1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã phường tỉnh yên bái và đề xuất giải pháp can thiệp

95 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã phường tỉnh yên bái và đề xuất giải pháp can thiệp Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã phường tỉnh yên bái và đề xuất giải pháp can thiệp Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã phường tỉnh yên bái và đề xuất giải pháp can thiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN

HÀ ĐỨC MINH

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC

Y TẾ XÃ, PHƯỜNG TỈNH YÊN BÁI

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Trang 3

đỡ cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tuấn Hưng, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ - Bộ Y tế, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức khoa học cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn đến: Ban Giám đốc Sở Y tế Yên Bái, lãnh đạo các Phòng chuyên môn Sở Y tế đã tạo điều kiện và tận tình giúp tôi thực hiện đề tài Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện, thị xã Nghĩa Lộ, thành phố Yên Bái đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại cơ

sở Các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn sâu nặng tới toàn thể gia đình, những người thương yêu nhất của tôi đã luôn động viên, chia sẻ với tôi về tinh thần, thời gian và công sức để tôi có thể vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2012

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANG MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Tổ chức và hoạt động của y tế xã/phường/thị trấn 4

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng cán bộ y tế xã, phường 15 1.3 Thực trạng nguồn lực của y tế xã, phường, thị trấn của tỉnh Yên Bái và quan điểm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, ngành Y tế tỉnh Yên Bái 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4 Kỹ thuật xử lý số liệu 30

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30

2.6 Những hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường ở Yên Bái 32 3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng nguồn nhân lực y tế xã 49

Trang 5

Chương 4 BÀN LUẬN 57

4.1 Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã 57

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng nhân lực y tế xã 61

4.3 Phân tích các giải pháp 65

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO a Phụ lục g

Trang 6

Tổ chức cán bộ Trung tâm y tế Trạm y tế

Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em

Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Phân bố cán bộ y tế, cán bộ dân số xã theo đơn vị hành chính 32 3.2 Số lượng cán bộ y tế xã hiện có so với Thông tư 08 33 3.3 Phân bố cán bộ y tế xã vùng thấp theo huyện, thị, thành phố 34 3.4 Phân bố số lượng cán bộ y tế xã vùng cao (trong biên chế) 35 3.5 Phân bố trình độ chuyên môn cán bộ y tế xã theo đơn vị

3.6 Phân bố cán bộ y tế xã theo giới tính, nhóm tuổi 37 3.7 Phân bố cán bộ y tế xã theo thời gian công tác 38 3.8 Số lượng bác sỹ đang làm việc tại trạm y tế 39 3.9 Số lượng bác sỹ làm quản lý tại trạm y tế 40 3.10 Phân bố cán bộ y tế là bác sỹ theo tuổi, giới 40 3.11 Phân bố cán bộ y tế là bác sỹ theo thâm niên công tác 41 3.12 Phân bố cán bộ y tế xã là y sỹ theo tuổi, giới 42 3.13 Trình độ học vấn số y sỹ < 30 tuổi 43 3.14 Phân bố cán bộ y tế là y sỹ theo thâm niên công tác 44 3.15 Phân bố CBYT là y sỹ theo cơ cấu chuyên môn 45 3.16 Số lượng y sỹ đang đào tạo bác sỹ ở trường, học viện 45 3.17 Phân bố cán bộ y tế theo chuẩn Quốc gia về y tế xã 46 3.18 Phân bố cán bộ DS - KHHGĐ theo tuổi, giới 46 3.19 Số lượng cán bộ DS - KHHGĐ theo trình độ học vấn 47 3.20 Phân bố số cán bộ DS - KHHGĐ theo trình độ chuyên môn 48 3.21 Ý kiến trả lời của trưởng trạm y tế về cơ cấu cán bộ y tế tại

Trang 8

Số Tên bảng Trang

3.22 Ý kiến của trưởng trạm về các yếu tố cần để thu hút bác sỹ

3.23 Ý kiến của cán bộ y tế xã về sự thỏa đáng của các chế độ

3.24 Ý kiến trả lời về việc thực hiện chế độ chính sách Nhà nước

3.25 Ý kiến trả lời của cán bộ y tế xã về sự gắn bó với y tế cơ sở 53 3.26 Lý do cán bộ y tế xã không hài lòng làm việc tại trạm y tế xã 54 3.27 Tỷ lệ cán bộ y tế xã được hưởng chế độ chính sách 55 3.28 Ý kiến trả lời của trưởng trạm y tế xã về giải pháp tạm thời

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Phân bố cán bộ y tế xã theo nhóm tuổi và giới 37 3.2 Phân bố thời gian tham gia công tác của cán bộ y tế xã 38 3.3 Phân bố nhân lực y tế xã là bác sỹ theo tuổi và giới 41 3.4 Phân bố thời gian tham gia công tác của bác sỹ 42 3.5 Phân bố cán bộ y tế xã là y sỹ theo tuổi, giới 43 3.6 Phân bố thời gian tham gia công tác của y sỹ 44 3.7 Phân bố cán bộ DS - KHHGĐ theo tuổi, giới 47 3.8 Phân bố cán bộ DS - KHHGĐ theo trình độ học vấn 48 3.9 Các yếu tố cần có để thu hút bác sỹ về làm việc ở trạm y tế xã 50 3.10 Ý kiến về sự thỏa đáng các chế độ chính sách 51 3.11 Nhu cầu về thời gian bác sỹ làm việc tại trạm y tế xã 56

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều kiện

cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ chính trị quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Trong những năm qua công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái luôn được chú trọng, hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cơ bản đáp ứng được nhu cầu Việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thiết yếu đã góp phần cải thiện mô hình bệnh tật trong cộng đồng Chủ trương lấy y tế cơ sở làm nòng cốt trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã mang lại nhiều thành tựu, góp phần đạt được các mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân tại tỉnh Yên Bái [1]

Với chủ trương đưa dịch vụ y tế đến với người dân, nhất là vùng khó khăn, thực hiện công bằng, hiệu quả trong khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng cao Trong những năm qua, công tác khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở tại Yên Bái được thực hiện khá tốt, giải quyết một phần gánh nặng cho tuyến trên và đã góp phần quan trọng trong việc khống chế đẩy lùi dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội Hoạt động của mạng lưới y tế tuyến huyện, xã đã giúp người dân giảm chi phí khi ốm đau, điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người nghèo [7] Cán bộ y tế xã, phường, thị trấn vùng thấp trong hệ thống y tế nhà nước được ký hợp đồng lao động theo Quyết định số 58/QĐ-TTg ngày 03/02/1994 của Chính phủ, cán

bộ y tế xã vùng cao đã được vào biên chế, tạo điều kiện để cán bộ y tế yên tâm sống và làm việc

Trang 11

Tuy nhiên, những năm gần đây hoạt động của tuyến y tế cơ sở đã xuất hiện những bất cập: Dân số tăng, dịch bệnh có những diến biến khác thường, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng cao trong khi số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ y tế tại các tuyến chưa phù hợp [14] Việc liên tục thay đổi mô hình tổ chức ngành y tế, Uỷ ban Dân số - Gia đình - Trẻ em giải thể, lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình chuyển về ngành y tế, trạm y

tế xã có thêm một nhiệm vụ và một biên chế cán bộ chuyên trách dân số - kế hoạch hóa gia đình Những thay đổi trên diễn ra khi mà trung tâm y tế huyện, phòng y tế huyện và bệnh viện đa khoa huyện được tách ra để đảm nhiệm các chức năng riêng biệt, ban đầu đã có những ảnh hưởng không tốt đến sự gắn kết trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu giữa tuyến huyện và xã

