Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm hiv aids nghề nghiệp ở nhân viên y tế bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm hiv aids nghề nghiệp ở nhân viên y tế bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC
NGUYỄN QUỐC ANH
THỰC TRẠNG NGUY CƠ PHƠI NHIỄM HIV/AIDS NGHỀ NGHIỆP Ở NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II
THÁI NGUYÊN – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC
NGUYỄN QUỐC ANH
THỰC TRẠNG NGUY CƠ PHƠI NHIỄM HIV/AIDS NGHỀ NGHIỆP Ở NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II Chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: CK 62 72 7601
Hướng dẫn khoa học: TS PHẠM CÔNG CHÍNH
THÁI NGUYÊN – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn đồng nghiệp
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, các thầy cô giáo bộ môn Y tế công cộng đã hết lòng giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Phạm Công Chính, giảng viên Bộ môn Da liễu, Đại học Y Thái Nguyên đã dành nhiều thời gian và công sức trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận án tốt nghiệp
Tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè luôn dành cho tôi những điều kiện tinh thần, vật chất tốt nhất trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận án
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 01 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Quốc Anh
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immuno deficiency syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
AZT Zidovudine - Thuốc kháng retrovirus
BCS Bao cao su
CDC Centers for Disease Control
(Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ) d4T Stavudin, Zerit
HIV Human Immuno deficiency Virus
(Virus gây suy giảm miễn dịch ở nguời) HBV Hepatitis B Virus (Virus viêm gan B)
HCV Hepatitis C Virus (Virus viêm gan C)
KB/KTL Không biết/ Không trả lời
NCMT Người chích ma tuý
STDs Sexually Transmitted Diseases
(Các bệnh lây truyền qua đường tình dục) VSN Vật sắc nhọn
WHO World Health Organization
( Tổ chức Y tế Thế giới) 3TC Lamivudin
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Tại Việt nam 3
1.2 Đường lây truyền và nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp đối với NVYT 4
1.2.1 Đường lây truyền HIV 4
1.2.2 Phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp đối với NVYT 5
1.2.3 Hiểu biết và thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của sinh viên y và NVYT 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp tại các cơ sở y tế 16
1.4 Chiến lược bảo vệ NVYT trong dự phòng phơi nhiễm HIV nghề nghiệp 19
1.4.1 Xây dựng môi trường làm việc an toàn 20
1.4.2 Phòng ngừa chuẩn 21
1.4.3 Sử trí sau phơi nhiễm đúng và kịp thời 21
1.4.4 Chế độ, chính sách về dự phòng nhiễm HIV nghề nghiệp 24
1.4.5 Giảm kỳ thị, phân biệt đối xử 24
1.5 Công tác phòng lây nhiễm HIV của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 28
2.2.2 Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu 28
2.2.3 Khái niệm về nguy cơ và sai số trong nghiên cứu 29
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu 32
2.3.1 Công cụ thu thập số liệu 32
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 32
2.4 Tổ chức nghiên cứu 33
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 33
2.7 Những hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 34
2.7.1 Hạn chế 34
2.7.2 Biện pháp khắc phục 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Nhóm chỉ số chung về đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của NVYT 37
3.3 Hiểu biết của NVYT về phơi nhiễm và dự phòng phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp. 42
3.4 Thái độ của NVYT đối với HIV/AIDS 45
3.5 Thực hành các quy định về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS 49
3.6 Thực trạng cơ sở vật chất phương tiện bảo hộ an toàn lao động. 53
3.7 Mối liên quan của tập huấn tới kiến thức, thái độ và thực hành của NVYT đối với HIV/AIDS. 57
Trang 7Chương 4 BÀN LUẬN 61
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 61
4.2 Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của NVYT 62
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp 66
4.3.1 Kiến thức 66
4.3.2 Thái độ đối với công việc và với người bệnh 68
4.3.3 Thực hành các quy định về dự phòng lây nhiễm HIV 69
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT bệnh viện 71
4.5 Một số biện pháp dự phòng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp cho NVYT bệnh viện 73
KẾT LUẬN 79
KHUYẾN NGHỊ 81
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Dịch cơ thể và nguy cơ lây nhiễm HIV 7
Bảng 1.2: Nhân viên y tế nghi ngờ nhiễm và nhiễm HIV nghề nghiệp 10
Bảng 1.3: Đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV 16
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính và tuổi đời 35
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo theo tuổi nghề 35
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 36
Bảng 3.4 Phân bố mẫu nghiên cứu theo trình độ chuyên môn 36
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối chuyên khoa 37
Bảng 3.6 Tần suất tiếp xúc với chất thải là dịch thể bệnh nhân 37
Bảng 3.7 Tỷ lệ NVYT thường xuyên phải tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân theo từng khối chuyên khoa 38
Bảng 3.8 Tỷ lệ NVYT đã từng bị phơi nhiễm 38
Bảng 3.9 Tỷ lệ NVYT bị phơi nhiễm theo khối chuyên khoa 39
Bảng 3.10 Tỷ lệ phân bố các hình thức phơi nhiễm. 40
Bảng 3.11 Phân bố vị trí phơi nhiễm do vật sắc nhọn gây ra 40
Bảng 3.12 Phân bố các loại dụng cụ sắc nhọn gây ra tổn thương 41
Bảng 3.13 Phân bố các đối tượng bị phơi nhiễm theo trình độ 41
Bảng 3.14 Hiểu biết về phân loại và quản lý chất thải y tế 42
Bảng 3.15 Kiến thức về đánh giá mức độ nguy cơ phơi nhiễm trong tình
huống tiếp xúc với máu/ dịch thể của bệnh nhân 43
Bảng 3.16 Kiến thức về các yếu tố liên quan tăng nguy cơ phơi nhiễm 44
Bảng 3.17 Kiến thức về xử lý, nguyên tắc dự phòng phổ cập và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm 45
Bảng 3.18 Thái độ của NVYT đối với người nhiễm HIV/AIDS 45
Bảng 3.19 Quan điểm của NVYT về xét nghiệm sàng lọc và đào tạo cơ bản về chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS 46
Trang 9Bảng 3.20 Thái độ của NVYT khi bị phơi nhiễm với HIV 48
Bảng 3.22 Thực hành tự xử lý trong tình huống có nguy cơ phơi nhiễm
khi chăm sóc bệnh nhân của NVYT 50
Bảng 3.25 Thực trạng việc trang bị phương tiện bảo hộ an toàn lao động
qua phỏng vấn NVYT 53
Bảng 3.26 Tần suất sử dụng trang bị phương tiện bảo hộ an toàn lao
động trong khi làm việc 54
Bảng 3.27 Nguyên nhân NVYT thực hiện vệ sinh an toàn lao động không
thường xuyên. 54
Bảng 3.29 Liên quan giữa tập huấn và kiến thức về đường lây nhiễm
HIV/AIDS 57
Bảng 3.30 Liên quan giữa tập huấn với kiến thức về đánh giá mức độ nguy
cơ phơi nhiễm 57
Bảng 3.31 Liên quan giữa tập huấn về HIV/AIDS với mối lo lắng lây nhiễm
của NVYT trong chăm sóc bệnh nhân 58
Bảng 3.32 Liên quan giữa tập huấn về HIV/AIDS với thực hành tự chăm
sóc vết thương da của NVYT khi chăm sóc bệnh nhân 58
Bảng 3.33 Liên quan giữa tập huấn về HIV/AIDS với thực hành xử lý khi
