Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non huyện yên thế tỉnh bắc giang Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non huyện yên thế tỉnh bắc giang luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HOÀNG THÁI HÀ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN BỆNH TAI MŨI HỌNG CỦA HỌC SINH MẦM NON
HUYỆN YÊN THẾ - TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HOÀNG THÁI HÀ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN BỆNH TAI MŨI HỌNG CỦA HỌC SINH MẦM NON
HUYỆN YÊN THẾ - TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 62727601
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN DUY NINH
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, chính xác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
HỌC VIÊN
Hoàng Thái Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng chân thành tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn tới Đảng
ủy, Ban giám hiệu ; Phòng Đào tạo; Khoa Y tế Công cộng - Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Duy Ninh, Bộ môn Tai Mũi Họng - Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, người thầy
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ tôi rất nhiều về phương pháp nghiên cứu, tư duy khoa học để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Trung học Y tế Bắc Giang, Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt cả quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường mầm non thị trấn Cầu Gồ, Trường mầm non xã Tam Tiến, Trường mầm non xã Hương Vỹ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm và sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình để tôi đạt được kết quả ngày hôm nay
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
HỌC VIÊN
Hoàng Thái Hà
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
V.A : Végetations adenoides
VMX : Viêm mũi xoang
VTG : Viêm tai giữa
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Thực trạng bệnh tai mũi họng 3
1.1.1 Thực trạng bệnh tai mũi họng trên thế giới 3
1.1.2 Thực trạng bệnh tai mũi họng tại Việt Nam 4
1.2 Các bệnh lý tai mũi họng thường gặp 6
1.2.1 Các bệnh về tai 6
1.2.2 Các bệnh về mũi xoang 8
1.2.3 Các bệnh về họng 12
1.2.4 Các bệnh khác 14
1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tai mũi họng 15
1.3.1 Yếu tố hành vi, lối sống 16
1.3.2 Yếu tố môi trường 17
1.3.3 Cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế 20
1.3.4 Yếu tố gia đình 21
1.3.5 Một số yếu tố khác 22
1.4 Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, hệ thống giáo dục mầm n on huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 72.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp thu thập và đánh giá thông tin 29
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 29
2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá 30
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
2.3.1 Biện pháp khống chế sai số 30
2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Thực trạng bệnh tai mũi họng của học sinh 32
3.3 Phân tích một số yếu tố liên quan tới bệnh bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 36
3.3.1 Nhóm yếu tố về chỉ số nhân khẩu học 36
3.3.2 Nhóm yếu tố về môi trường 37
3.3.3 Nhóm yếu tố liên qua tới kiến thức, thái độ, thực hành, giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh TMH của phụ huynh 42
3.3.4 Nhóm yếu tố gia đình 45
Chương 4 BÀN LUẬN 46
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 46
4.2 Thực trạng bệnh tai mũi họng 47
4.3 Một số yếu tố liên quan tới bệnh bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non Huyện Yên Thế - Tỉnh Bắc Giang năm 2016 54
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu xếp theo tuổi 31
Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu xếp theo giới tính 31
Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu xếp theo dân tộc 32
Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc các nhóm bệnh TMH của học sinh MN 33
Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc các bệnh về tai của học sinh mầm non 33
Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc các bệnh về mũi xoang của học sinh mầm non 34
Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc các bệnh về họng của học sinh mầm non 34
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa độ tuổi với bệnh TMH 36
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa giới tính với bệnh TMH 36
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa dân tộc với bệnh TMH 37
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa loại nhà ở với bệnh TMH 37
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa loại bếp đun với bệnh TMH 38
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nơi đun bếp với bệnh TMH 38
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa người thân hút thuốc trong nhà với bệnh TMH 39
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa nuôi chó/mèo với bệnh TMH 39
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa nuôi gia cầm với bệnh TMH 40
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa nuôi gia súc với bệnh TMH 40
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa gia đình làm nghề dịch vụ với bệnh TMH 40
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức của phụ huynh về phòng chống bệnh với bệnh TMH 42
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thái độ của phụ huynh về phòng chống bệnh với bệnh TMH 42
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thực hành của phụ huynh về phòng chống bệnh với bệnh TMH 43
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa việc GDSK về phòng bệnh TMH tại trường học với bệnh TMH 43
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa việc tự tìm hiểu về phòng bệnh TMH qua các PTTT của phụ huynh với bệnh TMH 44
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình với bệnh TMH 45
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng chung của học sinh mầm non 32
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1 Ý kiến về thực trạng bệnh TMH của học sinh mầm non 35 Hộp 3.2 Ý kiến về yếu tố môi trường liên quan đến bệnh tai mũi họng 41 Hộp 3.3 Ý kiến về yếu tố kiến thức, thái độ, thực hành, giáo dục sức khỏe của phụ huynh đến bệnh tai mũi họng 44
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý tai mũi họng là nhóm bệnh rất thường gặp trên thế giới cũng như tại Việt Nam Hiện nay, bệnh tai mũi họng ngày càng gia tăng do tình trạng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, do thói quen, hành vi gây ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống, lao động và học tập
Theo kết quả nhiên cứu trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng đều cao ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi nghề nghiệp và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh [10],[15],[63]
Nghiên cứu của Arup Sen Gupta trên học sinh tại Ấn Độ (2012) có tỷ lệ mắc các bệnh về tai là 46,64%; bệnh về mũi xoang (18,30%) và bệnh về họng
là 12,05% [35] Một nghiên cứu khác của Fasunla A.J.ở Nigeria (2013) trên đối tượng học sinh có kết quả các bệnh về tai có tỷ lệ 62,7%; tiếp theo là các bệnh về mũi (23,0%); các bệnh về họng (9,6%) [41]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Trần Duy Ninh năm 2002 có kết quả mắc bệnh tai mũi họng của một số dân tộc thuộc 7 tỉnh miền núi phía Bắc
