Từ những lý do trên, nhận thấy việc tìm hiểu về lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 là cần thiết, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Lao động hợp phá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Đặng Minh Đức
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn “Lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga từ năm 2001 đến năm 2019” là bài viết của cá nhân Em
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các nội dung trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Học viên
Nguyễn Thị Khánh Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để viết bản luận văn này, tôi đã dành toàn bộ tâm sức và thời gian của mình để thực hiện Trong thời gian đó, có rất nhiều thầy cô cũng như đồng nghiệp đã đồng hành và nhiệt tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới thầy hướng dẫn của tôi PGS TS Đặng Minh Đức, người đã tận tình và hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình tôi làm luận văn Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Khoa Quốc tế học trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
Bên cạnh đó, tôi cũng xin được gửi lời biết ơn tới lãnh đạo cơ quan tôi
đã tạo điều kiện hết sức cho tôi theo học thạc sĩ và viết luận văn Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng nghiệp cùng phòng làm việc của tôi và gia đình tôi, những người luôn bên cạnh giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn ngày hôm nay
Một lần nữa, xin được trân trọng gửi lời cảm ơn!
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Khánh Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do lựa chọn đề tài: 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu: 14
6 Cấu trúc/Bố cục Luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆT NAM XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG LIÊN BANG NGA 15
1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 15
1.1.1 Một số khái niệm 15
1.1.2 Các hình thức đưa người đi lao động nước ngoài 18
1.1.3 Các văn bản pháp lý cho Việt Nam xuất khẩu lao động sang
Liên bangNga 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Xuất khẩu lao động và hợp tác lao động của Việt Nam với thế giới 23
1.2.2 Kết quả từ mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga 32
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG HỢP PHÁP
VIỆT NAM SANG LIÊN BANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2019 40
2.1 Thực trạng đưa lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga
giai đoạn 2001 - 2019 40
2.2 Số lượng lao động từ Việt Nam sang Nga 44
Trang 62.3 Đặc điểm của lao động Việt Nam sang Liên bang Nga 48
2.4 Những thách thức mà lao động Việt Nam sang Liên bang Nga đang phải
đối mặt hiện nay 51
2.4.1 Về pháp lý 51
2.4.2 Về an ninh và xã hội 54
2.4.3 Về chi phí đưa lao động hợp pháp sang Nga 55
2.4.4 Doanh nghiệp với việc đưa lao động sang Nga 57
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 TRIỂN VỌNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG
LIÊN BANG NGA 62
3.1 Tiềm năng thị trường lao động Nga 62
3.1.1 Sự phát triển của kinh tế Nga hiện nay 62
3.1.2 Những đánh giá và dự báo về thị trường lao động Nga 64
3.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu lao động Việt Nam 66
3.3 Giải pháp thúc đẩy việc xuất khẩu lao động Việt Nam sang Liên bang Nga 68
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa
CNXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ILO Tổ chức lao động quốc tế
International Labor Organization UAE Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
United Arab Emirates SEV Hội đồng tương trợ kinh tế
Council of Mutual Economic Assistance FTA Hiệp định thương mại tự do
Free trade agreement ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Association of Southeast Asian Nations
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Số liệu lao động Việt Nam xuất khẩu giai đoạn 1980 - 1990 24
Bảng 1.2 Cơ cấu ngành nghề xuất khẩu lao động giai đoạn 2001 - 2010 26
Bảng 1.3 Số liệu người nước ngoài làm việc tại Việt Nam 2010-2012 27
Bảng 1.4 Số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc
giai đoạn 2011-2019 27
Bảng 2.1 Số lượng lao động Việt Nam có cấp phép tại Nga
giai đoạn 2011-2018 42
Bảng 2.2 Số lượng công dân Việt Nam làm việc tại Nga 2000-2010 45
Bảng 2.3 Biến động số lượng lao động Việt Nam có giấy phép tại Nga
tính đến cuối các năm 2015-2017 47
Bảng 2.4 Thống kê vị trí lao động Việt Nam làm tại Nga năm 2016 49
Bảng 2.5 Thống kê nhóm nghề lao động Việt Nam làm tại Nga năm 2016 49
Bảng 2.6 Thống kê lao động Việt Nam có tay nghề cao tại Liên bang Nga giai đoạn 2016 - 2018 50
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Sự tăng giảm của tỉ lệ lao động Việt Nam được cấp phép
sang Nga giai đoạn 2010-2018 43
Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ (%) lao động Việt Nam trong lao động nước ngoài tại
Nga giai đoạn 2006-2009 45
Biểu đồ 2.3 Số công nhân Việt Nam có giấy phép lao động tại Nga
giai đoạn 2010 - 2018 46
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ lao động Việt Nam có giấy phép trong tổng số lao động nhập cư có giấy phép tại Nga năm 2018 47
Biểu đồ 2.5 Tương quan tỉ lệ tay nghề lao động cao giữa 5 nước
có lao động nhập cư tại Nga giai đoạn 2014 - 2018 50
Biểu đồ 3.1 GDP theo lĩnh vực ngành nghề của Nga năm 2017 62
Biểu đồ 3.2 Biến động cơ cấu ngành nghề của lao động nhập cư tại Nga
2010 & 2014 63
Biểu đồ 3.3 Số lượng người di cư Việt Nam ở Liên bang Nga
trong năm 2019 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam và Liên bang Nga chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao kể
từ ngày 30/01/1950 Trải qua hơn 60 năm phát triển, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, tuy nhiên, mối quan hệ ấy vẫn luôn được duy trì khăng khít và vẫn là quan hệ chiến lược cho đến ngày hôm nay Sau các biến động của những năm 90 thế kỷ trước, với sự nỗ lực của chính phủ hai nước, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đã có được những bước chuyển biến mới, trở thành đối tác chiến lược, hợp tác toàn diện và sâu rộng
Hợp tác lao động Việt Nam - Liên bang Nga đã diễn ra ngay từ khi Việt Nam và Liên bang Nga (Liên Xô trước đây) thiết lập quan hệ ngoại giao Tuy nhiên, kể từ khi Hiệp định mời công nhân Việt Nam sang lao động tại Liên
Xô được ký kết giữa hai nước ngày 02/04/1981, hợp tác lao động hai nước mới thực sự phát triển Theo thống kê của Cục quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, giai đoạn 1981 -
1989, có 103.610 lao động Việt Nam sang Liên Xô trong đó có 52.916 lao động nữ, 20.311 lao động có tay nghề, chưa kể số học nghề chuyển sang hợp tác lao động Sau năm 1990, Liên bang Xô Viết tan rã, Liên bang Nga tái lập, lao động từ phía Việt Nam sang Nga tạm ngừng
Ngày 01/11/2002, Luật Liên bang Nga về địa vị pháp lý của công dân nước ngoài trên lãnh thổ Liên bang Nga được Quốc hội Nga thông qua đã mở rộng cánh cửa cho các công dân nước ngoài tới lao động tại Nga Tuy nhiên, tới năm 2007, Việt Nam mới chính thức đưa lao động sang Liên bang Nga trở lại sau khi Việt Nam thông qua Luật Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thông qua Hợp tác lao động Việt Nga giai đoạn này được tiến hành theo cơ chế mới Kể từ năm 2008 đến năm 2012, con số lao động Việt Nam sang Liên bang Nga là xấp xỉ 2.667 người Từ 2012 đến nay, theo thống
Trang 11kê của Cục quản lý lao động ngoài nước, lao động Việt Nam sang Liên bang Nga, tính đến hết 9/2018, xấp xỉ 12.000 lao động Như vậy, số lượng lao động Việt Nam sang liên bang Nga tăng liên tục qua các năm kể từ 2008
Theo một số dự báo về kinh tế của thế giới, Liên bang Nga sẽ tiếp tục
