến đổi sinh hoạt tôn giáo của người Công
giáo di cư trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay” được sử dụng dữ liệu sơ
cấp của đề tài khảo sát tại thành phố Hà Nội để thực hiện luận văn cao học với đề
tài “Trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư tại Hà Nội
(Nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế)”
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS Hoàng Thu Hương
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan nghiên cứu 6
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
3.1 Ý nghĩa khoa học 10
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4.1 Mục đích nghiên cứu 11
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
5.1 Đối tượng nghiên cứu: 11
5.2 Khách thể nghiên cứu: 11
5.3 Phạm vi nghiên cứu 12
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 12
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 12
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 13
7.1 Phân tích tài liệu 13
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 15
NỘI DUNG CHÍNH 16
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 16
1.1 Các khái niệm công cụ 16
1.1.1 Người di cư 16
1.1.2 Tổ chức tôn giáo 17
1.1.3 Người Công giáo di cư 18
1.1.4 Trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư 19
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 19
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng về tôn giáo 19
1.2.2 Lý thuyết vốn xã hội 21
Trang 71.3 Quan điểm của đạo Công giáo về Mục vụ di dân 23
1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 25
Chương 2: Đặc điểm của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế 28
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội 28
2.2 Nơi xuất cư 32
2.3 Lý do di cư 35
2.4 Sự tham gia của người Công giáo di cư vào các cộng đoàn trong giáo xứ 41
2.5 Sự tham gia vào các hoạt động xã hội trong giáo xứ 48
Chương 3 Các hình thức trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế 51
3.1 Trợ giúp với đời sống đức tin 51
3.2 Trợ giúp với đời sống hôn nhân 58
3.3 Trợ giúp hội nhập với sinh hoạt tôn giáo tại nơi đến 61
3.3.1 Sự trợ giúp tại Giáo xứ Thái Hà 61
3.3.2 Sự trợ giúp tại Giáo xứ Cổ Nhuế 67
3.4 Trợ giúp tạo dựng cuộc sống 71
3.5 Các hình thức trợ giúp khác 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của người di dân tại Giáo xứ Thái Hà và giáo xứ
Cổ Nhuế 28
Bảng 2 Lý do di cư 35
Bảng 3 Tỷ lệ tham gia hội nhóm của người Công giáo di cư 42
Bảng 4 So sánh sự thay đổi về tham gia nghi lễ trước và sau di cư tại hai Giáo xứ 57
Bảng 5.Số lượng bạn bè là người Công giáo và không phải người Công giáo 77
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Nơi sinh sống trước năm 15 tuổi của người di cư tại cả hai Giáo xứ 32
Biểu đồ 2 Lý do lựa chọn nhà thờ sinh hoạt 38
Biểu đồ 3 Những điều nhận được khi tham gia hội nhóm 44
Biểu đồ 4 Sự tương tác với các nhóm của người Công giáo di cư 46
Biểu đồ 5 Sự tham gia vào các hoạt động xã hội trong giáo xứ 48
Biểu đồ 6 Mức độ thường xuyên cầu nguyện của người Công giáo di cư 53
Biểu đồ 7 Mức độ tham gia lễ chủ nhật của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế 54
Biểu đồ 8 Mức độ tham gia lễ trọng của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế 55
Biểu đồ 9 Mức độ lãnh nhận bí tích thánh thể của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế 56
Biểu đồ 10 Đánh giá của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế về các hình thức trợ giúp họ đã nhận được 73
Biểu đồ 11 Ý kiến của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuề về những hoạt động họ tham gia trợ giúp thành viên trong cộng đồng 80
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di dân là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay ở cả trên thế giới và Việt Nam Theo số liệu di cư của Tổ chức di cư quốc tế thì ―năm 1990 cả thế giới có 152.563.212 người di cư quốc tế Con số này tăng lên đến 172.703.309 người vào năm 2000; 221.714.243 người năm 2010; lên đến mức
kỷ lục là 243.700.236 người vào năm 2015‖ [20, tr 16] Và theo số liệu của tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thì số lượng người nhập cư Hà Nội đạt 322.052 người trong vòng 5 năm từ năm 2014 đến năm 2019; tỉ lệ số người nhập cư cao gần gấp 4 lần so với tỉ lệ số người xuất cư [40 , tr 834] Những địa điểm là thành phố lớn vẫn là nhưng nơi thu hút những người di cư đến Đấy là những nơi kinh tế phát triển, tập trung lớn số lượng dân cư và tạo
ra nhiều môi trường làm việc khác nhau
Hoạt động di cư thường được chia làm hai loại hình: di cư ngắn hạn và di
cư dài hạn Những người di cư ngắn hạn thường có thời gian cư trú dưới 5 năm và người di cư dài hạn có thời gian cư trú nhiều hơn 5 năm tại nơi đến [40, tr 19] Có nhiều lý do dẫn tới việc di cư như công việc, gia đình, học tập, nhưng đa số người di cư hướng tới việc tìm kiếm công việc hoặc môi trường sống phù hợp với họ Những người di cư là những người thuộc nhóm yếu thế, rời quê hương đến nơi mới sinh sống và làm việc Tại nơi đến, họ phải tìm cách thích nghi với nơi ở và những người sống lâu năm tại đó Đặc biệt, với những người di cư có theo một tôn giáo nhất định thì họ còn phải tìm cách để giữ vững niềm tin và sự thực hành nghi lễ với tôn giáo đó tại nơi họ đến
Năm 1954, tại Việt Nam đã có một sự kiện di cư lớn của người Công giáo
là sự kiện di cư vào vùng Hố Nai khi hiệp ước Gieneve được kí kết Việc di
Trang 11cư này là kết quả của những cuộc đụng độ giữa nhiều bên tại thời điểm đấy Dân cư Hố Nai từ năm 1955 đến năm 1973 đã tăng lên gần 30 nghìn người [8] Cuộc di cư đã kéo dài trong khoảng thời gian gần 20 năm Trong quá trình đô thị hóa, hòa cùng dòng người di cư trong cả nước, người Công giáo
di cư cũng đã tới các thành phố để học tập, lập nghiệp và sinh sống Liệu những người Công giáo di cư có nhận được sự trợ giúp nào từ cộng đồng của
họ tại nơi đến hay không? Những người cùng tôn giáo liệu có sự chia sẻ, trợ giúp gì cho người di cư hay không là những vấn đề còn bỏ ngỏ
Hà nội là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa lớn của cả nước, cũng là một trong các trung tâm tôn giáo lớn ở Việt Nam Đây cũng là thành phố có tốc độ
