1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý và hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân tỉnh hòa bình và đề xuất giải pháp

115 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lý và hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân tỉnh hòa bình và đề xuất giải pháp Thực trạng quản lý và hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân tỉnh hòa bình và đề xuất giải pháp luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

LÊ THỊ THANH HÒA

HÀNH NGHỀ KHÁM CHỮA BỆNH TƯ NHÂN TỈNH HÒA BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Y tế công cộng Mã số: CK 62 72 76 01

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của sức khoẻ con người trong quá trình đổi mới, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước

ta đã đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

nhân dân là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, phấn đấu đến

năm 2020 là bảo đảm công bằng, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân, đưa sức khoẻ nhân dân ta đạt mức trung bình của các nước trong khu vực” [43]

Để đạt được mục tiêu trên, bên cạnh việc củng cố hệ thống y tế nhà nước để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của nhân dân, thì việc phát triển mạng lưới y tế tư nhân cùng với hệ thống y tế nhà nước chăm lo chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một biện pháp vô cùng quan trọng Đó

là chủ trương xã hội hoá công tác y tế, trong đó có việc thúc đẩy đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế Do vậy, trong những năm gần đây, các dịch vụ hành nghề khám chữa bệnh tư nhân ở các tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước đã phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội trong giai đoạn đổi mới hiện nay [68], [69]

Hành nghề khám chữa bệnh tư nhân trong cơ chế thị trường hiện nay đang là vấn đề sôi động được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều người quan tâm vì sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và toàn xã hội, quyết định sự phát triển của đất nước Người dân cần được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ một cách tốt nhất, giảm thiểu những hậu quả không mong muốn do những người hành nghề tư nhân gây ra

Với phương châm bảo đảm an toàn về sức khoẻ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân, đồng thời để thống nhất việc quản lý

và đưa các hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân theo đúng pháp luật, ngày 23/11/2009 Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã được Quốc hội thông qua, đồng thời Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Các văn bản qui phạm pháp luật này đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phép các cơ sở hành nghề y tế tư nhân được tồn tại, hoạt động và ngày càng phát triển [46], [47]

Trang 3

Hoà Bình là một tỉnh miền núi, có 10 huyện và một thành phố với 210 xã phường, mặt bằng dân trí không đồng đều, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Vì vậy công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở một số nơi, đặc biệt những vùng sâu, vùng xa còn hạn chế Qua một thời gian triển khai, hệ thống hành nghề khám chữa bệnh tư nhân ở Hòa Bình đã mang lại những hiệu quả khám chữa bệnh với chất lượng ngày càng cao, góp phần làm giảm sự quá tải trong hệ thống y tế nhà nước, tạo thuận lợi cho nhân dân trong việc dự phòng và điều trị tại chỗ giúp mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân trong cộng đồng Tuy nhiên bên cạnh một số ưu điểm đã đạt được, vẫn còn có những khiếm khuyết cần khắc phục như: vi phạm quy chế chuyên môn, vệ sinh môi trường không đảm bảo, quảng cáo quá khả năng quy định, hành nghề không có giấy phép…[63], [64], [65] Các vi phạm này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới người bệnh Nó không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ thậm chí cả tính mạng người bệnh Những thiếu sót này cũng là những vấn đề bức xúc hiện nay nhất là đối với những người trực tiếp làm công tác quản lý và điều hành các hoạt động y tế

Vậy thực trạng công tác quản lý hành nghề khám chữa bệnh tư nhân ở Hoà Bình hiện nay là như thế nào? Mức độ phổ biến của việc vi phạm các quy chế chuyên môn của các cơ sở hành nghề? Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động khám chữa bệnh tư nhân là gì? Làm thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân trong giai đoạn tới?

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

c k ám c ữa bệ ư â

ỉ Hòa Bì x ấ i i p áp” với các mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng quản lý và hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân tỉnh Hòa Bình năm 2014

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành nghề khám chữa bệnh tư nhân tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm

Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Thông tư 41/2011/TT-BYT của Bộ Y tế qui định:

Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh Chứng chỉ hành nghề (CCHN) được cấp một lần và có giá trị trong phạm vi cả nước Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật (CTNCMKT) và nhân viên làm công việc chuyên môn khám chữa bệnh (KCB) trong cơ sở KCB phải có CCHN

Giấy phép hoạt động (GPHĐ) khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo qui định của Luật khám bệnh, chữa bệnh Giấy phép hoạt động được cấp một lần cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo qui định

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp

GPHĐ và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp CCHN và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh [24], [58]

Nội dung quản lý nhà nước về hành nghề khám chữa bệnh tư nhân

(HNKCBTN) bao gồm: Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế

hoạch phát triển và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về HNKCBTN Cấp và thu hồi CCHN, GPHĐ khám chữa bệnh Hướng dẫn việc quản

lý giá đối với dịch vụ KCB tư nhân Đào tạo, bồi dư ng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật cho người hành nghề Tổ chức chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong công tác quản lý HNKCBTN Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về HNKCBTN, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và x lý các vi phạm pháp luật

về HNKCBTN [58]

Hoạt động của cơ sở HNKCBTN bao gồm các nội dung sau: Thực hiện sơ cấp cứu, KCB kịp thời cho người bệnh Thực hiện nghiêm túc các qui định về

Trang 5

chuyên môn kỹ thuật và các qui định khác của pháp luật có liên quan Công khai thời gian làm việc, niêm yết giá dịch vụ và thu theo đúng giá đã niêm yết Báo cáo

cơ quan cấp GPHĐ khi có sự thay đổi về nhân sự Bảo đảm việc thực hiện các quyền và ngh a vụ của người bệnh hoặc người hành nghề, bảo đảm các điều kiện cần thiết để người hành nghề thực hiện KCB trong phạm vi hoạt động chuyên môn được phép Chấp hành quyết định huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm Cơ sở có đủ điều kiện theo qui định của Bộ Y tế được khám sức khỏe định k , khám sức khỏe để lao động, học tập, làm việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khám sức khỏe của mình [29], [58]

1.2 Tình hình hoạt động khám chữa bệnh tư nhân ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới nói chung và mỗi nước nói riêng luôn có một hệ thống y tế để đảm bảo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tùy theo hệ thống chính trị cũng như định hướng chính sách cụ thể của mỗi quốc gia mà hệ thống y tế mỗi nước đều có những đặc thù riêng Nhiều nước trên thế giới tồn tại hai hệ thống y tế song song: hệ thống y tế tư nhân và hệ thống y tế nhà nước Tại một số ít quốc gia,

y tế được nhà nước bao cấp hoàn toàn Trong khi đó, ở một số nước hệ thống y tế tư nhân phát triển và lớn mạnh hơn hệ thống y tế nhà nước Hệ thống y tế tư nhân ở các nước này không chỉ dừng lại ở các dịch vụ KCB thông thường mà còn mở rộng

và phát triển cả sang các l nh vực khác như đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật…

Ngân hàng Thế giới cho rằng khu vực y tế tư nhân không những tăng thêm nguồn lực để Chính phủ có thể tập trung nỗ lực của họ cho người ngh o và các dịch

vụ thiết yếu mà còn mở rộng dịch vụ tới những người chưa tiếp cận được các nước mới công nghiệp hóa và các nước khu vực Đông Nam , do có sự tăng trưởng kinh tế cao, nên mức sống của người dân tăng lên và nhu cầu s dụng dịch vụ y tế cũng tăng nhưng y tế nhà nước chưa đáp ứng đủ các nước đang phát triển, luật pháp cho phép công chức viên chức nhà nước làm dịch vụ tư nhân ngoài giờ hành chính [74] Hành nghề y tế tư nhân vẫn tồn tại với nhiều hình thức như là lang y, bà

Trang 6

đ dân gian, người bán thuốc rong Cho đến tận ngày nay hệ thống này vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ KCB cho nhiều người dân nông thôn ở các nước đang phát triển

Hoạt động y tế tư nhân cũng bị tác động bởi các qui luật kinh tế thị trường Các cơ sở y tế tư nhân hoạt động chủ yếu theo mục đích lợi nhuận, giá của các dịch

vụ y tế tư nhân thường cao hơn giá của các cơ sở y tế công, do tính chất cạnh tranh khốc liệt nên giá dịch vụ giữa các cơ sở y tế ngoài công lập cũng rất khác nhau

Thái Lan, hành nghề y tế tư nhân chủ yếu tập trung vào KCB và đáp ứng yêu cầu của những người có khả năng chi trả, cung cấp những phần y tế công không đáp ứng được Từ năm 1988 trở về trước, người dân s dụng dịch vụ y tế công cao hơn nhiều so với y tế tư nhân Từ năm 1988 đến năm 1993, do quá trình phát triển mạnh các bệnh viện tư nhân nên người bệnh đến với KCB tư nhân ngày càng nhiều hơn Tỷ lệ phát triển bệnh viện tư nhân tăng với tốc độ 5%/năm, trong khi bệnh viện công chỉ tăng 2%/năm [72], [77] Thái Lan, ngoài bệnh viện tư nhân còn có hình thức tổ chức phòng khám đa khoa (PKĐK) tư nhân rất phổ biến Nhiều PKĐK có từ

10 - 50 giường bệnh và cung cấp các dịch vụ KCB từ thông thường tới chất lượng cao Năm 1984, cả nước Thái Lan có 7.100 PKĐK tư nhân, đến năm 1992 con số này tăng lên gấp đôi (15.700 cơ sở) Tỷ lệ phát triển PKĐK tư nhân ở Thái Lan tăng 4,6%/năm, trong khi các cơ sở y tế công tăng 1,3%/năm Bên cạnh PKĐK tư nhân hiện đại là các phòng khám chuyên khoa (PKCK) nội, ngoại, sản phụ khoa, răng hàm mặt (RHM), tai mũi họng (TMH), xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh…có số lượng đáng kể (11.400 cơ sở - năm 1993) Ngoài ra còn có một lượng lớn các phòng khám tư nhân thường do một bác s hoặc một nhóm bác s tham gia KCB ngoài giờ

do đang làm việc tại các cơ sở y tế nhà nước Thái Lan, phần lớn các bác s làm việc ở các cơ sở y tế công tham gia KCB ngoài giờ ở các bệnh viện tư nhân, phòng khám tư (chiếm 69%) Sự phát triển đa dạng các hình thức cơ sở HNKCBTN ở Thái Lan đã làm cho lượng bệnh nhân nội trú tăng lên đáng kể (từ 9%/năm 1988 lên 15%/năm 1993) và bệnh nhân ngoại trú cũng tăng lên gấp 3 lần (từ 3,9 triệu lượt bệnh nhân/năm 1988 lên 12,5 triệu lượt/năm 1993) Tuy vậy, HNKCBTN ở Thái Lan cũng tồn tại bất cập trong phân bố cơ sở y tế, đó là các cơ sở dịch vụ và nhân