là 63,61% [21] Phùng Minh Lương (2010) nghiên cứu trên cộng đồng dân tộc Ê đê (Tây Nguyên) thấy có tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng là 58,9% [18].Nghiên cứu năm 2006 của Nguyễn Hữu Khôi trên 2072 học sinh mẫu giáo tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng
là 68,73% [15] Nghiên cứu của Trần Duy Ninh (2012) trên học sinh trường mầm non Quang Trung (Thái Nguyên) có tỷ lệ mắc bệnh về tai là 0,91%, bệnh mũi xoang là 28,42%, bệnh về họng là 59,71% [23] Nguyễn Thanh Hà (2013) nghiên cứu trên học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên có tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng là 65,0% [8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) trên học sinh trường trung học cơ sở Quang Trung (Thái Nguyên) cho thấy tỷ
lệ học sinh mắc các bệnh tai mũi họng là 67,0% [6] Nghiên cứu của Chu Thị Thu Hoài (2015) về bệnh tai mũi họng trên học sinh trung học phổ thông ở
Trang 11Hòa Bình có tỷ lệ mắc bệnh là 68,4% [13]
Mặc dù các bệnh lý tai mũi họng ít gây tử vong nhưng nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng, di chứng nặng nề, cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển về tinh thần và thể chất của trẻ
Lứa tuổi mầm non chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu dân số, là lứa tuổi đang phát triển mạnh mẽ về thể chất, hoàn thiện chức năng các cơ quan
và cũng là đối tượng rất thường mắc các bệnh về tai mũi họng [15],[21],[23] Mặc dù đã có một số nghiên cứu về bệnh tai mũi họng ở trẻ em gần đây [1],[15],[23], song chưa có nghiên cứu nào đề cập về dịch tễ bệnh tai mũi họng ở lứa tuổi mầm non trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:
- Mô tả thực trạng bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang thời điểm giao mùa xuân - hè năm 2016
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh tai mũi họng của học sinh mầm non huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Thực trạng bệnh tai mũi họng
1.1.1 Thực trạng bệnh tai mũi họng trên thế giới
Năm 1996, nghiên cứu về bệnh viêm tai giữa (VTG) ở 591 trẻ em Inuit (Greenland) của Homoe P, Christensen RB: VTG mạn tính 6,8% ở Nuuk và 11,7%
ở Sisimiut, VTG cấp tính 1,5% - 0.4%, VTG ứ dịch: 23,0% và 28,2% [44],[45] Rhuston nghiên cứu về bệnh VTG trên 6000 trẻ 6-7 tuổi ở Hongkong năm 1997, có tỷ lệ VTG ứ dịch 5,3% [57]
Tác giả Marchisio nghiên cứu trên 3413 trẻ từ 5-7 tuổi ở Italia, thấy có tỷ
lệ trẻ mắc VTG 14,2% [52]
Nghiên cứu của Akcay A và cộng sự (cs) về bệnh lý amydal của học sinh từ 4 - 17 tuổi ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2006 có kết quả: tỷ lệ trẻ ngủ ngáy là 24,6%; ngáy nặng là 4,1%; có những cơn ngạt thở do amydal chèn ép là 3,8%
và cơn ngạt thở nặng do amydal chèn ép là 0,9% [30]
Nghiên cứu của Aydin S và cs (2008) về bệnh viêm V.A và chứng đái dầm của học sinh từ 5 - 14 tuổi ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ có kết quả: tỷ lệ viêm V.A của học sinh nhóm tuổi từ 5 - 7 tuổi là 27,0% [36] Một nghiên cứu khác ở Denizli, Thổ Nhĩ Kỳ của Kara (2002) có tỷ lệ viêm amydal của học sinh là 11,0% [47]
Năm 2010, Sanjay P Kishve và cs nghiên cứu cho thấy rằng VTG, viêm amydal và viêm mũi là những vấn đề thường gặp nhất trong số trẻ em đến khám tại khoa tai mũi họng (TMH) của một bệnh viện nông thôn ở Ấn
Độ [59] Bệnh TMH thấy là phổ biến hơn ở trẻ em nam (53,2%) Đa số các bệnh nhân nhi khoa mắc bệnh TMH thuộc nhóm tuổi từ 5-14 (66,3%), có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn (61,2%) và có mẹ mù chữ (70,8%) Các bệnh lý về tai là nhóm hay gặp nhất của các vấn đề TMH trong nhóm dân
số trẻ em (57,3%), tiếp theo là bệnh về họng (27,4%) và tỷ lệ gặp ít nhất là các bệnh về mũi xoang (15,3%) [59]
Trang 13Tác giả Arup Sen Gupta và cs (2012) nghiên cứu bệnh TMH trên 639 trẻ
em Ấn Độ độ tuổi từ 6 - 14 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh về tai là cao nhất chiếm 52,6% Trong các bệnh về mũi, chảy máu mũi chiếm tỷ
lệ 28,69% và viêm mũi dị ứng là 24,18% Trong các bệnh về họng, viêm amydal có tỷ lệ là 57,50% và viêm họng là 35,83% [35]
Nghiên cứu của Zhang Y.M và cs (2013) trên đối tượng học sinh ở Bắc Kinh (Trung Quốc) có kết quả tỷ lệ viêm mũi dị ứng là 14,9% [68]
Năm 2013, nghiên cứu của Yan Zhang và cs về các yếu tố nguy cơ đối với VTG mãn tính (COM) và VTG tái phát (ROM) trên học sinh ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố dị ứng, nhiễm trùng đường hô hấp trên, hút thuốc lá thụ động, địa vị xã hội thấp là những yếu tố nguy cơ quan trọng đối với COM/ROM [66]
Nghiên cứu của Olusesi A D và cs ở Nigeria năm 2013 cũng cho thấy trong các bệnh nhân bị mắc các bệnh về TMH thì các bệnh về tai có tỷ lệ cao nhất (62,7%); tiếp theo là các bệnh về mũi xoang (23,0%); các bệnh về họng (9,6%) và các bệnh phần đầu mặt cổ là 4,7% [55]
Tác giả Kalpana Sharma (2014) nghiên cứu trên 251 trẻ em dưới 16 tuổi tại một số trường học ở Ấn Độ đến viện cấp cứu về các vấn đề TMH thì tỷ lệ các bệnh về tai chiếm tỷ lệ 37,8% [46]
Nghiên cứu của Humaid Al-Humaid I và cs (2014) trên các học sinh ở 25 trường học tại Qassim, Ả rập Xê út thấy có tỷ lệ VTG ứ dịch là 7,5% [32]
Năm 2014, Shah Viral và cs nghiên cứu về bệnh TMH trên học sinh thuộc 6 trường công lập huyện Jamnagar, Ấn Độ có tỷ lệ mắc bệnh TMH là 46,6%, tỷ lệ học sinh bị mắc các bệnh về tai là 14,33%; các bệnh về mũi xoang là 28,66%; các bệnh về họng là 10,0% [62]
1.1.2 Thực trạng bệnh tai mũi họng tại Việt Nam
Năm 1994 và 1996, Phạm Khánh Hoà và cs trong một số điều tra về bệnh TMH ở 3 xã Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành
Trang 14Nghiên cứu của Phạm Thế Hiển năm 2004 trên 2305 đối tượng thuộc 3 khu vực: thành thị, nông thôn, vùng rừng tràm U Minh tại Cà Mau, có tỷ lệ mắc bệnh TMH là 34,4 %, trong đó viêm mũi xoang (VMX) mạn tính 11,8 %, viêm amydal mạn tính 8,4 %, VTG mạn tính 1,6% [10]
Tác giả Nguyễn Thanh Trúc nghiên cứu năm 2001 về bệnh TMH của trẻ
em ở vùng bãi rác thải Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh TMH là 61,99%, trong đó tỷ lệ bệnh TMH của trẻ nam là 50,36% và của trẻ nữ là 49,64% [29]
Tác giả Chu Thị Thu Hoài (2015) điều tra về bệnh TMH ở học sinh phổ thông trung học dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình thấy tỷ lệ mắc bệnh là 68,4%, nhiều nhất là các bệnh về họng (48,7%), các bệnh về mũi xoang (40,4%), thấp nhất là các bệnh về tai (1,1%) [13]
Nghiên cứu của Nguyễn Lệ Thủy, Trần Duy Ninh (2012) về bệnh viêm V.A bằng phương pháp nội soi trên 324 học sinh trường trung học cơ sở Nha Trang, thành phố Thái Nguyên cho thấy: tỷ lệ viêm V.A còn gặp nhiều ở lứa
tuổi học sinh trung học cơ sở (32,5%) trong tổng số các bệnh TMH [28]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) cho thấy kết quả mắc bệnh TMH của học sinh trung học cơ sở ở thành phố Thái Nguyên là 67,0% Trong
đó tỷ lệ mắc bệnh về tai là 5,9%, tỷ lệ mắc bệnh về mũi xoang là 23,7% và tỷ
lệ mắc bệnh về họng là 54,1% [6]
Trang 15Năm 2013, Trần Duy Ninh, Nguyễn Thanh Hà nghiên cứu trên 794 học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên, tỷ lệ mắc các bệnh lý về TMH của học sinh tiểu học khá cao (65,0%), trong đó có từ 24,0% đến 38,2% các em học sinh đang theo học trên lớp có các triệu chứng toàn thân và cơ năng về bệnh TMH Có nhiều bệnh lý ở tai gặp ở học sinh tiểu học, trong đó đáng chú ý nhất là viêm tắc vòi nhĩ (5,9%); VTG ứ dịch 0,9%; VTG tiềm tàng xơ nhĩ 0,5% Trong các bệnh lý về mũi xoang, bệnh gặp nhiều nhất là VMX mạn tính và mạn tính đang trong đợt viêm cấp (21,2%) Đối với các bệnh lý ở họng, bệnh có tỷ lệ cao nhất là viêm V.A mạn tính (41,6%) và viêm V.A mạn tính đợt cấp (16,9%) Bệnh viêm amydal mạn tính cũng có tỷ lệ khá cao: 34,1% học sinh bị viêm amydal mạn tính và 12,1% viêm amydal mạn tính đợt cấp [8]