đô thị hóa nhanh, thu hút lượng lớn người di cư và tập trung đông cộng đồng người Công giáo Chính vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài ―Trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư tại Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế)‖ để có thể sáng tỏ các hoạt động trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo
di cư tại Hà Nội
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu về di cư nói chung
Nghiên cứu Di cư lao động – Một chiến lược sinh kế của Hộ gia đình nông thôn vùng ven biển hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế (Lê Đăng Bảo
Châu, Lê Duy Mai Phương, Nguyễn Hữu An, 2019) đã chỉ ra những người ở gần hỗ trợ nhiều hơn những người ở xa, những người có quan hệ gần có sự hỗ trợ nhiều hơn so với những người quan hệ xa trong tất cả hoạt động sinh kế Đây là hoạt động thuộc về vốn xã hội nằm trong các loại vốn được tác giả xác định: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội Và nghiên cứu đưa ra được những đóng góp của người di cư về kinh tế địa phương, đời sống hộ gia đình
Trang 12ở nông thôn, tái cấu trúc sinh kế của hộ gia đình Tuy nhiên, bài nghiên cứu chưa đưa ra việc hỗ trợ các hoạt động sinh kế bao gồm những hoạt động như thế nào
Nghiên cứu Ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học đến di cư việc làm tại Việt Nam (Phạm Tấn Nhật và Huỳnh Hiền Hải, 2014) đã đưa ra các yếu tố
nhân khẩu học bao gồm: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn,
số người trong hộ, diện tích nhà ở và thu nhập thuần của họ đến di cư việc làm Nghiên cứu so sánh hai nhóm di cư việc làm và nhóm không di cư việc làm dựa trên bộ số liệu VHLSS 2010 Tỷ trọng người di cư việc làm chưa lập gia đình cao hơn so với những người di cư việc làm đã lập gia đình; những người di cư có việc làm trẻ tuổi là chủ yếu; thu nhập của hộ gia đình di cư việc làm nhỉnh hơn với gia đình không di cư việc làm Nhưng nghiên cứu chưa chỉ ra yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến nhóm di cư việc làm và nhóm không di cư việc làm
Nghiên cứu Lao động di cư nội địa Việt Nam hiện nay (Lê Văn Sơn, 2014)
đã đưa ra một số đặc điểm của người lao động di cư: số lượng người di cư ngày một tăng lên, số lượng người di cư không đồng đều giữa các vùng, người di cư đóng góp vào sự phát triển kinh tế nơi họ đến, người lao động di
cư là người gặp nhiều khó khăn, tổn thương, nhiều lao động nữ di cư ở độ tuổi thấp Đa số người lao động di cư đều ở nhà trọ, nhà tự thuê Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng chung của người lao động cư nội địa nhưng còn một số khía cạnh về sự đóng góp về gia đình, người di cư theo nhóm, gia đình hay cá nhân thì chưa được đề cập
Nghiên cứu Hòa nhập xã hội của người di cư tại các đô thị ở Việt Nam: Hướng đến mô hình trợ giúp xã hội (Phạm Văn Quyết, Trần Văn Kham,
2015) đã chỉ ra việc hòa nhập xã hội của người di cư tại các đô thị bị ảnh
Trang 13hưởng bởi nhiều yếu tố: số lượng bạn bè ở đô thị, mức độ thăm và được thăm của người di cư, các cách giải quyết khó khăn, mức độ tham gia các hoạt động chung và riêng tại địa phương nơi đến, các hoạt động thời gian rảnh rỗi và mức độ trải nghiệm vấn đề xã hội Nghiên cứu đã đưa ra những người di cư chủ yếu tin tưởng vào những người thân, họ hàng
Nghiên cứu Ảnh hưởng của di cư đến những người thân nơi xuất cư
(Nguyễn Đình Tuấn, 2008) đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của người di cư đến người thân nơi xuất cư Ảnh hưởng tích cực bao gồm: lợi ích kinh tế, lợi ích tri thức nhận thức; ảnh hưởng tiêu cực bao gồm: nguy cơ làm suy giảm quan hệ gia đình, nguy cơ sức khỏe bệnh tật, nguy cơ suy giảm chức năng giáo dục, nguy cơ suy giảm chức năng chăm sóc người già và trẻ
em Tuy nhiên nghiên cứu chưa có sự so sánh mức độ ảnh tưởng tích cực và tiêu cực
Nghiên cứu Di cư “tuần hoàn” của phụ nữ ở Việt Nam: Một nghiên cứu về người bán hàng rong tại Hà Nội (Rolf Jensen, Donald M Peppard Jr., Vũ Thị
Minh Thắng, 2009) đã giải thích được việc di cư lao động theo một chu kì nhất định của một số người phụ nữ bán hàng rong Họ di cư để kiếm tiền nhưng không định cư tại địa điểm đến Nghiên cứu đồng thời đã đưa ra việc khác biệt giới trong lao động: đa số người bán hàng rong là phụ nữ ―Bản thân quyết định trở thành người bán hàng rong chịu ảnh hưởng của những chuẩn mực hàng xóm và mạng lưới xã hội – một phần quan trọng của đời sống nông thôn‖ [15, tr 66]
2.2 Các nghiên cứu về di cư Công giáo
Nghiên cứu Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo (Phạm Huy Thông, 2011) đã đề cập đến vấn đề di
dân từ năm 1790 đến năm 2005 ở nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước
Trang 14Tác giả đã giải thích nguyên nhân của việc di dân trong những năm đấy: do nền kinh tế khó khăn, các hoạt động từ thiện, bắc ái của Công giáo diễn ra mạnh mẽ đảm bảo cho đời sống của người dân được tốt hơn – ―theo đạo lấy gạo mà ăn‖ cho đến việc hòa nhập Công giáo vào Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra các hoạt động bắc ái là một trong những yêu cầu của người có đạo ngay
từ thời sơ khai: ―Họ lập ra những nhà thương để săn sóc người bệnh tật, giúp
đỡ kẻ lang thang, mồ côi, chôn xác người chết … hầu hết các trại phong cùi ở Việt Nam đều do Công giáo thành lập và phục vụ‖ [18, tr 49]
Nghiên cứu Cuộc di cư năm 1954 phải chăng là một định mệnh lịch sử của người Công giáo miền Bắc (Nguyễn Đức Lộc, 2014) Nghiên cứu đã chỉ ra
rằng quá trình di cư năm 1954 là cuộc di cư lớn nhất lịch sử Việt Nam đem theo mô hình làng xã Miền Bắc truyền thống Cuộc di cư đã có tác động mạnh đến tình hình dân số, văn hóa, kinh tế miền Nam: trong tổng số 886.881 người dân di cư vào Miền Nam định cư thì có 676.348 người dân định cư theo Công giáo cao gấp 3 lần số người dân định cư theo Phật giáo Số làng của người Công giáo lên đến 265 làng trong tổng số 286 làng định cư Đây là bước ngoặt lịch sử với người Công giáo miền Bắc và đồng thời là bước tiến mạnh
mẽ của Công giáo miền Nam: ―Đối với người ly hương, thần linh là đối tượng