Trang 7

lực y tế chủ yếu tập trung ở thủ đô Băng Cốc và các thành phố lớn Có 45% bác s công và tư nhân tập trung hành nghề tại Băng Cốc trong khi chỉ cung cấp dịch vụ y

tế cho 14% dân số của cả nước Mặt khác, do đầu tư vào công nghệ mới, đắt tiền, KCB tư nhân ở Thái Lan đang làm tăng thêm chi phí của người s dụng dịch vụ, làm cho người có thu nhập thấp ngày càng ít có cơ hội tiếp cận với dịch vụ y tế tư nhân Người ngh o, người già vẫn phải dựa vào dịch vụ y tế của nhà nước [72], [78]

Hàn Quốc, hệ thống KCB tư nhân nổi trội hơn hệ thống y tế công, hoạt động chăm sóc sức khỏe chủ yếu do tư nhân sở hữu Hàn Quốc bắt đầu định hướng chính sách tư nhân hóa y tế từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước Tỷ lệ bệnh viện công đã giảm từ 14% (năm 1982) xuống còn 5% (năm 1984), các cơ sở HNKCBTN tập trung chủ yếu ở các thành phố, với 85% số giường bệnh là của tư nhân [75] Các bệnh viện lớn nhất hoặc hiện đại nhất Hàn Quốc đều do tư nhân đầu

tư và quản lý Trong khi đó nhà nước tập trung đầu tư cho mạng lưới y tế ở các vùng nông thôn, vùng ngh o, nơi mà y tế tư nhân không đầu tư vào, dưới các hình thức các trung tâm y tế, các điểm chăm sóc y tế ban đầu Có khoảng 80 - 90% nguồn nhân lực trong ngành y tế làm việc trong các cơ sở y tế tư nhân, 50% kinh phí đầu tư cho y tế quốc gia do tư nhân chi trả Khoảng 5,6% tổng sản lượng quốc gia được chi cho chăm sóc sức khỏe và chi phí cho y tế, tính theo đầu người dân Hàn Quốc là trên 1000 USD vào năm 2005 Hàn Quốc, các bác s tư nhân là những người cung cấp dịch vụ y tế tư nhân chủ yếu, còn các bác s làm việc trong

cơ sở y tế công tham gia KCB tư nhân ngoài giờ chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nhân lực cung cấp dịch vụ y tế tư nhân Tại Hàn Quốc không có sự khác biệt giữa bác s và dược s trong HNKCBTN và là một trong số ít nước mà bác s vừa kê đơn vừa được bán thuốc tại cơ sở KCB Do đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa, hệ thống y

tế Hàn Quốc đang đứng trước những khó khăn bất cập như: Y tế tư nhân chủ yếu tập trung phát triển ở thành phố lớn và khu công nghiệp đông dân cư gây ra sự mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nhất là người ngh o, người già, người tàn tật và người có thu nhập thấp [75]

Trang 8

Từ năm 1957, Trung Quốc đã thừa nhận tính hợp pháp của HNKCBTN trong nền kinh tế xã hội chủ ngh a, nhưng vào cuối năm 1958, một làn sóng của xã hội đã tạo ra áp lực lớn và xu hướng quốc hữu hóa y tế tư nhân Năm 1963, Bộ Y tế Trung Quốc đã xây dựng các qui định về hành nghề tư nhân, nhưng năm 1966, y tế tư nhân một lần nữa bị cáo buộc là phi xã hội chủ ngh a và nhanh chóng loại trừ Với

sự kết thúc của cách mạng văn hóa và khởi động các cải cách kinh tế, từ năm 1980, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức cho phép KCB tư nhân hoạt động [80]

Năm 1947, khi Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập, các cơ sở y tế tư ở nước này chỉ phục vụ từ 5- 10% tổng số các ca bệnh Hầu hết các bệnh viện tư ở Ấn

Độ có số giường ít, 85% số bệnh viện tư có sức chứa dưới 25 giường bệnh Trung bình mỗi bệnh viện tư ở Ấn Độ chỉ có khoảng 10 giường Có tới 82% tổng số lượt bệnh nhân ngoại trú, 58% lượt bệnh nhân nội trú và 40% các ca sinh đẻ thực hiện tại các cơ sở KCB tư nhân ở Ấn Độ [76], [79] Một trong những lý do để các cơ sở HNKCBTN ở Ấn Độ thu hút được người s dụng dịch vụ là do không có sự khác biệt về giá dịch vụ giữa bệnh viện tư và bệnh viện công Bên cạnh đó, ngân sách của Chính phủ chi cho y tế rất thấp, chỉ chiếm từ 0,9% đến 2% tổng sản phẩm nội địa và chủ yếu là kết hợp với bảo hiểm y tế để chi trả cho các gia đình ngh o Cũng giống như ở Việt Nam, tại Ấn Độ các bệnh viện tư nhân cũng được thành lập dưới nhiều hình thức như góp cổ phần, liên doanh liên kết hoặc 100% là vốn đầu tư nước ngoài Một số bệnh viện lớn tại đây không chỉ cung cấp các dịch vụ y tế mà còn tham gia vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo Hầu hết các bệnh viện đều tham gia cung cấp các dịch vụ y tế công cộng trên địa bàn Tại Ấn Độ, mạng lưới KCB tư nhân phát triển rộng rãi cả ở thành thị và nông thôn Mặc dù các cơ sở y tế công có mặt khắp nơi, song tỷ lệ người s dụng dịch vụ KCB tư nhân để chữa các bệnh ngoại trú rất cao, người s dụng dịch vụ KCB tư nhân không chỉ là những người có thu nhập cao mà còn có cả người ngh o Điều này cho thấy HNKCBTN ở Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho cộng đồng [79]

Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Hy Lạp là một điển hình của sự kết hợp y tế công và y tế tư nhân Hệ thống y tế của Hy Lạp bao gồm hệ thống y tế quốc gia, các đơn vị y tế trực thuộc quỹ bảo hiểm y tế và y tế tư nhân [73] Hệ thống HNKCBTN

Trang 9

tại Hy Lạp bao gồm các bệnh viện, các trung tâm chẩn đoán và các phòng khám tư Nhiều cơ sở HNKCBTN được đầu tư các trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao Khi đến khám và điều trị tại đây, khách hàng phải tự chi trả kinh phí Việc lựa chọn KCB tại các cơ sở y tế công hay y tế tư nhân của người dân Hy Lạp có liên quan tới tình trạng sức khỏe, yếu tố kinh tế - xã hội của khách hàng Những người có trình

độ học vấn cao (đại học và trên đại học), có thu nhập cao và những người ít ốm đau thích tới KCB tại các cơ sở y tế tư nhân hơn [73]

Tại Mỹ, hệ thống KCB hoàn toàn do tư nhân nắm giữ Hệ thống này hiện đại, với nhiều kỹ thuật công nghệ cao cùng với những bác s có tay nghề giỏi Năm

2000, Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp Mỹ là nước có hệ thống chăm sóc sức khỏe đứng đầu thế giới ở hai l nh vực là đáp ứng nhanh và phí tổn cao, nhưng đứng thứ

37 thế giới về hoạt động điều trị, đứng thứ 41 về nước có tỷ lệ chết sơ sinh thấp nhất

và đứng thứ 45 về tuổi thọ trung bình của người dân Mặc dù hiện tại, Chính phủ

Mỹ có những quỹ để trợ giúp y tế cho người cao tuổi, người tàn tật, trẻ em, người ngh o và các cựu chiến binh nhưng sự phiền toái và mất công bằng vẫn xảy ra cho

họ, như thường xuyên phải chờ đợi lâu khi làm các xét nghiệm và lấy kết quả chẩn đoán, hoặc phải làm lại các xét nghiệm do nhầm lẫn, quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân không được tốt….[81]

Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù có sự khác nhau về chế độ chính trị, xã hội, song ở hầu hết các quốc gia đều có hệ thống dịch vụ y tế tư nhân Hệ thống y tế

tư nhân ngày càng được thừa nhận là nguồn cung cấp dịch vụ y tế quan trọng trên toàn cầu, kể cả ở những nước giàu và nước có thu nhập trung bình Tuy nhiên vai trò và hoạt động của hành nghề y tế tư nhân ở các quốc gia lại khác nhau, tùy thuộc vào định hướng công tác quản lý và kiểm soát của nhà nước

1.3 Tình hình tổ chức và hoạt động của hệ thống khám chữa bệnh tƣ nhân ở Việt Nam

Trang 10

- Bệnh viện: Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền

- Phòng khám bệnh, chữa bệnh bao gồm PKĐK, PKCK, phòng khám bác s gia đình, phòng chẩn trị y học cổ truyền

Trong PKCK bao gồm các loại phòng khám sau: Phòng khám nội tổng hợp; PKCK thuộc hệ nội (tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nhi và chuyên khoa khác thuộc hệ nội); phòng tư vấn khám bệnh, chữa bệnh qua điện thoại; phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế; PKCK ngoại; PKCK phụ sản - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); PKCK RHM; PKCK TMH; PKCK mắt; phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ; PKCK phục hồi chức năng; PKCK tâm thần; PKCK ung bướu; PKCK da liễu

1.3.2 i kiệ c a các c k ám c ữa bệ ư nhân

Điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo qui định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh: Cơ sở phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo qui định của pháp luật đối với cơ sở KCB, đồng thời cơ sở phải có GPHĐ do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp GPHĐ phải có đủ các điều kiện sau:

- Đáp ứng các qui định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;

- Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn;