Năm 2010, thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, trạm y tế là nơi đăng ký khám bảo hiểm y tế ban đầu nhưng trạm y tế lại chưa được bổ sung nhiệm vụ

và nhân lực Nhiều trạm y tế cơ sở vật chất đã xuống cấp chưa được tu bổ lại, trang thiết bị y tế thiếu và lạc hậu… Chính sách thu hút bác sỹ về làm việc tại trạm y tế xã chưa đủ sức hấp dẫn Trong khi giá cả lạm phát, cuộc sống của cán bộ y tế cơ sở gặp nhiều khó khăn… Nhiều cán bộ y tế cơ sở không yên tâm công tác

Xác định việc xây dựng trạm y tế, cung cấp trang thiết bị khám chữa bệnh đồng thời với việc đào tạo cán bộ cho y tế cơ sở là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách của ngành y tế nói chung và ngành Y tế Yên Bái nói riêng Ngành Y

tế Yên Bái đã có nhiều cố gắng, từng bước xây dựng mới cơ sở vật chất và đào tại cán bộ Để có cơ sở đánh giá thực trạng nguồn nhân lực y tế cơ sở, phân tích những vấn đề cần quan tâm và các chính sách, giải pháp cần thiết nhằm thực hiện tốt hơn nữa việc phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở, từng bước cải thiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tỉnh Yên Bái, câu hỏi đặt ra là: Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã/phường/thị trấn

Trang 12

của tỉnh Yên Bái hiện nay ra sao? Yếu tố nào đang ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng cán bộ y tế xã/phường/thị trấn? Giải pháp nào để phát triển nguồn nhân lực y tế xã/phường/thị trấn trong những năm tiếp theo? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Tên đề tài: “Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường ở tỉnh Yên

Bái và đề xuất giải pháp can thiệp”

Mục tiêu đề tài:

1 Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường, thị trấn tỉnh Yên Bái năm 2011

2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng cán bộ y tế

xã, phường, thị trấn và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực y tế

xã, phường, thị trấn tỉnh Yên Bái

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổ chức và hoạt động của y tế xã/phường/thị trấn

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của y tế xã, phường, thị trấn

Mạng lưới y tế cơ sở ở nước ta được hình thành ở niềm Bắc từ sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 Do đất nước chia cắt hai miền, nên ở miền Nam y

tế cơ sở mới được hình thành từ sau ngày giải phóng, năm 1975 Trước thời

kỳ đổi mới, y tế cơ sở nước ta đã trải qua một thời kỳ suy thoái do hệ thống hợp tác xã nông nghiệp tan rã, Uỷ ban nhân dân xã không còn nguồn thu để cấp kinh phí cho các dịch vụ xã hội trong đó có y tế Để giải quyết tình trạng xuống cấp của nhiều trạm y tế xã, năm 1987 Nhà nước đã quyết định cấp lương cho một số cán bộ y tế xã từ ngân sách của tỉnh Tuy nhiên, đến đầu thập kỷ 90 mới chỉ có một phần ba trạm y tế xã có cán bộ được hưởng lương theo quyết định này Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 58/QĐ-TTg ngày 3/2/1994, xác định: Cán bộ y tế xã là cán bộ Nhà nước

và phân bổ ngân sách để trả lương từ ngân sách của tỉnh

Ngày 22/01/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, Chỉ thị đã thể hiện

sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở,

với mục tiêu: “Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, góp phần phát

triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội” Chỉ thị yêu cầu các cấp ủy Đảng phải

nhận thức đầy đủ về vai trò của y tế cơ sở, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Chính quyền, các ngành, các đoàn thể quan tâm xây dựng và củng

cố mạng lưới y tế cơ sở, kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, tăng cường cán bộ và trang bị kỹ

Trang 14

thuật cho mạng lưới y tế cơ sở Mở rộng các hình thức đào tạo và bồi dưỡng

để phát triển đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, ưu tiên đào tạo cán bộ người dân tộc của địa phương Bảo đảm đủ chức danh cán bộ cho trạm y tế, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ y dược cổ truyền Có chính sách đãi ngộ thích hợp để khuyến khích cán bộ y tế làm việc tại trạm y tế xã, phường, đặc biệt là

ở miền núi, vùng sâu, vùng xa [1]

Chỉ thị 06 cũng nhấn mạnh: “Ưu tiên chăm sóc sức khỏe nhân dân

miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt đối với nhân dân các dân tộc thiểu số”

[1] Để cụ thể hóa mục tiêu trên, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07/02/2002 về việc ban hành "Chuẩn Quốc gia về y

tế xã giai đoạn 2001–2010” Đây là tiêu chuẩn và chỉ tiêu để các cấp ủy Đảng, Chính quyền quan tâm chỉ đạo, đầu tư nâng cấp hoặc xây dựng mới trạm y tế

xã và cán bộ trạm y tế xã, phường, thị trấn phấn đấu thực hiện [5]

Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2006 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới cũng đã

nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Đổi mới toàn diện hệ thống y tế theo hướng công

bằng, hiệu quả và phát triển nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe với chất lượng ngày càng cao phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Nghị quyết 46 đã xác

định ưu tiên vào việc đầu tư cho đào tạo cán bộ, đây là bước bứt phá để nâng

cấp các cơ sở y tế: “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở

đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, trong đó có nội dung: Xây dựng đề án đào tạo bác sỹ cử tuyển cho con em đồng bào dân tộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Trung Bộ và miền núi phía Bắc; Xây dựng đề án chế độ chính sách thu hút cán bộ y tế về vùng sâu, vùng xa; Xây dựng đề án đầu tư, cải tạo và nâng cấp trạm y tế xã/phường/thị trấn; Tiếp tục

Trang 15

củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức

khỏe cơ bản của toàn dân, đặc biệt là người nghèo Phấn đấu: “ Đến năm

2010, 100% xã, phường có trạm y tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa

lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn Bảo đảm 80% số xã có bác sỹ, trong đó 100% các xã ở đồng bằng và 60% các xã miền núi có bác sỹ Phấn đấu đến hết năm 2010 có 75% số xã trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về y tế xã” [22]

Năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 về việc thay đổi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ngành y tế; Thực hiện Quyết định số 49 và Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 23/01/2006 của UBND tỉnh Yên Bái về việc tổ chức lại trung tâm y tế huyện thành 3 đơn vị: Phòng y tế, Trung tâm y tế dự phòng, Bệnh viện đa khoa Các Trạm y tế được chuyển cho Phòng y tế quản lý, trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện [50], [51]

Sau 2 năm thực hiện Nghị định, năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 về việc quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thông tư số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế - Bộ Nội

vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế; UBND tỉnh Yên Bái ra Quyết định số 1172/QĐ-UBND ngày 21/7/2008 về việc đổi tên Trung tâm y tế dự phòng huyện thành Trung tâm y

tế huyện, chuyển trạm y tế xã từ Phòng y tế sang cho Trung tâm y tế quản lý [52] Sự chuyển đổi này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý cán bộ y tế cơ

sở

Năm 2008, Uỷ ban Dân số - Gia đình - Trẻ em giải thể, lĩnh vực dân số

- kế hoạch hóa gia đình được bàn giao về ngành y tế, trạm y tế xã có thêm một nhiệm vụ và một cán bộ chuyên trách dân số - kế hoạch hóa gia đình

Trang 16

Những thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy ban đầu đã có những ảnh hưởng đến sự phối kết hợp trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu giữa tuyến huyện và xã

Mặc dù liên tục có sự thay đổi, nhưng bằng nhiều biện pháp nỗ lực, ngành y tế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở đã khắc phục mọi khó khăn, duy trì hoạt động ổn định, làm tốt nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong những năm qua cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của y tế xã, phường, thị trấn