là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới và có đà tăng trưởng khá tốt (hơn 7% mỗi năm) Trong khoảng 3 năm gần đây, theo Bộ Nhân lực, Liên bang Nga đang có dấu hiệu thiếu hụt nhân lực Do đó, nhu cầu lao động - việc làm tại Nga sẽ tăng cao trong những năm sắp tới Trong bối cảnh trên, Liên bang Nga sẽ là thị trường lao động truyền thống đầy tiềm năng của Việt Nam
Từ những lý do trên, nhận thấy việc tìm hiểu về lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 là cần thiết, tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài “Lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga từ năm 2001 đến năm 2019” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong
muốn làm sáng tỏ mối quan hệ hợp tác lao động Việt - Nga trong hai thập kỷ vừa qua để từ đó làm vững chắc thêm mối quan hệ hợp tác lao động bền lâu giữa hai nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu của Việt Nam
Bài viết “Hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực di dân lao
động” trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 11 (122) năm 2010 của tác giả
Nguyễn Cảnh Toàn và Riazanxep đã xem xét vấn đề hợp tác lao động Việt - Nga được chia thành hai phần: Phần lao động từ Việt Nam vào Nga và phần lao động từ Nga vào Việt Nam Dưới góc độ của di dân lao động, các tác giả
đã tìm hiểu thực trạng lực lượng lao động từ Việt Nam sang Nga và từ Nga vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 21, các lĩnh vực mà lao động cả hai nước đã tham gia và những vấn đề quản lý xã hội của nhà nước mà họ gặp phải Tác giả không chỉ xem xét di cư lao động hợp pháp mà còn xem xét cả
Trang 12nhóm di cư lao động bất hợp pháp từ Việt Nam sang Nga, xem xét vấn đề hợp tác Nga - Việt trong điều chỉnh di dân lao động Đồng thời, tác giả cũng xem xét các văn kiện quốc tế ký kết giữa hai nước như là căn cứ cho vấn đề điều chỉnh di dân/hợp tác lao động Việt- Nga Trong vấn đề di dân của Việt Nam
ra nước ngoài trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tác giả nhận thấy di dân Việt Nam ra nước ngoài, trong đó có nước Nga, với mục đích công việc chiếm ưu thế Điều đó có thể hiểu di dân Việt Nam sang Nga là những di dân lao động trong bối cảnh hợp tác lao động đang có những bước phát triển tốt giữa hai nước Việt - Nga
Bài viết “Hợp tác lao động Việt Nam - Liên bang Nga trong những năm
đầu thế kỷ 21: Cơ hội và thách thức” (đây là vấn đề trong khuôn khổ của Dự
án RGNF số 12-21-09000 hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Châu Âu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga) trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 10 (145) năm 2012 của tác giả Nguyễn An
Hà đã xem xét đánh giá hiện trạng của hợp tác lao động Việt - Nga trong những năm đầu thế kỷ 21, phân tích những tiềm năng, lợi thế và nhu cầu của hai phía trong hợp tác lao động dưới bối cảnh hai nước đang hướng tới FTA song phương trong tương lai gần Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác nguồn nhân lực giữa hai nước tới năm 2020 Trong bài viết, tác giả cũng xem việc đổi mới cơ chế trong hợp tác lao động là một trong những giải pháp quan trọng trong nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiến lược Việt - Nga trong giai đoạn 2010 - 2020
Khi tìm hiểu thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh của cộng đồng người Việt tại Liên bang Nga, tác giả Nguyễn Thị Hà, trong khóa
luận “Tìm hiểu cộng đồng người Việt ở Liên bang Nga” năm 2003, nhận thấy
lao động Việt Nam sang Liên bang Nga qua nhiều năm và cả hiện tại là một phần quan trọng hình thành và phát triển cộng đồng người Việt tại Liên bang
Trang 13Nga Nhóm lao động được đề cập tới bao gồm cả lao động hợp pháp và lao động bất hợp pháp không chỉ là tạo nên một phần cộng đồng mà còn giúp gia tăng dân cư của cộng đồng, đồng thời đóng góp phần vào sự phát triển của cộng đồng người Việt tại Liên bang Nga
Trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga từ 1991 đến 1998, đề cấp tới
trong khóa luận “Quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga từ sau năm 1991 đến
nay” năm 1998, tác giả Bùi Hồng Hạnh lại thấy rằng hợp tác lao động Việt -
Nga là một trong những hợp tác quan trọng và thường xuyên trong quan hệ bang giao hai nước Trong mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên bang Nga
kể từ năm 1991 đến nay, vấn đề lao động Việt Nam trên lãnh thổ Nga từ 1991 đến 1998 vẫn luôn được quan tâm
Tác giả Lê Thanh Vạn, ”Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng
người Việt ở Liên bang Nga” trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1(80) năm
2010, cũng cho rằng những lao động từ Việt Nam sang Liên bang Nga qua con đường hợp tác lao động giữa hai quốc gia là nguồn quan trọng hình thành nên cộng đồng người Việt tại Nga
Tác giả Vũ Dương Huân, trong “Đôi điều về Viễn Đông và quan hệ
Việt Nam – Viễn Đông” trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 11 (122) năm
2010, cho rằng hợp tác lao động giữa Việt Nam với khu vực Viễn Đông (phía Đông nước Nga) là một trong những hợp tác truyền thống và hiệu quả trong mối quan hệ bang giao hai nước Việt Nam - Liên bang Nga Bên cạnh đó, hợp tác lao động giữa Việt Nam và vùng Viễn Đông (Nga) cũng được nhóm tác giả Nguyễn Chiến Thắng và Nguyễn Cảnh Toàn xem xét trong mối quan hệ
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Liên bang Nga trong công trình “Quan hệ
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và ùng Viễn Đông, Cộng hòa Liên bang Nga: Hiện trạng và triển vọng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 317 năm
2009 Theo các tác giả, hợp tác lao động là một trong những quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và khu vực này, đồng thời, cũng chỉ ra triển vọng tươi
Trang 14sáng về tiếp tục hợp tác lao động hiệu quả vùng Viễn Đông Nga trong bức tranh thiếu hụt về nhân công ở khu vực
Cùng đánh giá, Nguyễn Minh Phong, “Việt Nam – Liên bang Nga:
Quan hệ hữu nghị truyền trống và hợp tác toàn diện” trên Tạp chí Lao động
và Xã hội số 275 năm 2010, nhìn nhận hợp tác lao động là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu bền, quan trọng và không thể thiếu trong quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga Nguyễn Minh Phong cũng nhận thấy những khó khăn pháp lý cũng như hòa nhập xã hội Nga của lao động Việt Nam khi sang Nga và vai trò của những di
cư lao động Việt Nam tại Nga trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, quan hệ hợp tác giữa hai nước Tác giả cũng đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn mà các lao động Việt Nam tại Nga đang phải đối mặt để những người Việt Nam tại Nga yên tâm làm việc và cống hiến
Tác giả Nguyễn Hồng Thái, trong “Một số vấn đề di cư lao động Việt
Nam ở nước ngoài” trên Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 10 năm 2013,
xem xét di cư lao động từ Việt Nam ra các nước trên thế giới, trong đó có Liên bang Nga, trong các vấn đề xã hội Đó là những di dân lao động hợp pháp và bất hợp pháp có những đặc điểm về giới tính và trình độ lao động nhất định, đối mặt với những rủi ro pháp lý của nước sở tại và những thách thức để lại cho những người thân và gia đình tại quê hương Tác giả cũng cho rằng việc di dân lao động ra nước ngoài vừa để lại tác động tích cực như giảm nghèo, nâng cao dân trí, giảm thiểu chi phí đào tạo lao động nhưng cũng có những tác động tiêu cực như gia tăng mức nghèo do vấn đề chi phí di cư, mất lao động tay nghề gây thiếu hụt lao động tại địa phương, trẻ em của các đối tượng di cư không nhận được sự giáo dục gia đình
Khi xem xét hợp tác lao động Việt Nga trong bối cảnh hợp tác lao động đang được cả hai nước thúc đẩy, Đặng Minh Đức và Nguyễn Thị Khánh Vân, trong bài viết “Hợp tác về lao động giữa Việt Nam - Liên Bang Nga trong bối