dịch thể bắn vào niêm mạc mắt, mũi miệng của NVYT 59
Bảng 3.34 Liên quan giữa tập huấn về HIV/AIDS với thực hành xử lý
vật sắc nhọn của NVYT sau khi làm thủ thuật 59
Trang 10DANH MỤC HỘP
Hộp 1 Kết quả phỏng vấn sâu về nguy cơ tiếp xúc với máu/ dịch thể của
bệnh nhân trong quá trình làm việc 39
Hộp 2 Các nguyên nhân gây tổn thương da của NVYT trong quá trình làm việc có nguy cơ phơi nhiễm HIV nghề nghiệp. 42
Hộp 3 Phân loại và quản lý các loại chất thái y tế 43
Hộp 4 Hiểu biết về nguy cơ phơi nhiễm 44
Hộp 5 Thái độ đối xử với bệnh nhân HIV/AIDS 46
Hộp 6 Thái độ xét nghiệm sàng lọc HIV cho bệnh nhân 47
Hộp 7 Tuân thủ các nguyên tắc an toàn vệ sinh lao động 49
Hộp 8 Thực hành an toàn trong chăm sóc và điều trị 50
Hộp 9 Thực hành an toàn trong xử lý vết thương 51
Hộp 10 Thực trạng về trang thiết bị bảo hộ an toàn lao động cho NVYT 53
Hộp 11 Thực tế công tác kiểm tra việc sử dụng bảo hộ an toàn lao động, tập huấn nâng cao kiến thức dự phòng bệnh lây nhiễm 56
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay vẫn đang trong tình trạng chưa kiểm soát được Trong khi chưa có vaccine đủ hiệu lực phòng ngừa cũng như chưa tìm ra được những loại thuốc điều trị đặc hiệu thì việc dự phòng luôn được đặt ra với tầm quan trọng đặc biệt Một trong những vấn đề thời sự cần quan tâm hiện nay là làm thế nào giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm cho mọi đối tượng, trong đó có các nhân viên
y tế (NVYT), những người đang ngày đêm làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân Qua nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy trong quá trình phục vụ, chăm sóc bệnh nhân, các NVYT luôn luôn phải tiếp cận, phơi nhiễm với nhiều yếu tố nguy cơ nghề nghiệp như HBV, HCV, lao và đặc biệt là HIV [30],[31],[32]
Ở Việt Nam, NVYT ngày càng chiếm một tỷ trọng cao trong các lực lượng lao động xã hội Hiện nay đã có hàng trăm nghìn người đang hàng ngày tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ y tế tại hơn 1000 bệnh viện công và
tư, hơn 700 phòng khám đa khoa trên toàn quốc [1].Trong quá trình cung
cấp dịch vụ y tế, người thầy thuốc thường không thể tránh được những tác hại của các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp Ngoài gánh nặng thể lực và tâm lý, NVYT còn phải đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, do phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh như viêm gan virus, cúm, HIV Các NVYT làm việc tại các khoa cấp cứu và điều trị tích cực, trong kíp mổ, khoa xét nghiệm, khoa giải phẫu bệnh hoặc bác sĩ nội khoa khi làm thủ thuật cho bệnh nhân thường
có nguy cơ cao
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một trong những cơ sở
Y tế lớn, nơi tiếp nhận, khám và điều trị bệnh cho nhân dân địa phương và đồng bào các dân tộc thuộc miền núi phía Bắc Là Bệnh viện hạng I, gồm
Trang 12nhiều chuyên khoa với quy mô khoảng 800 giường bệnh do vậy khả năng tiếp cận với các yếu tố nguy cơ là khá cao trong đó có HIV Phần lớn trong số gần
900 NVYT đang làm việc tại tất cả các chuyên khoa đều có khả năng bị các tai nạn nghề nghiệp do bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, số lượng người đến khám và điều trị ngày càng đông, áp lực công việc quá lớn Trong những năm gần đây, các loại hình bệnh tật đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày càng đa dạng và phức tạp, không thể dự đoán được khả năng phơi nhiễm với các bệnh lây nhiễm đặc biệt là HIV Đây là một thách thức lớn đối với các NVYT đang trực tiếp hoặc gián tiếp điều trị và chăm sóc người bệnh Thực tế
đã có một số NVYT của bệnh viện bị tai nạn nghề nghiệp
Vậy thực trạng nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp đối với HIV của NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong những năm gần đây ra sao? Những yếu tố nào liên quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm? Giải pháp nào giải quyết được các vấn đề tồn tại nhằm hạn chế tối đa nguy cơ phơi nhiễm cho NVYT?
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực
trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở nhân viên Y tế Bệnh viện
Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ” nhằm đáp ứng 3 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT bệnh viện
3 Đề xuất một số biện pháp dự phòng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới: Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ đầu thập kỷ 80 và đã
nhanh chóng lan rộng khắp thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới ước tính mỗi ngày có thêm 14.000 người nhiễm HIV và hiện nay trên thế giới có trên 42 triệu người nhiễm HIV đó người lớn là 38,6 triệu người (phụ nữ 19,2 triệu, trẻ
em dưới 15 tuổi là 3,2 triệu người) Tính đến cuối năm 2008, số người nhiễm HIV/AIDS đang sống trên thế giới tiếp tục gia tăng và đạt con số 33,4 triệu người (dao động trong khoảng từ 31,1 triệu đến 35,8 triệu), tăng 20,00% so với năm 2000 và hiện tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ước tính cao gấp 3 lần năm
1990 Tính từ đầu vụ dịch (từ năm 1981) đến nay đã có khoảng 60 triệu người trên hành tinh nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các bệnh có liên quan đến AIDS [2], [21]
HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam
Á và Đông Nam Vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nhiều của vị trí địa
lý bởi có nhiều nước nằm gần “Tam giác vàng” nơi sản xuất ra Heroin Trong
những năm đầu của thế kỷ 21 khu vực này sẽ phải đương đầu khốc liệt với nạn buôn bán, vận chuyển và sử dụng ma tuý, một nguyên nhân quan trọng góp phần làm lây truyền HIV/AIDS Tuy nhiên, ở các châu lục, dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức tạp với hậu quả khó lường hết được [3]
1.1.2 Tại Việt nam: Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện
vào năm 1990, đến nay số người nhiễm HIV ở nước ta tăng lên nhanh chóng Chỉ sau 5 năm kể từ khi phát hiện ca nhiễm đầu tiên, dịch đã lan tràn khắp toàn quốc [13], [14], [20], tính đến 31/03/2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 201.134 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là
Trang 1457.733 và 61.579 trường hợp tử vong do AIDS Thực tế này đã và đang trở thành gánh nặng cho ngành y tế trong công tác điều trị, chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS [3] Theo số liệu thống kê của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho thấy diễn biễn của nhiễm HIV theo thời gian như sau: năm
1996 số trường hợp nhiễm HIV mới là 1.681 người; năm 1997 là 2.811 người; năm 1998 là 5.670 người; năm 1999 là 7.956 người; năm 2000 là 10.333 người; năm 2001 là 14.536 người và năm 2002 là 15.790 người [10], [11]… Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010 số nhiễm mới là 9.128 người, số AIDS là 1.498 người, số tử vong là 1.498 người (thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có số nhiễm cao nhất) Phân tích hình thái lây nhiễm cho thấy, trong