Chỉ thị 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Ban Bí thư Trung

ương Đảng đã nêu rõ: “Mạng lưới y tế cơ sở (gồm y tế thôn bản, xã, phường,

thị trấn, quận huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, đảm bảo cho mọi người được chăm sóc sức khỏe cơ bản, với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật

tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa”

Chỉ thị cũng đã chỉ rõ: “Y tế cơ sở nằm trong hệ thống y tế nhà nước, là đơn

vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với người dân, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ

kỹ thuật chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm và phòng dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đỡ đẻ thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện vệ sinh môi trường, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tăng cường sức khỏe”

Với hơn 11.012 trạm y tế trong toàn quốc, công tác CSSKBĐ sẽ được bao phủ hầu hết dân cư [14] Có thể nói tình trạng sức khỏe của người dân tốt hay xấu phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của tuyến y tế cơ sở, bởi y tế tuyến trên chỉ đón nhận một tỷ lệ nhỏ những người bệnh nặng, vượt quá khả năng giải quyết của tuyến y tế cơ sở, cũng như đảm nhận một phần nhỏ công tác dự phòng [12]

Trang 17

Trạm y tế xã là đơn vị chuyên môn kỹ thuật trực thuộc trung tâm y tế

huyện, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1 Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện (khi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt) các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật theo phân cấp

2 Phát hiện và báo cáo kịp thời các bệnh dịch lên tuyến trên và giúp địa phương về các biện pháp vệ sinh phòng chống bệnh, phòng chống dịch, giữ vệ sinh nơi công cộng, tuyên truyền ý thức về bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân

3 Tuyên truyền, vận động, triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn về bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, bảo đảm việc quản lý thai, khám thai và đỡ đẻ thường

4 Tổ chức sơ cứu ban đầu, khám, chữa bệnh thông thường cho nhân dân tại trạm y tế và mở rộng dần việc quản lý sức khoẻ tại gia đình; tổ chức khám và quản lý sức khoẻ cho các đối tượng trong khu vực mình phụ trách

5 Xây dựng vốn tủ thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý Xây dựng mô hình mẫu và phát triển thuốc nam, kết hợp y học cổ truyền với

y học hiện đại trong việc phòng và chữa bệnh

6 Tham mưu cho giám đốc trung tâm y tế huyện và UBND xã chỉ đạo thực hiện các nội dung chuyên môn của các chương trình y tế đang triển khai thực hiện tại địa phương

7 Phát hiện, báo cáo UBND xã và cơ quan y tế cấp trên về các hành vi hoạt động y tế phạm pháp trên địa bàn xã để ngăn chặn kịp thời

8 Kết hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân trong xã để tuyên truyền và tổ chức thực hiện các nội dung CSSKBĐ

9 Quản lý các thông tin, tổng hợp báo cáo, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác theo quy định hiện hành

Trang 18

10 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do giám đốc trung tâm y

tế huyện và UBND xã giao [20], [31]

Với mục tiêu chiến lược về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là: Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ tuyến y tế cơ sở Nâng cao tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng các dịch

vụ CSSK, đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh Đảm bảo cơ cấu tổ chức, thực hiện chế độ chính sách, đáp ứng đủ thuốc và trang thiết bị thiết yếu cho các hoạt động chăm sóc và bảo vệ và tăng cường sức khoẻ người dân, vì vậy trạm

y tế đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đó cán bộ tuyến y tế cơ sở phải có trình độ chuyên môn nhất định, trang thiết bị phải được đáp ứng cơ bản, phải có sự quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động một cách đồng bộ thì mới phát huy được hiệu quả [1], [7]

1.1.3 Vai trò của y tế xã/phường/thị trấn trong thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân

Nhu cầu chăm sóc và BVSK của trên 80 triệu dân nước ta, với trên 80% dân số sống ở nông thôn là rất lớn Trong khi nhiều địa phương, nhiều vùng vẫn còn rất nghèo, giao thông đi lại khó khăn Y tế xã/phường/thị trấn là tuyến đầu tiên tiếp xúc trực tiếp với người dân nên có một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống y tế Mọi nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người dân đều phải được Trạm y tế nắm vững và phải có phản ứng sớm nhất với sự thay đổi sức khỏe của dân cư Nếu nhiệm vụ này không được làm tốt sẽ gây ra những hậu quả rất nguy hiểm đối với người bệnh như: tử vong, bệnh nặng lên, bệnh thành mãn tính; tốn kém về kinh tế cho người dân và đặc biệt làm tăng cao tỷ lệ bệnh tật Ngoài ra sự di chuyển người bệnh vượt tuyến sẽ làm tăng gánh nặng cho y tế tuyến trên

Trang 19

Thực tế cho thấy: Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân tại trạm

y tế xã/phường/thị trấn là phù hợp nhất vì bảo đảm tính thuận tiện, giá cả phù hợp và tận dụng mọi nguồn lực sẵn có tại địa phương Nhờ có y tế cơ sở mà công tác CSSKBĐ đã được phổ cập và thực hiện từ nhiều năm nay ở nước ta, với nhiệm vụ bảo đảm cung ứng các dịch vụ CSSKBĐ kịp thời, tại chỗ, trực tiếp đến từng gia đình và từng người dân trong cộng đồng, bảo đảm sức khoẻ cho khoảng 80% dân số, nhiều bệnh dịch đã được khống chế và đẩy lùi, nhân dân ở khắp các vùng miền đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của nước ta đều đạt và vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người

Rõ ràng y tế cơ sở giữ vai trò chủ yếu trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người dân, góp phần to lớn bảo đảm an ninh xã hội và phát triển kinh tế Củng

cố y tế cơ sở, trước hết là các trạm y tế xã/phường/thị trấn đang là một yêu cầu cấp bách hiện nay Củng cố y tế cơ sở cần đặt trọng tâm vào củng cố trạm

y tế xã trong đó cần chú trọng vào nguồn nhân lực đây là nhân tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động của trạm y tế xã [31]

1.1.4 Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã phường

Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001–

2010 xác định: “Mục tiêu đến năm 2005 là 100% phòng khám đa khoa khu

vực có bác sỹ, 65% số xã có bác sỹ (trong đó 50% số xã miền núi có bác sỹ), 100% số trạm y tế có nữ hộ sinh, trong đó 60% là nữ hộ sinh trung cấp; Mục tiêu đến năm 2010 là 80% số xã có bác sỹ (trong đó 60% số xã miền núi có bác sỹ), 80% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh trung cấp, các trạm y tế đều có cán

bộ với trình độ dược tá phụ trách công tác dược và có cán bộ được đào tạo,

bổ túc về y học cổ truyền”

Thực hiện các chỉ tiêu của Chiến lược, chúng ta đã phấn đấu đến cuối năm 2005, cả nước có 671 quận, huyện, thị xã và 10.876 xã, phường, thị trấn

Trang 20

[33] Hàng năm số trạm y tế xã, phường tiếp tục tăng lên để bảo đảm các xã, phường mới được chia tách có cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu [12] Định biên của trạm y tế xã được quy định theo Quyết định 58/TTg ngày 3/2/1994, Quyết định 131/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 08/TTLB-BNV-BYT ngày 20/4/1995 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ:

Khu vực đồng bằng, trung du: Những xã có 8.000 dân trở xuống được

bố trí từ 3–4 cán bộ y tế; những xã có 8.000–12.000 dân có 4–5 cán bộ y tế; những xã trên 12.000 dân có 6 cán bộ y tế