Trang 15cảnh mới” trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 5(236) năm 2020, đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về người lao động Việt Nam sang Nga trong gần 2 thập kỷ qua Trên cơ sở chỉ ra một số bất cập trong chính sách thu hút lao động của Nga và chỉ ra kết quả khả quan trong hợp tác lao động Nga - Việt, các tác giả đã đưa ra một số kiến nghị, đối với Việt Nam, về chính sách đào tạo nghề cho công nhân, về hoạch định mục tiêu quốc gia trong hợp tác lao động cũng như một số khuyến nghị về quản lý đối với hoạt động lao động Việt Nam sang Nga
2.2 Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài
Tác giả Riazanxep X,V và Kuznhxop N.G khi xem xét di cư từ Việt
Nam đến Nga trong bài viết “Di cư từ Việt Nam đến Cộng hòa Liên bang
Nga” trên Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2009, cũng đã xem xét cả di cư lao
động của Việt Nam tới Nga là một trong những dòng chảy di cư chính từ Việt Nam tới Nga, hình thành nên cộng đồng người Việt tại Liên bang Nga Nhóm tác giả đã đưa ra thực trạng người lao động (hợp pháp và bất hợp pháp) Việt Nam tại Nga, các vấn đề pháp lý mà những di cư lao động Việt tại Nga gặp phải và những giải quyết của chính quyền hai nước nhằm tháo gỡ vấn đề di dân trong đó có di dân lao động đang vướng mắc
Elena E Pismenaya cùng cộng sự đã tìm hiểu về di dân môi trường từ Việt Nam sang Nga trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong bài
viết “Impact of Climate Change on Migration from Vietnam to Russia as a
factor of Transformation of Geoplitical Relations” trên Mediterranean Journal
of Social Sciences Vol 6, No 3, S2 năm 2015 Theo tác giả, nhóm di dân từ Việt Nam sang Nga trong đó bao gồm cả di dân lao động do nguyên nhân kinh tế và do cả nguyên nhân về biến đổi khí hậu Những biến đổi khí hậu đã làm cho cuộc sống nơi quê nhà của các di dân lao động không thể có tương lai tốt đẹp và là lý do khiến họ sang Nga tìm kiếm việc làm Số lượng các di dân Việt Nam (bao gồm các di dân lao động) vì môi trường tại các tỉnh hay gặp
Trang 16những vấn đề về tự nhiên như bão lũ, thiếu nước sạch có xu hướng làm việc lâu dài và ổn định tại Nga Điều này cũng phần nào dẫn tới sự thay đổi mối quan hệ địa chính trị khu vực
Trong khi tìm hiểu lịch sử về sự di cư qua lại Nga Việt, trong cuốn sách
“Sự di cư qua lại Nga- Việt: Những khía cạnh lịch sử, kinh tế - xã hội và
chính trị” năm 2011, tác giả Chesnokov cũng đề cập tới di cư lao động giữa
hai nước và thực trạng của di cư lao động Việt Nam tại Nga như một phần vấn đề lớn trong nghiên cứu của mình, những vấn đề mà lao động Việt Nam đang gặp phải tại Nga như sự kỳ thị dân nhập cư, lao động tay nghề thấp, xưởng may đen… Đồng thời, tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự di trú lao động là một trong những nguyên nhân chủ yếu của dòng người Việt Nam sang Nga Nghiên cứu này chỉ nhằm mô tả và làm rõ bức tranh Về di cư giữa hai nước trong đó có di cư lao động Việt Nam sang Nga, làm cơ sở cho các nghiên cứu làm rõ hơn di cư giữa hai nước
Nhóm tác giả Buckley C., Peachey E & Erin Hofmann (2012), trong
“The Tenactiy of Transnational Network: Vietnamese Migrants in the Soviet
Union and Rusian Federation”, đã tìm hiểu chi tiết về lịch sử của quá trình di
dân, mục tiêu di dân Việt Nam sang Liên Xô và Nga và những thông tin khá chi tiết về quá trình di dân sang Nga của người Việt trong đó bao gồm cả người lao động Việt Nam (bao gồm cả lao động hợp pháp và bất hợp pháp) dưới góc
độ nhân khẩu học Các tác giả cũng chỉ ra lợi ích của di dân lao động Việt Nam sang Nga Đó là lợi ích về kinh tế rất lớn cho gia đình, cá nhân và đất nước
Trong một xuất bản mới đây nhất “Vietnamese Migrant in Russia:
Mobility in Times of Uncertainty” (2020) bằng tiếng Anh do Đại học
Amsterdam ấn hành, tác giả Hoàng Lan Anh đã xem xét lịch sử di cư của người Việt Nam trong đó phần lớn là người lao động Việt Nam qua các thời
kỳ kể từ khi Việt Nam và Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay Tác giả xem xét khá kỹ đến những lý do người Việt sang làm việc tại Liên Xô và
Trang 17ngày nay là Liên bang Nga cùng quá trình hình thành cộng đồng người Việt tại Liên bang Nga Đồng thời, tác giả cũng xem xét tới các khía cạnh đời sống
xã hội, đặc biệt là hôn nhân và đời sống tình dục của những người Việt nam tại Nga trong đó có người lao động Việt nam (bao gồm cả lao động nhập cư hợp pháp và lao động nhập cư bất hợp pháp) Tài liệu đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về các vấn đề xã hội mà người lao động Việt Nam tại Nga đã
và đang phải đối mặt
Tóm lại, vấn đề lao động Việt Nam sang Liên bang Nga trong hai thập
kỷ vừa qua đã được khá nhiều nhiều các nghiên cứu đề cập nhưng chưa thật đầy đủ và toàn diện, chỉ phản ánh được quan hệ hợp tác lao động Việt Nga trong từng thập kỷ, chưa phản ánh được toàn bộ hiện trạng lao động Việt Nam sang Liên bang Nga trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 (2000-2019), chưa nổi rõ lên tiềm năng của hợp tác lao động Việt Nga hiện tại và trong tương lai Bên cạnh đó, các công trình cũng chưa cập nhật được những diễn biến mới của tình hình và đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở tham khảo, kế thừa có chọn lọc những công trình, bài viết đi trước trong việc thực hiện đề tài, tác giả mong muốn góp phần làm rõ hơn vấn đề này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu, phân tích thực trạng lao động hợp pháp Việt Nam sang liên bang Nga giai đoạn 2001 - 2019, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác lao động Việt Nam - Liên bang Nga trong thời gian tới; Đồng thời, luận văn cũng góp phần hoàn thiện vào lý luận về xuất khẩu lao động nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung
3.2 Nhiệm vụ cụ thể
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng lao động Việt Nam sang Liên bang
Nga từ năm 2001 đến năm 2019
- Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hợp tác lao động hiệu quả, tháo gỡ những khó khăn mà các lao động Việt Nam sang Liên bang Nga đang đối mặt
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lao động hợp pháp Việt Nam sang Liên bang Nga
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Từ năm 2001 đến hết năm 2019 (từ sau chuyến thăm chính thức lần đầu tiên đến Việt Nam của Tổng thống Nga V Putin đầu tháng 3/2001, Việt Nam và Liên bang Nga đã ký kết Tuyên bố chung thiết lập quan
hệ đối tác chiến lược)
- Về không gian: Việc xuất khẩu lao động hợp pháp của Việt Nam sang Liên bang Nga đặt trong bối cảnh mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
để tiếp cận vấn đề và định hướng về vấn đề cần viết Đây là các phương pháp định hướng, phương pháp cơ bản
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như: phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế; phương pháp phân tích chính sách; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu; phương pháp lịch sử - logic; phương pháp dự báo
6 Cấu trúc/Bố cục Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở cho Việt Nam xuất khẩu lao động sang Liên bang Nga Chương 2: Thực trạng xuất khẩu lao động hợp pháp Việt Nam sang
Liên bang Nga từ năm 2001 đến năm 2019
Chương 3: Triển vọng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả xuất
khẩu lao động Việt Nam sang Liên bang Nga
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆT NAM XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG LIÊN BANG NGA
1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
1.1.1 Một số khái niệm
Theo Khoản 1, Điều 3, Bộ Luật Lao động 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” [Quốc hội, 2012] Theo giải thích trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam
(2015), “Hợp pháp: Đúng với pháp luật; Không trái với pháp luật” [Nguyễn
Lân, 2000, tr 800] Như vậy có thể hiểu Lao động hợp pháp là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương, chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động phù hợp với pháp luật hoặc không tuân theo các sự điều hành trái pháp luật của người sử dụng lao động
Theo Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại 2008 của Việt Nam, “Xuất
khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật” [Quốc hội, 2005] Như vậy, xuất
khẩu là việc đưa hàng hóa ra khỏi Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt
trên lãnh thổ Việt Nam Với quy định trên, có thể hiểu, xuất khẩu có hai hình thức: Xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam (nội
địa) Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả quy chiếu theo thuật ngữ Ra khỏi Việt Nam Hiện nay, thuật ngữ xuất khẩu lao động được sử dụng rất nhiều
trong các báo cáo cũng như truyền thông nhưng không được quy định trong bất cứ văn bản luật pháp nào của Việt Nam Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ có duy nhất nhóm văn bản pháp luật về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Vì thế, có thể hiểu xuất khẩu lao động hợp pháp Việt Nam chính là hoạt động thực hiện đưa người lao động
Trang 20Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Và xuất khẩu lao động hơp pháp Việt nam là hoạt động thực hiện đưa người lao động Việt Nam đủ điều kiện tham gia lực lượng lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với luật định của nước sở tại và Việt Nam
Theo giải nghĩa thuật ngữ tại Khoản 1, Điều 3, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, số 72/2006/QH11, do Quốc hội thông
qua ngày 26/11/2006, “Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này” [Quốc hội, 2006] Cũng theo quy định tại
khoản 1, Điều 3, theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam 2013, “ Người
lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người
sử dụng lao động” [Quốc hội, 2013] Như vậy, xuất khẩu lao động là hoạt
động đưa người từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam lao động Điều kiện của những người lao động này phải là công dân Việt Nam, cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của Pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận và phải đi làm việc ở nước ngoài (không phải nội địa) Và người lao động hợp pháp ở Việt Nam là đối tượng chính của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (xuất khẩu lao động) Xuất khẩu lao động nước ngoài
là hoạt động khác với xuất khẩu lao động tại chỗ Xuất khẩu lao động tại chỗ
là hoạt động đưa người lao động Việt Nam vào làm việc tại các công ty nước ngoài, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng quy định tại Luật đưa người Việt Nam đi lao động nước ngoài (Luật 72/2006/QH11) và các văn bản pháp quy liên quan tới việc đưa người Việt Nam trong độ tuổi lao động đi làm việc nước ngoài làm
Trang 21quy chiếu cho nội dung luận văn Các văn bản pháp quy liên quan gồm các văn bản như Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật 72/2006/QH11, các văn bản ghi nhớ, Thỏa thuận hợp tác quốc tế mà chính phủ Việt Nam ký kết với các nước (đối tác nước ngoài) liên quan tới hoạt động đưa người lao động Việt Nam lao động ở các nước bên ngoài lãnh thổ Việt Nam
Theo Luật 72/2006/QH11, hoạt động đưa người lao động đi nước ngoài
phải theo hợp đồng Sự xuất hiện hợp đồng trong hoạt động này như một bằng
chứng giao kết giữa các bên trong hoạt động nói trên đồng thời đảm bảo sự hợp pháp của hoạt động này, đảm bảo có mặt hợp pháp của người lao động tại nước
sở tại cũng như bảo vệ người lao động tránh khỏi những rủi ro trong quá trình làm việc làm việc ngoài lãnh thổ Việt Nam Hợp đồng này, theo luật định, phải
là sự thỏa thuận tự nguyện, không ép buộc, được lập thành văn bản giữa người lao động với bên sử dụng lao động hoặc bên cung ứng/đưa người đi lao động ở
nước ngoài Hơp đồng được đề cập trong Điều 3 của luật nói trên bao gồm Hợp
đồng cung ứng lao động (được ký giữa bên cung ứng lao động Việt Nam với
phía tương ứng ở nước ngoài) , Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài (được ký giữa bên đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài với chính người lao động), Hợp đồng cá nhân (được ký kết trực
tiếp giữa cá nhân người lao động với bên sử dụng lao động ở nước ngoài, không thông qua chủ thể trung gian cung ứng lao động) Cũng theo Điều 2, Luật 72/2006/QH11, các chủ thể liên quan tới hoạt động đưa người Việt Nam
đi lao động nước ngoài sẽ bao gồm: Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa
người lao động đi nước ngoài; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
quy định của Luật; Người bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Như vậy có 4 chủ thể sẽ có mặt trong
hợp đồng đưa người lao động đi nước ngoài Bốn chủ thể này sẽ có những vai trò trách nhiệm nhất định trong việc đảm bảo các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người lao động quá trình làm việc bên ngoài lãnh thổ Việt Nam
Trang 221.1.2 Các hình thức đưa người đi lao động nước ngoài
Các hình thức đưa người đi lao động ở nước ngoài bao gồm:
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp/tổ chức sự nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề
Hợp đồng cá nhân giữa bên sử dụng lao động ngoài lãnh thổ Việt Nam
ký trực tiếp với người lao động
Với bốn hình thức hợp đồng nói trên, người lao động Việt Nam có nhiều lựa chọn chủ động cho việc lao động ở nước ngoài của mình Đồng thời, với bốn hình thức nói trên, hình thức xuất khẩu lao động đa dạng hơn, thúc đẩy gia tăng số lượng lao động đi làm việc tại các nước trên thế giới, dễ dàng tiếp cận và mở rộng hợp tác lao động với các đối tác nước ngoài
1.1.3 Các văn bản pháp lý cho Việt Nam xuất khẩu lao động sang Liên bang Nga
Hợp tác lao động Việt Nam - Liên bang Nga chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế đa phương và song phương giữa Việt Nam và Liên bang
Nga, bản ghi nhớ giữa các bộ, chính phủ về xuất khẩu lao động và văn bản
quan trọng nhất đó là Hiệp định Hợp tác lao động có thời hạn giữa hai nước
Đây là văn bản quy định về điều kiện pháp lý khi công dân hai nước làm việc
có thời hạn trên lãnh thổ của nhau bao gồm: công nhân, cán bộ, chuyên gia
* Các hiệp định song phương
- Tuyên bố về đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga năm 2001 Đây là văn bản quan trọng thể hiện sự hợp tác giữa hai nước trong vấn đề an
Trang 23ninh, thịnh vượng của hai nước Điều 4 của Tuyên bố ghi rõ: Vấn đề quan
trọng nhất trong quan hệ song phương là xây dựng quan hệ hợp tác thương mại, kinh tế, khoa học và đầu tư dựa trên việc sử dụng toàn diện tiềm năng và kinh nghiệm tương tác tích lũy trong nhiều thập kỷ trước đây.”[Chính phủ,
2001] Đây là điều khoản quan trọng và cơ bản mở ra cơ hội lớn trong việc
thiết lập lại mối quan hệ hợp tác lao động giữa hai nước Việt Nam - Liên bang Nga kể từ sau biến cố sụp đổ Liên Xô năm 1990 Điều khoản này cho phép phía Việt Nam cũng như phía Liên bang Nga tạo lập những công cụ chính sách cũng như cách thức kết nối giữa các bên cung ứng cũng như sử dụng lao động tại Việt Nam và Liên bang Nga Tuyên bố này là văn bản quan trọng thúc đẩy hai nước tiến tới cùng xây dựng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực lao
động hiệu quả kể từ năm 1990 cho đến những năm 2000 và sau này
- Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga (2012) Tuyên bố này được xem là dấu mốc thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga sang một tầm cao mới Hợp tác toàn diện trong mọi lĩnh vực giữa hai nước trong đó có hợp tác lao động, thúc đẩy các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội của hai nước cùng phát triển trên cơ sở hợp tác chặt chẽ Đồng thời, Tuyên bố nói trên là công cụ thúc đẩy phát triển thương mại giữa hai nước được gia tăng mạnh mẽ hơn, xứng
tầm với mối quan hệ hữu hảo giữa hai nước theo bề dày lịch sử cho đến nay