mà họ có thể nương nhờ, cầu mong sự chở che trong lúc gian nan … hầu hết giáo dân rất nhiệt tình tham gia vào việc xây dựng nhà thờ của giáo xứ‖ [7, tr 84]
Qua tổng quan các nghiên cứu cho thấy, chủ đề di cư của người Công giáo cũng đã được quan tâm, nghiên cứu từ sớm tuy nhiên số lượng các nghiên cứu không nhiều Những nghiên cứu này đề cập đến sự biến đổi về đời sống và tôn giáo của người Công giáo di cư mà tiêu biểu là cuộc di cư của cộng đồng Công giáo năm 1954 Đã có một số nghiên cứu đề cập đến sự trợ giúp xã hội
Trang 15dành cho người di cư, song trợ giúp xã hội của tổ chức tôn giáo dành cho người di cư vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Kế thừa các nghiên cứu đi trước về người di cư và người Công giáo di cư, nghiên cứu này
sẽ đề cập tới các hình thức trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư, qua nghiên cứu trường hợp người Công giáo di cư tại thành phố
sự phát triển chung của ngành xã hội học và đặc biệt là chuyên ngành xã hội học tôn giáo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Di dân đang là một vấn đề cần được quan tâm đối với di dân trên thế giới nói chung và đối với người di dân Công giáo nói riêng Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra bức tranh thực trạng trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư Từ đó giúp cho những nhà khoa học, người nghiên cứu tham khảo đưa ra đề xuất, khuyến nghị để có giải pháp khắc phục những hạn chế và tăng cường những ưu điểm mà mô hình đem lại
Trang 164 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hướng tới làm sáng tỏ các hoạt động trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư tại Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất một
số khuyến nghị đối với tổ chức tôn giáo
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ
Cổ Nhuế, thành phố Hà Nội và làm rõ đặc điểm về nơi xuất cư, lý do di cư của họ
- Tìm hiểu sự tham gia của người Công giáo di cư vào các hoạt động tại Giáo
xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế tại thành phố Hà Nội
- Phân tích các hình thức và nội dung trợ giúp cho người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với hoạt động trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư tại hai giáo xứ
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di
cư đang tham gia sinh hoạt tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế, Hà Nội
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Người Công giáo di cư đang tham gia sinh hoạt tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế, thành phố Hà Nội
Trang 17Các cộng đoàn tại giáo xứ Thái Hà và giáo xứ Cổ Nhuế, thành phố Hà Nội
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện ở 2 giáo xứ: Thái Hà
và Cổ Nhuế thuộc địa bàn của 2 quận Đống Đa và quận Bắc Từ Liêm
Phạm vi thời gian: từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2020
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực hiện tập trung vào việc phân tích
sự trợ giúp của tôn giáo chỉ đối với người Công giáo di cư đã và đang tham gia sinh hoạt tôn giáo tại hai giáo xứ Thái Hà và Cổ Nhuế Hoạt động trợ giúp bao gồm: trợ giúp về đời sống đức tin, trợ giúp về đời sống hôn nhân, trợ giúp hội nhập, trợ giúp tạo dựng cuộc sống và trợ giúp khác
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại 4 cộng đoàn chính tại hai giáo xứ là: Cộng đoàn Gioan Bosco và cộng đoàn Giuse Hiền Xuân Dục tại Giáo xứ Thái Hà; cộng đoàn Gốc đa và cộng đoàn An Tôn tại giáo xứ Cổ Nhuế
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Người Công giáo di cư tại hai Giáo xứ Thái Hà và Cổ Nhuế có đặc điểm như thế nào?
- Người Công giáo di cư tham gia những hoạt động như thế nào tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế?
- Người Công giáo di cư đã được nhận những sự trợ giúp như thế nào khi tham gia sinh hoạt tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế?
Trang 186.2 Giả thuyết nghiên cứu
Người Công giáo di cư tại hai giáo xứ Cổ Nhuế và giáo xứ Thái Hà có nhiều đặc điểm về nhân khẩu xã hội giống và khác nhau Đa số những người
di cư là những người ở tỉnh khác chuyển tới Hà Nội vì nhiều lý do khác nhau như: vì công việc, vì học tập và vì gia đình
Người Công giáo di cư tham gia vào các hoạt động chung của giáo xứ và tham gia vào các hoạt động riêng theo từng cộng đoàn nhất định Các hoạt động chủ yếu là các hoạt động liên quan đến nghi lễ
Người Công giáo di cư nhận được sự trợ giúp về mặt đức tin, trợ giúp về đời sống hôn nhân, trợ giúp về hòa nhập xã hội, trợ giúp về tạo dựng cuộc sống
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu thứ cấp như các sách chuyên khảo về xã hội học:
―Phương pháp nghiên cứu xã hội học‖, ―Xã hội học tôn giáo‖, ―Lời mới đến
xã hội học‖, ―Lịch sử và lý thuyết xã hội học‖ … để có thể áp dụng các lý thuyết, phương pháp xã hội học dựa trên tiền đề của những nhà khoa học đi trước Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu học thuật, các bài viết trên tạp chí xã hội học, tạp chí tôn giáo, tạp chí Công giáo, các bài viết học thuật trong nước
… và các tài liệu học thuật ở trên các trang thông tin của các trường đại học trên thế giới, trang về học thuật quốc tế để có thể tìm hiểu, phân tích tổng quan vấn đề nghiên cứu Chúng tôi có tham khảo các báo, trang tin tức trong
và ngoài nước để cập nhật tình hình, các số liệu, thông tin liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
Trang 19Phân tích dữ liệu khảo sát tại Giáo xứ Cổ Nhuế và Giáo xứ Thái Hà của
đề tài ―Đặc điểm và sự biến đổi sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo di cư trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay‖ do Quỹ Phát triển Khoa học
và Công nghệ Quốc gia tài trợ thực hiện, mã số 504.01.2019.01
Bảng 1 Cơ cấu mẫu khảo sát
Trang 20Trên đại học (n=2) 1.3
Nguồn: Trích từ số liệu khảo sát đề tài Nafosted 504.01-2019.01
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng phỏng vấn sâu: là những người Công giáo di cư đến Hà Nội
đã và đang sinh hoạt tôn giáo tại hai giáo xứ Thái Hà và giáo xứ Cổ nhuế có
độ tuổi từ 15 đến 63 tuổi