Khu vực miền núi, Tây Nguyên, hải đảo: Những xã dưới 3.000 dân

được bố trí 4 cán bộ y tế; những xã từ 3.000 dân trở lên có 5–6 cán bộ y tế

Khu vực thành phố, thị xã, thị trấn: có 2–3 cán bộ y tế [3],[20], [21

Chuẩn Quốc gia về y tế xã (phường, thị trấn) giai đoạn 2001–2010 ban hành theo Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07/02/2002 của Bộ Y tế đã quy định mục tiêu về nhân lực y tế Về số lượng cán bộ, đảm bảo định biên cán bộ theo quy định hiện hành, về cơ cấu cán bộ, một trạm y tế tối thiểu có 3 cán bộ, trong đó:

Bác sỹ hoặc y sỹ đa khoa (đồng bằng phải có bác sỹ)

Nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi (đồng bằng phải có nữ hộ sinh trung cấp hoặc y sỹ sản nhi)

Điều dưỡng (đồng bằng phải có điều dưỡng trung cấp trở lên)

Đối với trạm y tế có từ 4 cán bộ trở lên, phải có một cán bộ y học cổ truyền chuyên trách Khi chưa đủ 4 cán bộ trở lên, trạm y tế phải có cán bộ được bổ túc thêm về y học cổ truyền, phải có cán bộ có trình độ dược tá (có thể kiêm nhiệm) để quản lý thuốc trên địa bàn xã [5]

Với mục tiêu phấn đấu để mọi người dân đều được quan tâm chăm sóc sức khoẻ, chúng ta đã hưởng ứng tuyên ngôn Alma - Alta vì nó phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, ngoài 8 nội dung của tuyên

Trang 21

ngôn Alma – Alta, chúng ta đã bổ xung thêm 2 nội dung đó là: Củng cố và kiện toàn màng lưới y tế cơ sở và quản lý sức khoẻ [31]

Tuy nhiên việc phấn đấu thực hiện cũng gặp rất nhiều khó khăn, hiện nay, trên toàn quốc, số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã chưa cao Đến hết năm 2006, cả nước chỉ có 45% số xã đạt chuẩn [12] Khu vực miền núi vùng cao, vùng sâu gặp nhiều khó khăn trong việc phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia y

tế xã hơn đồng bằng bởi ba lý do:

Một là: Điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các vùng khác nhau nên sự

tác động và tạo điều kiện, đầu tư để y tế xã đạt được 10 chuẩn cũng khác nhau

Hai là: Sự phân bổ cơ cấu cán bộ hiện tại cũng chưa hợp lý, ý thức về

trách nhiệm của các cấp Ủy Đảng, Chính quyền có nơi, có lúc chưa cao, sự tham gia của cộng đồng cũng còn nhiều hạn chế

Ba là: Đồng lương của cán bộ y tế xã chưa đảm bảo, cán bộ y tế không

yên tâm công tác lâu dài, nhiều cán bộ y tế sau khi được đào tạo bác sỹ có tư tưởng muốn rời bỏ y tế cơ sở, tìm đến nơi có việc làm với mức lương cao hơn Thực tế này đã gây rất nhiều khó khăn cho phát triển nhân lực của y tế

cơ sở

Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và

tầm nhìn đến năm 2020 đã khẳng định: “Y tế cơ sở phải bảo đảm nhiệm vụ

chăm sóc sức khỏe ban đầu” Để thực hiện nhiệm vụ đó, Quy hoạch đã xây

dựng những chỉ tiêu và kế hoạch đã đưa ra những đề án đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất cần thiết để bảo đảm chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời được các bệnh thông thường; sơ cứu, cấp cứu ban đầu các tai nạn, thương tích trong cụm dân cư; tiến tới thực hiện được một số kỹ thuật đơn giản trong khám, chữa một số bệnh chuyên khoa về mắt, răng, tai-mũi-họng, sức khỏe sinh sản

Trang 22

và sức khỏe trẻ em Phấn đấu “Đến năm 2010, mục tiêu là 75% các xã đạt

chuẩn quốc gia về y tế, 80% trạm y tế có bác sỹ, 100% trạm y tế xã có hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, trong đó 80% trạm y tế xã có nữ hộ sinh trung học” [44]

Quy hoạch này cũng đã chỉ rõ: “Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng

lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản của toàn dân, đồng thời thực hiện được một số kỹ thuật đơn giản trong khám, điều trị một số bệnh chuyên khoa về mắt, răng, tai - mũi - họng, sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em”

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 là hầu hết các xã, phường có trạm y

tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn; 80% số trạm y tế xã có bác

sỹ, trong đó 100% các trạm y tế xã ở đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sỹ; 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm y tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ trạm y tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã Ở các thành phố lớn, số lượng cán bộ trạm y tế được cân đối theo tỷ lệ cứ 1.400 đến 1.500 người dân thì có một cán bộ trạm y tế phường Phấn đấu đến hết năm 2010 có 80% số xã trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về y tế xã [25] Cũng theo mục tiêu của quy hoạch thì các xã có dân

số trên 10.000 dân được tăng thêm biên chế hoặc tuyển thêm hợp đồng, đối với các xã thuộc tỉnh miền núi mà địa bàn xã trải dài, đi lại khó khăn nhưng không đủ điều kiện về số dân phục vụ theo quy định thì tối thiểu có 5 cán bộ/trạm y tế

Để từng bước thực hiện các chỉ tiêu của Qui hoạch, năm 2007, Bộ Y tế

và Bộ Nội vụ đã có Thông tư liên tịch số 08, hướng dẫn định mức biên chế sự

Trang 23

nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, Thông tư đã quy định: Căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân, định mức biên chế của Trạm y tế xã, phường, thị trấn được xác định theo đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội, quy mô dân số như sau:

1 Biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho 1 trạm y tế xã, phường, thị trấn

2 Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5.000 dân: Tăng 1.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/ 1 trạm

3 Đối với xã đồng bằng, trung du trên 6.000 dân: Tăng 1.500 đến 2.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/ 1 trạm

4 Đối với trạm y tế phường, thị trấn trên 8.000 dân: Tăng 2.000 đến

3.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/ 1 trạm

5 Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóng trên địa bàn: Bố trí tối đa 5 biên chế/ trạm

Thông tư số 08/2007 của Liên Bộ cũng đã quy định hệ số điều chỉnh theo vùng địa lý đối với định mức biên chế của trạm y tế thuộc tỉnh miền núi

là 1,2 như vậy mỗi trạm y tế xã tối thiểu phải có 6 cán bộ y tế [13]

Tuy nhiên trong những năm gần đây theo báo cáo của Bộ Y tế, nguyên

Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu đã có nhận định: “Ngành Y tế đặt mục tiêu

phấn đấu 100% xã phường có cán bộ y tế nhưng, trên thực tế lượng cán bộ này đang giảm dần theo năm Hiện nay, đội ngũ này ở tuyến dưới chỉ đạt tỷ lệ 69%, thấp hơn so với những năm trước (70% - 80%)” [14]

Thực tế này đang đặt ra những thách thức rất lớn cho ngành y tế trong việc đảm bảo đáp ứng được nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân trong tình hình mới

Trang 24

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng cán bộ y tế xã, phường

Thực hiện Thông tư số 11/TTLT/BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, trạm y tế được giao về Phòng Y tế huyện quản lý Sau hai năm thực hiện mô hình này đã cho thấy những bất hợp lý và khó khăn trong chỉ đạo hoạt động của tuyến y tế cơ sở Năm 2008, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ra Thông tư số 03/TTLT/BYT- BNV, trạm y tế lại được bàn giao về cho Trung tâm y tế huyện quản lý Việc liên tục thay đổi mô hình tổ chức, chuyển đổi cơ chế quản lý cán bộ y tế cơ sở đã gây ảnh hưởng không tốt đến số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ, nhiều cán bộ có trình độ chuyên môn vững đã chuyển sang tham gia công tác quản lý, sự bố trí không phù hợp, thiếu đồng bộ dẫn đến cán bộ chuyên môn thiếu và yếu, nhiều cán bộ y tế cơ sở không yên tâm công tác