- Người CTNCMKT của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là bác s phải có thời gian hành nghề KCB ít nhất là 54 tháng, đối với y s chuyên khoa y học cổ truyền

Trang 11

(YHCT) là 48 tháng, đối với lương y hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc người

có phương pháp chữa bệnh gia truyền là 36 tháng Riêng đối với các loại hình DV tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; DV chăm sóc sức khỏe tại nhà; DV kính thuốc thì thời gian hành nghề KCB ít nhất là 45 tháng Người đứng đầu cơ sở PKCK hoặc phòng khám bác s gia đình phải có bằng cấp chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề [24], [58]

Cơ sở HNKCBTN hợp pháp là cơ sở mà người CTNCMKT và nhân viên tham gia KCB đều có CCHN và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GPHĐ khám chữa bệnh

Người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN là các bác s , y s , điều dư ng, c nhân hộ sinh, kỹ thuật viên xét nghiệm (đại học), lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn qui định theo từng hình thức hoạt động của cơ sở HNKCBTN Họ có thể là những người không nằm trong biên chế nhà nước, đã nghỉ hưu hoặc đang công tác tại các

cơ sở y tế nhà nước Người có chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh chỉ được là người CTNCMKT của một cơ sở, phù hợp với phạm vi chuyên môn được qui định trong GPHĐ khám chữa bệnh [24]

Giấy phép hoạt động KCB được cấp cho cơ sở HNKCBTN Cơ sở KCB tư nhân chỉ được hành nghề theo phạm vi chuyên môn tại địa điểm qui định trong GPHĐ Tùy loại hình hành nghề mà có các qui định cụ thể về điều kiện nhân sự, cơ

sở vật chất, phạm vi hành nghề khác nhau Các cơ sở HNKCBTN tự chủ về tài chính, nộp thuế theo pháp luật, hưởng lãi, thu nhập theo khả năng lao động

1.3.3 Q á ì ì p á iể c a ệ ố y ế ư â Việ Nam

Từ sau năm 1954 khi hòa bình lập lại ở miền Bắc và sau năm 1975 trên cả nước, theo quy định của pháp luật thì ở nước ta không còn hệ thống y tế tư nhân, những cơ sở y tế tư nhân trước kia đều được trưng dụng, công hữu hoá, công tư hợp doanh hay trở thành các cơ sở dân lập Hệ thống y tế từ trung ương tới địa phương được nhà nước bao cấp hoàn toàn Người bệnh không phải chi trả bất cứ một khoản viện phí nào, thậm chí còn được hỗ trợ cả tiền ăn hàng ngày Trong giai đoạn này,

Trang 12

hầu hết các xã đều có một mạng lưới nhân viên y tế thôn bản với những y tá sơ cấp được hợp tác xã trả công Dịch vụ y tế và bán thuốc tư nhân bị cấm, mặc dù vậy nhân viên y tế vẫn thường KCB không chính thức tại nhà hay bán thuốc ngoài chợ Trong giai đoạn này, tổng chi phí cho y tế trên đầu người thấp, tỷ lệ lạm phát cao, tiền lương eo hẹp làm cho đời sống của cán bộ y tế gặp nhiều khó khăn, đồng thời cùng với việc thiếu thuốc men, thiếu trang thiết bị y tế của hệ thống y tế công, kết quả là hệ thống y tế thôn bản bị phá v ở hầu hết các xã [54]

Đầu những năm 1980 sự ra đời của các phòng mạch ngoài giờ ở các đô thị miền Nam trở thành phổ biến Đứng trước nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tăng, ngành y tế phải cấp phép cho các thầy thuốc KCB ngoài giờ, song thực sự chưa có cơ sở pháp lý chính thức Tình trạng lộn xộn tại các bệnh viện Nhà

nước ngày một tăng theo kiểu “Ba lợi ích” và việc các thầy thuốc công đi “Khám

giúp” cho bệnh nhân ngoài bệnh viện trở nên phổ biến Cùng với nó là sự phát triển

của thị trường dược phẩm không kiểm soát được đã làm cho việc quản lý hành nghề

y tế tư nhân gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, hoạt động hành nghề y dược tư nhân (HNYDTN) giai đoạn này đã đảm bảo một phần nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Điều đó trở thành cơ sở khách quan cho việc thúc đẩy sự ra đời của các văn bản pháp lý về quản lý y tế tư nhân

Từ năm 1986, đất nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới với quan điểm chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ ngh a, các thành phần kinh tế trong đó có hành nghề y tế tư nhân được khuyến khích phát triển

Từ Đại hội VI và các Hội nghị Trung ương khoá VI, VII, các đại hội tiếp theo của Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề này [1], [2], [3], [4]

Đó là một trong những cơ sở ra đời những quy định về quản lý y tế tư nhân, song chỉ khi Pháp lệnh HNYDTN được ban hành thì hệ thống y tế tư nhân mới thực sự được công nhận ở Việt Nam Hành nghề y dược tư nhân bao gồm ba l nh vực chính là: Hành nghề y (HNY) tư nhân, hành nghề y học cổ truyền (HNYHCT) tư nhân và hành nghề dược Từ năm 1989, các cơ sở này chính thức được phép hoạt động sau khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành [55] Đến ngày 13/10/1993,

Trang 13

Pháp lệnh HNYDTN được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, đây là pháp lệnh đầu tiên về hành nghề tư nhân ra đời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở HNYDTN hoạt động và phát triển, đồng thời thống nhất việc quản lý và đưa các hoạt động HNYDTN nói chung và HNKCBTN nói riêng theo pháp luật

Chỉ trong một thời gian ngắn, khu vực y tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng, đóng góp không nhỏ vào giảm gánh nặng cho y tế nhà nước Sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của các loại hình y tế tư nhân đòi hỏi phải có những chiến lược và công cụ để quản lý và điều phối Để có thể phát huy những mặt mạnh, đồng thời giảm thiểu các thiếu sót trong quá trình hành nghề cũng như tăng cường vai trò quản lý hành nghề y tế tư nhân, một số qui định trong Pháp lệnh HNYDTN năm

1993 không còn phù hợp, ngày 25/02/2003 Pháp lệnh HNYDTN lần thứ hai được ra đời Đi sau đó là một loạt các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế và các Bộ có liên quan Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết cho phép các cơ sở HNYDTN tồn tại và ngày càng phát triển

Nhìn chung những năm gần đây, HNKCBTN đã phát triển rộng khắp trong

cả nước và trở thành bộ phận thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của sự nghiệp

y tế Nếu tính từ sau khi Pháp lệnh HNYDTN ra đời thì y tế tư nhân đã trải qua hai

thời k Thời kỳ thứ nhất là: Các cơ sở y tế tư nhân chủ yếu do thầy thuốc và nhân viên y tế đang công tác hoặc đã nghỉ hưu đứng ra tổ chức hoạt động Thời kỳ thứ hai

là Hoạt động y tế tư nhân không chỉ có các thầy thuốc đứng ra tổ chức mà còn do

các nhà đầu tư khác tổ chức, có sự đan xen giữa các ngành nghề kinh doanh

Hành nghề KCB tư nhân chủ yếu cung cấp dịch vụ KCB ngoại trú, chẩn đoán cận lâm sàng và thực hiện các dịch vụ y tế khác Những người HNKCBTN được chia làm hai nhóm: Nhóm những người làm việc toàn thời gian và nhóm những người hành nghề là công chức, viên chức đang làm trong cơ sở y tế nhà nước nhưng hoạt động ngoài giờ làm việc Theo số liệu thống kê không chính thức, khoảng hơn một n a số người HNKCBTN là công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ sở y tế công lập

Những năm đầu qui mô HNY tư nhân ở Việt Nam còn nhỏ, chủ yếu là các PKCK, PKĐK, nhưng chỉ sau một thời gian, số lượng các cơ sở HNY tư nhân đã

Trang 14

tăng lên rất nhanh Chỉ tính riêng số lượng cơ sở HNY tư nhân năm 2008 (31.064)

so với năm 1994 (942), sau 14 năm kể từ khi có Pháp lệnh HNYDTN (năm 1993),

số lượng cơ sở HNY tư nhân đã tăng gấp gần 33 lần Điều này cho thấy số lượng cơ

sở HNY tư nhân ở Việt Nam phát triển rất mạnh kể từ khi được hợp pháp hóa [23]

Hệ thống HNY tư nhân không chỉ phát triển về số lượng mà còn phát triển về qui mô Thời gian đầu, hầu hết các cơ sở HNY tư nhân là các phòng khám, các cơ

sở dịch vụ nhỏ Nhưng đến tháng 12/2008, cả nước đã có 92 bệnh viện tư nhân, bao gồm 66 bệnh viện đa khoa và 26 bệnh viện chuyên khoa Các bệnh viện tư nhân có

từ 21 đến 500 giường bệnh, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Đà Nẵng Nhiều bệnh viện ngoài công lập đã trang bị các phương tiện KCB kỹ thuật hiện đại như: Máy chụp cắt lớp điện toán, phẫu thuật nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể, mổ phaco… Bệnh viện tư nhân so với bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ 8,6% (92/1063 bệnh viện) Bệnh viện tư nhân với 5.934 giường chiếm tỷ lệ 4,6% so với tổng số giường bệnh viện công lập (129.082

giường) [23]

Năm 2009 hệ thống y tư nhân đã KCB cho 3.897.471 lượt người, xét nghiệm cho 3.794.195 lượt người bệnh và phẫu thuật cho 118.378 người, sự phát triển khá mạnh của y tư nhân đã tác động tích cực đến các cơ sở y tế công, tạo sự cạnh tranh lành mạnh về cả chất lượng dịch vụ và tinh thần, thái độ chăm sóc người bệnh [23]

Theo thống kê của Bộ Y tế, tính đến 11/2013, cả nước hiện có 157 bệnh viện

tư nhân (trong đó có 151 bệnh viện vốn đầu tư trong nước và 06 bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài), hơn 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế Hành nghề khám chữa bệnh YHCT chủ yếu vẫn là phòng chẩn trị, số lượng bệnh viện YHCT còn ít Tổng số người hành nghề trong toàn quốc là 249.852 người, trong đó: Bác s 64.422; y s 54.478; điều dư ng 88.019; kỹ thuật viên 15.185; hộ sinh 27.529; lương y 219 [33]