Nguyễn Thị Hoài An (2003) nghiên cứu trên đối tượng trẻ em từ 1 đến 14 tuổi tại một số nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học và một số trường khác trên địa bàn Hà Nội cho thấy tỷ lệ VTG ứ dịch ở trẻ em là 8,9% [1]
Nghiên cứu của Đặng Hoàng Sơn tại Cần Giuộc, thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 trên 1629 trẻ em dưới 16 tuổi, có tỷ lệ VTG cấp tính 1,3 - 1,4%, VTG mạn tính 0,8 - 1,4% [25]
Năm 2006, Nguyễn Hữu Khôi nghiên cứu ở 2072 trẻ 4-6 tuổi tại quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, thấy tỷ lệ mắc bệnh TMH là 68,73%, viêm amydal quá phát 46,04%, viêm amydal quá phát có ngủ ngáy 7,77%, VTG ứ dịch 5,79%, VTG cấp tính 0,1% [15]
Tác giả Trần Duy Ninh năm 2012 nghiên cứu bệnh TMH lên quan tới bữa ăn phụ ban đêm của học sinh Trường mầm non (MN) Quang Trung, thành phố Thái Nguyên thấy tỷ lệ học sinh MN mắc các bệnh viêm họng, viêm amydal và viêmV.A là 59,71% [23]
1.2 Các bệnh lý tai mũi họng thường gặp
1.2.1 Các bệnh về tai
1.2.1.1 Viêm tai giữa
Trang 16Thường do vi khuẩn, virus từ các ổ viêm ở mũi họng đi lên tai qua vòi Eustache, hoặc từ ngoài môi trường vào qua lỗ thủng màng nhĩ (do chấn thương, di chứng…) Bệnh nhân có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như đau tai, ù tai, nghe kém, chảy mủ tai Khám thấy màng tai thủng hoặc xung huyết, hòm tai có dịch Nhưng nhiều khi không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt Nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tích cực và đúng phương pháp, bệnh sẽ khỏi, không để lại di chứng Nếu không được theo dõi, không được điều trị đúng, có thể đưa đến nhiều biến chứng phức tạp [5],[17],[38]
Tác giả Nguyễn Thị Hoài An (2003) nghiên cứu trên học sinh MN và tiểu học ở Hà Nội có tỷ lệ VTG là 8,9% [1] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh
Hà và Trần Duy Ninh trên học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên (2013) thấy có tỷ lệ VTG ứ dịch là 0,9% [8] Theo Nguyễn Thị Thái Hà (2014) thì tỷ
lệ VTG ứ dịch của học sinh trường trung học cơ sở Quang Trung (Thái Nguyên) là 0,3% [6] Nghiên cứu của Humaid Al-Humaid I và cs năm 2014
ở 25 trường học tại Qassim, Ả rập Xê út kết quả cho thấy tỷ lệ VTG ứ dịch của học sinh là 7,5% [32] Nghiên cứu về bệnh VTG trên học sinh ở vùng miền Đông Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ) của Kiris M có kết quả tỷ lệ VTG ứ dịch
là 10,43% [48] Nghiên cứu của Fleming-Dutra K E và cs từ năm 2008 -
2010 trên trẻ em từ 14 tuổi trở xuống tại một số bang của Hoa Kỳ có tỷ lệ VTG ứ dịch ở trẻ em da đen là 7,0%, và ở nhóm trẻ còn lại là 10,0% [42] Nghiên cứu trên học sinh từ 5 - 14 tuổi của Martines F.và cs ở Sicilia, Italia năm 2010 có tỷ lệ VTG ứ dịch là 6,8% [53] Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ của Sanjay P Kishve và cs (2010) có tỷ lệVTG chiếm khá cao (18,25%) [59] Bệnh VTG cấp tính, VTG ứ dịch, nếu không được điều trị kip thời và đúng cách có thể dẫn đến VTG mạn tính, VTG xẹp nhĩ, xơ nhĩ [60] Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thanh Hà và Trần Duy Ninh (2013) thấy tỷ lệ VTG xẹp nhĩ,
xơ nhĩ của học sinh là 0,5% [8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) có kết quả tỷ lệ VTG xẹp nhĩ, xơ nhĩ là 0,8% [6] VTG xẹp nhĩ, xơ nhĩ là hậu quả
Trang 17của VTG ứ dịch tái diễn nhiều lần mà không được phát hiện để được điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách, không triệt để Triệu chứng chính của VTG xẹp nhĩ, xơ nhĩ là nghe kém Trẻ có thể bị điếc một cách từ từ, lúc đầu điếc không thường xuyên, thỉnh thoảng có lúc nghe rõ trở lại Nhưng sau mỗi đợt xổ mũi tai bị điếc trở lại và điếc nặng hơn trước Cuối cùng là điếc hoàn toàn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, phát triển và khả năng học tập của học sinh, nhất là ở lứa tuổi MN Đặc biệt ở trẻ nhỏ còn làm chậm sự phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của trẻ [49]
1.2.1.2 Bán tắc, tắc vòi nhĩ
Vòi nhĩ có chức năng sinh lý là đảm bảo sự cân bằng khí áp giữa hòm nhĩ và bên ngoài, dẫn lưu dịch tiết ở tai giữa ra ngoài, duy trì hoạt động của hệ thống truyền âm và ngăn chặn nhiễm trùng ngược dòng từ họng mũi lên tai giữa Vì thế, duy trì sự thông thoáng của vòi nhĩ là rất quan trọng Khi bị viêm mũi họng, có thể gây viêm bán tắc hoặc tắc hoàn toàn vòi nhĩ, làm cho quá trình thông khí và dẫn lưu dịch tiết của tai giữa bị gián đoạn, diễn biến kéo dài
sẽ gây VTG ứ dịch [17],[22] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà, Trần Duy Ninh (2013) trên 794 học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên có kết quả: bệnh lý ở tai gặp ở học sinh tiểu học với tỷ lệ viêm tắc vòi nhĩ là 5,9% [8] Nguyên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) trên học sinh Trường Trung học
cơ sở Quang Trung, thành phố Thái Nguyên có tỷ lệ học sinh bị viêm tắc, bán tắc vòi nhĩ là 4,2% [6]
Vì vậy khi bị mắc các bệnh lý mũi họng cần được điều trị dứt điểm
để tránh gây viêm tắc, bán tắc vòi nhĩ Cần có các biện pháp phòng bệnh TMH phù hợp, thường xuyên
1.2.2 Các bệnh về mũi xoang
1.2.2.1 Viêm mũi xoang cấp tính
Viêm mũi xoang cấp tính thường do nhiễm trùng thứ phát sau viêm V.A, viêm amydal, sau một số bệnh truyền nhiễm như cúm, sởi, dị ứng với các yếu
Trang 18tố kích thích, các yếu tố lý hóa học
Nghiên cứu của Phùng Minh Lương năm 2010 trên cộng đồng dân tộc Ê Đê,
có tỷ lệ bệnh viêm xoang cấp tính là 0,2%, tỷ lệ viêm mũi cấp tính là 2,4% [18] Tác giả Chu Thị Thu Hoài (2015) nghiên cứu trên học sinh trung học phổ thông ở Hòa Bình có tỷ lệ bệnh viêm xoang cấp tính là 4,7% [13]
Từ VMX có thể dẫn theo viêm họng, VTG, viêm tắc, bán tắc vòi nhĩ Ở trẻ nhỏ có thể gây biến chứng viêm tấy ổ mắt Bệnh thường biểu hiện các triệu chứng: sốt nhẹ (hoặc không sốt), đau đầu, tắc mũi, chảy mũi kéo dài, ngửi kém Chủ yếu phải điều trị tại tuyến chuyên khoa Tại tuyến y tế cơ sở, cần thực hiện rửa mũi, nhỏ mũi bằng các thuốc thông thở, thuốc sát trùng mũi họng, khí dung mũi xoang Cần giáo dục sức khỏe (GDSK) cho các bậc phụ huynh, giáo viên và học sinh: vệ sinh môi trường, điều kiện sống, điều kiện học tập đảm bảo môi trường trong sạch Tránh tiếp xúc với không khí nóng lạnh đột ngột Điều trị tốt với viêm mũi cấp, nâng cao sức đề kháng cơ thể Cần tiêm phòng vaccin với các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em Khi tiếp xúc bụi nhiều cần rửa mũi bằng nước muối sinh lý Không được dụi mũi, móc dỉ mũi, ngoáy mũi Điều trị triệt để đúng phác đồ khi viêm mũi, viêm xoang cấp tránh gây biến chứng Khi có chảy mũi kéo dài phải đến cơ sở y tế (CSYT) chuyên khoa khám và điều trị [3],[5],[61]
1.2.2.2 Viêm mũi xoang mạn tính
Viêm mũi xoang mạn tính là bệnh khá phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi Bệnh hay gặp khi thay đổi thời tiết, sức đề kháng giảm Bệnh liên quan đến độ ẩm, sự ô nhiễm của môi trường [5], [33]
Nguyên nhân của bệnh thường do nhiễm trùng: thứ phát sau viêm V.A, viêm amydal, sau một số bệnh truyền nhiễm như: cúm, sởi, sốt phát ban, đặc biệt sau VMX cấp điều trị không triệt để Bệnh lý răng cũng có thể gây viêm xoang Bệnh cũng hay gặp ở người có cơ địa dị ứng, những người thường xuyên tiếp xúc với bụi, hơi hóa chất… Các bệnh mạn tính: lao, đái tháo đường, thận, khớp,