số người phát hiện nhiễm mới, tỷ lệ đường lây nhiễm như sau: nhiễm qua đường máu là 49,00% , nhiễm qua đường tình dục là 38,00% , qua đường mẹ con là 3,00% và không rõ đường lây là 10,00% Tỷ lệ người nhiễm ở nam là 70,80% và nữ chiếm 29,20% Phần lớn là ở nhóm tuổi 20 - 39 (80,00%), trẻ
em dưới 15 tuổi chiếm gần 3,00% [9],[38]
1.2 Đường lây truyền và nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp đối với NVYT
1.2.1 Đường lây truyền HIV:
- Qua đường tình dục: HIV lây truyền qua giao hợp với người nhiễm
HIV, sự lây truyền xảy ra qua giao hợp dương vật - âm đạo từ nam sang nữ và
từ nữ sang nam, HIV lây truyền qua đường hậu môn - dương vật ở những người đồng tính luyến ái Qua những vết sước nhỏ, mắt thường không thể nhìn thấy được, trên bề mặt của lớp niêm mạc âm đạo, dương vật hay hậu môn, xảy ra trong lúc giao hợp, đó là đường vào của virus HIV rồi từ đó vào máu [8], [14], [22]
- Qua đường máu: HIV lây truyền qua đường máu hay các sản phẩm của
máu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố nguy cơ (90,00%) Sử dụng chung
Trang 15bơm kim tiêm bị nhiễm HIV, hay gặp ở những người tiêm chích ma tuý Các dụng cụ y tế không tiệt trùng cẩn thận khi tiêm, truyền cũng góp phần lây truyền HIV qua đường máu, cách lây truyền này cũng giống như lây truyền viêm gan B [14], [17], [23]
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con: Các nghiên cứu cho thấy sự lây truyền
HIV từ mẹ sang con có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, trong cuộc đẻ và ngay cả trong thời kỳ khi bú sữa mẹ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lây từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai: 5.00%, trong cuộc đẻ: 15,00%,và trong thời kỳ bú sữa mẹ: 20,00 - 30,00% [1], [5]
1.2.2 Phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp đối với NVYT
Phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV là các tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch
cơ thể có thể có chứa HIV trong quá trình chăm sóc, chẩn đoán, điều trị bệnh nhân (qua da bị tổn thương do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn, qua da, niêm mạc
bị trầy xước, loét, nhiễm trùng hoặc với da lành trên diện rộng hoặc trong thời gian dài) [9], [11]
Hình thức phơi nhiễm: Hình thức phơi nhiễm được phân thành 2 nhóm
chính như sau:
- Nhóm da bị tổn thương do kim đâm hoặc do vật sắc nhọn:
Theo ước tính của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (năm 2000)
trong các tổn thương da xảy ra trong các NVYT mỗi năm thì 61,00% là tổn thương có liên quan đến kim tiêm (là loại tổn thương thường gặp nhất) Trong
đó khoảng các tổn thương xảy ra sau khi đã sử dụng kim tiêm hoặc trước khi hủy kim tiêm là 50,00%, tổn thương xảy ra trong khi chăm sóc bệnh nhân 25,00% (khi lắp hoặc rút mũi tiêm bằng tay) và tổn thương xảy ra trong khi sử dụng dụng cụ y tế khác là 20,00% Thương tích thường xảy ra khi NVYT sử
dụng 6 loại dụng cụ sắc nhọn sau [trích 2]:
Trang 16Bơm kim tiêm dùng 1 lần 32,00%
Theo Gutierrez EB, mặc dù phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV có thể xảy
ra ở bất cứ cơ sở y tế nào, bất cú hình thái thương tích gì nhưng khoảng 40,00% các thương tích xảy ra ở các cơ sở điều trị nội trú, đặc biệt là tại phòng khám, khoa cấp cứu và phòng mổ Thương tích thường xảy ra sau khi
sử dụng và trước khi hủy bỏ dụng cụ sắc nhọn là 41,00%, trong khi thực hiện thủ thuật sử dụng dụng cụ sắc nhọn là 39,00% và sau thực hiện thủ thuật hoặc khi hủy bỏ những dụng cụ này là 16.00% [29] Chấn thương do kim là con đường phổ biến nhất của tiếp xúc, với tỷ lệ 27,70%, tiếp theo là tiếp xúc qua niêm mạc 19,10%, tiếp xúc với da bị tổn thương 5,50% và cuối cùng với các vật sắc nhọn là 5,10%
- Nhóm phơi nhiễm qua da và niêm mạc: Tại Hoa Kỳ, năm 1996 có 196.721 trường hợp phơi nhiễm qua niêm mạc và da xảy ra trong các cơ sở y
tế Trong tổng số các trường hợp phơi nhiễm qua niêm mạc và da thì 76,00%
là các phơi nhiễm qua niêm mạc mắt, tình huống bị phơi nhiễm là do máu/ dịch thể của bệnh nhân bắn vào niêm mạc của NVYT trong lúc chăm sóc bệnh nhân [trích 2], [43]
Nguy cơ phơi nhiễm với HIV của NVYT
Nhiễm HIV cũng như một số tác nhân gây bệnh qua đường máu như virus viêm gan B, viêm gan C có thể lây truyền tại cơ sở Y tế từ bệnh nhân sang NVYT, từ bệnh nhân sang bệnh nhân hoặc từ NVYT sang bệnh nhân Virus gây bệnh (HIV) hiện diện trong máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo và cổ
Trang 17tử cung, nước tiểu và phân, dịch tiết của vết thương , nước bọt, nước mắt, sữa
mẹ, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch và dịch màng tim Theo thống kê cho tới nay mặc dù máu là dịch duy nhất có liên quan tới việc lây truyền HIV tại cơ
sở Y tế, về nguyên tắc bất kỳ dịch cơ thể nào chứa máu có thể nhìn thấy bằng mắt thường đều có khả năng lây nhiễm Một số chất dịch cơ thể không chứa máu cũng có thể là nguồn lây nhiễm Những dịch này bao gồm: dịch tiết âm đạo, tinh dịch, dịch màng bụng, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch và dịch màng tim Chất dịch cơ thể được coi là có nguy cơ lây nhiễm rất thấp, và trên thực
tế chưa có trường hợp nào báo cáo bị lây nhiễm qua nguồn này là: nước tiểu
và phân, nước bọt, nước mắt, dịch mũi, chất nôn và mồ hôi [ trích 2], [18]
Bảng 1.1: dịch cơ thể và nguy cơ lây nhiễm HIV Dịch được coi là có
nguy cơ cao
Dịch được coi là có nguy cơ thấp
Dịch được coi là có nguy cơ rất thấp*
Máu, huyết thanh Dịch màng ối Chất nhầy cổ tử cung
Dịch màng bụng Nước bọt Dịch màng tim Mồ hôi
(*) Nếu những dịch này chứa máu nhìn thấy được bằng mắt thường thì
không được coi là nguy cơ rất thấp
Nguy cơ phơi nhiễm với HIV có thể xảy ra với tất cả các NVYT trực tiếp điều trị phục vụ và chăm sóc bệnh nhân như: bác sỹ, y tá, điều dưỡng viên, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý…Nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như các bệnh lây truyền qua đường máu khác phụ thuộc vào mức độ an toàn của các thao tác trong quá trình làm việc của các NVYT, vào tỷ lệ nhiễm HIV trong
Trang 18quần thể và tần xuất cũng như số lần phơi nhiễm Các dạng phơi nhiễm
thường gặp trong quá trình làm việc của NVYT [29], [32], [36]:
- Kim tiêm đâm qua da khi làm các thủ thuật tiêm truyền, lấy máu làm xét nghiệm hoặc khi rút kim ra khỏi đường truyền tĩnh mạch Phơi nhiễm cũng thường xảy ra khi NVYT dùng tay đậy nắp kim tiêm sau khi làm xong thủ thuật
- Dụng cụ sắc nhọn đâm qua da trong quá trình phẫu thuật hoặc làm thủ thuật chọc dò
- Kim khâu đâm qua da khi khâu vết thương và vết mổ hoặc bị thương
do dao mổ hoặc các dụng cụ sắc nhọn khác gây ra trong quá trình phẫu thuật
- Tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào
- Máu, chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổn thương (chàm, bỏng, viêm loét từ trước) hoặc bắn vào niêm mạc (miệng, mắt, mũi, họng)
- Ngoài ra còn có một số dạng phơi nhiễm khác: thao tác với các dụng cụ hay bệnh phẩm như bỏ bệnh phẩm hoặc dụng cụ vào thùng chứa, chùi rửa dụng cụ, bị kim đâm qua thành tùng rác, kim trong thùng rác đựng vật sắc nhọn quá đầy hoặc bị thủng đâm phải
Như vậy, lây nhiễm HIV trong môi trường chăm sóc y tế chủ yếu xảy ra khi NVYT tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch thể của bệnh nhân