Hiện nay, số lượng cán bộ của trạm y tế xã vùng thấp đã đáp ứng tương đối đủ, nhưng ở vùng cao còn thiếu về số lượng và còn bất hợp lý về cơ cấu

do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, nguồn tuyển khó khăn, nhất là đối với cán bộ là người dân tộc, người địa phương (Về cơ cấu cán bộ còn thiếu một

số chức danh như cán bộ dược, y sỹ, cán bộ dân số, điều dưỡng)

Sau khi ngành Dân số - Gia đình & Trẻ em giải thể, thực hiện Thông tư

số 05/TT-BYT về chức năng nhiệm vụ của Chi cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh/huyện, trạm y tế xã đảm nhiệm thêm công tác dân số nhưng lại chưa được bổ sung chức năng nhiệm vụ, chưa có quy định biên chế cán bộ chuyên trách dân số vào là viên chức của trạm y tế

Sự thay đổi của hệ thống dân số cũng gây những ảnh hưởng không nhỏ: Quá trình giải thể tổ chức cũ, thành lập tổ chức mới diễn ra chậm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các hoạt động ở cơ sở Bằng nhiều nỗ lực của ngành Y

tế, đến nay, tổ chức bộ máy dân số ở các cấp đã bước đầu được kiện toàn, nhưng chưa hoàn thiện, thiếu cán bộ và quá tải công việc ở cả cấp tỉnh và

Trang 25

huyện Nhiều cán bộ ở cơ sở chưa được đào tạo nghiệp vụ DS - KHHGĐ, chưa đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, cấp xã chỉ có gần 15 % cán

bộ đạt tiêu chuẩn về chuyên môn, nhiều cán bộ không yên tâm công tác đã xin chuyển sang ngành khác, dẫn đến tình trạng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) Từ khi giải thể Uỷ ban Dân số - Gia đình

và Trẻ em đến 6 tháng đầu năm 2008, việc tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền ở cấp xã/phường về công tác dân số không được làm thường xuyên, liên tục cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số hầu như không hoạt động, thì đến nay đã dần đi vào ổn định và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn do số cán bộ dân số cấp xã chưa đủ tiêu chuẩn trình độ theo quy định theo Thông tư 05 của Bộ Y tế (59,5% chưa qua đào tạo chuyên môn gì) [45], [18]

Theo báo cáo của Sở Y tế Thái Bình hiện tại chỉ có khoảng 20% số cộng tác viên dân số đáp ứng đủ tiêu chuẩn có trình độ trung cấp trở lên và 80% số cán bộ dân số còn lại sẽ không được tiếp tục tham gia công tác, trong khi phần lớn những cán bộ này có thời gian lâu dài gắn bó với công tác dân

số, có kinh nghiệm và kỹ năng truyền thông tại cộng đồng

Theo GS.TS Trương Việt Dũng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Đào tạo -

Bộ Y tế: “Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu nhân lực y tế:

Nguồn đào tạo có giới hạn, dân số mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu người,

hệ thống y tế tư nhân đang phát triển nhanh, thêm nữa hiện nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao, tình trạng mất cân đối về phân bổ nhân lực… Nhiều lĩnh vực đã và sẽ thiếu cán bộ trầm trọng hơn” [56], [11]

Đối với các trạm y tế xã vùng cao, khu vực đặc biệt khó khăn thì việc thiếu cán bộ theo cơ cấu thường xuyên sảy ra bởi hai lý do:

Một là: Thiếu nguồn tuyển tại chỗ

Trang 26

Hai là: Trong khi cán bộ biên chế của trạm được cử đi học thì trạm y tế

không có nguồn kinh phí để tuyển dụng hợp đồng lao động theo cơ cấu Sau khi học xong, các bác sỹ có xu hướng xin chuyển công tác lên bệnh viện tuyến trên hoặc ra làm bệnh viện ngoài công lập, người địa phương được cử

đi học không trở về công tác [40], [41], [42]

Ngày 12/6/2008, Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo trực tuyến Hà Nội - Huế - Thành phố Hồ Chí Minh về đào tạo nguồn nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội Kết quả cho thấy, nhu cầu tăng cường nguồn nhân lực y tế là rất lớn, một trong những khó khăn còn đang tồn tại hiện nay trong ngành y tế là sự thiếu hụt ngày càng trầm trọng đội ngũ cán bộ y tế tuyến xã/phường, đặc biệt là thiếu bác sỹ, trong khi khả năng đáp ứng lại rất hạn chế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt này như: Mức lương không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống, trong khi giá cả lạm phát, điều kiện sống và làm việc ở tuyến y tế

cơ sở khó khăn, nếu gắn bó lâu dài thì con cái cán bộ y tế không có điều kiện tốt để học hành, sự quan tâm của các cấp Chính quyền địa phương đôi khi chưa đúng mức, các chế độ ưu đãi không được giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời, không động viên được cán bộ để họ yên tâm công tác lâu dài Trong khi đó, cơ sở vật chất của các tuyến y tế cơ sở đa phần là nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu nên không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh hiện nay của nhiều người dân Thực tế trên dẫn đến hiện tượng cán bộ xã phường chỉ có thể dừng lại ở mức điều trị bệnh những trường hợp “bệnh làng nhàng”, không thể nâng cao được chuyên môn nghiệp vụ Chính vì vậy, sinh viên y khoa mới tốt nghiệp từ chối nhận công tác ở tuyến dưới Vì những lý do này nên tình trạng quá tải ở tuyến y tế trung ương đã lên đến 110% [14]

Việc bổ sung một biên chế làm dân số ở trạm y tế xã sẽ do cấp huyện

bố trí dần, tuy nhiên trong khi chưa có biên chế cán bộ thì trạm y tế phải sử dụng bộ máy của mình để thực hiện công tác dân số trên địa bàn, trưởng trạm

Trang 27

y tế là người tham mưu, giúp việc cho Chủ tịch xã về lĩnh vực dân số [14] Công việc quá tải, trong khi mức lương không tăng thêm, điều này đã ảnh hưởng không tốt đến tâm lý cán bộ tế cơ sở

1.3 Thực trạng nguồn lực của y tế xã, phường, thị trấn của tỉnh Yên Bái

và quan điểm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, ngành Y tế tỉnh Yên Bái

Tại thời điểm năm 2006, Yên Bái đã có 178 trạm y tế xã, phường, thị trấn trong đó có 70 trạm y tế thuộc xã vùng cao, 108 trạm y tế thuộc các xã vùng thấp Trung bình đạt 5,2 CBYT/trạm (Tỷ lệ cán bộ y tế xã vùng cao đạt 4,3 CBYT/trạm, vùng thấp đạt 5,3 CBYT/trạm ) [36], [38], [39]

Thực hiện Chỉ thị số 06/2002/CT-TW ngày 22/1/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, Tỉnh uỷ Yên Bái đã xây dựng Kế hoạch số 30/KH/TU ngày 30/7/2002 của Tỉnh ủy về việc thực hiện Chỉ thị 06, nội dung củng cố mạng lưới y tế cơ sở giai đoạn

2006 - 2010 được cụ thể hóa với những mục tiêu sau:

+ 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động và được đào tạo từ 3 tháng trở lên

+ 50% xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế vào 2005 và 80% xã đạt Chuẩn Quốc gia y tế vào năm 2008

+ 100% số trạm y tế được xây dựng nâng cấp vững chắc, được trang bị các thiết bị phù hợp để phục vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân tại cơ sở