Trang 19các dị hình mũi xoang (hẹp hốc mũi, vẹo vách ngăn, dị hình cuốn, xoang quá rộng hoặc quá hẹp ) cũng là nguyên nhân hay gặp với bệnh lý mũi xoang [42] Nguyễn Thanh Hà và Trần Duy Ninh nghiên cứu năm 2013 trên học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên thấy tỷ lệ VMX mạn tính là 21,2% [8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) trên học sinh trung học cơ sở ở Thái Nguyên có kết quả VMX mạn tính là 9,3% [6] Năm 2015, Chu Thị Thu Hoài nghiên cứu trên học sinh trung học thổ thông ở Hòa Bình cho thấy tỷ lệ viêm mũi mạn tính là 4,83%, viêm xoang mạn tính là 4,77% [13] Nghiên cứu của Phùng Minh Lương (2010) trên cộng đồng dân tộc Ê đê có kết quả viêm mũi mạn tính 4,83% và viêm xoang mạn tính 4,77% [18]
Phòng bệnh bằng cách rèn luyện sự thích nghi với môi trường xung quanh, nâng cao sức đề kháng cơ thể, tránh tiếp xúc với không khí nóng, lạnh đột ngột Cải thiện vệ sinh môi trường, điều kiện sống, điều kiện làm việc và học tập Phòng tránh các bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng đầy đủ cho trẻ Chăm sóc mũi bằng cách rửa mũi thường xuyên bằng nước muối sinh lý Cần điều trị triệt để VMX mạn tính để đề phòng biến chứng [3],[22],[26]
1.2.2.3 Viêm mũi dị ứng
Viêm mũi dị ứng chiếm tỷ lệ khá cao trong cộng đồng: trẻ em gặp 10%, người lớn gặp 10 - 20% [61] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) có tỷ lệ học sinh trung học cơ sở (Thái Nguyên) bị bệnh viêm mũi dị ứng là 9,6% [6] Nghiên cứu trên học sinh ở khu vực Bangkok, Thailand của Bunnag C có tỷ lệ viêm mũi xoang dị ứng ở nhóm trẻ 6 - 7 tuổi là 44,2% và ở nhóm trẻ 13 - 14 tuổi
là 38,7% [38] Nghiên cứu của Aydin S ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ có tỷ lệ VMX dị ứng là 7,9% [36] Nghiên cứu ở Budapest (Hungary) của tác giả Sultesz có tỷ lệ viêm mũi dị ứng là 11,6% [64] Một nghiên cứu khác ở Bogota, Colombia của Penaranda cho thấy tỷ lệ trẻ có biểu hiện của viêm mũi dị ứng là 30,8% [56] Nghiên cứu của Zhang Y.M và cs ở thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc có tỷ lệ viêm mũi dị ứng ở trẻ em là 14,9% [68]
Trang 20Bệnh thường gặp ở những người có cơ địa dị ứng Một số dị nguyên thường gặp là: phấn hoa, con mạt trong bụi nhà (House dust mites), một số hóa chất như sơn, xăng dầu Dị ứng với thời tiết nóng, lạnh đột ngột Bệnh thường xảy ra đột ngột: bệnh nhân có cảm giác cay mũi, ngứa mũi, hắt hơi từng cơn vài chục cái liền Sau cơn hắt hơi là chảy nước mũi trong, loãng như nước lã Những cơn như trên thường xảy ra vào buổi sáng Tình trạng này thường kéo dài hàng tuần, sau đó tự khỏi Hàng năm vào thời kỳ đó lại tái diễn Vì vậy, vấn đề phòng bệnh chủ yếu là cách ly với dị nguyên gây dị ứng
Vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sống và học tập Tránh tiếp xúc với không khí ô nhiễm, nóng lạnh đột ngột Khi bị bụi nhiều cần rửa mũi bằng nước muối sinh lý để phòng bệnh [5]
1.2.2.4 Chảy máu mũi
Chảy máu mũi là bệnh, triệu chứng hay gặp trong chuyên ngành TMH Nghiên cứu trên đối tượng học sinh ở Ấn Độ của Arup Sen Gupta (2012) thấy chảy máu mũi xuất hiện với tỷ lệ 28,69% [35] Nguyên nhân của chảy máu mũi thường do chấn thương, do phẫu thuật, do VMX, do viêm V.A, do khối u mũi xoang hoặc do các bệnh lý nội khoa Biểu hiện bệnh: máu chảy ra cửa mũi trước hoặc chảy ra cả cửa mũi sau, xuống họng Trường hợp chảy máu nặng bệnh nhân có thể nuốt máu, sau đó nôn ra máu đen, có thể có dấu hiệu choáng do mất máu Ở trẻ em thường chảy máu mức độ nhẹ (do tổn thương tại điểm mạch Kisselbach), số lượng ít, có xu hướng tự cầm, hay tái phát Cần tuyên truyền và giáo dục trong cộng đồng có thói quen sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động, sinh hoạt, an toàn giao thông Tránh để cho trẻ em nhét
dị vật vào mũi hoặc ngoáy mũi Nếu đã chảy máu một lần dù nhẹ vẫn phải đến bác sĩ chuyên khoa TMH để xác định nguyên nhân [3],[43]
1.2.2.5 Dị hình vách ngăn
Dị hình vách ngăn là một bệnh hình vách ngăn rất hay gặp, thường do bẩm sinh hoặc sau chấn thương, phẫu thuật mũi xoang làm tổn thương vách
Trang 21ngăn, tùy từng mức độ mà gây ra những ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động của cơ thể Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) trên học sinh trung học cơ sở (Thái Nguyên) thấy tỷ lệ dị hình vách ngăn là 16,9% [6]
Dị hình vách ngăn là một trong những nguyên nhân gây ngạt mũi, chảy máu mũi tái phát, viêm xoang, viêm mũi dị ứng, có khi đau nửa đầu Dị hình vách ngăn còn làm chảy dịch nhày xuống cửa mũi sau về phía họng, làm cho người bệnh khó hoặc không xì mũi ra được, mà phải hít xuống họng rồi khạc
đi, đây cũng là nguyên nhân dễ làm nhiễm khuẩn đường hô hấp Ngoài ra, người bệnh còn có thể ngủ ngáy, kém ngủ và mất ngủ do ngạt mũi, độ nhạy với mùi kém [5],[48] Rất nhiều người phải sống chung với dị tật này đến suốt đời Vì vậy cần có một chế độ dự phòng thích hợp khi có dị hình vách ngăn mũi Vệ sinh mũi bằng cách nhỏ nước muối sinh lý thường xuyên là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả tích cực [16],[22]
1.2.3 Các bệnh về họng
1.2.3.1 Viêm V.A
V.A là tổ chức amydal ở vùng họng mũi (V.A vòm và V.A vòi) Viêm V.A là bệnh hay gặp ở trẻ em Các tác giả Nguyễn Lệ Thủy, Trần Duy Ninh nghiên cứu năm 2012 trên các bệnh nhân là trẻ lớn và người lớn ở Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên và Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên có tỷ lệ viêm V.A quá phát là 46,,2% [27], nghiên cứu trên học sinh trường trung học cơ sở Nha Trang, thành phố Thái Nguyên (2013) thấy
tỷ lệ viêm V.A là 41,6% [28] Nguyễn Thị Thái Hà nghiên cứu năm 2014 có
tỷ lệ học sinh viêm V.A là 24,2% [6] Nghiên cứu của Aydin S và cs (2008) trên học sinh ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ viêm V.A ở học sinh nhóm tuổi từ 5 - 7 tuổi là 27,0%; tỷ lệ này ở nhóm tuổi 8 - 10 tuổi là 19,5% và
ở nhóm tuổi từ 11 - 14 tuổi là 19,9% [36] Bệnh thường gặp ở những trẻ sống trong môi trường ẩm thấp, không khí ô nhiễm (bụi, khói ), nguồn nước bị ô nhiễm, vệ sinh kém, trẻ bị suy dinh dưỡng [19]
Trang 22Mặt khác, chính viêm V.A mạn tính lại là nguyên nhân làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng Những thống kê gần đây ở nước ta cho thấy bệnh viêm V.A
và những biến chứng của nó còn khá phổ biến, nhất là vùng nông thôn Viêm V.A có thể gây biến chứng: viêm thận, viêm khớp Thậm chí còn gây rối loạn phát triển về thể chất và tinh thần, trẻ xanh xao, còi cọc, có bộ mặt V.A, trẻ kém thông minh, không tập trung tư tưởng, học tập kém do trẻ nghe kém, thiếu oxy não mạn tính Chính vì vậy, gia đình cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, y tế để giúp các em dự phòng, phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh viêm V.A Đặc biệt cần quan tâm chăm sóc trẻ khi thời tiết thay đổi Khi trẻ
bị viêm V.A cần được điều trị tích cực, đúng phương pháp, nạo V.A khi có chỉ định để đề phòng biến chứng [16],[28]
1.2.3.2 Viêm amydal
Viêm amydal là bệnh khá phổ biến ở nước ta Do cấu trúc của amydal có nhiều khe, hốc, nằm ở vị trí ngã tư giữa đường ăn và đường thở Dễ bị viêm nhiễm từ các bệnh lý ở những cơ quan kế cận: răng, mũi, miệng Là bệnh đứng hàng đầu trong các bệnh lý của vùng họng, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi: tỷ lệ mắc ở người lớn là 8 - 10%, trẻ em 21% và mắc nhiều nhất ở lứa tuổi 4 – 25 [37] Amydal quá phát độ 3,4 có thể gây ngủ ngáy, gây có cơn ngừng thở trong khi ngủ, thường hay xảy ra ở trẻ em [26], [30] Bệnh viêm amydal thường gặp vào mùa lạnh, thời điểm giao mùa, khi sức khỏe giảm sút Viêm amydal có thể gây