1.2.2.1 Nghiên cứu về nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp trên Thế giới
Nhiễm HIV cũng như một số tác nhân gây bệnh đường máu khác như virus viêm gan B, viêm gan C bệnh có thể lây truyền tại cơ sở y tế từ bệnh nhân sang NVYT, từ bệnh nhân sang bệnh nhân, hoặc từ NVYT sang bệnh nhân Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánh
Trang 19nặng cho ngành y tế, phơi nhiễm HIV là một trong 3 phơi nhiễm thường xảy
ra nhất (HIV, HBV, HCV) cho NVYT trong quá trình chăm sóc bệnh nhân Nhiều NVYT lo sợ bị lây nhiễm HIV khi chăm sóc cho bệnh nhân, tuy nhiên trên thực tế, nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B và virus viêm gan C cao hơn nhiều Nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B sau một lần bị kim tiêm đâm là 30,00%, đối với virus viêm gan C là 1,80 - 10,00% , trong khi đó đối với HIV
là 0,30% và tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HIV qua màng nhầy chỉ khoảng 0,09% [26], [28], [42] Năm 1996, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Bệnh của Hoa Kỳ (CDC) cho biết: trong 51 báo cáo và 108 trường hợp NVYT tiếp xúc với HIV thì nguy cơ nhiễm HIV sau khi tiếp xúc qua da với máu từ bệnh nhân nhiễm HIV thì ước tính nguy cơ phơi nhiễm cũng khoảng 0,30% [39] Tại Hoa Kỳ, ước tính mỗi năm có khoảng 385.000 thương tích do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn xảy ra với NVYT làm việc trong bệnh viện và các cơ
sở y tế, tương đương với 1.000 thương tích xảy ra mỗi ngày Tuy nhiên, số thương tích xảy ra cho các NVYT trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 40,00 - 70,00% các thương tích xảy ra đối với NVYT trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân mà không được báo cáo [34], [47], [48] Trường hợp NVYT đầu tiên nhiễm HIV nghề nghiệp
do bị kim tiêm đâm được phát hiện vào năm 1986, đến tháng 6 năm 1995 trong tổng số 143 trường hợp nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV được báo cáo thì có tới 46 NVYT có huyết thanh dương tính với HIV sau phơi nhiễm Theo báo cáo của CDC, đến tháng 12 năm 2001 có 57 trường hợp NVYT có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với HIV được xác định
là do phơi nhiễm nghề nghiệp ngoài ra còn có 138 trường hợp nhiễm HIV khác nghi ngờ có thể do phơi nhiễm nghề nghiệp Sau tháng 12 năm 2001, chỉ duy nhất có 01 trường hợp được báo cáo là nghi ngờ nhiễm HIV nghề nghiệp Theo WHO ước tính trên toàn cầu có khoảng 1000 trường hợp NVYT bị
Trang 20nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp do các tổn thương do vật sắc nhọn gây ra, trong đó 72,00% ở châu Phi [2]
Theo kết quả nghiên cứu của Alison.D Rant Kevin [20], Sadoh.AE, Sadoh.WE [45] và Saulat Jahan [47]: tất cả NVYT làm nhiệm vụ chăm sóc, điều trị bệnh nhân đều có nguy cơ phơi nhiễm HIV trong quá trình làm việc, tuy nhiên các điều dưỡng viên (y tá, kỹ thuật viên) là những người có nguy cơ phơi nhiễm cao nhất, thống kê cho thấy trong giai đoạn 1987-1989 tỷ lệ nguy
cơ phơi nhiễm nghề nghiệp của điều dưỡng viên khoảng 58,00% -79,00% và trong giai đoạn 1993 - 1995 tỷ lệ này là 53,00%
Theo thống kê tại Hoa Kỳ (2002), các đối tượng trong số nhân viên y tế nghi ngờ nhiễm và nhiễm HIV nghề nghiệp phân bố như sau [33]:
Bảng 1.2: Nhân viên y tế nghi ngờ nhiễm và nhiễm HIV nghề nghiệp
HIV nghề nghiệp
Nhiễm HIV nghề nghiệp
Trang 21Trong số 55 trường hợp lây nhiễm HIV nghề nghiệp được báo cáo, có tới
50 trường hợp phơi nhiễm qua da (90,90%), 03 trường hợp phơi nhiễm qua niêm mạc (5,46%) và 02 trường hợp không rõ đường phơi nhiễm (3,64%) Tại Ấn Độ, Aggarwal V, Seth.A đã ghiên cứu hồi cứu về thực trạng việc tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thể của NVYT của tại một Bệnh viện thực hành Kết quả cho thấy có 103 NVYT có nguy cơ phơi nhiễm HIV do tiếp xúc nghề nghiệp với máu và dịch thể của bệnh nhân, trong đó bác sỹ chiếm 69,90%, điều dưỡng viên chiếm 19,40% và hộ lý là 10,60% Các tình huống tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân 48,00%, trong lúc thu hồi vật sắc nhọn sau phẫu thuật 16,00%, khi xử lý dụng cụ sắc nhọn 29,01% và những tai biễn trong phẫu thuật 6,90% Nguyên nhân phơi nhiễm: do không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa phổ quát 74,30% Tác giả đã kết luận việc không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa phổ quát bao gồm cả xử lý chất thải không đúng cách là nguyên nhân cho phần lớn các tiếp xúc nghề nghiệp Vì vậy, NVYT cần phải có kiến thức liên quan đến quản lý chất thải bệnh viện, quản lý tiếp xúc nghề nghiệp, cần thiết điều trị dự phòng và tiếp tục theo dõi sau phơi nhiễm [18]
Năm 2007, Samir A Singru đã nghiên cứu tai nạn phơi nhiễm nghề nghiệp trên nhân viên chăm sóc sức khỏe, kết quả cho thấy cơ tới 92,21% trường hợp phơi nhiễm là do chấn thương với kim và vật sắc nhọn và chỉ có 7,79% do tiếp xúc với máu/dịch thể của bệnh nhân Vị trí tiếp xúc của nhân viên y tế phổ biến là ở tay: 61,06%, trong đó tiếp xúc ở ngón tay cái chiếm 31,15%, cánh tay là 5,75%, niêm mạc miệng và kết mạc mắt 1,23%, ở chân chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp là 0,82% [46]
Nghiên cứu của Carol M (1988-1989) nhằm đánh giá tình huống phơi nhiễm y tế với HIV Kết quả cho thấy phơi nhiễm do tình cờ tiếp xúc với
Trang 22máu/dịch thể của bệnh nhân nhiễm HIV là 19,00%, tiếp xúc do bị những vết thương kim đâm trong khi làm thủ thuật là 36,00% [24]
Theo Renee Ridzon, Kathleen Gallagher: Chấn thương do kim tiêm là con đường phổ biến nhất của tiếp xúc phơi nhiễm nghề nghiệp, với tỷ lệ 27,70%, tiếp theo là tiếp xúc qua niêm mạc 19,10%, tiếp xúc qua da bị tổn thương 5,50% và cuối cùng là chấm thương với các dụng cụ sắc nhọn như dao, kéo phẫu thuật (trừ kim tiêm) là 5,10% [41]
Năm 2002-2003 Saulat J nghiên cứu dịch tễ học về tai nạn chấn thương
do kim đâm ở NVYT tại một Bệnh viện Trung ương Buraidah Kết quả trong
số NVYT báo cáo bị thương từ kim tiêm và các vật sắc nhọn thì y tá đã chiếm tới 66,00% các trường hợp, các bác sĩ chiếm 19,00%, kỹ thuật viên 10,00%,
và nhân viên hỗ trợ 5,50% Các dạng phơi nhiễm chủ yếu với kim, ống tiêm chiếm 63,00% Hầu hết hoàn cảnh xảy ra chấn thương trong khi dùng kim tiêm đã qua sử dụng 29,00%, trong khi phẫu thuật 19,00% và va chạm với các vật sắc nhọn 14,00% Những thông tin này nhấn mạnh tầm quan trọng của đào tạo tăng cường nhận thức phòng chống chấn thương kim đâm [47]
1.2.2.2 Nghiên cứu về nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp tại Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/1990 Đến năm 1993, dịch bắt đầu bùng nổ trong nhóm NCMT tại một số tỉnh phía Nam và miền Trung như: Thành phố
Hồ Chí Minh, Khánh Hoà từ đó lan ra toàn quốc với tốc độ khá nhanh Nhiễm HIV đã trở thành vấn đề thời sự ở Việt Nam, HIV/AIDS đã xuất hiện
ở 64/64 tỉnh thành Nhiều địa phương, tất cả các quận/huyện, xã/phường đều
có người nhiễm HIV/AIDS [9],
Tình hình dịch HIV tại Việt Nam ngày càng trở nên là một gánh nặng cho toàn xã hội, trong đó có ngành Y tế, đặc biệt là vấn đề lây nhiễm và phơi nhiễm do nghề nghiệp Tính đến tháng 6 năm 2005, trên toàn quốc có 975