+ Mỗi trạm có từ 5 - 6 cán bộ hoạt động: 60% số xã có bác sỹ vào năm

2005 và 80% số xã có bác sỹ vào năm 2010; 100% số xã có NHS/YSN vào năm 2005; 50% số xã có cán bộ dược vào năm 2005 và 100% số xã có cán bộ dược vào năm 2010

+ Phấn đấu 60 - 70% số cán bộ y tế xã vùng cao là người của địa phương [37]

Trang 28

Ngày 4/12/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã phê duyệt Quyết định số 2260/QĐ-UB về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006-2010, 2015 và tầm nhìn 2020 Đối với giai đoạn 2011 - 2015, Quy

hoạch đã chỉ rõ: “Củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, phát triển nhân

lực y tế, nâng cao khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế thiết yếu; 100 % xã có trạm y tế được xây dựng kiên cố bảo đảm theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định” [54]

Nội dung phát triển nguồn nhân lực cho tất cả các tuyến y tế, trong đó

có đào tạo bác sỹ cho xã, y sỹ và nhân viên y tế thôn bản đã được cụ thể tại đề

án “Phát triển nguồn nhân lực y tế tỉnh Yên Bái giai đoạn 2009 - 2015” và đã

được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1470 ngày 28/9/2009

Chuẩn bị cho giai đoạn 2011-2015, Sở Y tế Yên Bái đã có Kế hoạch 1133/KH-SYT ngày 21/12/2010 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015,

trong đó ghi rõ: “Tập trung đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, ưu tiên củng cố

hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, thực hiện chuẩn quốc gia về y tế xã Điều chỉnh Đề án chuẩn Quốc gia về y tế giai đoạn II, 2011 - 2015 theo tiêu chuẩn mới của Bộ Y tế trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt; Nâng cấp Trường Trung cấp y tế thành Trường Cao đẳng y tế, đảm bảo đủ năng lực đào tạo cán bộ y tế, bổ sung nguồn nhân lực cho y tế địa phương, kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cơ sở cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ phù hợp với quy định; Xây dựng quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ cho y tế cơ sở, cán bộ là người vùng cao, dân tộc thiểu số Đào tạo đủ nhân viên y tế thôn bản để đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân” Các chỉ

tiêu phấn đấu là:

Trang 29

+ 85% số xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã vào 2010 và 90% số xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã vào năm 2015

+ 100% số trạm y tế được xây dựng nâng cấp vững chắc, được trang bị các thiết bị phù hợp để phục vụ công tác CSSKND tại cơ sở

+ Mỗi trạm có từ 5 - 6 cán bộ hoạt động: 60% số xã có bác sỹ vào năm

2010 và 80% số xã có bác sỹ vào năm 2015; 100% số xã có NHS/YSN vào năm 2015; 50% số xã có cán bộ dược vào năm 2010 và 100% số xã có cán bộ dược vào năm 2015 [45]

Về tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số của tỉnh Yên Bái:

Năm 2008, giải thể Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em cấp tỉnh và cấp huyện, giao nhiệm vụ quản lý và chuyên môn dân số về ngành y tế Nhưng ở cấp xã không có quyết định giải thể Ban Dân số, gia đình và trẻ em [49] Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ cấp xã đã được thành lập do chủ tịch UBND

xã làm trưởng ban và các ngành, đoàn thể là thành viên Cán bộ DS - KHHGĐ xã do trạm y tế quản lý điều hành Ngành y tế nhận bàn giao từ UB

DS - GĐ & TE 180 cán bộ chuyên trách công tác DS - KHHGĐ ở xã và 2.407 cộng tác viên dân số ở thôn bản [49]

Về trang thiết bị, cơ sở vật chất của trạm y tế xã/phường/thị trấn:

Hiện tại, Yên Bái có 180 xã/phường/thị trấn, 100% xã/phường/thị trấn trong tỉnh đều có trạm y tế; 13 trạm y tế xã lồng ghép với phòng khám đa khoa khu vực, còn lại 167 trạm y tế là độc lập Số xã đạt chuẩn quốc gia về y

tế là 149/180 Về cơ sở vật chất, 165/167 trạm y tế có nhà làm việc, 2 trạm y

tế đang làm việc nhờ đơn vị khác Những trạm y tế độc lập được xây dựng ít nhất một khu nhà, tuy nhiên đa số chưa đủ số phòng làm việc và các công trình phụ trợ theo quy định Hầu như khối nhà chính của các trạm y tế xã (kể

cả xây mới) chỉ được xây 4 đến 5 gian, các công trình phụ trợ như: nhà bếp,

Trang 30

nhà kho, nhà tiêu, tường rào, sân phơi, đường vào hầu như không đáp ứng được nhu cầu sử dụng và tiêu chuẩn của Chuẩn Quốc gia về y tế xã

Trong 6 năm thực hiện Chuẩn Quốc gia về y tế xã, tỉnh Yên Bái đã tập trung mọi nguồn lực, đầu tư xây dựng mới 25 trạm y tế bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau: Ngân sách tập trung, Chương trình 135, Dự án Ngân hàng Thế giới (WB), Dự án Chia sẻ và Tổ chức Tầm nhìn thế giới, các nhà từ thiện…; 91 trạm y tế được đầu tư sửa chữa, nâng cấp bằng nguồn ngân sách tập trung của Đề án CQGVYTX; 97 trạm y tế được đầu tư kinh phí từ Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trong đó có 60 trạm được xây mới công trình vệ sinh, nước sạch; mua bổ sung trang thiết bị y tế thiết yếu phục vụ công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho 121 trạm y tế

Theo số liệu khảo sát của Dự án tăng cường năng lực hệ thống y tế cơ

sở tỉnh Yên Bái, tháng 01/2011 toàn tỉnh mới chỉ có 10 trạm y tế xã có từ 9 phòng làm việc trở lên, còn lại 157 trạm có từ 5 đến 8 phòng Về trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã: 167 trạm y tế xã độc lập và 13 trạm y tế lồng ghép đều chưa có đủ trang thiết bị theo quy định; Mặc dù có sự

hỗ trợ của một số dự án đầu tư trang thiết bị y tế như: chương trình xóa xã trắng, Dự án UNFPA, SCJ… nhưng các trang thiết bị được cung cấp từ nhiều nguồn, nhiều thời gian khác nhau nên không đồng bộ, cho đến nay cũng đã bị

hư hỏng Hầu hết các trạm y tế xã chỉ có các trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh thông thường cho nhân dân Các trang thiết bị chuyên môn như: xét nghiệm, hệ thống oxy, dụng cụ khám chuyên khoa tai mũi họng, răng hàm mặt, y học cổ truyền và thiết bị chống nhiễm khuẩn, hệ thống xử lý chất thải y

tế chưa được đầu tư [41], [42]

Trang 31

Về thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ y tế tại tỉnh Yên Bái:

Liên bộ đã có Thông tư số 08/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB&XH ngày 20/4/1995 quy định về tổ chức và chế độ chính sách cho cán bộ y tế xã Theo

đó cán bộ y tế xã được vào biên chế, cán bộ y tế xã được hưởng lương từ ngân sách, tiền trực, đóng bảo hiểm xã hội, ngoài ra không có phụ cấp khác

Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số TTg ngày 30/7/2003 quy định sửa đổi, bổ sung một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức ngành y tế, Liên Bộ đã có Thông tư liên tịch số 09/2003/TTLT-BYT-BNV-BTC ngày 29/9/2003 hướng dẫn thực hiện Quyết định

155/2003/QĐ-Năm 2006, cán bộ y tế xã được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề theo Thông

tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BYT-BNV-BTC ngày 23/01/2006

Năm 2009, cán bộ y tế của các xã vùng cao của tỉnh được hưởng chính sách theo Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30/7/2009 Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn [28]

Năm 2011, được đề nghị hưởng phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 [29]