ra các biến chứng: tại chỗ (viêm tấy hoặc áp xe amydal, viêm tấy hoặc áp xe quanh amydal); biến chứng gần (viêm mũi, viêm xoang, VTG, viêm hạch ); biến chứng xa (viêm nội tâm mạc, viêm khớp, viêm cầu thận )
Nguyễn Thanh Hà và Trần Duy Ninh (2013) nghiên cứu trên học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên có kết quả nghiên cứu viêm amydal mạn tính của học sinh là 34,1% [8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) trên học sinh trung học cơ sở có tỷ lệ viêm amydal mạn tính khá cao (40,3%) [6] Nghiên cứu của Sanjay P Kishve và cs (2010) trên học sinh ở Ấn Độ có tỷ lệ
Trang 23viêm amydal mạn tính là 11,7% [59]
Để dự phòng bệnh viêm amydal, cần được nâng cao thể trạng và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể bằng các loại sinh tố và rèn luyện thân thể thích nghi với môi trường sống Tránh nhiễm lạnh bằng cách: không ăn uống đồ lạnh, tránh bị ngấm nước mưa, nhất là khi mệt mỏi Vệ sinh mũi họng, răng, miệng, chú ý khi có các bệnh dịch: cúm, sởi Điều trị viêm amydal kịp thời, đúng cách
và đặc biệt cắt amydal đúng chỉ định để tránh các biến chứng [39]
1.2.3.3 Viêm họng
Là bệnh rất thường gặp trong mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi Bệnh có thể xuất hiện riêng biệt hoặc đồng thời với viêm V.A, viêm amydal, VMX hoặc trong các bệnh nhiễm trùng của đường hô hấp trên Nguyên nhân của bệnh là do virus (chiếm từ 60 - 80%) và/hoặc vi khuẩn, vì vậy viêm họng dễ lây truyền qua đường nước bọt, nước mũi [5], [40] Thông thường, bệnh diễn biến 7 - 10 ngày thì khỏi Nhưng bệnh cũng có thể gây ra các biến chứng: biến chứng gần (VTG cấp, VMX cấp, viêm thanh khí phế quản cấp, viêm phổi, viêm hạch góc hàm, viêm tấy hoặc áp xe amydal, viêm tấy hoặc áp xe quanh amydal); biến chứng xa (viêm cầu thận, viêm khớp, viêm nội tâm mạc )
Để phòng bệnh cần nâng cao thể trạng, tiêm chủng đầy đủ cho trẻ, tránh
nhiễm lạnh, xúc họng bằng nước muối sinh lý thường xuyên và đúng cách
Đeo khẩu trang phòng hộ khi tiếp xúc bụi, khói, hơi hóa chất Nếu viêm họng hay tái phát cần giải quyết các ổ viêm nhiễm mạn tính: nạo V.A, cắt amydal, điều trị tích cực bệnh VMX [22],[34]
1.2.4 Các bệnh khác
1.2.4.1 Các bệnh rò khe mang
Là các bệnh bẩm sinh Thường gặp rò luân nhĩ, rò giáp lưỡi, rò xoang lê Bệnh biểu hiện là các đường rò có lỗ đổ ra ở các vị trí cùng tên, tiết dịch nhày, chất bã đậu, mùi hôi khó chịu
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà năm 2014 trên đối tượng học sinh
Trang 24trung học cơ sở ở Thái Nguyên thấy có tỷ lệ bệnh rò luân nhĩ là 0,8% [6] Khi bị viêm nhiễm, áp xe đường rò sẽ gây sưng tấy, đau nhức Sự viêm nhiễm thường hay tái phát nhiều lần, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, trí tuệ, học tập của trẻ, kinh tế của gia đình và xã hội Điều trị triệt để cần phẫu thuật lấy bỏ đường rò
1.2.4.2 Chấn thương tai mũi họng
Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, chơi thể thao, đánh nhau Ở trẻ nhỏ còn có thể do trẻ nghịch dùng các vật sắc nhọn tự chọc vào tai, mũi, họng của mình hoặc của bạn gây chấn thương Cần tuyên truyền các biện pháp phòng tránh, có thái độ và kỹ năng xử
trí ban đầu đúng đắn [22],[50]
1.2.4.3 Dị vật tai mũi họng
Thường do trẻ đùa nghịch nhét vật vào tai, mũi của bạn hay tự nhét vào tai, mũi mình, hoặc do ăn uống không cẩn thận trẻ bị hóc xương Đặc biệt nguy hiểm là dị vật đường thở Là một tai nạn thường gặp trong sinh hoạt, khi bệnh nhân đang ăn hoặc đang ngậm vật gì đó trong miệng, do tác nhân nào đó làm đột ngột hít mạnh, dị vật theo luồng không khí rơi vào đường thở Ngoài
ra dị vật đường thở ở trẻ em còn do cho trẻ ăn, uống thuốc không đúng phương pháp Cần tuyên truyền trong cộng đồng, đặc biệt là các bậc cha mẹ,
cô giáo, người chăm sóc trẻ, hiểu rõ sự nguy hiểm của dị vật đường thở, nguyên nhân gây dị vật đường thở, khi có nghi ngờ hoặc có hội chứng xâm nhập phải đưa trẻ đến CSYT ngay để can thiệp kịp thời [50]
1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tai mũi họng
Các bệnh về TMH rất hay gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở lứa tuổi trẻ nhỏ Bệnh có thể do nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau gây nên, nhưng thường được chia làm các nhóm chính sau: Hành vi, lối sống; Yếu tố môi trường;
Cung ứng dịch vụ y tế; Yếu tố gia đình;
Trang 251.3.1 Yếu tố hành vi, lối sống
Thông thường, nhắc đến bệnh TMH là người ta thường nghĩ ngay đến tác nhân thời tiết, môi trường, nhưng "kẻ thù" không kém nguy hiểm gây bệnh TMH còn đến từ chính những thói quen rất phổ biến trong cuộc sống thường ngày
Những tập quán - thói quen đơn giản như vừa ăn vừa nói chuyện, cười đùa chính là một trong những yếu tố nguy cơ gây các bệnh TMH [22], [61] Việc vệ sinh TMH hằng ngày giúp cho trẻ dự phòng và góp phần điều trị bệnh TMH hiệu quả Tuy nhiên nếu vệ sinh không đúng cách lại là nguyên nhân làm cho bệnh lý TMH trầm trọng hơn, đặc biệt đối với những trẻ bị VMX, viêm họng, viêm amydal, viêm V.A thì việc vệ sinh TMH đúng cách là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh cho trẻ
Kết quả nghiên cứu của Chu Thị Thu Hoài năm 2015 trên học sinh dân
tộc Mường, Hòa Bình cho thấy nguy cơ mắc bệnh TMH ở nhũng học sinh không có thói quen rửa mũi thường xuyên cao gấp 2,7 lần ở những học sinh thường xuyên rửa mũi bằng nước muối sinh lý, có thói quen rửa họng thường xuyên bằng nước muối sinh lý làm giảm nguy cơ mắc bệnh 3,4 lần so với nhóm không có thói quen này [13]
Nghiên cứu trên 2500 trẻ em ở Thổ Nhĩ Kỳ của Tamay Z (2007) đã chứng minh chế độ ăn uống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến bệnh lý TMH [65] Thói quen sử dụng nhiều sữa và rau chính là những yếu tố bảo vệ sức khỏe cho trẻ, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến dị ứng, trong đó có bệnh VMX dị ứng [65] Nghiên cứu của Martines F và cs (2011) ở Sicilia, Italia về các yếu tố nguy cơ của bệnh VTG đã chứng minh có mối liên quan giữa việc trẻ không được bú sữa mẹ với tình trạng mắc bệnh VTG [53] Nghiên cứu của Penaranda A và cs (2012) trên học sinh tại Bogota, Colombia cũng đã chứng minh có mối liên quan giữa việc sử dụng thức ăn nhanh thường xuyên và bệnh VMX dị ứng [56] Thói quen ăn bữa phụ trước
Trang 26giờ đi ngủ tối của một số gia đình cũng là một nguy cơ mắc bệnh TMH Theo nghiên cứu của tác giả Trần Duy Ninh năm 2012 trên học sinh trường MN Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, những trẻ ăn thêm bữa phụ ban đêm
có tỷ lệ mắc các triệu chứng của đường hô hấp trên, đường tiêu hóa và một số bệnh về họng cao hơn so với những trẻ không ăn bữa phụ ban đêm [23] Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thái Hà (2014), tỷ lệ mắc bệnh TMH ở những học sinh có thói quen ăn đêm là 84,3%, cao hơn ở những học sinh không có thói quen này (61,8%); ở những học sinh không có thói quen
ăn sáng thì có tỷ lệ mắc bệnh TMH là 73,4%, cao hơn ở nhóm có ăn sáng thường xuyên (62,2%) [6]
1.3.2 Yếu tố môi trường
Một trong những giải pháp phòng chống, điều trị bệnh TMH hiệu quả chính là việc đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh điều kiện sống và học tập [49], [59] Theo các tác giả Penaranda A nghiên cứu trên học sinh ở Colombia: tỷ lệ VMX dị ứng dao động từ 4 - 40%; nguyên nhân chưa rõ ràng nhưng một số yếu tố nguy cơ gây VMX dị ứng có thể kể đến như tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm, nhà ở có nhiều bụi, nhà ở và nơi làm việc ít có sự thông thoáng không khí và có xu hướng liên quan đến thói quen sinh hoạt ít vận động [56] Nghiên cứu của tác giar Sultesz M và cs (2010) ở Hungary cho thấy việc sống trong những ngôi nhà bê tông hoặc không xa nhà máy/mỏ