Trang 23trường hợp phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp, trong đó 764 trường hợp là NVYT Riêng 6 tháng đầu năm 2005, trên toàn quốc có 7 trường hợp được báo cáo phơi nhiễm với HIV, đến cuối năm 2005 số NVYT phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV/AIDS đã lên tới 938 người Các phơi nhiếm HIV đã được báo cáo như: Tại Bệnh viên Bạch mai (2003) là 63 trường hợp, tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2000-2002) có 27 trường hợp và tại Bệnh viên đa khoa Cần Thơ (2004)
có 14 trường hợp Tuy nhiên trên thực tế còn cao hơn nhiều.[trích 2]
Hầu hết các trường hợp NVYT nguy cơ phơi nhiễm với HIV trong khi chăm sóc bệnh nhân như bị kim tiêm kim khâu da đâm vào tay, bị dao kéo phẫu thuật làm rách da, bị máu bắn vào niêm mạc mắt Các điều tra về đối tượng NVYT bị phơi nhiễm nghề nghiệp tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2000 cho thấy: điều dưỡng viên là 34,00% , Bác sỹ nội khoa 32,00%, phẫu thuật viên 53,00%, những đối tượng này báo cáo trong vòng 1 năm qua có tối thiểu
1 tổn thương da trong quá trình chăm sóc và điều trị những bệnh nhân có nhiễm HIV Trong số những vật sắc nhọn gây tổn thương thì 53,00% do kim tiêm, một phần ba thương tích của điều dưỡng viên xảy ra trong hay sau khi tiêm thuốc và 80,00% tổn thương của phẫu thuật viên xảy ra trong khi khâu vết thương, vết mổ còn tỷ lệ phơi nhiễm qua niêm mạc là 18,00% Trong các trường hợp điều dưỡng viêm bị phơi nhiễm qua niêm mạc thì có 40,00% bị máu bắn vào mắt còn đối với phẫu thuật viên, tỷ lệ phơi nhiễm qua niêm mạc mắt lên tới 60,00% [2]
Theo nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư khi theo dõi tất cả các trường hợp NVYT phơi nhiễm nghề nghiệp nói chung tại bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh) từ tháng 2 năm 2000 đến tháng 6 năm 2009, cho thấy rằng tổng số NVYT bị tai nạn nghề nghiệp phơi nhiễm với các bệnh nguyên đường máu trong khi thao tác là 327 trường hợp, trong đó phơi nhiễm với bệnh nhân nhiễm HIV là 65 trường hợp Hình thức phơi nhiễm xảy ra do kim tiêm, kim
Trang 24khâu hoặc dao kéo phẫu thuật gây tổn thương da là 74,80% hoặc do máu và dịch tiết của bệnh bắn vào mắt 16,20% Tỷ lệ gặp nhiều nhất ở khoa ngoại 37,90% với đối tượng thường gặp là điều dưỡng 35,50%, học viên điều dưỡng hoặc sinh viên 14,70%, nhân viên làm sạch 14,40% và bác sỹ ngoại khoa là 15,60% Thao tác khi có tai nạn xảy ra chủ yếu trong phẫu thuật 13,50%, tiêm truyền 19,90%, lấy máu 8,30%, trong lúc đậy nắp kim tiêm 11,90%, thu gom rác thải y tế 14,90% Nguyên nhân thường gặp là do bất cẩn 72,20%, không tuân thủ phòng hộ quy định 24,70% Khi xảy ra tai nạn phơi nhiễm có 48,90% NVYT không biết bệnh nhân có nhiễm HIV trước đó [12]
Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo tại 8 trường Đại học Y - Dược trên toàn quốc do trường Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2005, thì hầu hết
số cán bộ giảng dạy là NVYT và sinh viên Y khoa tỏ ra lo lắng khi đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch thể của bệnh nhân có nguy cơ phơi nhiễm HIV, đặc biệt là các cán bộ giảng dạy ở khoa Ngoại, khoa Sản, khoa Truyền nhiễm, khoa Da liễu, khoa Huyết học Tuy nhiên số cán bộ giảng dạy và sinh viên báo cáo trực tiếp hoặc gián tiếp với lãnh đạo hoặc những người có trách nhiệm về tai nạn nghề nghiệp này lại chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 18,00%) nên con số báo cáo về các trường hợp tai nạn nghề nghiệp với HIV chắc chắn thấp hơn con số thực tế nhiều lần [ trích 2]
1.2.3 Hiểu biết và thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của sinh viên y và NVYT
Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo tại 8 trường Đại học Y trên toàn quốc do trường Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2005, số cán bộ giảng dạy
và sinh viên Y đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết mà lo lắng có nguy cơ phơi nhiễm HIV chiếm tỷ lệ kkhá cao (37,00% - 59,50%) Hầu hết các NVYT được điều tra đều chưa có hiểu biết một cách đầy đủ đối với các kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, chỉ có chưa tới 1/3 số cán bộ giảng dạy và
Trang 25sinh viên Y nêu đúng các phương cách xét nghiệm HIV/AIDS Có tới 16,80% cán bộ giảng dạy cho rằng nước bọt, nước tiểu, mồ hôi có nguy cơ cao lây nhiễm HIV Đặc biệt số người nêu đúng và đủ các giai đoạn lâm sàng nhiễm HIV/AIDS cũng như kiến thức về nhóm thuốc kháng virus chiếm tỷ lệ thấp Bên cạnh đó NVYT cũng chưa hiểu rõ các quy định chuyên môn về quản lý người nhiễm HIV, dự phòng phổ cập, hạn chế trong thực hiện các thao tác an toàn tránh tai nạn nghề nghiệp và sử dụng trang bị bảo hộ lao động, né tránh bệnh nhân HIV/AIDS nhưng chủ quan khi chăm sóc điều trị cho bệnh nhân không rõ tình trạng nhiễm Các cán bộ và sinh viên chưa nắm
3,80%-rõ biện pháp khử trùng và tiệt trùng, cách sử trí các bơm kim tiêm và dụng cụ phòng thí nghiệm cần sử dụng lại Chỉ có khoảng 2/3 NVYT và sinh viên y cho rằng không nên dùng tay đậy nắp kim tiêm Số cán bộ và sinh viên y thực hiện các quy định về an toàn trong chăm sóc y tế chiếm tỷ lệ nhỏ Chỉ có 51,00% cán bộ giảng dạy và 30,00% sinh viên y chưa bao giờ dùng tay đậy nắp kim tiêm và khoảng 2/3 luôn sát trùng tay sau những thủ thuật tiếp xúc với máu [trích 2]
Trong điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV, các cán bộ và sinh viên chưa hiểu biết đầy đủ Chỉ 1/3 số người được điều tra biết có thể dự phòng nhiễm HIV bằng cách uống thuốc kháng virus Chỉ có 35,70% sinh viên Y và 53,40% cán bộ giảng dạy nêu được thời gian uống liều đầu tiên không nên quá 6 giờ và 1/3 cho rằng thời gian điều trị kéo dài 4 tuần Trên thực tế sinh viên y và cán bộ giảng dạy được điều trị dự phòng bằng ARV sau khi phơi nhiễm trực tiếp với máu và dịch tiết nhiễm HIV chiếm tỷ lệ rất thấp (tương ứng là 3,40% và 10,20%) Chỉ có 16,00-18,00% người đã từng đi xét nghiệm HIV vì tai nạn nghề nghiệp [trích 2]
Theo điều tra của Guruprasad Y (Ấn Độ) trên 120 sinh viên Nha khoa về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV do tai nạn
Trang 26kim đâm Kết quả cho thấy số sinh viên không biết rằng virus có thể được truyền qua kim bị nhiễm chiếm 11,00%, số sinh viên không biết chính xác phương pháp xử lý kim tiêm và ống tiêm dùng một lần là 67,50%, khoảng 26,00% nói rằng họ sẽ nặn bóp máu tại nơi bị chấn thương khi phơi nhiễm và chỉ có 30,00% nói rằng họ sẽ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Ngoài ra, tác giả còn cho biết các bác sỹ nha khoa có nguy cơ lây nhiễm HIV cao chủ yếu là
do tình cờ tiếp xúc với máu và dịch cơ thể bị nhiễm và việc cần thiết nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành cho NVYT trong phòng lây nhiễm HIV [30]
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp tại các cơ sở y tế
Các yếu tố liên quan đến mức độ nguy cơ phơi nhiễm và lây nhiễm HIV
được chia thành 5 yếu tố [21], [35], [40],[44]
Bảng 1.3: đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV Mức độ nguy cơ
1 Kiểu phơi nhiễm