- Hiệp định về công dân nước CHXHCN Việt Nam làm việc có thời hạn tại Liên bang Nga và công dân Liên bang Nga làm việc có thời hạn tại nước CHXHCN Việt Nam (ký 2008, có hiệu lực 2013) Đây có thể xem như một chìa khóa mở toang cánh cửa thị trường lao động giữa hai nước, tạo sự thông thương giữa hai thị trường lao động Hiệp định cho phép các lao động của hai nước, khi sang khu vực quốc gia của nhau, được sự bảo hộ hợp pháp của pháp luật nước sở tại, được sự bảo vệ tránh khỏi các hoạt động xuất khẩu lao động bất hợp pháp trên lãnh thổ 2 nước Việt Nam -
Trang 24Liên bang Nga Đồng thời, Hiệp định này chính là hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể cho hoạt động thương mại xuất khẩu lao động qua lại giữa hai
nước Việt Nam- Liên bang Nga
* Các văn bản pháp lý trong nước
Hoạt động xuất khẩu lao động từ Việt Nam sang Nga cũng chịu sự điều chỉnh của một loạt hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam bao gồm:
- Các bộ luật, luận như: Luật dân sự 2015 - phần ký quỹ và bản lãnh; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm
2006, Số 72/2006/QH11; Bộ luật lao động 2013, Số 10/2012/QH13; Luật việc làm 2013, Số 38/2013/QH13; Luật doanh nghiệp 2014, Số 68/2014/QH13
- Các nghị định của Chính phủ như: Nghị định số 126/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Đến nay, Nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định số 38/2020/NĐ-CP về thi hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Các thông tư, hướng dẫn của các bộ, ngành, địa phương: Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT- BLĐTBXH-BTC quy định về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch
số 17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN quy định quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 18/2007/QĐ-BLĐTBXH Ban hành
Trang 25chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH Ban hành “Quy định về tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 20/2007/QĐ-BLĐTBXH Ban hành chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi
đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư liên tịch số BTC Hướng dẫn quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước…
11/2008/TTLT-BLĐTBXH-Các văn bản pháp luật trong nước tập trung vào việc chuẩn hóa các tổ chức hoạt động đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc hợp pháp trong đó có Nga Các văn bản trên đi sâu vào vấn đề quản lý các tổ chức thương mại/môi giới lao động, quản lý hoạt động đưa lao động ra nước ngoài hợp pháp và đảm bảo sự phát triển cho thị trường cung ứng lao động trong nước hoạt động nhịp nhàng, minh bạch và thông suốt với các thị trường thuê mướn lao động ở nước ngoài Đồng thời, các văn bản pháp luật trong nước còn đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của người lao động không bị các tổ chức môi giới lao động/thuê mướn lao động xâm phạm, điều chỉnh hành vi của các bên trong môi giới lao động ra nước ngoài ngay trong nước phù hợp với các quy phạm pháp luật mà nhà nước Việt Nam đã đưa ra
Ngoài ra, căn cứ theo Hiệp định, các doanh nghiệp tại Nga đã tiêu chuẩn hoá các điều kiện đối với người lao động nhập cư nói chung trong đó có người lao động Việt Nam sang làm việc như gia hạn hợp đồng; có thể tăng ca
2 giờ/ngày (đối với ngành dệt may); chế độ nghỉ lễ, nghỉ ốm theo luật lao động Liên bang Nga; được chủ sử dụng chi trả toàn bộ các khoản phí về bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động theo luật lao động của Nga; được hỗ trợ chỗ ở và đi lại miễn phí, khám sức khỏe định kì; bị buộc chấm dứt hợp đồng trước hạn nếu người lao động nhập cư vi phạm các quy định của công
ty, luật pháp Nga
Trang 26Như vậy có thể thấy xuất khẩu lao động ra nước ngoài hay hoạt động đưa người lao động làm việc ngoài lãnh thổ Việt Nam chịu sự điều chỉnh của
hệ thống luật trong nước và các văn bản điều ước quốc tế về hợp tác trong lĩnh vực lao động cũng như các quy định trong hệ thống luật của nước nơi người lao động làm việc Cả bốn chủ thể trong hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm doanh nghiệp/tổ chức đưa người đi lao động nước ngoài, người lao động, doanh nghiệp/tổ chức/cá nhân bảo lãnh người lao động cũng như tổ chức/doanh nghiệp/cá nhân liên quan tới người lao động làm việc ở nước ngoài cũng sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống văn bản nói trên Bất cứ một chủ thể nào vi phạm các quy định trong những văn bản pháp lý nói trên đều phải chịu trách nhiệm pháp lý (hình sự hoặc dân sự) trước nhà nước
Tóm lại, các văn bản nói trên tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch,
rõ ràng, hỗ trợ và giảm thiểu những rủi ro đồng thời bảo vệ người lao động Việt Nam khi ra nước ngoài làm việc Đối với những văn bản pháp lý quốc
tế, chúng đảm bảo cho lao động Việt Nam sang Nga được lao động hợp pháp, nhận được sự bảo vệ của pháp luật nước Nga Về thị trường lao động, các văn bản quốc tế lao động ký kết giữa Việt Nam và Liên bang Nga như chìa khóa mở cánh cửa thị trường giữa hai nước một cách hợp pháp, đảm bảo sự công bằng cho cả hai quốc gia trên cùng lĩnh vực xuất khẩu lao động Đối với những văn bản pháp lý trong nước, người lao động Việt Nam được bảo hộ trong các hoạt động xuất khẩu lao động sang Nga của các doanh nghiệp đưa lao động Việt Nam sang nước ngoài làm việc Đồng thời, các văn bản này cũng thúc đẩy một thị trường xuất khẩu lao động minh bạch, cung ứng lao động trong nước ra nước ngoài hợp pháp và tạo ra sự liên thông giữa thị trường trong nước với các thị trường lao động ở nước ngoài
để từ đó đảm bảo sư phát triển của hợp tác lao động giữa Việt Nam với không chỉ Liên bang Nga mà còn với các nước khác trên thế giới phát triển bền vững
Trang 271.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Xuất khẩu lao động và hợp tác lao động của Việt Nam với thế giới
Trong thập niên 80 của thế kỷ trước (giai đoạn 1980 - 1990), kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, sản xuất đình trệ Do đó, nhà nước Việt Nam chủ trương đưa lao động trong nước sang các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa (XHCN) lúc đó như một trong những phương cách nhằm cải thiện đời sống xã hội cũng như nền kinh tế quốc gia Do đó, hợp tác lao động đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong hợp tác quốc tế của Việt Nam với các nước XHCN
Ngày 29/06/1978, Việt Nam ra nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV),
tổ chức hợp tác kinh tế của các quốc gia thuộc hệ thống XHCN trước đây- SEV Tháng 11/1978, Việt Nam và Liên Xô đã ký Hiệp định hữu nghị và hợp tác Việc ra nhập Hội đồng SEV và ký Hiệp định nói trên là tiền đề cho Hợp tác lao động giữa Việt Nam với các nước thuộc khối XHCN cũ lúc đó Ngày 29/11/1980, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết số 362/CP về hợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN Cùng năm 1980, Việt Nam gia nhập Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), một tổ chức của Liên hợp quốc
Có thể nói, năm 1980, Việt Nam đã có những bước đi trong hợp tác quốc
tế rất mạnh mẽ đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác lao động, tạo tiền đề cho xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước XHCN anh em khi đó Năm 1980, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lao động có hạn định tới những nước thuộc khối XHCN, những nước đang đặt quan hệ ngoại giao Việt Nam lúc đó, thông qua các hiệp định song phương về xuất khẩu lao động Cơ chế xuất khẩu lao động
và chuyên gia theo phương thức Nhà nước với đại diện là Chính phủ trực tiếp
ký kết và tổ chức đưa lao động và chuyên sang nước ngoài làm việc Trong giai đoạn này, tổng số lao động và chuyên gia nước ngoài được xuất khẩu xấp
xỉ 300.000 người trong đó có 23.713 thực tập sinh và học nghề Sau khi học xong, những thực tập sinh và học nghề trở thành lao động tại nước sở tại
Trang 28Bảng 1.1: Số liệu lao động Việt Nam xuất khẩu giai đoạn 1980 - 1990
(Không tính thực tập sinh và hoc nghề)
Châu Âu (Liên Xô, Bungari, Tiệp Khắc, Đông Đức) 244.186
Khu vực Châu Phi (Libya, Algeria, Angola,
(Nguồn: Bộ Lao động- TB - XH, Cục Quản lý lao động ngoài nước)