Trong năm 2012, các bệnh viện tư nhân đã cấp cứu KCB cho khoảng 6,6 triệu lượt bệnh nhân, trong đó có trên 2 triệu lượt khám cho bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế Thực hiện phẫu thuật cho khoảng 200.000 người bệnh Các bệnh viện tư

Trang 15

nhân tham gia điều trị miễn, giảm viện phí cho 22.000 lượt người ngh o, người bệnh có hoàn cảnh khó khăn [33]

Hệ thống y tế tư nhân được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển, nhiều bệnh viện tư nhân đã ứng dụng các kỹ thuật cao trong điều trị, cung cấp nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng cho nhân dân, giúp người dân dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hơn, góp phần giảm tải cho các

bệnh viện công lập

Vấn đề giá dịch vụ hành nghề y tế tư nhân vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Giá của các dịch vụ y tế tư nhân thường cao hơn giá của y tế công, đặc biệt là giá của các cơ sở y tế tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài Cơ chế xây dựng giá của các dịch vụ của HNKCBTN rất linh hoạt, nhưng thường không dựa trên sự tính toán cụ thể chi phí mà dựa theo giá dịch vụ của các cơ sở y tế công rồi lấy ở mức thấp hoặc cao hơn tùy theo từng cơ sở và sự đầu tư mà họ cho là phù hợp Do qui

mô dịch vụ của KCB tư nhân rất khác nhau nên giá cả cũng có sự chênh lệch đáng

kể giữa các cơ sở Tuy vậy, nếu xét một cách tương đối thì y tế ngoài công lập cũng coi giá của cơ sở tư lân cận làm mức điều chỉnh Giá dịch vụ y tư nhân có thể đắt hơn nhưng các thầy thuốc tư nhân vẫn có lợi thế hơn các cơ sở y tế công vì họ cung cấp dịch vụ KCB gần hoặc ngay tại nhà dân, vào bất k thời gian nào, đáp ứng một cách thoả mãn nhu cầu của người bệnh Nhìn chung, người dân chấp nhận mức giá KCB của các cơ sở y tế tư nhân, đặc biệt là cơ chế thanh toán khá mềm dẻo trong việc chi trả thù lao cho bác s của cơ sở y tế tư nhân như: Có thể cho nợ để trả sau, hoặc miễn phí đây là điều mà cơ sở y tế nhà nước không thể áp dụng được

1.3.4 ì ì k ám c ữa bệ ư â Việ Nam

Từ sau khi Pháp lệnh HNYDTN được ban hành, hệ thống y tế tư nhân chính thức được công nhận Việc quản lý HNYDTN của Bộ Y tế đã tồn tại và được quan tâm từ trước đó Trên thực tế sự quản lý y tế tư nhân của ngành y tế vẫn chủ yếu là quản lý về chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của Pháp lệnh HNYDTN

Tốc độ phát triển quá nhanh về số lượng, thói quen tuân thủ pháp luật kém ở các cơ sở y tế tư nhân đã làm cho công tác quản lý chưa phù hợp ở các cấp và một

Trang 16

số địa phương Tình trạng HNYDTN chưa có giấy phép hoặc quá hạn giấy phép, không còn là hiện tượng hiếm thấy Các văn bản mang tính pháp quy về công tác quản lý HNYDTN liên tục ra đời, việc tăng cường công tác thanh tra và kết quả của

nó là sự phản ánh những cố gắng của Bộ Y tế về công tác quản lý HNYDTN Chỉ riêng năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành trên 30 văn bản chỉ đạo về tăng cường công tác quản lý nhà nước về hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có HNKCBTN, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên công tác hành nghề khám bệnh chữa bệnh Triển khai thực hiện hệ thống quản lý cấp CCHN khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc góp phần quản lý người hành nghề và thúc đẩy tiến độ cấp CCHN và GPHĐ khám bệnh, chữa bệnh [27], [33]

Trong 9 tháng đầu năm 2013, Bộ Y tế đã thành lập 2 đoàn thanh tra do Lãnh đạo Bộ làm trưởng đoàn và Thanh tra Bộ cũng đã thành lập các đoàn thanh tra công tác quản lý nhà nước về HNKCBTN tại một số tỉnh, thành phố Tuy nhiên vẫn còn nhiều sự bất cập trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện HNKCBTN theo đúng quy định của pháp luật Nhân lực tham gia quản lý HNKCBTN còn mỏng Theo báo cáo, 82,5% Sở Y tế thiếu nhân lực cho việc cấp CCHN, trong khi số lượng người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải cấp CCHN và GPHĐ

là rất lớn Một số Sở Y tế cán bộ của phòng Nghiệp vụ Y kiêm nhiệm công tác quản

lý HNKCBTN nên trong quá trình quản lý các cơ sở hành nghề còn rất khó khăn, nhất là công tác giám sát, thanh kiểm tra [33]

Lực lượng thanh tra đã được củng cố và kiện toàn, song vẫn còn quá mỏng

so với yêu cầu khối lượng công việc thực tế quá lớn Tính đến 11/2013, toàn bộ lực lượng thanh tra y tế trong toàn quốc có 290 người, bao gồm Thanh tra Bộ Y tế 33 người, tại Thanh tra Sở Y tế 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trung bình mỗi Sở Y tế có từ 2 đến 4 người Tại Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị có số lượng cán bộ thanh tra y tế nhiều nhất toàn quốc là 45 người cũng chỉ có 10 thanh tra viên về y và 8 thanh tra viên về dược, trong khi trên địa bàn có tới 13.000 cơ sở hành nghề y, dược Tại Hà Nội, tổng số cán bộ thanh tra y tế của Sở Y tế Hà Nội là

14 người, trong đó thanh tra về l nh vực y và dược mỗi bộ phận có 4 thanh tra viên, phải quản lý 2.308 cơ sở hành nghề KCB và 2.827 cơ sở hành nghề dược tư nhân

Trang 17

Đa số các tỉnh chưa có cán bộ thanh tra chuyên sâu về y, dược, số lượng cán bộ thanh tra không ổn định, thường xuyên luân chuyển công tác khác [34] Vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra hành nghề tư nhân chưa được thường xuyên và sâu sát, chưa huy động được các cấp chính quyền và nhân dân trên địa bàn cùng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Theo báo cáo công tác thanh tra hành nghề y dược ngoài công lập của Thanh tra Bộ Y tế: Trong năm 2012, Thanh tra Bộ đã phối hợp Vụ Y Dược cổ truyền thanh tra tại 22 phòng khám đông y có người nước ngoài trực tiếp KCB tại các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Trà Vinh, x phạt vi phạm hành chính 14 cơ

sở với số tiền 353.950.000 đồng, tước quyền s dụng GPHĐ thời gian 12 tháng với

04 cơ sở, tịch thu thuốc không rõ nguồn gốc tại 03 cơ sở, xem xét, thu hồi giấy phép của người nước ngoài 04 cơ sở, chuyển cơ quan cảnh sát điều tra 05 cơ sở, trong đó

có 03 cơ sở s dụng người nước ngoài không phép, 02 cơ sở giả giấy phép quảng cáo do Sở Y tế cấp Tính đến 31/12/2012, theo báo cáo của 45/63 tỉnh, thành phố đã triển khai thanh, kiểm tra về l nh vực HNKCBTN, tổng số cơ sở được thanh, kiểm tra là 7.904, trong đó có 1.502 cơ sở vi phạm (bằng 19% tổng số cơ sở được thanh, kiểm tra), đã x lý vi phạm hành chính 922 cơ sở (chiếm 61,38% cơ sở vi phạm) với hình thức cảnh cáo 513 cơ sở (chiếm 34,15% số cơ sở vi phạm và bằng 6,49%

so với tổng số cơ sở được thanh, kiểm tra), phạt tiền 599 cơ sở với tổng số tiền x phạt là 5.359.250.000 đồng Đình chỉ hành nghề 43 cơ sở (chiếm 2,86% số cơ sở vi phạm) [34]

Những vi phạm HNKCBTN là hoạt động vượt quá phạm vi chuyên môn cho phép, vi phạm các quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật gây tai biến cho người bệnh, tình trạng lạm dụng cận lâm sàng (xét nghiệm, Xquang, siêu âm ), lạm dụng

s dụng thuốc chưa hợp lý, an toàn, đắt tiền (lạm dụng thuốc nhập ngoại, s dụng thuốc mới, thuốc biệt dược) quá mức cần thiết gây tốn kém cho người bệnh, bác s vừa kê đơn vừa bán thuốc, chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, quy chế hồ sơ bệnh án chưa theo mẫu quy định, không niêm yết giá Cơ sở vật chất chưa đảm bảo diện tích, không tách biệt với sinh hoạt gia đình, điều kiện về ánh sáng, vệ sinh môi trường, phân loại và x lý chất thải y tế không đúng quy định Một số cơ sở

Trang 18

HNKCBTN khi thay đổi giám đốc, trưởng khoa, nhân viên y tế, thuê người nước ngoài làm công việc chuyên môn chưa hoàn chỉnh hồ sơ và chưa kịp thời báo cáo

Bộ Y tế, Sở Y tế cho phép…Một số chủ đầu tư các cơ sở HNKCBTN quá coi trọng lợi nhuận, coi thường pháp luật, lợi dụng lòng tin của người dân đã quảng cáo không đúng khả năng chuyên môn hoặc vượt quá phạm vi chuyên môn cho phép Những vi phạm nêu trên đã và đang ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân, uy tín của người thầy thuốc, gây thiệt hại cho người bệnh

Mặt khác việc cập nhật các kiến thức chuyên môn của các thầy thuốc tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với các thầy thuốc đã nghỉ hưu nên việc chẩn đoán và điều trị còn nhiều hạn chế Một số cán bộ viên chức hành nghề ngoài giờ chưa thực hiện nghiêm túc về chất lượng công tác và thời gian làm việc tại cơ quan [35] Giá dịch vụ y tế tư nhân vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước và

cũng rất khác nhau giữa các cơ sở

Tình hình thực tế đang đặt ra những thách thức mới trong công tác quản lý HNKCBTN, việc lạm dụng nghề nghiệp quá quy định cho phép vì lợi ích kinh tế của những người tham gia cung cấp dịch vụ này Đề cao y đức hiện nay đã một phần nhằm hạn chế tình trạng đó Sau một thời gian triển khai những quy định về y đức, bộ mặt của toàn hệ thống y tế đã tỏ ra tiến bộ hơn, tuy nhiên những thay đổi đó chưa được như mong muốn