có không khí ô nhiễm sẽ tăng nguy cơ bị bệnh viêm mũi dị ứng [64] Nghiên cứu của Sultesz M và cs cũng cho thấy việc sống trong những căn nhà hộp, kém độ thông thoáng không khí sẽ tăng nguy cơ bị mắc bệnh VMX lên 1,35 lần [64] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) ở Thái Nguyên cũng thấy có
tỷ lệ mắc bệnh TMH ở nhóm học sinh ở nhà hộp là (72,2%), cao hơn so với nhóm học sinh ở loại nhà khác (60,0%) [6]
Ô nhiễm không khí trong nhà ở là yếu tố làm gia tăng các bệnh lý TMH Nguyên nhân chính là do đun nấu bếp bằng than, củi không được thông khí
Trang 27tốt, nhà cửa không thông thoáng, nhà cửa ẩm thấp, nhà cửa gần chuồng trại nuôi gia súc, gia cầm, nuôi chó, mèo trong nhà, hay như ở người dân tộc có thói quen nuôi gia súc, gia cầm dưới gầm sàn [6],[13] Cha mẹ, người lớn trong gia đình có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào trong nhà làm cho trẻ bị hút thuốc thụ động cũng gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và sụ phát triển của trẻ, trong đó có các bệnh về TMH [13]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2001, ô nhiễm không khí trong nhà là nguyên nhân của 35,7% trường hợp viêm đường hô hấp [54]
Nghiên cứu của tác giả Al-Abri R và cs (2014) ở Oman về bệnh lý mũi xoang đã có nhận định nguyên nhân hàng đầu gây VMX dị ứng hay gặp nhất là
do bụi nhà, tiếp theo là do gián [31]
Một số nghiên cứu đã chứng minh việc sống trong môi trường ẩm thấp, chật chội, có nhiều người là một yếu tố nguy cơ của VTG ứ dịch [48],[64] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà thấy tỷ lệ học sinh mắc bệnh TMH ở nhóm gia đình sử dụng bếp đun trong nhà có tỷ lệ 74,4%, cao hơn nhóm gia đình
để bếp đun riêng là 55,7% [6] Điều này được lý giải do bếp đun là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí trong nhà Trong khói bếp có rất nhiều hóa chất độc hại đối với đường hô hấp như SO2, CO Việc đặt bếp đun ở trong nhà mà không sử dụng các phương pháp hỗ trợ thông khí sẽ làm tăng nguy
cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp cao gấp 2-3 lần so với gia đình sống trong môi trường không khí trong lành [18] Nghiên cứu của Da Costa J L và cs (2004) ở Maputo, Mozambique cho thấy học sinh có gia đình sử dụng bếp nấu
ăn bằng than, củi có nguy cơ mắc bệnh TMH cao hơn 1,5 và 1,85 lần (theo thứ tự) so với dùng bếp ga/điện [40] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014) có tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh ở nhóm gia đình đun bếp than/củi là 75,5%, cao hơn nhóm sử dụng bếp ga/điện là 63,3% [6] Theo Chu Thị Thu Hoài (2015) thì những học sinh sống trong gia đình đun bếp than hoặc bếp củi có nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 1,8 lần so với những học sinh mà gia đình đun nấu bằng bếp gas hoặc bếp điện [13]
Trang 28Nuôi động vật trong khu vực gần nơi sinh sống có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh về TMH Nghiên cứu của Chu Thị Thu Hoài (2015) cho thấy gia đình có nuôi gia cầm thì nguy cơ mắc bệnh TMH ở học sinh cao gấp 1,46 lần những gia đình không nuôi gia cầm trong nhà, có nuôi chó, mèo trong nhà thì nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 1,6 lần những gia đình không nuôi chó, mèo [13] Nghiên cứu ở Bogota, Colombia của tác giả Penaranda và cs năm 2012 cũng đã công bố mối liên quan giữa việc nuôi/tiếp xúc với mèo và bệnh viêm mũi dị ứng [56]
Bên cạnh đó là việc hút thuốc lá thụ động (ô nhiễm không khí) Đây là một trong những yếu tố nguy cơ không chỉ cho bệnh TMH của trẻ nhỏ mà còn
là yếu tố nguy cơ cho các bệnh nặng nề khác như ung thư Khói thuốc lá của cha mẹ, người thân trong nhà đã làm tăng khả năng bị mắc bệnh với bệnh dị ứng về đường hô hấp của các trẻ Tác động của khói thuốc lá đối với sức khỏe của những người xung quanh đã được nhiều nghiên cứu tìm hiểu Trong nghiên cứu của tác giả Chu Thị Thu Hoài (2015) thấy những học sinh sống trong gia đình có người hút thuốc lá thì nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 1,6 lần những học sinh mà gia đình không có người hút thuốc lá [13] Nghiên cứu bệnh chứng của Martines F và cs (2011) về các yếu tố nguy cơ của bệnh VTG trên các trẻ em học sinh tại Sicilia, Italia đã chứng minh mối liên quan giữa tình trạng VTG của trẻ và phơi nhiễm với khói thuốc lá [53] Kết quả này cũng được chứng minh tương tự trong nghiên cứu của Kiris M và cs (2012) trên học sinh ở Đông Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ thấy có mối liên quan giữa phơi nhiễm khói thuốc lá và VTG ứ dịch [48], hay trong nghiên cứu của Penaranda A và cs (2012) ở Colombia cũng chứng minh mối liên quan giữa phơi nhiễm khói thuốc lá và bệnh viêm mũi dị ứng [56] Nghiên cứu của Monteil M.A và cs năm 2004 trên học sinh ở Trinidad and Tobago cho thấy nếu bố, mẹ hút thuốc lá thì con có nguy cơ mắc các biểu hiện của bệnh VMX cao hơn 1,35 lần [54]
Trang 291.3.3 Cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế
Tại một số trường học đã có cán bộ y tế trường học chuyên trách đảm nhiệm công tác y tế cho toàn bộ các học sinh và cán bộ trong trường Tuy nhiên, trên thực tế thì công tác truyền thông, dự phòng và phát hiện sớm các bệnh của học sinh nói chung, bệnh lý TMH nói riêng, tại y tế trường học chưa được quan tâm thỏa đáng, có rất ít thời gian và nguồn lực cho hoạt động y tế, đặc biệt là tuyên truyền về công tác chăm sóc sức khỏe TMH - bệnh có liên quan đến các hành vi cá nhân Bên cạnh đó, là yếu tố về nhân lực và trang thiết bị y tế Phần lớn cán bộ y tế trường học có trình độ chuyên môn là cao đẳng, trung học y tế, họ chưa được tập huấn chuyên sâu
về những bệnh có liên quan đến TMH hay những bệnh thường gặp ở học sinh Các em học sinh hầu hết chỉ được khám sức khỏe thông thường mà không được áp dụng các máy cận lâm sàng trong khám sức khỏe, nên bị bỏ sót bệnh lý trong đó có bệnh lý TMH [4],[7]
Hệ thống và hoạt động y tế trường học vẫn còn có một số hạn chế nhất định Việc phát hiện bệnh sớm sẽ giúp học sinh được điều trị kịp thời, không
để lại các biến chứng, di chứng Ngoài ra công tác dự phòng cũng chưa được chú trọng Nếu những vấn đề này được cải thiện sẽ có những tác động không nhỏ đến giảm tỷ lệ bệnh TMH ở trường học và nâng cao sức khỏe cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng học tập và chất lượng cuộc sống [7], ]33]
Theo nghiên cứu của tác giả Chu Thị Thu Hoài cho thấy học sinh không thường xuyên khám và điều trị tại CSYT khi có các triệu chứng mắc bệnh TMH ( ngạt mũi, chảy mũi, hắt hơi, ho, đau họng, đau tai, chảy tai, ù tai, nghe kém…) có nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 1,5 lần những học sinh thường xuyên khám và điều trị bệnh [13]
Kết quả nghiên cứu của Chu Thị Thu Hoài (2015) cũng cho thấy, phụ huynh và học sinh không thường xuyên được GDSK về phòng bệnh TMH tại trường có nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 2,8 lần những học sinh thường
Trang 30xuyên được GDSK về phòng bệnh TMH tại trường [13] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà (2014), nhóm học sinh không được gia đình thường xuyên nhăc nhở để phòng bệnh TMH có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,1 lần so với nhóm được gia đình nhắc nhở thường xuyên, những học sinh có kiến thức