Bị dụng cụ sắc nhọn dính máu và dịch thể của người bệnh xuyên qua da
Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào vùng da bị tổn thương
Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào vùng da bị lành
Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào niêm mạc
2 Số lượng máu/dịch thể
và thời gian tiếp xúc
Máu/dịch thể nhiều Máu/dịch thể ít Thời gian tiếp xúc lâu Thời gian tiếp xúc nhanh
3 Loại dụng cụ có máu
và dịch thể người bệnh
gây tổn thương
Kim to nòng Kim nhỏ nòng
5 Giai đoạn lâm sàng
của nguồn nhiễm
Giai đoạn sơ nhiễm và giai đoạn AIDS
Giai đoạn tiến triển
Trang 27Các yếu tố ảnh hường đến nguy cơ phơi nhiễm
Thứ nhất là: Hoàn cảnh xảy ra phơi nhiễm
- Kiểu phơi nhiễm dưới da do kim hoặc vật sắc nhọn đâm…Tổn thương dưới da, niêm mạc hoặc da lành tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân là thường gặp nhất
- Loại dịch sinh học nguy cơ phơi nhiễm: Máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo và các dịch cơ thể có máu nhìn thấy bằng mắt thường được coi là dịch có nguy cơ lây nhiễm cao NVYT tiếp xúc với sữa mẹ không có nguy cơ lây nhiễm, nhưng nên đeo găng khi lấy sữa mẹ được bảo quản từ ngân hàng sữa
- Lượng máu hoặc dịch cơ thể phơi nhiễm: Nguy cơ lây nhiễm sẽ cao hơn nếu NVYT phơi nhiễm với một lượng lớn máu khi bị kim tiêm đâm trực tiếp vào mạch máu, hay bị đâm sâu, bị tổn thương do các vật sắc nhọn dính máu nhìn thấy bằng mắt thường được Nguy cơ lây nhiễm lớn hơn với tổn thương do kim tiêm đường kính lớn đâm vào Các vết thương sâu và rộng có nguy cơ lây nhiễm cao hơn
- Thời gian tiếp xúc với máu, dịch chứa máu càng lâu nguy cơ lây nhiễm càng cao
- Thời gian virus tồn tại ngoài cơ thể bệnh nhân càng lâu thì khả năng lây nhiễm càng thấp Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống của virus bên ngoài cơ thể con người là các điều kiện môi trường như nhiệt độ, hóa chất HIV đề kháng với nhiệt độ lạnh, tia Gamma, tia cực tím, virus sống 3 ngày trong máu bệnh nhân nếu ở ngoài trời, bị tiêu diệt bởi cồn 700, nước javen hoặc đun trong 30 phút ở nhiệt độ 560
C
Thứ hai là: Đặc điểm nguồn phơi nhiễm là bệnh nhân
- Nguồn phơi nhiễm là chất dịch cơ thể của người nhiễm HIV giai đoạn cấp, người nhiễm HIV có nhiễm trùng cơ hội, bệnh nhân AIDS có nguy cơ lây nhiễm cao hơn do số lượng virus trong cơ thể những bệnh nhân này rất cao
Trang 28- Phơi nhiễm với máu hoặc dịch chứa máu của người nhiễm HIV có số lượng tế bào lympho TCD4 thấp có nguy cơ lây nhiễm cao do nồng độ virus ở những bệnh nhân này cao
- Nồng độ virus bao gồm cả virus nằm trong và ngoài tế bào
- Nguy cơ lây nhiễm HIV còn phụ thuộc vào chủng virus của bệnh nhân
là nguồn phơi nhiễm, đặc biệt chủng virus tạo hợp bào
- Tình trạng nhiễm HIV chưa rõ, nguy cơ nhiễm thường được cân nhắc nếu bệnh nhân này thuộc nhóm nguy cơ cao (tiêm chích ma túy, gái mại dâm, tình dục đồng giới nam)
- Thuốc kháng virus đã sử dụng cho bệnh nhân, nếu phơi nhiễm từ nguồn này thì nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn mặc dù có được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
Thứ ba là: Tình trạng hệ miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm, đáp ứng
miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm có thể giúp ngăn ngừa nhiễm HIV sau khi nguy cơ phơi nhiễm
Thứ tư là: Sử trí sau phơi nhiễm
- Nguy cơ lây nhiễm phụ thuộc việc sử trí ngay sau phơi nhiễm Vết thương càng được sử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây nhiễm càng thấp
- Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng virus và khả năng đáp ứng với điều trị
Thứ năm là: Các yế tố khác
- Địa dư: NVYT làm việc tại khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao, khu vực điểm nóng của các tệ nạn hoặc các bệnh viện tuyến trên sẽ có tần xuất tiếp xúc với người nhiễm HIV cao hơn và do đó có nguy cơ phơi nhiễm với HIV cao hơn
- An toàn trong lao động: Trang thiết bị bảo hộ lao động được sử dụng trong quá trình lao động cũng ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV Nguy
Trang 29cơ lây nhiễm HIV sau khi bị kim đâm vào tay đi găng 2 lớp thấp hơn so với đi găng 1 lớp Sử dụng kính bảo hộ, khẩu trang, mặt nạ, tạp dề, quần áo bảo hộ, ủng cao su giúp cho NVYT hạn chế nguy cơ phơi nhiễm HIV NVYT dễ bị tai nạn nghề nghiệp hơn nếu phải lao động trong môi trường có cường độ cao, công việc căng thẳng hoặc đơn điệu, làm trong không gian hạn hẹp hoặc không phù hợp, công cụ lao động thô sơ, không phù hợp với công việc Tai nạn nghề nghiệp cũng thường xảy ra ở cuối giờ làm việc khi NVYT đã mệt mỏi, vào thời điểm này thời gian dẫn truyền phản xạ tăng, khả năng chú ý và
tư duy logic của con người giảm
- Thiếu kiến thức an toàn sinh học trong lao động, không thực hiện đúng nội quy, quy trình an toàn lao động, thiếu phương tiện, giảm khả năng lao động do mệt mỏi hoặc các vấn đề tâm lý do môi trường lao động xấu gây ra thiết lập chăm sóc sức khỏe nên có một hoạt động và năng động, chương trình kiểm soát lây nhiễm, cách tiếp cận chắc chắn sẽ cải thiện thái độ, kiến thức và thực hành của NVYT
- Kinh nghiệm trong lao động thường gắn liền với tuổi đời và số năm công tác cũng là yếu tố ảnh hưởng tới phơi nhiễm NVYT trẻ có lòng nhiệt tình, tự tin nhưng còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chưa thành thục nên có nguy cơ phơi nhiễm cao, đặc biệt trong những tình huống phức tạp hoặc những trường hợp cấp cứu
1.4 Chiến lược bảo vệ NVYT trong dự phòng phơi nhiễm HIV nghề nghiệp [trích 2]
Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2005 hướng dẫn thực hiện Quyết định
số 265/2003/QĐ-TTG ngày 16/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với người bị phơi nhiễm hoặc bị nhiễm HIV do tai nạn rủi do nghề nghiệp Nội dung Thông tư quy định rõ:
Trang 30Đối với người bị phơi nhiễm với HIV: “Được xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV và được điều trị miễn phí các thuốc dự phòng chống lây nhiễm HIV do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; Được nghỉ việc để điều trị
dự phòng trong 20 ngày làm việc Trong thời gian nghỉ việc được hưởng nguyên lương và phụ cấp khác (nếu có) theo quy định của pháp luật
Đối với người bị nhiễm HIV: “Chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30 tháng lương và phụ cấp hiện hưởng (nếu có) ngay sau khi người lao động đã được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; Được hưởng chế
độ hưu trí nếu đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời); không phải giám định khả năng lao động và không phải giảm tỷ
lệ hưởng lương hưu do nghỉ việc trước tuổi hoặc được hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội nếu chưa
đủ điều kiện nghỉ hưu; Nếu người nhiễm HIV bị chết thì gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của họ được hưởng chế độ tử tuất và các chế độ khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”
Đối với học sinh thực tập tại các cơ sở y tế bị nhiễm HIV: “Được điều trị miễn phí các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV gây nên, thuốc đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30 tháng lương khởi điểm của chuyên ngành được đào tạo ngay sau khi được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp”