Trong giai đoạn này, số lượng lao động xuất khẩu đi Châu Âu (Liên
Xô, Bungari, Tiệp Khắc, Đông Đức) chiếm số lượng lớn nhất với 244.186 người Năm 1988, số lượng người lao động sang bốn nước nói trên tăng cao nhất đạt 71.830 lao động và năm 1980, số lượng lao động xuất khẩu đạt thấp nhất trong giai đoạn này với 1.070 lao động
Đến năm 1990, do biến động chính trị ở Đông Âu và Liên Xô, hợp tác lao động giữa Việt Nam với các nước trong khối XHCN đã không còn lực Việt Nam ngừng xuất khẩu đi các nước nói trên
Kể từ năm 1990, sau 5 năm Việt Nam thực hiện đổi mới, hợp tác quốc
tế của Việt Nam đã có những thay đổi lớn Chính sách hợp tác quốc tế của Việt Nam không chỉ trong khu vực các nước XHCN cũ mà đã mở rộng ra với nhiều nước trên thế giới vốn không phải là những đối tác trước đây Đồng thời, kể từ Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam xóa bỏ bao cấp, hợp tác lao động đã có những bước ngoặt Đây là điều kiện thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc
tế của Việt Nam trong đó có hợp tác lao động Hợp tác quốc tế của Việt Nam giai đoạn này có sự thay đổi theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa; bình thường hóa và từng bước xác lập quan hệ ổn định lâu dài với tất cả nước, đặc biệt là những nước lớn, những nước công nghiệp phát triển như Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ…Năm 1992, Việt Nam gia nhập trở lại Tổ chức Lao động quốc tế sau khi rút khỏi tổ chức này vào năm 1982 với lý do tài chính Việt
Trang 29Nam ký một loạt các Công ước quốc tế như Công ước 174 về phòng ngừa tai nạn lao động (1993), Công ước 176 về an toàn, sức khỏe trong hầm mỏ (1995), Công ước 179 về tuyển mộ sắp xếp việc làm với thuyền viên (1996)… là tiền đề đưa Việt Nam gia nhập thị trường lao động thế giới Nhờ
đó, giai đoạn 1991-2000, thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam đã mở rộng
ra nhiều nước trên thế giới, lao động của Việt Nam đã có mặt ở nhiều thị trường mới như Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi, một số đảo Nam Thái Bình Dương và khu vực trên biển Số lượng lao động và chuyên gia đưa đi tăng đều qua các năm trong giai đoạn này Tổng số lao động ra nước ngoài là 121.752 lao động Điều này cho thấy những bước phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về lao động của Việt Nam
Giai đoạn 2001-2010, Việt Nam kiên định chính sách đa phương hóa trong hoạt động hợp tác quốc tế, tạo nên bước chuyển mình ngoạn mục của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là hợp tác lao động Năm
2006, Việt Nam và tổ chức ILO ký kết văn bản 33/2006/SL-LPQT về Khuôn khổ hợp tác quốc gia giữa Việt Nam với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc
tế giai đoạn 2006-2010 về Xúc tiến việc làm bền vững tại Việt Nam Năm
2008, Hiệp định về công dân Việt Nam làm việc có thời hạn tại Liên bang Nga và công dân Liên bang Nga làm việc có thời hạn tại Việt Nam được ký kết giữa Việt Nam và Liên bang Nga Theo đó, công dân Việt Nam và công dân Liên bang Nga có thể sang hai nước lao động theo hợp đồng thời hạn Năm 2009, Biên bản ghi nhớ về lĩnh vực nhân lực giữa Chính phủ Việt Nam
và Chính phủ Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) được ký kết, mở đường cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang lao động tại UAE Các hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam theo định hướng thị trường Hình thức xuất khẩu lao động của Việt Nam đã đa dạng hơn bao gồm: thông qua cung ứng lao động theo các hợp đồng kí kết với bên nước ngoài, thông
Trang 30qua việc đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình
ở nước ngoài, thông qua việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các
dự án đầu tư ở nước ngoài…
Trong giai đoạn này, ngành nghề xuất khẩu lao động khá đa dạng, phân theo 7 nhóm ngành nghề bao gồm: công nhân nhà máy, công nhân xây dựng, điều dưỡng, giúp việc gia đình, thuyền viên, nông nghiệp/trồng trọt, dịch vụ/bán hàng
Bảng 1.2 Cơ cấu ngành nghề xuất khẩu lao động giai đoạn 2001-2010
(Nhật Bản - Hàn Quốc - Đài Loan - Malaysia) (%)
Cơ cấu
ngành nghề
Nước đến Nhật
Bản
Hàn Quốc Đài Loan Malaysia Chung Công nhân nhà máy 96,97 85,71 39,21 83,95 72,00 Công nhân xây dựng 2,02 2,38 2,07 12,15 5,31
(Nguồn: Bộ LĐ-TB-XH, Viện Khoa học Lao động xã hội)
Ở chiều ngược lại, các văn bản hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lao động của Việt Nam với các nước cũng tạo điều kiện cho người nước ngoài vào Việt Nam làm việc Số người lao động nước ngoài tới Việt Nam làm việc cũng gia tăng qua các năm
Trang 31Bảng 1.3: Số liệu người nước ngoài làm việc tại Việt Nam 2010-2012
(Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)
Từ 2011 đến nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam chủ trương tạo môi trường thuận lợi để hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, thúc đẩy phát triển kinh
tế trong nước, đảm bảo đời sống nhân dân và nâng cao vị thế quốc gia Vì thế, hợp tác quốc tế của Việt Nam đã có những bước đi ấn tượng với việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với một số nước phát triển thế giới như Australia, Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ… Năm 2013, Hiệp định về Hợp tác lao động giữa Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được ký kết Năm 2015, Việt Nam và Australia ký Thỏa thuận về Chương trình lao động kết hợp
Bảng 1.4: Số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc
Trang 32Năm 2017, Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng (MOC) giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam và Bộ Lao động - Y tế - Phúc lợi Nhật Bản được ký kết Trong chuyến thăm Châu Âu tháng 11/2018, Biên bản ghi nhớ về hợp tác lao động và an sinh xã hội được ký kết giữa Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với Bulgari và Rumani, mở cánh cửa hai thị trường nói trên cho xuất khẩu lao động của Việt Nam (thị trường cũ trước năm 1990 và cũng là thị trường mới sau năm 1990) Các hoạt động hợp tác lao động của Việt Nam với các nước, kể từ 2011 đến nay, thực sự hiệu quả thúc đẩy phát triển manh mẽ xuất khẩu lao động của Việt Nam, mở rộng thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam ra các nước trên thế giới Đây là điều kiện tiên quyết nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu lao động Việt Nam Trong giai đoạn này, số lượng lao động xuất khẩu Việt Nam đi các nước đã tăng vọt Chỉ duy nhất năm 2012, số lượng lao động giảm Những năm tiếp sau từ 2013 đến nay, số lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam đều tăng mạnh từ 3% - 7% hàng năm
Trong giai đoạn 2011-2019, số lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam
đã tăng 1.030.887, tăng hơn so với các thập kỷ 2001-2010 xấp xỉ 68% và tăng hơn so với thập kỷ 1991-2000 là 846%, gấp 8,46 lần
Như vậy, sau hơn 30 năm nỗ lực, các hoạt động ngoại giao kinh tế của Việt Nam đã đưa xuất khẩu lao động của Việt Nam tăng vọt Theo dự báo, năm 2020, xuất khẩu lao động của Việt Nam sẽ tập trung vào những thị trường có thu nhập cao, đòi hỏi kỹ năng lao động và bằng cấp chuyên môn như Đức, Mỹ, Nhật Bản, Pháp… [Anh Thư, 2020] Do đó, hợp tác lao động của Việt Nam trong những năm tới sẽ định hướng tới những nước nói trên
Có thể thấy rằng, hợp tác lao động trong hợp tác quốc tế đã trở thành một trong những nội dung chính trong các hoạt động ngoại giao Việt Nam Chính các hoạt động ngoại giao kinh tế trong chính sách đối ngoại đa phương
Trang 33hóa, đa dạng hóa của Việt Nam đã giúp hợp tác lao động của Việt Nam hiệu quả Tiếp nối những thành công đã đạt được, chắc chắn, hợp tác lao động của Việt Nam sẽ tiếp tục được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nữa