1.3.5 Hệ ố m ố ă b i p m p áp ậ k ám

c ữa bệ ư nhân

Nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh như: Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23/11/2009; Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27/9/2011 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh;Thông

tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cấp CCHN đối với người hành nghề và cấp GPHĐ đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Thông tư số 35/2013/TT-BYT ngày 30/10/2013 của Bộ Y tế qui định về thu hồi CCHN, GPHĐ

và đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa

Trang 19

bệnh; Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ qui định x phạt

vi phạm hành chính trong l nh vực y tế và một số văn bản qui phạm pháp luật khác liên quan đến vấn đề lí lịch tư pháp, phòng cháy chữa cháy, bảo đảm vệ sinh môi trường, quảng cáo hoạt động KCB [56], [57], [61], [62]

Các văn bản qui phạm pháp luật trên đã quy định cụ thể điều kiện đối với người hành nghề, phạm vi hành nghề, quyền và ngh a vụ của người hành nghề, các hình thức tổ chức và điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, các qui định chuyên môn, quy định các thủ tục và thẩm quyền cấp CCHN và GPHĐ khám chữa bệnh, công tác quản lý nhà nước về HNKCBTN, vấn đề kiểm tra và x lý vi phạm Các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, đủ mạnh để x phạt các hành vi vi phạm trong l nh vực y tế nói chung và l nh vực KCB tư nhân nói riêng, tạo điều kiện cho HNKCBTN hoạt động ngày càng hoàn thiện và hiệu quả [59], [60]

1.4 Một số nghiên cứu về hành nghề khám chữa bệnh tƣ nhân ở Việt Nam

Trước năm 1998 có rất ít nghiên cứu về hoạt động của các cơ sở HNY tư nhân Từ năm 1998 đến nay đã có một số nghiên cứu về l nh vực này với những khía cạnh khác nhau, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu là đánh giá thực trạng HNY

tư nhân và tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng…

1.4.1 c iểm c các c k ám c ữa bệ ư â các iê cứ

Năm 2008, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương tại tỉnh Bắc Giang có

129 cơ sở HNY tư nhân với 12 loại hình hành nghề, 4 loại hình có tỷ lệ cao nhất: PKCK nội (26,4%), dịch vụ y tế (24,8%), PKCK phụ sản - KHHGĐ chiếm 14%,

và PKCK RHM (11,6%) Hầu hết các cơ sở đều tập trung ở thị trấn, thành phố (77,5%); 55% cơ sở làm việc ngoài giờ và vào ngày nghỉ Đa số (70,5%) các cơ sở chỉ có 1 người; gần một n a (45,8%) số chủ cơ sở có trình độ sau đại học là bác s chuyên khoa cấp I (BSCKI), bác s chuyên khoa cấp II (BSCKII) và thạc s ; có

Trang 20

54,3% chủ các cơ sở HNY tư nhân đang làm tại các cơ sở y tế công lập Số lượt

KCB trung bình/cơ sở/trong 1 năm là 2.600 lượt [53]

Năm 2008, Cao Thị Hoa đã tiến hành đánh giá hoạt động của 197 cơ sở HNY tư nhân tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Kết quả nghiên cứu có 10 loại hình hành nghề, so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương không có 04 loại hình là PKCK nhi, PKCK da liễu, phòng khám chẩn đoán hình ảnh nhưng thêm loại hình PKCK giải phẫu thẩm mỹ Các cơ sở PKCK RHM (31%), PKĐK (17,8%), PKCK nội (15,7%), PKCK mắt (10,2%) là những loại hình chiếm tỷ lệ cao Gần một n a (48,8%) người hành nghề có trình độ sau đại học (BSCKI, BSCK II, thạc s , tiến s ),

có 1,1% là giáo sư, phó giáo sư, chỉ có 11,5% người có trình độ y s Đa phần là hưu trí (87%), chỉ có 13% là cán bộ đang làm tại các cơ sở y tế công lập [52]

Năm 2011, nghiên cứu của Trịnh Thị Bích tại tỉnh Bắc Giang có 165 cơ sở HNY tư nhân với 12 loại hình hành nghề tương đương so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương, có 03 hình thức chiếm tỷ lệ cao là PKCK nội (21,8%), dịch vụ y tế (20%), PKCK RHM (13,9%) Có 46,6% chủ cơ sở có trình độ sau đại học (BSCKI, BSCKII, thạc s ); 55,8% chủ các cơ sở HNY tư nhân đang làm tại các

cơ sở y tế công lập, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương [5]

Năm 2013, nghiên cứu của Cao Thị Thu tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có 123

cơ sở với 11 loại hình hành nghề, cao hơn so với nghiên cứu của Cao Thị Hoa, trong đó thêm 03 loại hình là PKCK da liễu, PKCK ung bướu, phòng khám thuộc

hệ nội nhưng không có loại hình phòng xét nghiệm và dịch vụ y tế Các loại hình chiếm tỷ lệ cao là PKCK RHM (51,2%), PKĐK (12,2%), PKCK phụ sản (10,6%)

và phòng khám nội (8,9%) Trong số 123 chủ cơ sở có 46,9% có trình độ sau đại học (BSCKI, BSCKII, thạc s , tiến s ), có 8,9% là giáo sư, phó giáo sư Chỉ có 24,4% chủ các cơ sở HNY tư nhân đang làm tại các cơ sở y tế công lập [70]

Qua các nghiên cứu trên ta thấy: Các loại hình HNY tư nhân trên toàn quốc ngày càng phong phú Mặc dù tỷ lệ các loại hình HNY tư nhân ở các địa bàn khác nhau có khác nhau nhưng loại hình như PKCK RHM, PKCK nội là những hình thức chiếm tỷ lệ cao

Trang 21

1.4.2 Các kế iê cứ iệc c ấp các y c a

ư c c a các c k ám c ữa bệ ư â

Tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu mà mỗi tác giả có những chỉ số đánh giá

về việc chấp hành các qui định của nhà nước của các cơ sở HNKCBTN khác nhau

Có nghiên cứu đánh giá khá đầy đủ về l nh vực này, nhưng đại đa số các nghiên cứu chỉ đánh giá một vài chỉ số như trang thiết bị, cơ sở vật chất, thực hiện quy định về

thuốc, niêm yết giá

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương năm 2008 cho thấy, có 66,7% PKCK có diện tích và chiều cao đạt yêu cầu qui định, có 90,7% các cơ sở đạt yêu cầu về trần nhà khô, không thấm Tuy nhiên, tỷ lệ các cơ sở có phòng thủ thuật, phòng tiêm, phòng xét nghiệm được lát gạch men/vật liệu dễ lau r a vi phạm còn cao 31,8% Đại đa số (80%) cơ sở không có qui trình kh khuẩn Tình hình vi phạm

về dung dịch kh khuẩn có thấp hơn nhưng vẫn còn tương đối cao (38,8%) Có gần 1/3 (29,5%) các cơ sở HNY tư nhân hành nghề quá phạm vi cho phép, có 36,7% các

cơ sở vi phạm về quy chế bán thuốc, có 79,5% các cơ sở có hộp chống sốc nhưng chỉ có 31,8% đạt yêu cầu, còn 22,5% cơ sở không có hộp chống sốc, có 63,6% cơ

sở có phác đồ chống sốc, có 42,6% cơ sở vi phạm về danh mục thuốc cấp cứu, hơn một n a (53,5%) số cơ sở vi phạm về tủ thuốc cấp cứu Có 82,2% các cơ sở có phân loại rác thải y tế nhưng 100% cơ sở không có hợp đồng x lý rác thải y tế Chỉ có 38,8% cơ sở có sổ sách theo dõi KCB và ghi đầy đủ các cột, mục theo yêu cầu, có 57,4% cơ sở không thực hiện đúng việc niêm yết giá, còn 39,5% số cơ sở có biển hiệu không đúng qui định; 82,2% cơ sở không có thiết bị phòng cháy chữa cháy Có 67,4% cơ sở không tham gia tập huấn, có 33,3% cơ sở không được thanh kiểm tra lần nào trong năm [53]

Theo nghiên cứu của Cao Thị Hoa tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2008 cho thấy, có 98,5% PKCK có diện tích đạt yêu cầu qui định; 100% các cơ sở đều có

đủ trang thiết bị tối thiểu theo qui định của từng loại hình hành nghề Có 10,2% cơ

sở vi phạm qui trình kh khuẩn; có 5,1% cơ sở thực hiện sai qui trình chống nhiễm khuẩn, có 9 cơ sở s dụng dung dịch kh khuẩn vi phạm qui chuẩn (4,6%) Có 9 cơ

Trang 22

sở (4,6%) hành nghề quá phạm vi cho phép, có 26,09% cơ sở vi phạm về quy định bán thuốc, có 1% cơ sở có thuốc kém chất lượng, hết hạn dùng, có 99% các cơ sở

có hộp chống sốc nhưng chỉ có 70% đạt yêu cầu, còn 1% cơ sở không có hộp chống sốc, có 95,9% cơ sở có phác đồ chống sốc; 100% cơ sở đều có danh mục thuốc cấp cứu nhưng còn 11,1% cơ sở vi phạm về tủ thuốc cấp cứu Có 11 cơ sở (5,6%) chưa thực hiện qui trình phân loại rác thải theo đúng qui định và 28 cơ sở (14,2%) vi phạm qui định x lý rác thải y tế Có 93,9% cơ sở có sổ sách ghi chép đúng qui định, có 35% cơ sở không thực hiện đúng việc niêm yết giá, còn 2% số cơ sở có biển hiệu không đúng qui định, có 4 cơ sở (2%) quảng cáo quá phạm vi cho phép; 28,9% cơ sở không có hoặc không đầy đủ thiết bị phòng cháy chữa cháy, có 13,2%

cơ sở không tập huấn về các qui định hành nghề [52]