Số lượng phỏng vấn sâu: 6 phỏng vấn sâu cá nhân, 1 phỏng vấn nhóm với thành viên các cộng đoàn Gioan Bosco, Giuse Hiền Xuân Dục, cộng đoàn Gốc đa và cộng đoàn An Tôn Bên cạnh đó, tôi cũng có khai thác dữ liệu phỏng vấn sâu của đề tài Nafosted 504.01-2019.01
Mục đích phỏng vấn sâu: để thu thập thông tin chi tiết và khách quan
về đặc điểm của những người Công giáo di cư, những hoạt động họ tham gia khi sinh hoạt tại cộng đoàn trong hai giáo xứ Và đặc biệt là những sự trợ giúp
mà họ trực tiếp và gián tiếp nhận được trong suốt quá trình tham gia sinh hoạt tại Giáo xứ Thái Hà và Cổ Nhuế Dữ liệu phỏng vấn sâu cũng góp phần làm
rõ hơn về các yếu tố trong kết quả của điều tra bảng hỏi đã đưa ra
Trang 21NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Các khái niệm công cụ
Về mặt tôn giáo trong hướng dẫn mục vụ di dân còn có quy định thêm
về người di dân với cách hiểu về cư sở và bán cư sở:
- Cư sở: Khi một người đã chuyển cư đến một nơi và ở đó trên 05 năm tròn; hoặc đã có ý định sẽ ở đó vĩnh viễn trong địa giới của một giáo xứ hoặc trong lãnh thổ một giáo phận thì cư sở của người đó thuộc về giáo xứ và giáo phận này (x GL 102 §1)
- Bán cư sở: Khi một người chuyển cư đến địa giới của một giáo xứ hoặc lãnh thổ của một giáo phận với ý định sẽ ở đó ít là 3 tháng hoặc đã ở đó trong 3 tháng (x GL 102 §2)
Trang 22Trong Điều tra Di cư nội địa quốc gia năm 2015 do Tổng cục Thống kê
và Quỹ Dân số Liên hợp quốc thực hiện, khái niệm người di cư được định nghĩa là ―người di chuyển từ huyện/quận này sang huyện/quận khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra và thỏa mãn một trong 3 điều kiện sau: 1) Đã cư trú ở nơi điều tra từ 1 tháng trở lên; 2) Cư trú ở nơi điều tra mới dưới
1 tháng nhưng có ý định ở từ 1 tháng trở lên; 3) Cư trú ở nơi điều tra mới dưới 1 tháng nhưng trong vòng 1 năm qua đã rời khỏi nơi thường trú đến ở một quận/huyện khác với thời gian tích lũy từ 1 tháng trở lên để lao động kiếm tiền‖ [22]
Nhóm thực hiện đề tài Đặc điểm và sự biến đổi sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo di cư trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay‘
(Nafosted 504.01-2019.01) xác định đối tượng khảo sát là những người Công giáo từ đủ 15 tuổi trở lên, có sự thay đổi từ một nơi cư trú tới nơi điều tra từ 1 tháng trở lên, để khảo sát cả nhóm di cư dài hạn và nhóm di cư ngắn hạn Do
sử dụng bộ dữ liệu khảo sát của đề tài này, nên trong nghiên cứu này, người di
cư được hiểu là những người đã có sự thay đổi nơi cư trú tới nơi điều tra từ một tháng trở lên
1.1.2 Tổ chức tôn giáo
Theo luật Tín ngưỡng, Tôn giáo số 02/2016/QH14 được ban hành năm
2016 thì tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo
Tổ chức Công giáo là tập hợp các tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo đạo Công giáo và được tổ chức theo một cơ cấu nhất định
Trang 23Theo Bộ Giáo luật hiện hành của Giáo hội Công giáo (ban hành năm 1983), giáo xứ (tiếng Latinh: paroecia) là một cộng đoàn tín hữu giáo dân, mà việc chăm sóc mục vụ được giao phó cho một linh mục, trực thuộc thẩm quyền của Giám mục của một giáo phận Chỉ có Giám mục giáo phận có quyền thành lập, phân chia, giải tán, hoặc thay đổi địa giới các giáo xứ Một khi đã được thành lập hợp lệ, giáo xứ đương nhiên được hưởng tính cách pháp nhân theo luật (x GL đ.515) [39]
Trong nghiên cứu này, khái niệm tổ chức tôn giáo được hiểu theo định nghĩa của Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Công giáo là một trong các tổ chức tôn giáo được Nhà nước chính thức công nhận Giáo xứ Thái Hà và Giáo
xứ Cổ Nhuế được xác định là hai tổ chức tôn giáo theo quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và được Nhà nước công nhận
1.1.3 Người Công giáo di cư
Do sử dụng bộ dữ liệu của đề tài Đặc điểm và sự biến đổi sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo di cư trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, mã số
Nafosted 504.01-2019.01, nên người Công giáo di cư trong nghiên cứu này được xác định theo định nghĩa về người Công giáo di cư của đề tài, đó là
‗những người đã chịu phép rửa tội theo nghi thức của Giáo hội Công giáo và
là thành viên của một cộng đồng giáo hội, có sự di chuyển nơi cư trú từ địa điểm này tới địa điểm khác với thời gian cư trú tại nơi điều tra từ 1 tháng trở lên
Định nghĩa này bao quát cả những người di cư ngắn và di cư dài hạn, phù hợp với quan điểm của Công giáo về người di dân và các hoạt động mục
vụ của Công giáo dành cho người di dân
Trang 241.1.4 Trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư
Sự trợ giúp có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là sự giúp đỡ của một người/ nhóm/ cộng đồng/ tổ chức đối với một người/ nhóm/ cộng đồng/ tổ chức để có thể giải quyết một vấn đề nào đó mà người/ nhóm/ cộng đồng/ tổ chức đang gặp khó khăn
Dựa trên các khía cạnh trong đời sống của người Công giáo, sự trợ giúp của tổ chức tôn giáo dành cho người Công giáo di cư trong nghiên cứu này được hiểu là sự hỗ trợ đời sống đức tin, trợ giúp về đời sống hôn nhân, trợ giúp hội nhập với sinh hoạt tôn giáo tại nơi đến, trợ giúp tạo dựng cuộc sống
và trợ giúp khác Các hình thức trợ giúp sẽ bao gồm trực tiếp và gián tiếp đối với người Công giáo di cư
Trợ giúp tạo dựng cuộc sống được xác định là sự trợ giúp về mặt đời sống bao gồm: vật chất, công việc, tư vấn các lĩnh vực ngoài xã hội của những người thuộc Giáo xứ dành cho những người di cư Công giáo có tham gia sinh hoạt cùng nhau tại Giáo xứ
Trợ giúp về mặt đức tin là trợ giúp của Giáo xứ để người Công giáo di cư
có thể tiếp tục thực hành các nghi lễ tôn giáo của họ tại địa phương họ tới, tại Giáo xứ họ tham gia sinh hoạt
Trợ giúp về đời sống hôn nhân là sự hỗ trợ của Giáo xứ dành cho người Công giáo di cư để họ có thể lãnh nhận bí kíp hôn phối tại nơi họ di cư đến
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng về tôn giáo
Lý thuyết cấu trúc - chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như A.Comte (1798 - 1857), H.Spencer (1820-1903), E.Durkheim (1858 - 1917), T.Parsons (1902 - 1979), R.Merton (1910 - 2003),
Trang 25P.Blau (1918 - 2002) Lý thuyết cấu trúc - chức năng cho rằng: mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và mạng lưới các mối quan hệ đó tạo thành cấu trúc của hệ thống; mỗi yếu tố của hệ thống, đến lượt