1.4.1 Xây dựng môi trường làm việc an toàn
Môi trường làm việc an toàn không chỉ quyết định chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà còn hạn chế tai nạn nghề nghiệp xảy ra đối với NVYT Các biện pháp nhằm xây dựng môi trường làm việc an toàn gồm: Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, giáo dục sức khỏe hàng năm cho NVYT để mọi người hiểu rõ và thực hiện các biện pháp dự phòng Các nghiên cứu cũng chỉ ra ở những người được trang bị đầy đủ kiến thức về an toàn lao động thì thực hành
Trang 31tốt hơn [16] Xây dựng ý thức chấp hành tự nguyện những quy định về vệ sinh an toàn lao động nâng cao sức khỏe và quy trình báo cáo phơi nhiễm nghề nghiệp [25],[37],[39] Cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động như găng tay, kính, khẩu trang, quần áo bảo hộ…giám sát tuân thủ sử dụng bảo hộ lao động Cung cấp đầy đủ và giám sát việc sử dụng các dung dịch sát khuẩn, tiệt trùng, việc sử dụng thùng chứa rác thải không bị đâm thủng Sắp xếp gọn gàng, hợp lý dụng cụ và trang thiết bị tại nơi làm việc, dán nhãn chất thải y tế có nguy cơ lây nhiễm Thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động của dự phòng phổ cập Cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm tự nguyện, điều trị, theo dõi và chăm sóc sau phơi nhiễm Giám sát hỗ trợ các NVYT trẻ còn ít kinh nghiệm Tổ chức lao động phù hợp, thời gian nghỉ hợp lý, vị trí lao động hợp lý, tránh quá tải, giảm căng thẳng tâm lý, bố trí hệ thống biển báo và vùng giới hạn [ trích 2]
1.4.2 Phòng ngừa chuẩn:
Hạn chế phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh là biện pháp hàng đầu để làm giảm nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp Theo Cục an toàn lao động và sức khỏe Hoa Kỳ, nguyên tắc của phòng ngừa chuẩn là coi máu và các dịch chứa máu là nguồn lây nhiễm tiềm ẩn từ đó đưa ra các tiêu chuẩn khi thao tác với máu và các dịch chứa máu trong cơ sở y tế nhằm làm giảm nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp và nguy cơ lây truyền của các tác nhân gây bệnh [trích 2]
1.4.3 Sử trí sau phơi nhiễm đúng và kịp thời [trích 2]
Bước 1 Xử lý vết thương tại chỗ
- Tổn thương da chảy máu: Xối ngay vết thương dưới vòi nước Để vết
thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương Rửa
kỹ bằng xà phòng và nước sạch
- Phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối
NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút
Trang 32- Phơi nhiễm qua miệng, mũi: Rửa, nhỏ mũi bằng nước cất hoặc dung
dịch NaCl 0,9 %, xúc miệng bằng dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần
Bước 2 Báo cáo người phụ trách và làm biên bản
- Nêu rõ ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy
cơ của phơi nhiễm
- Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách
+ Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải
+ Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi không biết có bị viêm loét hay không): nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thì nguy cơ cao hơn
- Không nguy cơ: nếu máu hoặc dịch cơ thể của người bệnh bắn vào
vùng da lành
Bước 4 Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm
- Nếu người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về
tiền sử và đáp ứng đối với thuốc ARV
- Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và
lấy máu bệnh nhân xét nghiệm HIV
Bước 5 Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm
- Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định:
Trang 33+ Nếu ngay sau khi bị phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV(+): đã
bị nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm
+ Nếu HIV (-): kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng
Bước 6 Tư vấn cho người bị phơi nhiễm
- Người bị phơi nhiễm cần được cung cấp các thông tin và được tư vấn
thích hợp về dự phòng phơi nhiễm, lợi ích và nguy cơ
- Giới thiệu các tác dụng phụ của thuốc và triệu chứng của nhiễm trùng
tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch v.v
- Tư vấn phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể
làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửa sổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm
- Tư vấn tuân thủ điều trị và hỗ trợ tâm lý
Bước 7 Điều trị dự phòng bằng ARV cho người bị phơi nhiễm
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV [19], [51], [52]
Tiến hành điều trị bằng thuốc ARV càng sớm càng tốt từ 2-6 giờ và trước 72 giờ sau khi bị phơi nhiễm cho tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ, đồng thời tiến hành đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm và người bị phơi nhiễm
Nguy cơ lây nhiễm sau khi bị phơi nhiễm phụ thuộc vào việc sử trí ngay sau phơi nhiễm: Vết thương càng được xử lý sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây nhiễm càng thấp [27]
Dự phòng lây nhiễm HIV sau phơi nhiễm với thuốc kháng virus được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Hiện nay có nhiều phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm và nâng cao hiệu quả điều trị, giảm chi phí, và hạn chế tối đa các tác dụng phụ đã và đang được áp dụng [43]
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút có tác dụng trong việc phòng ngừa HIV sau phơi nhiễm, tuy nhiên hiệu quả điều trị cũng
Trang 34không đạt 100% Vào thời điểm năm 2006, thế giới đã báo cáo 14 trường hợp thất bại trong điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, có thể do những trường hợp này đã nhiễm phải chủng HIV kháng thuốc hoặc thời gian từ khi bị phơi nhiễm đến khi dùng liều kháng vi rút đầu tiên quá lâu
Phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
Phối hợp 2 thuốc
(Phác đồ cơ bản)
AZT + 3TC hoặc d4T + 3TC
Tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ
Phối hợp 3 thuốc
AZT + 3TC + LPV/r hoặc d4T + 3TC + LPV/r
Trong trường hợp nguồn gây phơi nhiễm đã và đang điều trị ARV và nghi có kháng thuốc
Thời gian điều trị 4 tuần
1.4.4 Chế độ, chính sách về dự phòng nhiễm HIV nghề nghiệp [trích 2]
- Người bị phơi nhiễm HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật
- Người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được khám, chữa bệnh nhiễm trùng cơ hội và cấp thuốc kháng HIV miễn phí
- Điều kiện để xác định người bị phơi nhiễm với HIV, người nhiễm HIV
do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quy định
1.4.5 Giảm kỳ thị, phân biệt đối xử
Ở Việt Nam, nhiễm HIV gặp chủ yếu ở nhóm người có liên quan đến những hành vi bị cấm đoán như sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm nên họ thường bị lên án khi tình trạng nhiễm của họ bị tiết lộ Tuy nhiên, việc lên án những người bị nhiễm HIV không giúp ích cho ngăn chặn sự lan rộng của bệnh Trong thực tế nó thường là nguyên nhân làm cho bệnh lan tràn rộng hơn của bệnh Bởi vì nhóm người bị kỳ thị có xu hướng giấu bệnh Họ thường