Theo đánh giá của Trịnh Thị Bích, năm 2011 tại Bắc Giang có 95,8% các cơ

sở đạt yêu cầu về diện tích và chiều cao theo qui định, trần nhà khô, không thấm nước, có 88,5% cơ sở thực hiện đúng về niêm yết giá, có 85,5% cơ sở có biển hiệu đúng qui định, còn 12,5% các cơ sở vi phạm về quy định không bán thuốc, có 18,8% cơ sở vi phạm về hộp chống sốc và 19,4% cơ sở vi phạm về tủ thuốc cấp cứu So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương cho thấy hoạt động HNY tư nhân ở Bắc Giang đã có nhiều chuyển biến tích cực [5]

Theo nghiên cứu của Cao Thị Thu, năm 2013 tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội,

có 92,7% PKCK có diện tích đạt yêu cầu qui định; 97,2% cơ sở có đủ trang thiết bị

y tế tối thiểu theo qui định của từng loại hình hành nghề Có 9,8% cơ sở vi phạm qui trình kh khuẩn, có 10 cơ sở (8,1%) thực hiện sai qui trình chống nhiễm khuẩn,

có 9 cơ sở s dụng dung dịch kh khuẩn vi phạm qui chuẩn (7,3%) Có 4 cơ sở (3,3%) hành nghề quá phạm vi cho phép, có 4,1% cơ sở vi phạm về quy định bán thuốc, có 0,8% cơ sở có thuốc kém chất lượng, hết hạn dùng, có 90,2% cơ sở có phác đồ chống sốc nhưng chỉ có 75,6% cơ sở đạt yêu cầu, có 91,9% cơ sở có danh mục thuốc cấp cứu và 12,2% cơ sở vi phạm về tủ thuốc cấp cứu Có 14 cơ sở (11,4%) chưa thực hiện qui trình phân loại rác thải theo đúng qui định và 16 cơ sở (13%) vi phạm qui định x lý rác thải y tế Có 91,9% cơ sở có sổ sách ghi chép đầy

đủ, đúng qui định, có 31,7% cơ sở không thực hiện đúng việc niêm yết giá, còn

Trang 23

4,9% cơ sở có biển hiệu không đúng qui định, có 2 cơ sở (1,6%) quảng cáo quá phạm vi cho phép, có 19,5% cơ sở không có hoặc không đầy đủ thiết bị phòng cháy chữa cháy, có 12,2% cơ sở không tham gia tập huấn về các qui định hành nghề [70]

1.5 Hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tƣ nhân tại tỉnh Hòa Bình

1.5.1 c iểm ì ì

Hoà Bình là một tỉnh miền núi c a ngõ Tây Bắc, cách Hà Nội hơn 70 km với diện tích 4.608 km2, dân số 835.500 người, gồm 7 dân tộc cùng sinh sống: Kinh, Mường, Thái, Tày, Dao, H’Mông, Hoa, trong đó người Mường là chủ yếu (chiếm hơn 70%) Hoà Bình có 10 huyện và một thành phố với 210 xã, phường, mặt bằng dân trí còn thấp, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Năm 2014, tỷ lệ hộ ngh o là 21%, tỷ suất sinh thô là 16,5‰, tỷ suất chết thô là 6,8‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

là 9,7‰ [51]

Theo báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, hiện nay toàn tỉnh có 2.020 giường bệnh, trong đó có 1.910 giường bệnh tỉnh, huyện và 110 giường lưu tại các phòng khám đa khoa khu vực (đạt 22,86 giường/vạn dân), có 646 bác s (đạt 7,73 bác s /vạn dân), tỷ lệ dược s đại học/vạn dân là 0,45; số bác s tuyến xã là 164, số

xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 là 28/210 (chiếm 13,3%), tỷ

lệ trạm y tế xã có bác s làm việc là 68,5%; 100% xã có hộ sinh hoặc y s sản nhi, 100% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động Trên địa bàn tỉnh có 258 cơ sở y tế công lập: Tuyến tỉnh có 01 bệnh viện đa khoa, 02 bệnh viện chuyên khoa, 01 bệnh viện đa khoa khu vực và 12 đơn vị trực thuộc tuyến tỉnh Tuyến huyện gồm có 10 bệnh viện đa khoa, 11 trung tâm y tế dự phòng, 11 trung tâm Dân số - KHHGĐ Tuyến xã gồm 210 Trạm Y tế xã, phường [67]

1.5.2 ư i k ám c ữa bệ ư â i Hòa Bì

Là một tỉnh miền núi, hệ thống dịch vụ HNKCBTN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình tuy không phát triển mạnh như ở các thành phố lớn và các tỉnh đồng bằng song cũng là một bức tranh sinh động về các loại hình dịch vụ y tế, góp phần không nhỏ cho quá trình xã hội hóa và đa dạng hóa về các loại hình chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh, tăng khả năng lựa chọn nơi KCB của người dân và giảm bớt

tình trạng quá tải cho các bệnh viện công

Trang 24

Hoà Bình là một tỉnh miền núi có thế mạnh về YHCT với nhiều cây con làm thuốc và nhiều bài thuốc hay Hành nghề y học cổ truyền tư nhân đã góp phần kế thừa, phát huy phát triển nền y dược học cổ truyền, kế thừa bài thuốc gia truyền của các ông lang bà mế Thị trường thuốc YHCT ngày một phát triển mở rộng, mặt hàng thuốc cổ truyền ngày càng đa dạng phong phú, giá cả ổn định phù hợp với người dân và đặc biệt là người ngh o [65]

Sở Y tế Hòa Bình được thành lập từ năm 1991, sau khi tách tỉnh Hà Sơn Bình Hành nghề khám chữa bệnh tư nhân chính thức đi vào hoạt động từ sau khi có Pháp lệnh HNYDTN năm 1993 Bộ phận quản lý HNKCBTN thuộc phòng Nghiệp

vụ Y, Sở Y tế Đến năm 2006, thực hiện Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ [44] và Thông tư số 11/2005/TTLT-BYT-BNV ngày 12/4/2005 liên Bộ Y tế- Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về

y tế ở địa phương [16], Phòng Y tế các huyện, thành phố tại tỉnh Hòa Bình được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 01/2006 Tháng 3/2006, phòng Quản lý HNYDTN thuộc Sở Y tế Hòa Bình được thành lập Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của Sở Y tế và các văn bản qui phạm pháp luật về HNYDTN, để việc kiểm tra các

cơ sở hành nghề tư nhân đảm bảo chất lượng, hiệu quả, tránh chồng chéo, Sở Y tế

đã có hướng dẫn số 767/SYT-QLHN ngày 20/3/2007 về việc phân cấp quản lý hành nghề Mạng lưới quản lý nhà nước về HNYDTN tỉnh gồm 03 cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện/thành phố và cấp xã Hoạt động của các cấp cụ thể như sau:

- Cấp tỉnh: Sở Y tế là cơ quan tham mưu chính cho Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh về công tác quản lý nhà nước về HNYDTN trên địa bàn toàn tỉnh, có nhiệm vụ chính gồm: Xây dựng kế hoạch triển khai về HNYDTN nói chung và HNKCBTN nói riêng trên địa bàn tỉnh theo lộ trình Chính phủ, Bộ Y tế qui định Ban hành các văn bản đôn đốc việc thực hiện các qui định về HNYDTN đối với các

cơ sở hành nghề Hướng dẫn Phòng Y tế triển khai công tác quản lý nhà nước về HNYDTN trên địa bàn phụ trách Tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ xét cấp CCHN

y, dược, thẩm định điều kiện thực tế hồ sơ đề nghị cấp GPHĐ khám chữa bệnh và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc, Giấy chứng nhận Thực hành tốt

Trang 25

phân phối thuốc (GDP), Giấy chứng nhận Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) và một

số thủ tục khác như cấp Giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền, cho phép khám chữa bệnh nhân đạo [39] Tổ chức tập huấn phổ biến kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và triển khai hướng dẫn thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về HNYDTN cho cán bộ Phòng Y tế và các chủ cơ sở HNYDTN Xây dựng kế hoạch, phối hợp Thanh tra Sở tổ chức thanh kiểm tra chuyên ngành hoạt động HNYDTN định k , đột xuất đối với các cơ sở HNYDTN Tham gia đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh kiểm tra hoạt động của các cơ sở HNYDTN Tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động HNYDTN về Bộ Y tế theo qui định Tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá hoạt động hành nghề y tế tư nhân

- Cấp huyện: Phòng Y tế huyện, thành phố tham mưu cho UBND huyện, thành phố công tác quản lý nhà nước về HNYDTN trên địa bàn, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Y tế, có những nhiệm vụ chính sau: Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động HNYDTN trong đó có HNKCBTN trên địa bàn quản lý Ban hành các văn bản chỉ đạo các Trạm Y tế xã phường thực hiện công tác quản lý nhà nước về HNYDTN Tổ chức tập huấn, phổ biến kiến thức chuyên môn nghiệp

vụ và các văn bản qui phạm pháp luật về HNYDTN cho cán bộ Trạm Y tế xã, phường, thị trấn và các cơ sở HNYDTN trên địa bàn quản lý Xây dựng kế hoạch kiểm tra chuyên ngành hoạt động của các cơ sở HNYDTN thường xuyên hoặc đột xuất Tham gia đoàn kiểm tra liên ngành của huyện hoặc đoàn thanh, kiểm tra của tỉnh kiểm tra hoạt động của các cơ sở HNYDTN Tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động HNYDTN về Sở Y tế theo qui định