Hợp tác lao động của Việt Nam đã kéo dài gần 40 năm, trải qua nhiều biến động của thế giới Những lợi ích thu được từ hợp tác lao động là không nhỏ Ở cấp độ chính phủ, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa trong hợp tác lao động đã thúc đẩy Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác, mở rộng quan
hệ ngoại giao với các nước, mở ra những cơ hội mới trong quan hệ hợp tác với các đối tác Rất nhiều các hợp tác lao động là cơ sở để nâng tầm quan hệ đối tác, đưa Việt Nam trở thành đối tác tin cậy/chiến lược toàn diện với các nước như Nga, Australia, Nhật Bản…Lợi ích tiếp theo của Hợp tác lao động của Việt Nam là đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới trong lĩnh vực lao động - xã hội, từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao thân thiết với các đối tác Đồng thời, Hợp tác lao động là cơ hội để Việt Nam chủ động tham gia vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế và khu vực về lao động xã hội, tham gia vào các diễn đàn đối thoại đa phương về lĩnh vực lao động Kể
từ khi là thành viên của ILO, Việt Nam đã ký một loạt Công ước về lao động việc làm, thể hiện rõ trách nhiệm thành viên của tổ chức này
Kết quả của hợp tác lao động đã đưa Việt Nam trở thành một đối tác tin cậy và có trách nhiệm trong quan hệ với các quốc gia khác trên thế giới, thông qua đó, Việt Nam nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế Ở cấp
độ ngành, hợp tác lao động nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của ngành Lao động - xã hội, nâng cao khả năng chuyên môn cho nhân sự ngành về khả năng đàm phán, kỹ năng ngoại ngữ, cơ hội rèn luyện bản lĩnh chính trị Bên cạnh đó, hợp tác lao động giúp ngành lao động - xã hội nhận ra những vấn đề của ngành trong quá trình hợp tác quốc tế lao động, cơ hội giải quyết các vấn đề về thủ tục, quy định pháp lý theo hướng hội nhập mà vẫn có lợi cho quốc gia
Trang 34Theo ước tính của Chính phủ, lượng kiều hối từ lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về mỗi năm khoảng 2,5-3 tỷ đô la [Nhật Dương, 2019] Điều này cho thấy lợi ích kinh tế to lớn từ xuất khẩu lao động ở Việt Nam Với hơn
2 triệu lao động đã xuất khẩu, Việt Nam đã giải quyết được số lượng việc làm rất lớn, giảm áp lực về lao động cho xã hội Người lao động Việt Nam ra nước ngoài học tập, làm việc, sau khi hoàn thành hợp đồng, họ trở về Việt Nam, trở thành những lao động có tay nghề tốt Như vậy, xuất khẩu lao động còn giúp Việt Nam rút ngắn thời hạn đào tạo tay nghề cũng như giảm chi phí đào tạo lao động cho nền kinh tế Đồng thời, xuất khẩu lao động giúp phát triển các khu vực nông thôn, cải thiện kinh tế hộ gia đình khó khăn Xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An là ví dụ rõ nét nhất về xuất khẩu lao động phát triển kinh tế hộ gia đình và phát triển khu vực nông thôn Với hơn 1500 lao động xuất khẩu, xã được gọi là “làng tỷ phủ” với hàng loạt nhà cao tầng,
xe ô tô hạng sang [Khánh Hoan, 2019] Ngoài ra, những người lao động xuất khẩu tiếp cận những tri thức mới sẽ quay về, đem kiến thức đó vào hoạt động kinh tế, thúc đẩy phát triển địa phương cũng như nâng cao dân trí khu vực Tất cả những điều đó cho thấy xuất khẩu lao động đem lại những lợi ích rất lớn cho phát triển nền kinh tế quốc gia
Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt Bên cạnh lợi ích, xuất khẩu lao động còn đưa lại những hệ lụy về mặt xã hội và kinh tế, tạo ra những áp lực không nhỏ cho sự phát triển bền vững của đất nước Đó là vấn đề xã hội phát sinh do những người lao động ra nước ngoài đưa về, phá vỡ những truyền thống văn hóa, tạo nên những giá trị lệch lạc do ảnh hưởng từ xã hội phương Tây mang về Việc phân bổ lực lượng lao động ra nước ngoài tại các địa phương trong nước không đồng đều sẽ dẫn đến sự mất cân bằng nguồn lực lao động tại các địa phương này Ngược lại, hành vi ứng xử của lao động xuất khẩu Việt Nam như vi phạm luật lao động và các quy phạm luật của nước sở tại đã khiến chính phủ các nước buộc phải tạm ngưng các chương trình xuất
Trang 35khẩu với Việt Nam Điều này ảnh hưởng tới việc đưa lao động Việt Nam đi nước ngoài hợp pháp cả về về số lượng lẫn chất lượng Ví dụ như xã Cương Gián (Hà Tĩnh) có khoảng 2700 lao động ra nước ngoài làm việc Tại xã, phần lớn còn lại là người già và trẻ em [Hoài Nam, 2019,] Đồng thời xã Cương Gián cũng nổi tiếng có nhiều lao động xuất khẩu sau khi hoàn thành hợp đồng đã không về nước mà ở lại nước sở tại lao động bất hợp pháp Điều
đó đã dẫn tới hệ lụy là chính phủ Hàn Quốc đã phải thông báo ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam từ Hà Tĩnh sang Những hệ lụy nói trên đã tác động không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, tạo nên những thách thức đòi hỏi phải có sự giải quyết đồng bộ từ địa phương tới chính phủ
Nếu mặt tích cực của hợp tác lao động là giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống của người lao động, thông qua hợp tác lao động từng bước khẳng định vị thế đối tác của Việt Nam thì mặt tiêu cực của hợp tác lao động lại là những vấn đề từ phía người lao động gây ra có thể đưa tới những hệ lụy cho hợp tác lao động Việt Nam như phá vỡ hình ảnh đối tác tin cậy và trách nhiệm, không đảm bảo được số lượng và chất lượng lao động được cung ứng do không bảo vệ được người lao động Việt Nam tại nước ngoài, dẫn tới ảnh hưởng hiệu quả của các ký kết đàm phán song phương, đa phương trong hợp tác lao động cũng như hoạt động đối ngoai kinh tế khác của Việt Nam Thách thức này không thể giải quyết đơn lẻ mà cần có sự vào cuộc đồng bộ từ phía quản lý nhà nước Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội đang thực hiện Dự án xây dựng Luật Người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) để đệ trình
Quốc hội vào 04/2020
Hợp tác lao động và xuất khẩu lao động đã đem lại những lợi ích to lớn cho kinh tế trong nước cũng như vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, trước những thách thức đang đặt ra hiện nay cho hợp tác lao động và xuất khẩu lao động, đòi hỏi cần có các giải pháp phù hợp và lâu dài từ chính
Trang 36phủ đến chính quyền địa phương, từ doanh nghiệp đến cá nhân người lao động để tiếp tục thúc đẩy phát triển xuất khẩu lao động theo hướng bền vững
1.2.2 Kết quả từ mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
Trong chuyến thăm chính thức lần đầu tiên đến Việt Nam của Tổng thống Nga V Putin vào cuối tháng 2 đầu tháng 3/2001, Việt Nam và Liên bang Nga đã ký kết Tuyên bố chung thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Đây
là đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam thỏa thuận với nước ngoài Từ đó, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả với nội hàm ngày càng phong phú
Ngày 20/11/2006, trong chuyến thăm Việt Nam lần thứ hai của Tổng
thống Liên bang Nga Putin, hai bên ra tuyên bố về "quan hệ đối tác chiến
lược và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước"
Tháng 10/2010, Tổng thống Nga thăm chính thức Việt Nam Trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Nga, một số các Hiệp định đã được ký kết giữa hai nước như Hiệp định về Hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân
ở Việt Nam, Hiệp định về hơp tác trong lĩnh vực năng lượng và một số văn bản thỏa thuận hợp tác khác
Tháng 7/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có chuyến thăm chính Liên bang Nga theo lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Trong chuyến thăm này, lãnh đạo cao cấp của hai nhà nước đã ra Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Việt - Nga ghi nhận hai nước "quan hệ đối tác chiến lược toàn diện" Tháng 05/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và phu nhân thăm
Trang 37chính thức Liên bang Nga Mục đích của chuyến thăm nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác về kinh tế và thương mại cũng như quốc phòng cho xứng tầm với mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước
Trong ngoại giao, trên cơ sở hợp tác và truyền thống lâu đời, Nga luôn giúp và phối hợp với Việt Nam chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và đa phương Đại sứ của Liên bang Nga tại Việt Nam V Seraphimov (2007) nhận xét: “Quan điểm của Nga và Việt Nam về các vấn đề chính của thế giới hoặc khu vực thường trùng hợp, hoặc rất gần nhau Hai nước chúng ta phối hợp hành động chặt chẽ trong các tổ chức đa phương gồm Liên hợp quốc cũng như các diễn đàn quốc tế” [Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, 2007] Nhờ có Liên bang Nga, Việt Nam đã tham gia vào thị trường Liên minh kinh tế Á - Âu trong đó Liên bang Nga đóng vai trò chủ chốt thông qua Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu ký kết năm 2015 Cũng thông qua Việt Nam, Liên bang Nga tiếp cận với ASEAN và trở thành đối tác tại Diễn đàn khu vực ASEAN
Cho đến nay, Liên bang Nga vẫn là một trong những đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam Để có được kết quả ngày hôm nay, các hoạt động ngoại giao song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được duy trì chặt chẽ và liên tục sau một vài năm gián đoạn đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Kế thừa mối quan hệ truyền thống quý báu giữa hai nhà nước Việt Nam Liên Xô, ngoại giao Việt Nam tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Liên bang Nga, đi vào chiều sâu, hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực mà vẫn giữ được vị thế quốc gia ngang bằng Hiện nay, với Liên bang Nga, Việt Nam không chỉ là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà còn có vị trí đặc biệt trong chính sách của Liên bang Nga ở khu vực Đông Nam Á và Hiệp hội ASEAN Mối quan hệ ấy đã và đang đem lại những lợi ích to lớn và lâu dài cho cả hai dân tộc Việt - Nga Đây là một trong những thành tựu của ngành ngoại giao Việt Nam sau những năm tháng biến động chính trị ở Đông Âu và Liên Xô
Trang 38* Hợp tác kinh tế - thương mại
Kể từ năm 2001, quan hệ hợp tác Việt Nam bắt đầu khởi sắc Giai đoạn phát triển trong quan hệ hợp tác Việt Nam được đánh dấu bằng việc Việt Nam và Liên bang Nga xác lập quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược vào tháng 3/2001 Đây chính là dấu mốc quan trọng đầu tiên trong quá trình thúc đẩy và phát triển tối đa quan hệ hợp tác Việt - Nga Việc nâng tầm quan hệ Liên bang Nga thành đối tác chiến lược đã cho thấy Việt Nam xem Liên bang Nga là bên quan trọng, then chốt và lâu dài, trong tiến trình phát triển và mở cửa của Việt Nam ra thế giới đặc biệt trong lĩnh vực an ninh, thịnh vượng và vị thế quốc gia của Việt Nam Về phía Liên bang Nga, cũng từ năm 2001, nền kinh tế bắt đầu có những bước khởi sắc mạnh mẽ
Về hợp tác thương mại, năm 2000, theo cơ sở dữ liệu thống kê về thương mại của Liên Hợp quốc, Việt Nam xuất khẩu sang Liên bang Nga xấp
xỉ 123 triệu đô la và nhập khẩu từ Liên bang Nga xấp xỉ 239 triệu đô la [Trading Economics, 2020] Sau tuyên bố chung về đối tác chiến lược giữa hai nước năm 2001, năm 2002 kim ngạch thương mại xuất khẩu sang Nga của Việt Nam đạt 187 triệu đô la, tăng 65,7% và nhập khẩu từ Nga đạt 501 triệu
đô la tăng 209,6% so với năm 2000 Các lĩnh vực hợp tác thương mại Việt Nam và Liên bang Nga giai đoạn này bao gồm lĩnh vực năng lượng, nông sản, may mặc, chế phẩm chế biến sẵn, máy móc và ngược lại nhập khẩu từ Nga bao gồm hàng điện tử, năng lượng, nông sản, sắt thép, phân bón, phương tiện giao thông Năm 2012, Việt Nam và Liên bang Nga ra tuyên bố chung về Đối tác chiến lược toàn diện, kim ngạch thương mại Việt Nga đạt 990 triệu đô la, trong đó xuất khẩu sang Liên bang Nga chỉ đạt 161 triệu đô la, giảm 11,1% bao gồm các lĩnh vực truyền thống như may mặc, năng lượng nông sản, chế phẩm chế biến sẵn, nhập khẩu từ Liên bang Nga đạt 829 triệu đô la, tăng 60,4
% bao gồm các lĩnh vực truyền thống như hàng điện tử, năng lượng, nông sản, sắt thép, phân bón, phương tiện giao thông, giấy và nguyên liệu giấy,
Trang 39máy móc Theo số liệu báo cáo mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam Liên bang Nga trong 8 tháng đầu năm 2019 đạt 1,9 tỷ đô la đối với xuất khẩu, tăng gấp 11,8 lần tương đương 1180% và nhập khẩu đạt 1,2 tỷ đô la (tăng 1,44 lần tương đương 144% [Thương vụ Việt Nam tại Nga, 2019] Lĩnh vực xuất khẩu mở rộng sang linh kiện điện tử, sản phẩm thể thao, đồ gỗ, gốm sứ, máy vi tính nguyên chiếc và linh kiện và sản phẩm nhập khẩu không mở rộng so với các mặt hàng nhập khẩu truyền thống từ Nga trước đây
* Hợp tác trong lĩnh vực năng lượng
Từ năm 2001, Liên bang Nga và Việt Nam, trên cơ sở những hỗ trợ và hợp tác trước đây của Liên Xô về năng lượng, tiếp tục hợp tác trong liên doanh Vietsopetro Liên doanh dầu khí Vietsopetro đã trở thành biểu tượng cho hợp tác năng lượng Nga - Việt suốt chiều dài từ thời Liên Xô Tháng 3/2010, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải có chuyến thăm Liên bang Nga nhân dịp liên doanh dầu khí Rustvietpetro khai thác dòng dầu công nghiệp đầu tiên tại Khu tự trự Nenesky tại khu vực Cực Bắc của Nga Trong liên doanh Rustvietpetro, tập đoàn Zarupezhneft nắm giữ 51% cổ phần, tập đoàn Petrovietnam nắm giữ 49% cổ phần [Tạp chí điện tử Năng lượng Việt Nam, 2018] Tính đến 2019, Dự án Vietsopetro đã nộp ngân sách nhà nước 50
tỷ đô la và lợi nhuận hai bên trong liên doanh thu được 20 tỷ đô la [Hội Hữu nghị Việt Nga, 2019] Dự án Rusvietpetro, sau 8 năm hoạt động, theo báo cáo năm 2018, lũy kết của dự án đạt 7 tỷ đô la, đóng góp 15% vào sản lượng của Tập đoàn dầu khí Petrovietnam hàng năm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đông chí Nguyễn Phú Trọng, trong chuyến thăm Nga tháng 9/2018, cho rằng dư địa hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa hai nước còn rất lớn [Tạp chí điện tử Năng lượng Việt Nam, 2018] Điều này hứa hẹn hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga sẽ tiếp tục được đẩy mạnh và phát triển sâu rộng trong những năm sắp tới
Trang 40* Về hợp tác quốc phòng - an ninh
Cũng tương tự như hợp tác kinh tế - thương mại, kể từ sau năm 1990, hợp tác quốc phòng - an ninh giữa Việt Nam và Liên bang Nga đi xuống Sự hợp tác này nồng ấm trở lại bắt đầu từ thời điểm Việt Nam và Liên bang Nga trở thành đối tác chiến lược năm 2001 Năm 2009, trong chuyến thăm Liên bang Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo hai nước đã ký kết nhiều văn bản thỏa thuận liên quan đến việc mua bán thiết bị quân sự, máy bay tiêm kích, tàu ngầm Kilo 6 lớp do Nga sản xuất Nga sẽ hỗ trợ việc đào tạo sử dụng, duy tu, bảo dưỡng tàu ngầm tên lửa đối không, diệt hạm chống radar và một số bom Năm 2017, Việt Nam tiếp tục ký hợp đồng mua vũ khí
từ Liên bang Nga nhằm tăng cường khả năng phòng thủ của quốc gia cho lực lượng lục quân
Tháng 04/2018, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Đại tướng Ngô Xuân Lịch đã thăm Liên bang Nga và hội đàm với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên bang Nga Đại tướng Sergei Shoigu trong khuôn khổ tham dự Hội nghị
An ninh quốc tế Moscow lần thứ 7 tại Liên bang Nga Cũng trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai nước đã cùng nhau ký kết Kế hoạch phát triển hợp tác quốc phòng song phương giai đoạn 2018 - 2020 Cùng năm 2018, tiếp sau chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ Quốc phòng Việt Nam cử đại diện tham dự Diễn đàn Kỹ thuật quân sự và cử đội thi đấu một số môn tại các cuộc thi "Tank Biathlon", "Việt dã y tế" và "Bếp dã chiến" trong khuôn khổ "Hội thao Quân
sự quốc tế 2018 do Liên bang Nga chủ trì Đồng thời, Liên bang Nga cũng dành 176 suất học bổng đào tạo chuyên viên quân sự cho Bộ Quốc phòng Việt Nam [Trang chủ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga, 2018]
Gần đây nhất, ngày 06/03/2020, Việt Nam và Liên Bang Nga đã tổ chức Đối thoại chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng - An ninh Việt Nga tại
Hà Nội lần thứ 11 Trên các diễn đàn đa phương về an ninh quốc phòng, Liên