về phòng chống bệnh TMH thì nguy cơ mắc bệnh TMH giảm 1,86 lần so với những học sinh không có hoặc có kiến thức không đạt [6] Theo các tác giả Nguyễn Thị Thái Hà, Chu Thị Thu Hoài: có mối liên quan giữa nguy cơ mắc bệnh TMH với công tác truyền thông GDSK tại nhà trường và gia đình cũng như ý thức tự tìm hiểu các vấn đề liên quan đến phát hiện, xử trí và phòng các bệnh đường hô hấp trên [6],[13] Do đó để giảm nguy cơ mắc bệnh TMH của học sinh cần quan tâm, đầu tư cho công tác truyền thông GDSK, nâng cao kiến thức phòng chống bệnh TMH trong trường học và cộng đồng
1.3.4 Yếu tố gia đình
Theo tài liệu của Ngô Ngọc Liễn thì bệnh TMH có yếu tố gia đình thể hiện khá rõ rệt Trong gia đình có người thường mắc bệnh TMH thì nguy cơ trẻ mắc bệnh TMH là khá cao đặc biệt là với các bệnh miễn dịch có yếu tố dị ứng như bệnh VMX dị ứng [16]
Tiền sử dị ứng gia đình cũng có liên quan đến bệnh TMH Nghiên cứu của Olusesi A.D và cs ở Nigeria cho thấy nếu gia đình có tiền sử dị ứng thì
có thể tiên lượng được các triệu chứng của phì đại amydal/V.A ở trẻ dưới 6 tháng tuổi [55] Nghiên cứu của Martines F và cs (2011) ở Sicilia (Italia) cũng chứng minh mối liên quan giữa cơ địa dị ứng và bệnh VTG ứ dịch [53] Mối liên quan giữa cơ địa dị ứng và VTG ứ dịch cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Kiris M và cs (2012) khi nghiên cứu về bệnh TMH và yếu tố liên quan trên học sinh ở Đông Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ [48] Theo tác giả Nguyễn Thị Thái Hà thì ở những học sinh có những người khác trong gia đình mắc bệnh TMH thì có tỷ lệ mắc bệnh (72,0%) cao hơn nhóm học sinh không
có yếu tố này (57,1%) [6] Nghiên cứu của Chu Thị Thu Hoài cho thấy nhóm
Trang 31học sinh sống trong gia đình có người thân thường xuyên mắc bệnh TMH có nguy cơ mắc bệnh TMH cao gấp 1,9 lần so với những học sinh mà gia đình không có người mắc bệnh TMH [13]
1.3.5 Một số yếu tố khác
Trong nghiên cứu của Phùng Minh Lương (2013) về các yếu tố liên quan đến bệnh TMH của trẻ em ở Gia Lai cho thấy, trẻ em thuộc nhóm hộ nghèo và trình độ học vấn của bố mẹ thấp có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh TMH ở trẻ [19] Nghiên cứu của Viral Shah và cs (2014) ở Ấn Độ cho thấy tỷ lệ bệnh TMH của trẻ em từ 5 - 14 tuổi tương đối cao, tỷ lệ 46,66%; nhưng trong số đó chỉ
có 31,40% trẻ em được đưa đi điều trị Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ và việc đưa con đi điều trị bệnh TMH nhằm phòng các biến chứng: tỷ lệ đưa con đi điều trị ở nhóm bà mẹ mù chữ là 21,21%; ở nhóm bà
mẹ có trình độ học vấn tiểu học là 27,27% và ở nhóm những bà mẹ có trình
độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên là 53,53% [62]
Tình trạng kinh tế gia đình cũng liên quan đến bệnh TMH Điều này được chứng minh trong nghiên cứu về tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của VTG ứ dịch ở trẻ từ 6 - 11 tuổi năm 2012 ở Thổ Nhĩ Kỳ của Kiris M và cs [48] Nghiên cứu của Li F và cs (2011) tại Trung Quốc cũng chứng minh mối liên quan giữa kinh tế gia đình với bệnh viêm mũi dị ứng ở trẻ em [51]
Các bệnh TMH lại có mối liên hệ qua lại, đan xen lẫn nhau Việc viêm tai có thể dẫn tới viêm họng hay viêm mũi và ngược lại Do đó, bệnh về cơ quan này có thể là yếu tố nguy cơ của cơ quan khác Nghiên cứu trên 7190 học sinh Nhật Bản của Yumoto E và cs (1991) cho thấy tỷ lệ amydal quá phát ở bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng chiếm cao, dao động từ 20,5% - 29,7%; đồng thời trong nghiên cứu này cũng khẳng định mỗi liên quan giữa phì đại amydal và giảm chức năng nghe ở trẻ em [67] Nghiên cứu của Sanli A và cs năm 2014 trên học sinh ở Ấn Độ cũng đã chứng minh có mối liên quan giữa VTG với sự viêm sùi V.A [60]
Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy bệnh TMH
Trang 32khá phổ biến, với tỷ lệ dao động từ 46,6% đến 88,74% tùy theo từng lứa tuổi
và từng khu vực Đối với học sinh, bệnh TMH có liên quan với một số yếu tố như: hành vi lối sống, môi trường gia đình xã hội, cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế, yếu tố gia đình,
1.4 Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, hệ thống giáo dục mầm
non huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
Yên Thế là một huyện miền núi, nằm ở phía tây bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích đất tự nhiên trên 303km2, bằng 7,85% diện tích của tỉnh Bắc Giang (trong
đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 31,6%, đất lâm nghiệp chiếm 48,6%); tiếp giáp với 06 huyện: Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên), Hữu Lũng (tỉnh Lạng Sơn), Tân Yên, Lạng Giang (tỉnh Bắc Giang); được chia thành 21 xã, thị trấn với 212 thôn, bản, phố Trong đó, có 05 xã vùng cao, 14 xã miền núi khu vực 2, có
02 thị trấn (Bố Hạ và Cầu Gồ) Thị trấn Cầu Gồ là trung tâm huyện lỵ Tính đến nay, dân số toàn huyện khoảng 10 vạn người, với 8 dân tộc cùng chung sống đan xen, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 27% (trong đó dân tộc Tày, Nùng là chủ yếu); toàn huyện có hơn 28.000 hộ dân (số hộ nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 90%) Hàng năm, giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân đạt 16 - 17% Năm 2015,
thu nhập bình quân đầu người ước đạt 25 triệu đồng/người
Hệ thống giáo dục MN đã được triển khai thực hiện ở 21/21 xã, thị trấn trong huyện với 22 trường MN (xã Đông Sơn có 02 trường) Có cơ sở trường riêng được xây dựng tương đối cơ bản Hiện tại, toàn huyện có 6291 học sinh
MN, trong đó có 946 học sinh lớp nhà trẻ ( từ 24-36 tháng tuổi), 5345 học sinh lớp mẫu giáo (3-5 tuổi) Về công tác chăm sóc sức khỏe học sinh, hàng năm các trường tổ chức phối hợp với trạm y tế xã khám sức khỏe định kỳ 1-2 lần cho học sinh, chủ yếu khám phát hiện tình trạng suy dinh dưỡng, một số
dị tật, bệnh bẩm sinh Tính đến tháng 3/ 2016, mới có 13/22 trường MN có cán bộ y tế trường học, trình độ chuyên môn chủ yếu là trung học y tế Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh tại y tế nhà trường còn thiếu thốn, cả về trang thiết bị lẫn thuốc men
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng:
- Học sinh MN huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Phụ huynh học sinh
- Cán bộ y tế trường học
- Hiệu trưởng trường MN
* Địa điểm nghiên cứu:
Tại 3 trường MN của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc giang:
-Trường MN Thị trấn Cầu Gồ (Trường thị trấn huyện)
-Trường MN xã Hương Vỹ (Trường xã miền núi )
-Trường MN xã Tam Tiến (Trường xã vùng cao)
* Thời gian nghiên cứu: Từ 04/2016 - 06/2017
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
2.1.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
2.1.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
* Trong nghiên cứu định lượng:
- Số học sinh được tính theo công thức [9]:
Trong đó:
n: Số lượng học sinh tối thiểu cần nghiên cứu
Z1- /2: Giá trị điểm Z tại mức ý nghĩa , với = 0,05 Z1- /2 = 1,96
2
2 α/2 1
d
p)p(
z
Trang 34d: Độ sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ thực của quần thể, chọn d = 0,05
p: Tỷ lệ trẻ mắc bệnh viêm vùng hầu họng ước lượng theo nghiên cứu của Trần Duy Ninh ở học sinh trường MN Quang Trung (Thái Nguyên) năm
2.1.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu
*Chọn trường nghiên cứu:
Chọn ngẫu nhiên lấy 3 trường MN ở 3 khu vực khác nhau của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang ( khu vực các thị trấn, khu vực các xã miền núi, khu vực các xã vùng cao)
* Trong nghiên cứu định lượng:
Chọn mẫu học sinh:
Cỡ mẫu được tính cho từng trường theo công thức:
nt = Nt × n/N
Trong đó: nt là số học sinh tối thiểu cần chọn
Nt là số học sinh của trường
n là cỡ mẫu nghiên cứu
N là tổng số học sinh của 3 trường