nó, đều có thể là một hệ thống con (tiểu hệ thống) và dưới tiểu hệ thống lại có thể có những hệ thống nhỏ hơn nữa và mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với môi trường cảnh quan xung quanh chúng
Nhà xã hội học người Mỹ Robert K Merton đã đưa ra khái niệm ―hệ vai trò‖ để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế xã hội nhất định Ông đặc biệt quan tâm đến hệ vai trò bởi vì khái niệm này liên quan trực tiếp tới chức năng Vai trò chính là chức năng mà hành vi cá nhân hay thiết chế xã hội đảm nhận thực hiện Hệ vai trò thực chất là hệ thống các chức năng và phản chức năng, chức năng trội và chức năng lặn có liên quan chặt chẽ với nhau.[5, tr 248]
Từ nghiên cứu của các nhà xã hội học đi trước, chúng tôi xác định rằng tôn giáo là một xã hội thu nhỏ gồm các tiểu thành tố khác nhau gắn liền với các chức năng riêng biệt mà có quan hệ mật thiết Chức năng đích thực của tôn giáo là gắn kết cá nhân và nhóm xã hội - đoàn kết cộng đồng dựa trên nền tảng niềm tin tôn giáo, làm cho họ hoạt động một cách tự tin và giúp cho họ sống theo quan niệm của họ.Nhờ có tôn giáo với tư cách là một thể thống nhất bao gồm các niềm tin và các thực hành nghi lễ tạo thành một cộng đồng đạo đức riêng gọi là ―giáo hội‖ Trong mỗi giáo xứ thuộc Tổng giáo phận thì có chia thành các cộng đoàn với chức năng, mục đích khác nhau Tất cả các nhóm nhỏ đã tạo nên một thể thống nhất và giúp duy trì các hoạt động của tổ chức tôn giáo được diễn ra.Từ đó, các cá nhân theo tôn giáo đó cảm thấy có sức mạnh và tìm cách vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho dù nhiều khi cách thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần, ý thức
Trang 26Nhờ tôn giáo mà họ có đức tin, có niềm tin vào một sức mạnh vô hình, siêu tự nhiên
Lý thuyết được áp dụng vào nghiên cứu để giải thích cho cấu trúc - chức năng của giáo xứ, của các cộng đoàn được thành lập trong giáo xứ Bằng cấu trúc các tiểu hệ thống bên trong nhà thờ đã tạo nên một không gian riêng hướng đến những người di cư Công giáo Các thành phần bên trong giáo xứ
có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng luôn có sự tương tác tác lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất Trong đó, các chức năng trội và chức năng lặn luôn
có sự kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên hệ thống hoạt động chơn tru, giúp cân bằng các yếu tố bên trong Điều này đã thể hiện rõ thông qua mô hình hoạt động của nhà thờ từ trước đến nay qua từng giai đoạn nhất định
1.2.2 Lý thuyết vốn xã hội
Bourdieu (1986) định nghĩa vốn xã hội là một ―Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm năng được liên kết với việc sở hữu một mạng lưới lâu dài gồm các mối quan hệ ít nhiều được thể chế hóa về sự quen biết và công nhận lẫn nhau — hay nói cách khác, trở thành thành viên trong một nhóm‖ Ông cho rằng ―khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mứcđộ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, và vào khối lượng vốn của từng người mà anh ta có liên hệ Những mối quan hệ này có thể chỉ tồn tại trong trạng thái thực tế, trong các trao đổi mang tính vật chất và/ hoặc mang tính biểu tượng để giúp duy trì chúng Những mối quan hệ này cũng có thể được thiết chế hóa và đảm bảo bởi việc áp dụng dưới một tên gọi chung như tên của một gia đình, một giai cấp, hoặc một bộ tộc hoặc của một trường học, một đảng phái [28]
Theo ông, vốn xã hội là tổng hợp các nguồn tài nguyên thực tế hoặc tiềm năng có liên quan đến việc sở hữu một mạng lưới bền vững của mối
Trang 27quan hệ, ít nhiều được thể chế hóa thông qua sự quen biết và công nhận lẫn nhau Nói cách khác, thành viên trong một nhóm cung cấp cho mỗi thành viên của mình một sự ủng hộ của yếu tố vốn thuộc sở hữu tập thể, một ―ủy nhiệm‖ tín dụng Tôn giáo là một nền tảng giúp gắn kết các cá nhân với cá nhân, các
cá nhân với các tổ chức và các nhóm với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất Đây là một mô hình tạo nên sự gắn kết bền chặt do được cấu thành bởi cấu trúc chặt chẽ từ những người đứng đầu đến các quy định, thể chế bên trong Bên cạnh đó, trong tôn giáo thường xuyên có các hoạt động tăng cường
sự tương tác, quan tâm giữa các cá nhân với nhau Đặc biệt là tôn giáo tạo nên
sự gắn kết mà ít mạng lưới xã hội nào có thể làm được là sự gắn kết liên thế
hệ và không kể địa lý, không gian: với mỗi khoảng tuổi, mỗi đặc điểm sẽ có các nhóm nhỏ trong tôn giáo Ở trong Công giáo, theo mỗi vị Thánh là một hội nhóm khác nhau lấy tôn chỉ mục đích của vị Thánh đấy làm tấm gương và kim chỉ nam cho hành động chung của hội nhóm Một nhà thờ có thể có ít nhất một hội nhóm và không giới hạn số lượng hội nhóm hay số người tham gia các hội nhóm khác nhau Chính điều này đã tạo nên nguồn vốn xã hội mạnh mẽ dành cho những người theo Công giáo Đối với người Công giáo di
cư thì đây không chỉ là điểm tựa về tinh thần mà còn là nơi họ có thể mở rộng các mạng lưới xã hội, tìm kiếm các cơ hội việc làm, nhận được các sự giúp đỡ lân nhau đến mọi người xung quanh có cùng tôn giáo với họ
Áp dụng lý thuyết vốn xã hội vào nghiên cứu thì có thể phân tích và giải thích cho việc tham gia, nhận được sự trợ giúp từ các mạng lưới xã hội:
sự trợ giúp đến từ giáo xứ, đến từ các cộng đoàn, đến từ những người xung quanh Các cộng đoàn của giáo xứ đã tạo nên môi trường thúc đẩy việc hình thành các mạng lưới xã hội Từ đó những người di cư có không gian, môi trường để sinh hoạt Việc hình thành mạng lưới xã hội, vốn xã hội được thúc đẩy
Trang 281.3 Quan điểm của đạo Công giáo về Mục vụ di dân
Trong Mục vụ di dân đã quy định rõ về trách nhiệm của người di cư và trách nhiệm của các giáo xứ nơi mà người di cư đến
Đối với người di cư thì phải tham gia vào một giáo xứ tại nơi đến; họ
có trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn toàn giống như khi tham gia ở giáo xứ cũ:
―Các tín hữu có nghĩa vụ luôn luôn duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội trong cách sống và suy nghĩ; ân cần chu toàn các bổn phận với Giáo Hội toàn cầu cũng như đối với Giáo Hội địa phương mà họ trực thuộc chiếu theo những quy định của luật; đóng góp cho những nhu cầu của Giáo Hội trong việc thờ phượng, trong các hoạt động bác ái, và cộng tác vào việc chăm sóc đời sống các thừa tác viên xứng đáng‖ [21] Người di cư trong Công giáo phải có giấy giới thiệu của linh mục tại giáo xử nơi họ tham gia trước khi họ di cư để họ có thể tham gia vào giáo xứ tại nơi đến với vai trò là định cự hoặc tạm cư mới Đối với giáo xứ nơi người di cư đến thì luôn phải quan tâm đến và giúp đỡ: ―Linh mục chính xứ cần lưu tâm đến những người nhập cư trong địa sở của mình và kêu gọi các tín hữu trong giáo xứ cộng tác vào việc chăm sóc các tín hữu nhập cư để không một tín hữu nào bị bỏ rơi vì lý do không thuộc cư sở; hơn nữa cần tận tâm giúp đỡ anh chị em di dân trong đời sống đức tin và con cái của họ được theo học các lớp giáo lý như lớp Xưng tội rước lễ lần đầu, lớp Thêm sức hay các lớp Dự tòng và lớp giáo lý Hôn nhân tại giáo xứ‖ [21] Và chính Chúa Giêsu cũng đã từng nói ―Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước‖ (MT 25, 35)
Hướng dẫn mục vụ di dân cũng bao gồm cả lời kêu gọi đến những người di cư: ―Nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là tư tế, ngôn sứ
và vương đế, các tín hữu có bổn phận góp phần tích cực vào đời sống và hoạt động của Giáo Hội và cộng tác với các chủ chăn; cần nuôi dưỡng ý thức về
Trang 29giáo phận và tham gia các hoạt động ở giáo xứ vì giáo xứ là một tế bào của giáo phận.‖ [21]
Bên cạnh đó, có những điều hướng dẫn về sự tham gia của các dòng tu vào việc giúp đỡ sứ vụ di dân để tạo nên sự hiệp nhất nơi Giáo hội địa phương ―Huấn thị Tình yêu Đức Kitô dành cho di dân cũng khích lệ sự cộng tác của các dòng tu trong mục vụ di dân Trước tiên, linh mục triều và linh mục dòng đều có thể cộng tác cùng với Giáo Hội địa phương để thi hành mục
vụ cho anh chị em di dân trong nước cũng như ngoài nước Giáo Hội đã và đang tiếp tục bày tỏ lòng tin tưởng vào những gì họ đang thực hiện, đặc biệt đối với những dòng tu có linh đạo và nhân lực dành cho mục vụ di dân Ngoài những dòng tu có linh đạo mục vụ di dân, các tu hội dòng, các tu hội đời, các
tu đoàn tông đồ khác đều được trân trọng mời gọi tham gia vào sứ vụ này vì
―việc họ dấn thân chăm sóc thiêng liêng cho anh chị em di dân, đặc biệt chọn các hoạt động thích hợp với bản chất và mục đích của dòng mình, là điều đáng ca ngợi‖ Vì thế, các dòng tu được mời gọi quảng đại gửi các tu sĩ tham gia trực tiếp vào sứ vụ mục vụ di dân như giúp các chương trình giáo lý căn bản, giáo lý dự tòng, giáo lý hôn nhân Tuy nhiên, để tạo sự hiệp nhất nơi Giáo hội địa phương và tăng cường hiệu quả mục vụ, Bản Quyền địa phương cần chuẩn y một chương trình giảng dạy cụ thể, đồng bộ và hợp lý để các dòng tu có thể sử dụng trong việc giảng dạy‖ [21]
Hướng dẫn mục vụ di dân là tập hợp những hướng dẫn, lời kêu gọi linh mục, các dòng tu, giáo xứ tổ chức các hoạt động về tôn giáo bao gồm giáo lý, lãnh nhận các bí tích cho những người di cư; thứ hai là về bổn phận, quyền lợi của người di cư khi đến tham gia sinh hoạt tại giáo xứ nơi nhập cư; thứ ba là một số hướng dẫn và khẳng định lại các bước về lãnh nhận các bí tích ở nơi mới đến Quy trình lãnh nhận các bí tích là sự thống nhất giữa tất cả Giáo xứ
Trang 301.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế là hai Giáo xứ nổi bật trong số các
giáo xứ trên địa bàn thành phố Hà Nội về số lượng người di cư và các cộng đoàn hướng đến người di cư Công giáo Giáo xứ Thái Hà có vị trí nằm ở một trong những quận nội thành đông đúc nhất thành phố Hà Nội Với phương châm và có nhiều cộng đoàn hướng đến người Công giáo di cư nên ngay từ những năm 2008 thì Giáo xứ đã quy tụ rất nhiều người di cư Công giáo đến đây tham gia sinh hoạt nghi lễ và các hoạt động chung Giáo xứ Thái Hà còn
có đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp là một trong những đặc trưng nổi bật mà nhiều người biết đến Còn Giáo xứ Cổ Nhuế có vị trí nằm ở quận sát ngoại ô thành phố Hà Nội Nơi đây tập trung nhiều trường học, khu dân cư Giáo xứ Cổ Nhuế cũng tổ chức các cộng đoàn, nhiều hoạt động hướng về người Công giáo di cư Hai giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế đều có số lượng giáo dân tương đối đông và đa số là những người di cư Công giáo
Đôi nét về Giáo xứ Cổ Nhuế
Nhà thờ Cổ Nhuế nằm ở thôn Hoàng, được xây dựng từ năm 1884 Có thể tóm tắt lược sử như sau:
Tin Mừng đến với Giáo xứ Cổ Nhuế từ năm 1883, thời cha cố Mỹ, và cũng là năm giáo xứ chính thức được thành lập Sau một năm thành lập giáo
xứ, một số gia đình đã dâng hơn 15.000 m2 ruộng đất để cày cấy và làm nhà thờ, trong đó có Bà Tổng Chiêu thôn Hoàng dâng 3600m2
Nhà thờ đầu tiên được xây dựng năm 1884 bằng tường gạch, cột gỗ, mái ngói Song, vào tháng 12 năm 1947, một số kẻ xấu mang rơm rạ chất lên ghế bên trong nhà thờ phóng hỏa Nhà thờ này bị cháy chỉ còn bốn bức tường
Trang 31Năm 1953, cha cố Giuse Trần Ngọc Liễn cho tu sửa lại ngôi nhà thờ bị đốt cháy và đến năm 1954, Đức Tổng Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê về dâng lễ tạ ơn khánh thành Mặc dù đã được tu sửa lại, nhưng vì nhà thờ cũ đã phải chịu sự tác động tiêu cực do con người và thiên nhiên, nên không thể tiếp tục sử dụng được nữa
Xét thấy cần phải xây dựng lại ngôi thánh đường mới vừa bảo đảm an toàn, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, ngày 5 tháng 3 năm 2014, Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã ký văn bản chấp thuận cho giáo xứ Cổ Nhuế được giải hạ nhà thờ cũ để xây dựng ngôi nhà thờ mới này; ngày 28 tháng 11 năm 2014 thành phố Hà Nội đã cấp phép xây dựng cho giáo xứ và đến ngày 6 tháng 10 năm 2018 thì nhà thờ mới được cung hiến
và khánh thành [36] Giáo xứ Cổ Nhuế nhận thánh cả Giuse là Thánh bổn mạng
Đôi nét về Giáo xứ Thái Hà
DCCT được Thánh Anphongsô thành lập năm 1732 tại Napoli.Năm
1925 Dòng đến Việt Nam Năm 1926, các tu sĩ DCCT đến Miền Bắc Nhờ sự giúp đỡ của Toà Giám Mục Hà Nội, các vị đã mua được khu đất 6 ha ở ấp Thái Hà lập nên tu viện DCCT Hà Nội vào năm 1929 Năm 1933 Nhà Dòng