Hiện tại lương và các chế độ của cán bộ y tế xã do trung tâm y tế huyện chi trả từ nguồn ngân sách của tỉnh Các chế độ chính sách kể trên được thực hiện tại Yên Bái, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn, việc thực hiện các chế độ về phụ cấp chưa được thực hiện đầy đủ và kịp thời, chế nghỉ phép năm nhiều nơi chưa thống nhất thực hiện dẫn đến thiệt thòi cho cán bộ Kinh phí hỗ trợ cho cán bộ đi học, bồi dưỡng không có, cán bộ đi học hầu như phải tự túc, vì vậy việc thu hút họ trở lại các trạm y tế xã làm việc là khó khăn, trong khi nhiều

cơ sở ngoài công lập sẵn sàng thu hút họ với mức lương cao hơn

Trang 32

Về chất lượng cán bộ y tế xã:

Trước đây, nhiều cán bộ y tế xã không có bằng cấp, huyện đã phải chủ động cử đi học các lớp sơ cấp từ 6 đến 8 tháng, tuy nhiên do trình độ văn hóa của họ mới chỉ đến lớp 3 và 4 nên việc lựa chọn cán bộ đi học rất khó khăn

Những năm gần đây, việc tuyển mới cán bộ được đào tạo từ trường Trung cấp y tế Yên Bái đã cơ bản giải quyết được trình độ học vấn Ngành đã tạo điều kiện để cán bộ y sỹ tuyến xã đi học bác sỹ nhưng sau khi tốt nghiệp trở về trạm y tế xã thì tại đây cơ sở vật chất trang thiết bị lại thiếu, dẫn đến việc cán bộ y tế chán nản, không yên tâm công tác Một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là việc các bác sỹ sau đào tạo không muốn về công tác tại trạm

y tế xã, mặc dù theo quy định các bác sỹ sau khi tốt nghiệp phải về công tác tại địa chỉ trước khi đi học, nhưng nhiều người đã xin chuyển lên tuyến huyện/tỉnh hoặc chuyển sang ngành khác/tỉnh khác, thậm chí là xin thôi việc [40], [41], [42]

Từ những bất cập kể trên nên tình trạng cán bộ y tế tại trạm y tế xã/phường/thị trấn Yên Bái thường xuyên thiếu và yếu, rất khó cải thiện Năm

2010, tỷ lệ cán bộ y tế xã vùng cao đạt 4,6 CBYT/trạm, vùng thấp đạt 5,8 CBYT/trạm Với số lượngnhân viên y tế này, so với quy định tại Thông tư 08 Liên bộ Y tế - Bộ Nội vụ thì tỉnh Yên Bái còn thiếu cán bộ y tế xã, chưa kể những xã có số dân trên 1.000 người phải tăng thêm một cán bộ y tế Số lượng bác sỹ thiếu trầm trọng có huyện hầu như không có bác sỹ làm việc ở

Để có cơ sở đề xuất biện pháp cải thiện nguồn nhân lực y tế cơ sở tại Yên Bái hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Toàn bộ các trưởng trạm và cán bộ y tế đang công tác tại trạm y tế xã, phường, thị trấn tỉnh Yên Bái

- Lãnh đạo: Sở Y tế, Phòng Tổ chức Cán bộ, Phòng Nghiệp vụ Y

- Lãnh đạo trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố

- Các báo cáo thống kê của trạm y tế, trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Thời gian: Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2011

+ Địa điểm: tại tỉnh Yên Bái

Một số đặc điểm tình hình của tỉnh Yên Bái

a) Địa lý, hành chính:

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La Là một tỉnh miền núi nghèo, cơ sở hạ tầng chậm phát triển, diện tích tự nhiên: 6.882,9km2

Toàn tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện, với 180 xã/phường/thị trấn Trong đó

có 70 xã và 02 thị trấn vùng cao, 85 xã đặc biệt khó khăn

b) Dân số:

Dân số năm 2009 là 733.383 người, mật độ dân số phân bố dân cư không đồng đều, tập chung đông ở thành phố, thị xã là 1.300 - 1.600 người/km2

, ở 2 huyện vùng cao Trạm Tấu và Mù Căng Chải dân cư thưa thớt khoảng 30 người/ km2 Có gần 30 dân tộc sinh sống, người Kinh (54,08%),

Trang 34

Tày (17,27%), Dao (9,08%), Mông (7,89%), Thái (6,01 %) và các dân tộc khác (4,97%) trong đó có khoảng 6% là theo đạo Thiên chúa, Phật giáo, Tin lành

c) Kinh tế - Xã hội

* Kinh tế

Cơ cấu kinh tế: Nông lâm nghiệp và thủy sản 34,02%, công nghiệp xây dựng: 33,13%, thương nghiệp và dịch vụ: 32,85% Tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2001 - 2005 là 9,52%, giai đoạn 2006 - 2010 bình quân: 12,89 % Trên 80% dân số sống bằng nghề nông, thu nhập bình quân đầu người năm 2005: 4,2 triệu năm 2009: 9,2 triệu đồng/người/ năm Tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh năm 2005 (theo tiêu chí mới) là 34,71% năm 2009: 15,74 %

Giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vùng cao, thu ngân sách đạt ở mức thấp, do đó mức đầu tư cho các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân còn hạn chế, mới chỉ đáp ứng được 60 - 70% nhu cầu cần thiết

* Xã hội

Các chỉ tiêu văn hóa xã hội hàng năm đều đạt chỉ tiêu kế hoạch:

Tạo việc làm mới cho 17.500 lao động, trong đó xuất khẩu lao động

500 lao động có thời hạn, lao động qua đào tạo 33%

Sự nghiệp Giáo dục ngày càng phát triển, năm 2009-2010 toàn tỉnh có

382 trường phổ thông, trong đó nhà nước 377, bán công 2, dân lập 1, tư thục 2; có 4.889 lớp Số học sinh phổ thông 133.375, số học sinh/10.000 dân là: 1792,9, bình quân 5 người dân có một người đi học phổ thông Mẫu giáo có 1.131 lớp trong đó dân lập 50 lớp, số trẻ mẫu giáo là 31.481

- Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa: có 92% xã, phường có làng bản văn hóa, trong đó có 40 % số làng đạt tiêu chuẩn làng văn hóa

- Phong trào rèn luyện thể dục thể thao ở cơ sở phát triển

Trang 35

- Đài phát thanh truyền hình thực hiện tốt công tác tuyên truyền 180 xã

đã phủ sóng phát thanh và truyền hình, 176 đài truyền thanh cơ sở Sự phát triển của các ngành trong khối văn hóa - xã hội cũng đã phối hợp cùng với ngành y tế đáp ứng được cơ bản các nhu cầu như truyền thông, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng làng văn hóa sức khỏe, rèn luyện và nâng cao thể chất Từng bước xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao ngày một tốt hơn

Giai đoạn 2001 - 2010 trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã hình thành phát triển một số khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khu thương mại dịch vụ, trong quá trình hình thành và phát triển do hệ thống xử lý chất thải, nước thải chưa đồng

bộ, một số khu vực có nguy cơ bị ô nhiễm nặng Việc cung cấp nước sạch, xử lý phân nước rác nông thôn, đô thị còn nhiều hạn chế gây nên ô nhiễm môi trường Các lĩnh vực: vệ sinh an toàn trong lao động, an toàn thực phẩm, xử lý chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khai thác nông lâm sản và rác thải y tế chưa được xử lý tốt dẫn đến ô nhiễm môi trường

d) Cán bộ y tế và hoạt động y tế giai đoạn 2001 - 2010:

Công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tỉnh thường xuyên được duy trì và nâng cao chất lượng, mạng lưới y tế toàn tỉnh được củng cố và hoàn thiện Tổ chức bộ máy trong 10 năm đã 3 lần được điều chỉnh bổ sung theo các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của liên

Bộ Đến nay đã kiện toàn ổn định về tổ chức, đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả Mạng lưới y tế được củng cố đặc biệt là tuyến y tế cơ sở ngày càng phát triển đến cuối năm 2010: 100 % số xã có trạm y tế, bình quân mỗi trạm có 5,37 cán bộ

Có 78,3 % xã đạt chuẩn quốc gia về y tế tăng 56,6 % so với năm 2005; 50,2 % số

xã có bác sỹ tăng 22,2 % so với năm 2001, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y

sỹ sản nhi, 82,2% thôn bản có nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) hoạt động

Trang 36

Đội ngũ cán bộ được bổ sung về số lượng, trình độ cán bộ cũng được nâng cao, đã có cán bộ trình độ tiến sỹ y khoa; thạc sỹ y, thạc sỹ dược; bác sỹ

và dược sỹ chuyên khoa I Năm 2010 bình quân có 6,81 bác sỹ/10.000 dân tăng 1,61 cán bộ so với năm 2001; có 0,6 dược sỹ đại học/10.000 dân tăng 0,26 so với năm 2001

Hệ thống y tế dự phòng được củng cố và đã làm tốt công tác giám sát dịch bệnh, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi Số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vac xin hàng năm đạt trên 98%, thanh toán được bại liệt trẻ em và loại trừ uốn ván sơ sinh

Cơ sở kỹ thuật của Trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh cũng được nâng cấp, triển khai được phòng xét nghiệm sinh học phân tử, xét nghiệm được vi rút cúm gia cầm H5N1, xét nghiệm HIV được Bộ Y tế cho phép đủ điều kiện công bố kết quả HIV(+)

Hệ thống khám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị, bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đã có 35 dự án được phê duyệt đầu tư, nhiều hạng mục công trình hoàn thiện đưa vào sử dụng phá huy hiệu quả Nhiều kỹ thuật được nâng cao như: chụp x quang cắt lớp, mổ nội soi, phẫu thuật sọ não giải quyết được nhiều ca bệnh hiểm nghèo cứu sống người bệnh Tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân năm 2010 là 33,35 giường, trong

đó giường quốc lập là 20,14

Thực hiện tốt công tác xã hội hóa đa dạng hóa các hình thức cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh, xã hội hóa về y học cổ truyền Triển khai xây dựng các xã đạt chuẩn về y học cổ truyền

Bảo đảm đáp ứng nhu cầu thuốc, thiết bị cơ bản cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh, khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng hưởng chính sách

Trang 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

* Cỡ mẫu định lượng: Điều tra toàn bộ trưởng trạm và cán bộ y tế của

180 xã phường, thị trấn của tỉnh Yên Bái

* Cỡ mẫu định tính:

- Phỏng vấn lãnh đạo Sở Y tế, Phòng Tổ chức Cán bộ, và Phòng Nghiệp vụ Y Sở Y tế

- Thảo luận nhóm: thu thập thông tin từ đại diện lãnh đạo của 9 trung tâm y tế huyện/thành phố/thị xã

* Phân tích số liệu từ các báo cáo về tình hình nhân lực y tế của các trạm y tế xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh

2.3.3 Chỉ tiêu nghiên cứu

* Nhân lực y tế tại xã, phường thị trấn:

- Số lượng cán bộ trạm y tế

- Phân bố cán bộ TYT theo tuổi, giới

- Phân bố cán bộ TYT theo trình độ chuyên môn,

- Phân bố cán bộ TYT theo trình độ học vấn,

Trang 38

Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số nghiên cứu:

Về học vấn:

- Chưa hết tiểu học: Là những người chưa học hết lớp 4/10 hoặc 5/12

- Tiểu học: Là những người đã tốt nghiệp lớp 4/10 hoặc 5/12

- Trung học cơ sở: Là những người đã tốt nghiệp lớp 7/10 hoặc 9/12

- Trung học phổ thông : là những người đã tốt nghiệp 10/10 hoặc 12/12

Về chuyên môn:

Bác sỹ, y sỹ đa khoa, y sỹ sản nhi, y sỹ Y học cổ truyền, y sỹ vệ sinh phòng dịch, hộ sinh trung cấp, dược sỹ trung cấp, kỹ thuật viên y, điều dưỡng trung cấp, điều dưỡng sơ cấp, dược tá, cán bộ dân số-kế hoạch hóa gia đình

Theo chuẩn Quốc gia về y tế xã:

Tỷ lệ bác sỹ làm việc tại tại trạm y tế: Đối với xã vùng cao miền núi là 60%, xã vùng thấp là 80%

Tỷ lệ y sỹ y học cổ truyền: 100% trạm y tế có cán bộ y học cổ truyền (Kể cả số cán bộ được bồi dưỡng, bổ túc kiến thức về y học cổ truyền)

Tỷ lệ y sỹ sản nhi, hộ sinh trung cấp: 100% trạm y tế có hộ sinh/y sỹ sản nhi

Tỷ lệ cán bộ dược: 100% trạm y tế có dược sỹ trung cấp

100% trạm y tế có cán bộ dân số-kế hoạch hóa gia đình

* Các chỉ số liên quan đến số lượng, chất lượng cán bộ y tế

Về chế độ chính sách được hưởng theo quy định của Nhà nước:

Tiền lương theo ngạch bậc viên chức ngành y tế

Phụ cấp: thường trực, ưu đãi nghề

Phụ cấp thu hút cán bộ y tế xã vùng cao miền núi đặc biệt khó khăn

Về chế độ đãi ngộ:

- Số bác sỹ được bổ nhiệm làm quản lý tại trạm y tế

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế

Trang 39

- Thời giờ làm việc của bác sỹ công tác tại trạm

2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Phỏng vấn cán bộ y tế xã, phường, thị trấn bằng bộ câu hỏi được thiết

kế sẵn:

+ Phiếu thu thập thông tin từ các trưởng trạm y tế: tiến hành khảo sát thực trạng về tổ chức, nhân lực và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ y

tế đang làm việc tại trạm y tế

+ Phiếu thu thập thông tin từ tất cả các cán bộ của trạm y tế: tiến hành khảo sát thực trạng về tổ chức, nhân lực và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ y tế đang làm việc tại trạm y tế

- Thảo luận nhóm với lãnh đạo Trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố: Mục đích là thu thập thông tin về thực trạng tổ chức, nhân lực, chế độ chính sách và cơ chế quản lý đối với cán bộ trạm y tế xã, phường, thị trấn

- Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo Sở Y tế, Phòng Nghiệp vụ Y Sở Y tế, Phòng Tổ chức Cán bộ Sở Y tế để thu thập thông tin về thực trạng tổ chức, nhân lực và chế độ chính sách đối với cán bộ y tế xã, phường, thị trấn; những tồn tại, vướng mắc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp

2.4 Kỹ thuật xử lý số liệu

Số liệu thu thập được, được làm sạch, nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm EPI-INFO 6.04 và các thuật toán thống kê

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này được sự đồng ý của Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên và lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Yên Bái

- Bảng hỏi mọi thông tin từ cán bộ y tế được thiết kế để đánh dấu, phiếu không cần điền tên người trả lời Đối tượng nghiên cứu được biết

rõ về mục đích, yêu cầu và lợi ích của nghiên cứu, được quyền từ chối tham gia

Trang 40

- Các chỉ số thu được trong nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ các mục đích khác

2.6 Những hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

- Hướng dẫn cho điều tra viên để họ thu thập số liệu khách quan

và chính xác nhất Giám sát chặt chẽ quá trình thu thập số liệu

Ngày đăng: 24/03/2021, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w