Từng trường chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ học sinh của từng khối lớp (nhóm tuổi) tương ứng tỷ lệ học sinh của khối lớp đó với tổng số học sinh toàn trường Tính cỡ mẫu cho từng khối lớp theo công thức:
nk = Nk × nt /Nt
Trong đó: nk là số học sinh tối thiểu cần chọn cho khối lớp (k)
Trang 35Nk là số học sinh của khối lớp (k)
nt là cỡ mẫu nghiên cứu (của trường)
Nt là số học sinh toàn trường
Tại mỗi khối lớp, lấy toàn bộ học sinh trong mỗi lớp theo thứ tự từ lớp
A, B đến đủ mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu phụ huynh học sinh: Phụ huynh hoặc người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh trong nhóm nghiên cứu
* Trong nghiên cứu định tính:
Thảo luận nhóm
Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm
- Địa điểm: Tại 03 Trường MN thuộc diện nghiên cứu
- Thành phần: Mỗi cuộc thảo luận nhóm gồm 10 phụ huynh học sinh
- Nội dung: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến bệnh TMH của học sinh MN
Phỏng vấn sâu
Tổ chức 06 cuộc phỏng vấn sâu với 3 Hiệu trưởng các Trường MN, 3 cán bộ y tế trường học về thực trạng và các yếu tố liên quan đến bệnh TMH của học sinh MN
2.1.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
* Nhóm các chỉ số thuộc thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Độ tuổi, giới tính, dân tộc
* Các chỉ số mô tả thực trạng bệnh tai mũi họng
Trang 36* Nhóm các chỉ số thuộc các yếu tố liên quan với bệnh lý tai mũi họng
- Mối liên quan giữa bệnh TMH với nhóm yếu tố nhân khẩu học; gồm:
Độ tuổi: 4 khối lớp tương ứng với 4 độ tuổi: <3 tuổi; 3 tuổi; 4 tuổi; 5 tuổi Giới tính: nam, nữ
Dân tộc: dân tộc Kinh; dân tộc thiểu số khác
- Mối liên quan giữa bệnh TMH với nhóm yếu tố môi trường; gồm
Có người thân hút thuốc trong nhà: Ông bà, bố mẹ, anh chị, hút thuốc
lá, thuốc lào trong nhà, hàng ngày
Nghề dịch vụ: Là những nghề kinh doanh tại hộ gia đình như: cửa hàng
ăn uống, may mặc, mỹ phẩm, tạp hóa, sửa chữa
Loại nhà ở gồm “nhà hộp” là nhà xây hình hộp, có thể một hay nhiều tầng, một cửa ra vào và không có nhiều cửa sổ Các loại nhà khác bao gồm nhà cấp 4, nhà có nhiều cửa thông thoáng
Nơi để bếp đun gồm: bếp đun riêng là vị trí bếp được đặt ở nơi có khoảng cách ngăn cách hoặc vách tường ngăn cách biệt lập với nhà ở; bếp đun trong nhà khi vị trí bếp đun đặt trong không gian của ngôi nhà
Trang 37Loại bếp đun gồm: bếp đun gas/điện; bếp đun than/củi
Có nuôi chó mèo: Nuôi chó hoặc mèo hoặc cả hai, không kể số lượng trong thời gian liên tục một năm trở lại đây, nuôi tại hộ gia đình
Có nuôi gia súc, gia cầm: Nuôi một hoặc nhiều loài gia súc, gia cầm, không
kể số lượng trong thời gian liên tục một năm trở lại đây, nuôi tại hộ gia đình
- Mối liên quan giữa bệnh TMH với nhóm yếu tố kiến thức, thái độ, thực hành và truyền thông phòng chống bệnh; gồm:
Kiến thức phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi
“Phiếu phỏng vấn các yếu tố liên quan đến bệnh TMH - Phụ lục 2” Với 10 câu hỏi về kiến thức phòng chống bệnh TMH, mỗi câu/ý trả lời đúng được xác định 5 điểm; tổng điểm tối đa 50 điểm và phân loại kiến thức theo 02 mức
độ sau: Kiến thức đạt khi tổng điểm kiến thức đạt từ ≥ 25 điểm; Kiến thức chưa đạt khi tổng điểm kiến thức < 25 điểm
Thái độ phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi
“Phiếu phỏng vấn các yếu tố liên quan đến bệnh TMH - Phụ lục 2” Với 09 câu hỏi, mỗi câu hỏi thái độ được thiết kế theo dạng câu hỏi thang đo Likert; Câu trả lời được đúng được 5 điểm; tổng điểm tối đa 45 điểm và phân loại thái độ theo 02 mức độ sau: Thái độ đạt khi tổng điểm thái độ đạt từ ≥ 23 điểm; thái độ chưa đạt khi tổng điểm thái độ < 23 điểm
Thực hành phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi
“Phiếu phỏng vấn các yếu tố liên quan đến bệnh TMH - Phụ lục 2” Với 07 câu hỏi thực hành, mỗi câu hỏi thực hành được thiết kế theo dạng câu hỏi tần xuất; các câu trả lời được xác định theo phương pháp tính điểm thông qua các mức khác nhau, đúng đạt 5 điểm, tối đa đạt 35 điểm Tính tổng điểm và phân loại thực hành theo 02 mức độ sau: Thực hành đạt khi tổng điểm thực hành đạt từ ≥ 18 điểm; thực hành chưa đạt khi tổng điểm thực hành < 18 điểm Giáo dục sức khỏe phòng bệnh TMH tại trường học: Phụ huynh học sinh được cô giáo, nhân viên y tế quan tâm nhắc nhở để thực hiện các hành vi
Trang 38phòng chống bệnh TMH: vệ sinh TMH, lựa chọn trang phục phù hợp thời tiết
Tìm hiểu phòng bệnh TMH qua các phương tiện truyền thông (PTTT):
Phụ huynh học sinh tự tìm hiểu các vấn đề liên quan đến bệnh TMH trên các
PTTT ít nhất một lần trong vòng 6 tháng qua
- Mối liên quan giữa bệnh TMH với nhóm yếu tố gia đình:
Trong gia đình có người thân (bố, mẹ, anh chị em ruột) mắc bệnh TMH
với tần suất trên 4 lần trong một năm
2.2 Phương pháp thu thập và đánh giá thông tin
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.1.1 Thực trạng bệnh tai mũi họng
* Trong nghiên cứu định lượng: Khám lâm sàng + Phỏng vấn
- Khám lâm sàng phát hiện bệnh TMH của học sinh: Khám bằng các
dụng cụ khám TMH thông thường Chẩn đoán, phân loại bệnh theo phân loại
của WHO (ICD 10) Các kết quả thăm khám được ghi chép vào mẫu phiếu
thiết kế sẵn (Phụ lục 1)
- Phỏng vấn phụ huynh trên phiếu được thiết kế sẵn (phụ lục 2)
* Trong nghiên cứu định tính: Thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu
- Thảo luận nhóm các bậc phụ huynh học sinh về thực trạng bệnh TMH,
một số yếu tố liên quan, các kết quả thảo luận được ghi chép đầy đủ theo định
hướng nghiên cứu được thiết kế sẵn (Phụ lục 4)
- Phỏng vấn sâu các hiệu trưởng các trường mầm non, cán bộ y tế trường
học theo định hướng nghiên cứu đã thiết kế sẵn cho phù hợp với nội dung
nghiên cứu (phụ lục 5) Các kết quả phỏng vấn sâu được ghi chép đầy đủ
2.2.1.2 Các yếu tố liên quan
* Trong nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng:
cha mẹ, người chăm sóc về các nội dung liên quan Các kết quả phỏng vấn
được ghi trên phiếu thiết kế sẵn
* Trong nghiên cứu định tính: Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu các
Trang 39đối tượng nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến bệnh TMH ở học sinh MN
2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Các mẫu phiếu ghi kết quả phải đầy đủ, rõ ràng, thông tin chính xác và
có độ tin cậy cao, các câu trả lời phải đảm bảo tính logic
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được nhập, kiểm soát trên chương trình Epidata và xử lý trên chương trình SPSS 17.0 Sử dụng test 2 để so sánh 2 tỷ lệ %
Nghiên cứu định tính: Tổng hợp các ý kiến chung nhất theo mục tiêu nghiên cứu và trình bày dưới dạng các hộp kết quả nghiên cứu
2.3.1 Biện pháp khống chế sai số
2.3.1.1 Sai số ngẫu nhiên
Hạn chế sai số ngẫu nhiên bằng cách đảm bảo cỡ mẫu và tuân thủ phương pháp chọn mẫu
2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các giáo viên và phụ huynh học sinh của các trường tiến hành nghiên cứu đều được nhóm nghiên cứu thông báo và giải thích đầy đủ về mục đích, yêu cầu và nội dung nghiên cứu để họ hiểu và tự nguyện tham gia Kết quả nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến cá nhân các đối tượng nghiên cứu được giữ kín Quá trình nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến công tác của nhà trường cũng như việc học tập của học sinh
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu xếp theo tuổi
Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ giữa nam và nữ trong nghiên cứu của chúng tôi
Tỷ lệ học sinh nam trong nhóm nghiên cứu là 206, chiếm 52,8%, tỷ lệ học sinh nữ là 184, chiếm 47,2%