đã xây dựng toà tu viện mà hiện nay một phần diện tích được làm thành bệnh viện Đống Đa Năm 1939, Tu Viện DCCT Hà Nội đứng ra thành lập và phụ trách Giáo xứ Thái Hà theo đề nghị của Toà Thánh và Toà Giám Mục Hà Nội, trên cơ sở là họ đạo Nam Đồng, thuộc xứ Nhà Thờ Chính Toà DCCT
Hà Nội còn là một trung tâm đào tạo quan trọng của DCCT Việt Nam Tập viện Hà Nội, nơi đào tạo các tu sĩ, được lập năm 1933 Học viện, nơi đào tạo các linh mục, được lập năm 1935 Đệ Tử viện, nơi tuyển sinh và đào tạo ơn gọi tu trì, được lập năm 1940 Nhiều thế hệ các tu sĩ linh mục DCCT Việt
Trang 32Nam, trong đó có cha Phó Giám Tỉnh Giuse Cao Đình Trị, Bề trên-Chính xứ Mátthêu Vũ Khởi Phụng hiện nay, đã được đào tạo ít nhiều tại DCCT Hà Nội DCCT Hà Nội có thể hiện diện và phục vụ được trong 80 năm qua giữa những khó khăn thử thách, là nhờ tình thương và quyền năng của Chúa, nhờ
sự giúp đỡ của các đức giám mục các linh mục và giáo dân Miền Bắc, đặc biệt là các đức giám mục, các linh mục, các tu sĩ và giáo dân TGP Hà Nội, nhờ nỗ lực dấn thân phục vụ của nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ và giáo dân trong
tu viện và giáo xứ Thái Hà, trong đó có những con người đã chịu nhiều hy sinh như cha Giuse Vũ Ngọc Bích, Giuse Trần Hư Thanh, thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, thầy Clément Phạm Văn Đạt, cha Augustino Nguyễn Hoà Hiệp, cha Gioan Nguyễn Kim Dong [37]
Giáo xứ Thái Hà nhận thánh AnPhongSo làm quan Thầy – đây là vị Thánh chuyên giúp những người khó khăn Ngày 9-11-1732, tại Scala, Thánh Alphonso Maria Ligori đã cùng với các bạn thành lập Dòng Chúa Cứu Thế, chuyên lo rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó Giáo xứ Thái Hà được quản lý bởi Dòng Chúa Cứu thế Mục đích tôn chỉ của Dòng Chúa cứu thế:
Tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế noi gương Chúa Giê-su Cứu Thế, rao giảng Lời Chúa cho người nghèo khó như chính Lời Ngài đã tuyên bố: ―Người đã sai tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó‖ (Lc 4,8) Các hoạt động chính của Dòng Chúa cứu thế là truyền giáo, giảng tĩnh tâm cho các giáo xứ và dòng tu, giải tội theo tinh thần và đặc sủng của thánh AnPhongSo, mục vụ giáo xứ, truyền thông lòng sủng kính Đức Mẹ Hằng cứu giúp, truyền thông xã hội, các lớp cầu nguyện, mục vụ dành cho những người bị bỏ rơi: bệnh nhân phong, AIDS Bổn mạng của Dòng Chúa cứu thế là lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm [37]
Trang 33Chương 2: Đặc điểm của người Công giáo di cư tại Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế
Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Cổ Nhuế là hai Giáo xứ có số lượng Giáo dân di cư đông nhất hiện nay và có các cộng đoàn đặc trưng hướng về người
di dân Giáo xứ Thái Hà có gia đình Công giáo xa quê với 14 ban ngành và 28 cộng đoàn riêng biệt Giáo xứ Cổ Nhuế có cộng đoàn An Tôn và cộng đoàn Gốc đa nổi bật cho các hoạt động hướng về người di cư
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội
Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của người di dân tại Giáo xứ Thái Hà và
Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
Thanh niên (Từ 15 đến 35 tuổi)
Trang 34lên Chuyên
môn
Nghề
nghiệp
Lao động trí óc, những nơi không nguy hiểm
Công việc thủ công nặng nhọc, sử dụng công cụ, thiết bị nặng
Trang 35- Số lượng người Công giáo di cư là nữ giới đông hơn gấp đôi số lượng người Công giáo di cư là nam giới ở Giáo xứ Thái Hà tại thời điểm khảo sát (nữ giới
có 41 người chiếm 66.1% trong khi nam giới chỉ có 21 người chiếm 33.9%)
- Sự chênh lệch giới tính giữa nam và nữ tại giáo xứ Cổ Nhuế thấp hơn: có 40 nam chiếm khoảng 42.6 % và 54 nữ chiếm khoảng 57.4 % Việc tham gia vào các hoạt động tại giáo xứ của nam và nữ giới tại đây khá đồng đều
Về nhóm tuổi:
- Tại Giáo xứ Thái Hà đa số Giáo dân là những người trong độ tuổi thanh niên: có 55 người chiếm khoảng 88.7% trong tổng số người được khảo sát tại Giáo xứ Thái Hà
- Số lượng thanh niên di cư tại giáo xứ Cổ Nhuế đông gấp hơn 2 lần so với số lượng người không phải thanh niên: lần lượt là 69.1 % với 30.9 %
Về trình độ học vấn:
- Những người Công giáo di cư tại giáo xứ Thái Hà có trình độ học vấn tương đối cao (Có đến 51.6% người trả lời đạt trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên); chỉ có 9 người chiếm khoảng 14.5 % đạt trình độ từ trung học cơ sở trở xuống Số lượng Giáo dân đạt trình độ trung học phổ thông nhiều thứ hai sau số lượng người đạt từ cao đẳng, đại học trở lên
- Tương tự, tại giáo xứ Cổ Nhuế người di dân có trình độ học vấn tương đối cao, số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm đến 2/3 số người người được hỏi trong mẫu khảo sát
Về trình độ chuyên môn:
- Với số lượng trình độ học vấn cao nên đa số người di cư tại hai giáo xứ đều
đã được đào tạo trình độ chuyên môn: số lượng người được đào tạo là 47
Trang 36người nhiều gấp khoảng 3 lần số người chưa được đào tạo là 15 người (giáo
xứ Thái Hà) và chỉ có khoảng 25.5 % người chưa qua đào tạo tại giáo xứ Cổ Nhuế
Về nghề nghiệp:
Trình độ học vấn cao và được đào tạo chuyên môn tương đối đầy đủ thì người lao động di cư hướng đến những công việc lao động trí óc, nơi không nguy hiểm chiếm tỉ lệ cao hơn
- Tại giáo xứ Thái Hà: có 26 người chiếm 41.9 %; số lượng người lựa chọn công việc lao động nhẹ không máy móc là 10 người chiếm 16.1 %; số người thực hiện công việc nặng là ít nhất chỉ có 2 người chiếm 3.2 % Vì giáo dân tại đây có độ tuổi tương đối trẻ nên có 15 người trả lời là chưa có việc làm tại thời điểm khảo sát chiếm 24.2 % Vì vậy, số lượng người đã kết hôn tại giáo
xứ là rất thấp chỉ có 12 người chiếm 19.4 % trong khi số lượng người độc thân là 50 người chiếm 80.6 %
- Tại giáo xứ Cổ Nhuế: có 45 người làm các công việc trí óc chiếm khoảng 47.9 %; hai công việc có số lượng người lựa chọn nhiều tiếp theo là các công việc lao động chân tay nhẹ không máy móc (20.2 %) và các công việc lao động chân tay có sử dụng máy móc nhẹ (26.6 %); không có ai làm công việc nặng và số người chưa có nghề nghiệp là rất ít chỉ có 5 người chiếm 5.3 %
Về hôn nhân:
- Đa số những người di cư tại giáo xứ Thái Hà chưa kết hôn trong khi đó tỉ lệ cao nhất ở giáo xứ Cổ Nhuế lại rơi vào nhóm đã kết hôn