- Cấp xã: Tham mưu giúp UBND xã, phường, thị trấn và Phòng Y tế quản lý nhà nước về HNYDTN nói chung và HNKCBTN nói riêng, nắm vững số lượng các

cơ sở HNKCBTN trên địa bàn quản lý, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các cơ sở HNKCBTN theo qui định như: hành nghề có CCHN, có GPHĐ, hành nghề đúng người, đúng địa điểm, đúng phạm vi qui định trong giấy phép, báo cáo hàng tháng

về Phòng Y tế

Trang 26

S ồ 1.1 ư i ư c k ám c ữa bệ ư nhân

Trang 27

Trong những năm qua, mô hình quản lý như trên vẫn đang được áp dụng Việc đánh giá hoạt động quản lý HNKCBTN chỉ dựa vào các báo cáo kết quả hoạt động hàng năm Phòng Y tế tổng hợp g i về Sở Y tế, do vậy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng công tác quản lý HNKCBTN Mặt khác, từ khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật được ban hành, có rất nhiều các qui định mới trong vấn đề cấp CCHN, GPHĐ và trong quá trình thực hiện KCB của các

cơ sở Tuy nhiên, từ đó đến nay chưa có khảo sát nào đánh giá về vấn đề này Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý và hoạt động của các cơ sở HNKCBTN, tìm ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động HNKCBTN là một đòi hỏi khách quan của thực tiễn hiện nay

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 ối ượ iê cứ

- Tất cả các cơ sở HNKCBTN trên địa bàn tỉnh có GPHĐ khám bệnh, chữa bệnh (bao gồm HNY và HNYHCT)

- Chủ cơ sở/người CTNCMKT của các cơ sở HNKCBTN trên địa bàn tỉnh

- Cán bộ tham gia công tác quản lý HNKCBTN: Lãnh đạo Sở Y tế, Thanh tra

Sở, lãnh đạo Phòng Y tế và Trạm Y tế các xã thuộc các huyện, thành phố trong tỉnh

- Các văn bản pháp qui liên quan đến công tác quản lý và hoạt động hành nghề khám chữa bệnh tư nhân

2.1.2 ời ia a iểm iê cứ

- Thời gian nghiên cứu: Từ 9/2014 đến 8/2015

- Địa điểm nghiên cứu: Tại tỉnh Hòa Bình

2.2 Phương pháp nghiên cứu

iế kế iê cứ : Nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết hợp nghiên cứu định tính, định lượng

2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu

2.3.1 N iê cứ ượ

- Chọn mẫu toàn bộ 108 cơ sở HNKCBTN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Cơ sở HNKCBTN nghiên cứu là những cơ sở đã được Sở Y tế Hòa Bình cấp GPHĐ khám chữa bệnh

- Chọn mẫu toàn bộ 108 chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN trên địa bàn tỉnh đã được cấp CCHN khám chữa bệnh

- Chọn mẫu toàn bộ 233 cán bộ tham gia công tác quản lý HNKCBTN (Sở Y

Trang 29

- Chọn mẫu toàn bộ chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN trên địa bàn tỉnh đã được cấp CCHN để phỏng vấn Loại trừ những người không đủ điều kiện tham gia phỏng vấn là những người hạn chế trong giao tiếp, ốm đau, nằm viện

2.4 Các biến số, chỉ tiêu nghiên cứu, tiêu chu n đánh giá

2.4.1 Các biế ố iê cứ

2.4.1.1 Thực trạng công tác quản l hành ngh khám ch a bệnh tư nhân

- Bảng tổng hợp

3 Trình độ quản lý Là việc cán bộ quản lý

HNKCBTN được tham gia chương trình bồi dư ng kiến thức quản lý nhà nước và có chứng chỉ

- Bảng tổng hợp

4 Tham gia

kiêm nhiệm

Là việc trong cùng thời điểm, cán

bộ quản lý được phân công chịu trách nhiệm nhiều l nh vực như : HNYDTN, an toàn vệ sinh thực phẩm, KCB, y tế dự phòng……

- Phiếu hỏi

- Xem báo cáo

Trang 30

chất, trang thiết bị, nhân sự, hoạt động chuyên môn…

2.4 2 Thực trạng hoạt đ ng của các c s hành ngh khám ch a bệnh tư nhân

- Hỏi

- Xem Giấy phép hoạt động

2 Loại hình

hành nghề

Là các hình thức tổ chức của cơ sở khám chữa bệnh được ghi trong Giấy phép hoạt động

- Phiếu hỏi

- Quan sát trực tiếp GPHĐ

4 Thời gian

làm việc

Thời gian hoạt động của các cơ sở HNKCBTN: làm việc vào ngoài giờ hành chính nhà nước hay làm việc cả ngày

7 Thành thị Địa điểm cơ sở hành nghề khám

chữa bệnh thuộc thị trấn, phường

- Phiếu hỏi

Trang 31

II Thực hiện một số qui định chung về HNKCBTN

Sở Y tế phê duyệt

- Hỏi và quan sát

- Đối chiếu với danh sách đăng ký hành nghề đã được

vụ khám chữa bệnh theo qui định

Thước đo, máy tính

13 Phạm vi

hành nghề

Là phạm vi chuyên môn cơ sở được phép hoạt động do Sở Y tế phê duyệt

- Phiếu hỏi -Quan sát giấy phép hoạt động và danh mục phạm vi chuyên môn

-Xem sổ khám bệnh

Trang 32

14 Sổ theo dõi

khám bệnh

Là sổ có ghi chép đầy đủ các nội dung theo qui định khi người bệnh đến khám chữa bệnh

và chứng chỉ hành nghề của từng người hành nghề, thời gian làm việc của cơ sở, giá dịch vụ…

- Quan sát

- Bảng kiểm

17 Biển hiệu Là biển hiệu của phòng khám có

ghi các nội dung theo qui định

- Quan sát

- Bảng kiểm

18 Quảng cáo Là các phương pháp nhằm đưa

thông tin khám chữa bệnh của cơ

Trang 33

21 Phác đồ

chống sốc

Là bảng hướng dẫn kỹ thuật các bước x trí cấp cứu chống sốc cho người bệnh theo qui định

vụ để khi cần thiết dùng cấp cứu cho người bệnh

- Quan sát

- Bảng kiểm

23 Cơ số thuốc Là lượng thuốc nhất định cần có

theo qui định đối với hộp chống sốc hoặc tủ thuốc cấp cứu

- Tỷ lệ cán bộ tham gia công tác quản lý HNKCBTN tuyến tỉnh/huyện/xã

- Tỷ lệ cán bộ được phân công chuyên trách quản lý HNKCBTN

- Tuổi, giới tính của cán bộ quản lý HNKCBTN

- Tỷ lệ cán bộ quản lý HNKCBTN có trình độ sau đại học/đại học/cao

đ ng/trung cấp/sơ cấp

Trang 34

- Tỷ lệ cán bộ quản lý HNKCBTN có chuyên môn về y

- Tỷ lệ cán bộ quản lý HNKCBTN được đào tạo về quản lý nhà nước/quản lý

- Tỷ lệ đơn vị tổ chức truyền thông về các qui định HNKCBTN

- Tỷ lệ Phòng Y tế xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm về công tác quản

- Tỷ lệ các cơ sở hành nghề phân theo khu vực: thành thị và nông thôn

- Tỷ lệ cơ sở có 01 người và trên 01 người làm việc

- Tuổi trung bình, giới tính của chủ cơ sở/người CTNCMKT

- Tỷ lệ chủ cơ sở/người CTNCMKT có trình độ sau đại học/đại học/trung cấp/lương y/bài thuốc gia truyền/khác

- Tỷ lệ cơ sở có thời gian làm việc ngoài giờ/trong giờ hành chính

- Tỷ lệ chủ cơ sở/người CTNCMKT làm công tác quản lý/điều trị/dự phòng/khác

Trang 35

- Tỷ lệ chủ cơ sở/người CTNCMKT đang làm việc tại tuyến tỉnh/huyện/xã

- Số năm hành nghề KCB tư nhân của các chủ cơ sở/người CTNCMKT

- Tỷ lệ nhân viên làm công việc chuyên môn có trình độ sau đại học/đại học/ cao đ ng, trung cấp/khác

Nhóm ch ti u v việc thực hiện m t s qui đ nh chung của các c s hành

ngh khám ch a bệnh tư nhân:

- Tỷ lệ chủ cơ sở/người CTNCMKT có mặt khi cơ sở đang hoạt động

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng việc đăng ký hành nghề KCB

- Tỷ lệ người hành nghề đã được phê duyệt đăng ký hành nghề

- Tỷ lệ nhân viên tham gia KCB có đầy đủ CCHN

- Tỷ lệ nhân viên tham gia KCB có hợp đồng lao động với chủ cơ sở

- Tỷ lệ cơ sở phân công nhân viên tham gia KCB đúng phạm vi

- Tỷ lệ cơ sở đạt yêu cầu về diện tích các phòng trong phòng khám

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện quá phạm vi hành nghề cho phép

- Tỷ lệ loại hình hành nghề thực hiện quá phạm vi cho phép

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng về ghi chép sổ theo dõi KCB

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui định về niêm yết giá

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng công khai hoạt động của phòng khám

- Tỷ lệ cơ sở có biển hiệu đúng qui định

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui định về quảng cáo

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui định về phòng cháy chữa cháy

- Tỷ lệ cơ sở tham gia tập huấn qui định về HNKCBTN

- Tỷ lệ cơ sở có đủ các văn bản qui phạm pháp luật về HNKCBTN

- Tỷ lệ chủ cơ sở/người CTNCMKT có hiểu biết về các qui định hành nghề

Nhóm ch ti u v việc thực hiện m t s qui đ nh ri ng của các c s hành

ngh y tư nhân:

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui định không được bán thuốc

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui chế s dụng thuốc

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng về hộp chống sốc và phác đồ chống sốc

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng về danh mục thuốc cấp cứu và tủ thuốc cấp cứu

Trang 36

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui định về chống nhiễm khuẩn

- Tỷ lệ cơ sở thực hiện đúng qui chế x lý rác thải

2.4 2 2 hân tích m t s yếu t ảnh hư ng

T công tác quản l

- Nhân lực quản lý: số lượng, chất lượng cán bộ quản lý

- Những tồn tại, hạn chế trong nội dung công tác quản lý: tập huấn, truyền thông, thanh kiểm tra…

- Phương tiện, điều kiện làm việc

- Chế độ đãi ngộ

- Chế tài quản lý

- Cộng đồng trách nhiệm

T người hành ngh khám ch a bệnh

- Hiểu biết của người hành nghề

- thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của người hành nghề

- Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện các qui định của nhà nước về HNKCBTN

2.4.3 iê c ẩ á iá

* Các đi u kiện đánh giá: Dựa theo các tiêu chuẩn qui định của Bộ Y tế, Bộ

Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và một số văn bản qui phạm pháp luật khác:

- Điều kiện về nhân sự: Chủ cơ sở/người CTNCMKT phải có mặt khi cơ sở đang hoạt động KCB Trình độ chuyên môn của chủ cơ sở và người làm chuyên môn phù hợp với công việc được phân công Tất cả các đối tượng tham gia KCB tại

cơ sở phải có CCHN và chỉ được thực hiện theo đúng phạm vi chuyên môn được ghi trong CCHN của người đó Chủ cơ sở phải ký đầy đủ hợp đồng lao động với các nhân viên và đăng ký hành nghề kịp thời theo qui định cho người hành nghề thuộc

cơ sở đang quản lý [24]

- Điều kiện về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất đúng qui định là cơ sở có địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng,

có trần chống bụi, tường và nền nhà dễ vệ sinh, có đủ số phòng, đủ diện tích từng

Trang 37

phòng, phù hợp đối với từng loại hình [24] Đối với các cơ sở có s dụng máy Xquang phải đảm bảo các điều kiện về an toàn bức xạ, có giấy phép tiến hành công việc bức xạ [7], [8], [15] Cơ sở phải có đủ các thùng đựng rác thải sinh hoạt và rác thải y tế theo qui định Có nơi thu gom chất thải lỏng y tế đối với một số loại hình [20], [22] Có trang bị dụng cụ, phương tiện phòng cháy chữa cháy đảm bảo theo qui định [56] Ngoài ra cơ sở luôn luôn phải đảm bảo điện, nước phục vụ cho công tác khám chữa bệnh

- Điều kiện về trang thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn, có hộp chống sốc và tủ thuốc cấp cứu Thuốc cấp cứu phải đủ tùy theo l nh vực chuyên khoa Hộp chống sốc phải có đủ cơ số theo qui định Có phác đồ chống sốc được niêm yết trên tường và có thể trên vỏ hộp chống sốc Tủ thuốc cấp cứu phải có danh mục thuốc cấp cứu, trong đó ghi rõ tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, số lượng [24]

- Điều kiện về hoạt động chuyên môn:

Phạm vi hoạt động chuyên môn: Cơ sở chỉ được hoạt động đúng theo phạm vi chuyên môn và danh mục kỹ thuật đã được Sở Y tế phê duyệt Các cơ sở khám chữa bệnh không được phép vừa kê đơn vừa bán thuốc (trừ thuốc cấp cứu và

cơ sở khám chữa bệnh YHCT) [32]

Sổ khám bệnh, sổ đơn thuốc: Cơ sở phải có đầy đủ sổ khám bệnh và kê đơn thuốc (theo mẫu của Bộ Y tế), việc theo dõi ghi chép phải được cập nhật đầy

đủ, thường xuyên Riêng đối với các phòng chẩn trị phải có bệnh án YHCT thay sổ đơn thuốc [21], [38]

Qui định về thuốc: Thuốc phải có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo đúng cơ số, không có thuốc quá hạn, thuốc kém chất lượng, nhãn thuốc phải đầy đủ các thông tin theo qui định (tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, thành phần, dạng bào chế, qui cách đóng gói, tên và địa chỉ của cơ sở sản xuất, số đăng ký, số lô sản xuất, ngày sản xuất, hạn dùng….) Đối với thuốc YHCT phải đảm bảo sạch s , không bị mốc, mối mọt…

Qui định về chống nhiễm khuẩn: Cơ sở phải có qui trình kh khuẩn, có đầy

đủ dung dịch hóa chất kh khuẩn, tường và trần nhà không thấm, nền nhà dễ vệ

Trang 38

sinh, tường phòng thủ thuật/phòng xét nghiệm phải được lát gạch men hoặc làm bằng vật liệu dễ lau chùi [22], [26]

Công tác x lý chất thải: Tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt, rác thải y tế

và phân loại rác thải y tế đúng qui định Thực hiện đúng qui định về x lý chất thải lỏng y tế trước khi thải vào hệ thống thải chung [20], [49], [50] Có cam kết bảo vệ môi trường và có hợp đồng x lý rác thải y tế với cơ sở được nhà nước cho phép [10], [11], [12]

Qui định về biển hiệu: Biển hiệu phải có đầy đủ nội dung theo qui định như: tên cơ sở, tên và trình độ chuyên môn của người CTNCMKT, phạm vi hoạt động chuyên môn, số GPHĐ, thời gian làm việc, địa chỉ cơ sở, số điện thoại Đối với những cơ sở có biển hiệu quảng cáo, nội dung quảng cáo phải được Sở Y tế cho phép và phải có giấy phép quảng cáo do cơ quan có thẩm quyền cấp [18], [42]

Qui định về niêm yết giá dịch vụ: Cơ sở phải có bảng giá dịch vụ niêm yết công khai tại phòng khám, các kỹ thuật đúng phạm vi chuyên môn cho phép, không được thu cao hơn giá niêm yết [24]

Qui định về đăng ký hành nghề: Tất cả các cá nhân tham gia vào việc khám chữa bệnh tại cơ sở phải có CCHN, phải làm thủ tục đăng ký hành nghề và được Sở Y tế phê duyệt Khi có sự thay đổi về nhân sự, cơ sở phải lập danh sách báo cáo về Sở Y tế và được Sở Y tế phê duyệt lại Việc phân công KCB phải theo đúng phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong CCHN của các cá nhân đó [24]

Qui định về công khai hoạt động: Việc công khai hoạt động của phòng khám phải đảm bảo những nội dung sau: Cơ sở phải công khai giấy phép hoạt động, phạm vi hoạt động chuyên môn và danh mục kỹ thuật, danh sách người hành nghề

đã được Sở Y tế phê duyệt, thời gian hoạt động KCB của cơ sở Công khai văn bằng chuyên môn, CCHN và phạm vi hoạt động chuyên môn của người CTNCMKT và các nhân viên đăng ký hành nghề tại cơ sở Công khai giá dịch vụ KCB, tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp (Sở Y tế, Phòng Y tế) để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm [35]

Trang 39

Một số qui định khác: Cơ sở phải tham gia tập huấn đầy đủ khi có thông báo của cơ quan quản lý, cập nhật kiến thức y khoa liên tục, phải có đầy đủ các văn bản qui phạm pháp luật về HNKCBTN, thực hiện đầy đủ báo cáo kết quả hoạt động định k về Sở Y tế và Phòng Y tế huyện, thành phố [30], [38]

Đối với cơ sở muốn tổ chức khám sức khỏe phải có GPHĐ, đảm bảo nhân sự

và làm thủ tục công bố khám sức khỏe theo qui định [29]

Đối với cơ sở muốn tổ chức khám bảo hiểm y tế phải được Sở Y tế và cơ quan Bảo hiểm y tế cho phép [40]

Ti u chu n đánh giá

- Đánh giá việc thực hiện các qui định về HNKCBTN: Trong tất cả các qui định trên, từng phần một nếu cơ sở không đạt một tiêu chuẩn nào thì đều coi là không đạt

- Đánh giá sự hiểu biết về các qui định hành nghề: Có 10 câu hỏi được thiết

kế trong phiếu phỏng vấn chủ cơ sở/người CTNCMKT, nội dung chủ yếu là đánh giá sự hiểu biết về các qui định cấp CCHN, qui định điều kiện về cơ sở vật chất, qui định chuyên môn và văn bản qui phạm pháp luật hiện hành

Cách xếp loại như sau:

- Hiểu biết đầy đủ: Trả lời đúng từ 9- 10 câu

- Hiểu biết không đầy đủ: Trả lời đúng từ 5 - 8 câu

- Không hiểu biết: Trả lời đúng dưới 5 câu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

S dụng các phương pháp: Quan sát, phỏng vấn, hồi cứu số liệu, phỏng vấn sâu

2.5.1 N iê cứ ượ

- Thời điểm đi u tra: Căn cứ vào danh sách quản lý và hồ sơ đăng ký của cơ

sở HNKCBTN để tiến hành điều tra vào thời điểm cơ sở HNKCBTN đang hoạt động

- Công cụ thu thập s liệu:

Bảng kiểm quan sát, đánh giá việc thực hiện các qui định của nhà nước về HNKCBTN (Phụ lục 1)

Trang 40

Bảng hỏi chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN (Phụ lục 2) Bảng tổng hợp báo cáo tình hình nhân lực quản lý HNKCBTN (Phụ lục 4) Báo cáo kết quả hoạt động công tác quản lý nhà nước về HNKCBTN năm

2014 (Phụ lục 5)

- Kỹ thuật thu thập s liệu:

Đối với các cơ sở: Điều tra viên đánh giá việc thực hiện các qui định của nhà nước về HNKCBTN bằng cách quan sát trực tiếp, kết hợp hỏi và yêu cầu chủ

cơ sở cho xem các bằng chứng để chứng minh cơ sở đó có thực hiện/không thực hiện, sau đó điều tra viên s cho điểm tương ứng vào bảng kiểm (Phụ lục 1)

Đối với các chủ cơ sở/người CTNCMKT: Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN thông qua bảng hỏi, kết quả phỏng vấn được ghi chép vào mẫu phiếu in sẵn (Phụ lục 2)

+ Đối với báo cáo nhân lực quản lý và báo cáo kết quả hoạt động công tác quản lý nhà nước về HNKCBTN: g i Phòng Y tế cung cấp số liệu (Phụ lục 4, phụ lục 5)

2.5.2 N iê cứ í

- Thời điểm thu thập s liệu:

Đối với các cán bộ quản lý, điều tra viên thông báo thời gian, địa điểm phỏng vấn

Đối với chủ cơ sở: tiến hành ngay tại cơ sở KCB, vào cùng thời gian thu thập số liệu định lượng

- Công cụ thu thập:

Bảng hỏi cán bộ tham gia quản lý HNKCBTN (Phụ lục 3)

Bảng hỏi chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN (Phụ lục 2)

- Kỹ thuật thu thập s liệu:

Ghi chép các cuộc phỏng vấn

Nghiên cứu viên kết hợp với điều tra viên thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với chủ cơ sở/người CTNCMKT của cơ sở HNKCBTN và cán bộ quản lý HNKCBTN

Ngày đăng: 24/03/2021, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w