Trang 35không dám xét nghiệm xác định tình trạng nhiễm của mình, hoặc nếu biết thì cũng không thông báo tình trạng nhiễm của họ khi tới các cơ sở y tế Môi trường không kỳ thị, phân biệt đối sử sẽ giúp cho người nhiễm HIV mạnh dạn tiết lộ tình trạng nhiễm với NVYT, giúp cho công tác phòng ngừa phơi nhiễm HIV tại cơ sở y tế thuận lợi hơn Cung cấp một môi trường làm việc an toàn với thực thi các biện pháp phòng ngừa phổ quát, cũng như cung cấp dự phòng sau phơi nhiễm được đề nghị như là cách để cho phép NVYT để thay đổi thái
- Tôn trọng quyền riêng tư và giữ bí mật tình trạng nhiễm
- Nâng cao nhận thức về luật phòng, chống HIV/AIDS và bảo vệ người nhiễm HIV
1.5 Công tác phòng lây nhiễm HIV của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là đơn vị chuyên môn cao nhất
thực hiện chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Những năm gần đây tỷ lệ người nhiễm HIV ngày càng tăng trong cộng đồng Số người nhiễm HIV/AIDS điều trị tại
Trang 36bệnh viện ngày càng tăng, số người không rõ tình trạng nhiễm đến khám và điều trị bệnh tại bệnh viện ngày càng nhiều Điều này đặt ra cho NVYT những áp lực lớn, cường độ làm việc nhiều hơn, căng thẳng hơn, đây cũng là một trong những yếu tố
Việc đào tạo cho NVYT về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS chủ yếu thông qua các lớp đào tạo do bệnh viện thực hiện hàng năm cho toàn tỉnh, mỗi đơn vị được cử đại diện tham dự tập huấn, vì vậy số NVYT được đào tạo hay tập huấn về công tác phòng lây nhiễm nghề nghiệp đối với HIV một cách đầy đủ thường xuyên không nhiều Việc tuyên truyền về công tác phòng chống HIV/AIDS cho nhân viên bệnh viện chủ yếu thông qua việc triển khai các văn bản quy định của Bộ Y tế thông qua giao ban hoặc công văn chuyển về các khoa phòng, chưa có sự đầu tư về chiều sâu cũng như tính cập nhật kiến thức mới Trang bị bảo hộ để phòng chống HIV/AIDS của bệnh viện cho NVYT chủ yếu mới chỉ đáp ứng đủ găng, thiếu kính bảo hộ, mặt nạ và ủng ni lông Bản thân nhân viên được trang bị kiến thức chưa đầy đủ, dẫn đến sự chủ quan, đôi khi không quan tâm đến việc tự bảo vệ cho mình trong khi thực hiện nhiệm vụ
Trang 37Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Đối tượng được chọn nghiên cứu
- Đại diện lãnh đạo Bệnh viện, lãnh đạo khoa phòng
- Nhân viên y tế (NVYT) hiện đang công tác tại các khoa phòng của bệnh viện Các NVYT phải có tham gia trực tiếp vào quá trình thăm khám, điều trị, chăm sóc và phục vụ người bệnh trong các khoa phòng Là những người thường xuyên tiếp xúc với máu và dịch thể của người bệnh, nguy cơ phơi nhiễm cao đối với các bệnh truyền nhiễm trong các hoạt động nghề nghiệp Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến nhân viên các khoa thuộc hệ Ngoại- Sản, khoa Truyền nhiễm, khoa khám bệnh, khoa Nhi, các chuyên khoa lẻ như
Da liễu, Răng-Hàm-Mặt, Tai-Mũi-Họng
Các công nhân Y tế là những người thường xuyên, trực tiếp thu gom và
xử lý chất thải y tế cũng được xếp vào nhóm NVYT
NVYT phải tự nguyện tham gia, hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.1.1.2 Đối tượng loại trừ, không được chọn nghiên cứu
- Không trực tiếp tham gia thăm khám, điều trị, chăm sóc người bệnh
- Không hợp tác tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên hiện nay với quy mô 800 giường được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh lân cận đồng thời là Bệnh viện cũng là nơi thực hành chính của cán bộ giảng dạy là NVYT và học sinh - sinh viên Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên
Trang 38Bản đồ Thái Nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả, thiết kế cắt ngang
Nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính
2.2.2 Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu định lượng
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính công thức:
2
2
) 2 / 1 (
.
d
q p
n
Trong đó:
: Xác xuất sai lầm loại 1, chọn = 0,05 Z(1 - /2) = 1,96
Trang 39p: Tỷ lệ phơi nhiễm trong nhân viên y tế Đây là nghiên cứu lần đầu tại Thái Nguyên, trong khi chưa tìm được các tài liệu trong nước công bố về vấn
đề này nên chúng tôi chọn p theo tỷ lệ của UNAIDS (Số liệu công bố năm 2006) là 42% Như vậy p = 0,42 [53]
q = 1- p = 0,58
d: sai số mong muốn sẽ là = 0,042 (d = 1/10p)
Thay số vào công thức, chúng tôi tính được cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 531 người Trong quá trình nghiên cứu, để dự phòng một số người bỏ cuộc gây thất thoát mẫu, nên chúng tôi quyết định làm tròn số, tăng thêm cỡ mẫu lên 540 người Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, có 03 người không tham gia đầy đủ, nên cỡ mẫu còn lại là 537 người (537 nhân viên y tế)
- Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Từ danh sách lập sẵn theo từng khoa, phòng, chúng tôi dựa vào Bảng số
để chọn đủ cỡ mẫu mong muốn (540)
2.2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- 05 cuộc phỏng vấn sâu: 01 Lãnh đạo BV; 01 Bác sỹ khối Ngoại - Sản;
01 Bác sỹ khối Nội - Nhi; 01 điều dưỡng và 01 hộ lý
- 05 cuộc thảo luận nhóm: 01 cho nhóm các cán bộ quản lý ở các khoa
có nguy cơ cao; 01 cho nhóm các bác sỹ; 01 cho nhóm điều dưỡng của các khoa có nguy cơ cao, 01 nhóm cho hộ lý và 01 nhóm cho công nhân thu gom chất thải
2.2.3 Khái niệm về nguy cơ và sai số trong nghiên cứu
- Nguy cơ là xác suất rủi ro, là những điều kiện, nhân tố tác động làm gia tăng khả năng xảy ra các tổn thất mang lại từ các hiểm họa phát sinh trong điều kiện đó hay nói cách khác nguy cơ là xác suất mà một thảm họa xảy ra
Trang 40+ Phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV là các tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch cơ thể có thể có chứa HIV(qua da bị tổn thương do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn, qua da, niêm mạc bị trầy xước, loét, nhiễm trùng hoặc với da lành trên diện rộng hoặc trong thời gian dài) trong quá trình chăm sóc, chẩn đoán, điều trị bệnh nhân [2]
+ Nguy cơ phơi nhiễm HIV phụ thuộc vào loại dụng cụ gây tổn thương
da, mức độ nông sâu của tổn thương, loại dịch thể bị phơi nhiễm, thời gian phơi nhiễm và giai đoạn lâm sàng của nguồn nhiễm là bệnh nhân [2]
- Sai số là sự chênh lệch giữa giá trị đo được hoặc tính được và giá trị thực hay giá trị chính xác của một đại lượng nào đó
- Thường xuyên là khái niệm chỉ một hoạt động luôn luôn xảy ra một cách lặp đi lặp lại
- Chất thải Y tế là những chất được phát sinh ra trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, xát nghiệm, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu và đào tạo Chất thải Y tế có chất thải ô nhiễm, chất thải không ô nhiễm,
có thể ở dạng rắn, lỏng và khí Nó có đặc tính lý học, hóa học, sinh học, vừa
là nguồn ô nhiễm, vừa là nguồn gây bệnh
+ Chất thải ô nhiễm: bao gồm các vật dụng loại bỏ từ các hoạt động chẩn đoán, chăm sóc, điều trị, đó là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh
+ Chất thải không ô nhiễm: bao gồm chất thải sinh hoạt không nhiễm các yếu tố nguy hại phát sinh từ các buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, nhà kho, nhà ăn
+ Chất thải rắn: bao gồm bông băng gạc, bơm kim tiêm, chai lọ thủy tinh + Chất thải lỏng: bao gồm nước thải sinh hoạt, máu, mủ/dịch thể bệnh nhân, chất tẩy rửa