Về thời gian theo đạo Công giáo: Tất cả người Công giáo di cư được khảo
sát tại hai Giáo xứ là những người đạo gốc – theo Công giáo từ nhỏ; được tiếp nối truyền thống của gia đình
Trang 37Từ đặc điểm nhân khẩu trên mẫu khảo sát người Công giáo di cư tại hai Giáo xứ Thái Hà và Cổ Nhuế có thể thấy rằng đặc điểm về nhóm tuổi, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn và các nhóm công việc mà người Công giáo
di cư đến thực hiện không có sự quá khác biệt về tỷ lệ Những người Công giáo di cư tại hai giáo xứ là những người có độ tuổi thanh niên đều có trình độ học vấn tương đối cao trên THPT; trình độ chuyên môn được đào tạo; và thường làm những công việc: lao động trí óc, ở nơi không nguy hiểm như văn phòng; lao động chân tay nhẹ không dùng máy móc; lao động chân tay có dùng dụng cụ, máy móc nhẹ Xét trên mặt bằng chung thì những người di cư đều đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ về kiến thức chuyên môn trước khi di
cư đến nơi khác Điều khác biệt lớn nhất giữa những người di dân tại hai giáo
xứ là tình trạng hôn nhân của những người Công giáo di cư
2.2 Nơi xuất cư
Biểu đồ 1 Nơi sinh sống trước năm 15 tuổi của người di cư tại cả hai Giáo xứ
Nguồn: Trích từ số liệu khảo sát đề tài Nafosted 504.01-2019.01
Trang 38Mẫu khảo sát cho thấy những người Công giáo di cư tại hai Giáo xứ chủ yếu là những người di cư từ tỉnh khác đến làm ăn, học tập Số lượng người Công giáo di cư từ tỉnh khác có 110 người chiếm 70% trong tổng số người được khảo sát Số người di cư trong cùng một xã/ phường hoặc quận là rất thấp chỉ có 5 người chiếm 3.2 % trong tổng số người Công giáo di cư Không
có người Công giáo di cư nào có sự chuyển dịch từ nước ngoài Từ đó có thể thấy sự di cư của người Công giáo là sự di cư ngoại đô là chủ yếu Những người di cư Công giáo cũng giống như những người di cư bình thường không tôn giáo Họ di cư đến để làm ăn, để học tập và nhiều mục đích khác nhau Họ lựa chọn những địa điểm chủ yếu có cơ hội về việc làm, học tập giúp họ đạt được mục đích mà bản thân mong muốn
“Đầu tiên lên Hà Nội là đi học nghề Chú trước học hết cấp 3; nếu ở nhà thì việc ít nên đã lên Hà Nội đi học nghề kinh tế, nghề điện lạnh.” (PVS
03, Nam, 26 tuổi, Cộng đoàn Giuse Hiền Xuân Dục, Giáo xứ Thái Hà)
Cơ hội việc làm tại những thành phố lớn luôn là điểm thu hút đối với những người lao động ở các tỉnh khác Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế đầu tàu của cả nước Đa số các văn phòng, trụ sở của các tập đoàn, công ty được đặt tại đây Các khu công nghiệp lớn cũng được xây dựng xung quanh các khu đô thị chính tạo nên các khu tiểu vệ tinh cho thành phố Đặc điểm nổi bật nhất của các khu thành phố lớn về giao thông thuận tiện, các con đường thông thương rộng rãi Cũng giống như những người di
cư bình thường, người Công giáo di cư thường mất thời gian đầu làm quen với môi trường xung quanh đặc biệt là những người di cư để đi làm việc “Nhưng năm đầu chỉ chủ nhật đi lễ ở nhà thờ gần nhà chẳng hạn Hoặc là thỉnh thoảng lễ cộng đoàn một năm một lần gọi là quan thầy thì mình
Trang 39đi Còn bình thường mình không tham gia.” (PVS 03, Nam, 26 tuổi, Cộng đoàn Giuse Hiền Xuân Dục, Giáo xứ Thái Hà)
Người Công giáo di cư vẫn giữ vững đức tin của mình vào Đấng Kitô bằng việc tham gia các ngày lễ chủ nhật Nhưng do áp lực của công việc, môi trường sống mới nên các hoạt động của nhà thờ họ thường không tham gia
Họ chỉ đi vào những dịp lễ quan trọng, thời gian chủ yếu dành cho công việc
và các hoạt động khác
Trong mẫu khảo sát tại giáo xứ Thái Hà, đa số là người Công giáo sinh sống tại tỉnh khác trước năm 15 tuổi (Có 38 người chiếm 61% trên tổng số người được khảo sát tại Giáo xứ Thái Hà) Số lượng người Công giáo sống tại các quận, xã phường khác chiếm 19% trên tổng số người được khảo sát tại giáo xứ Thái Hà Không có ai sống tại nước ngoài trước năm 15 tuổi
định của người tham gia tại đây thì có từ 4000 đến 5000 người Công giáo đang tham gia hoạt động tại đây (do nhà thờ không quản lý số lượng người Công giáo đến tham gia hoạt động) Số lượng người Công giáo nhập cư ở đây
là rất lớn – có đến 73% người trả lời sống tại tỉnh khác trước năm 15 tuổi Trong khi đó, những người di cư nội đô có số lượng đông thứ hai: có 21 % số người di cư nội đô Mức độ chênh lệch giữa di cư ngoại đô và nội đô là rất lớn (77% di cư ngoại đô so với 21% di cư nội đô) Từ đó có thể thấy rằng đa số người Công giáo tại giáo là những người từ những tỉnh thành khác đến sinh sống, làm ăn, học tập Không có một ai sống tại nước ngoài trước năm 15 tuổi
Nhìn chung, Cả hai Giáo xứ có số lượng người Công giáo di cư ngoại đô là chủ yếu Tuy nhiên, số lượng người Công giáo di cư từ các tỉnh thành khác của giáo xứ Cổ Nhuế đông hơn của giáo xứ Thái Hà (giáo xứ Cổ Nhuế là
Trang 4077% và giáo xứ Thái Hà là 61%) Tỷ lệ di cư nội đô ở giáo xứ Thái Hà cao hơn so với giáo xứ Cổ Nhuế (32 % tại giáo xứ Thái Hà so với 21 % tại giáo
xứ Cổ Nhuế) Mức độ chênh lệch người di cư ngoại thành giữa hai giáo xứ là
do nhiều yếu tố tác động Thứ nhất là do lịch sử hình thành và số lượng cộng đoàn tại hai giáo xứ có sự khác biệt; thứ hai khu vực Cổ Nhuế là khu vực đang phát triển, mức chi tiêu bình quân cho nhà ở, ăn uống và các dịch vụ sẽ thấp hơn so với các quận trung tâm Điều này tạo nên sức hút đặc biệt dành cho những người di cư từ tỉnh khác đến Hà Nội Tại cả hai giáo xứ thì việc di
cư ngoại đô chiếm chủ yếu đều khoảng 60 – 70 % những người di cư sống tại tỉnh khác trước năm 15 tuổi
2.3 Lý do di cư
Đa số các thành phố lớn tại Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố
Hồ Chí Minh … là các nơi thu hút số lượng dân nhập cư nhiều nhất cả nước
Từ việc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương đến mật độ dân cư cao, tập trung nhiều công ty, tập đoàn trong và ngoài nước đã tạo nên điểm nhấn quan trọng thu hút những người di cư Những thành phố lớn sẽ được cung cấp đầy đủ hầu hết mọi mặt và thường được chú trọng hơn so với các thành phố khác
Tìm hiểu về lý do di cư của giáo dân tại hai địa bàn khảo sát kết quả thu được như sau:
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)