1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số trên báo điện tử hiện nay (khảo sát trên báo dân tộc và phát triển, báo vĩnh phúc, báo hà giang)

167 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ HỒNG NHUNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY Khảo sá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát trên Báo Dân tộc và phát triển, Báo Vĩnh Phúc, Báo Hà Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát trên Báo Dân tộc và phát triển, Báo Vĩnh Phúc, Báo Hà Giang)

Luận văn Thạc sĩ chuyên nghành Báo chí học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trong Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, phòng Đào tạo Sau đại học, Ủy ban dân tộc và lãnh đạo, phóng viên của các tờ báo điện tử Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo sau đại học, Viện đào tạo Báo chí và Truyền thông, các cơ quan báo chí đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn luận văn: PGS TS Dương Xuân Sơn, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để hướng dẫn nghiên cứu, để khích lệ và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các Thầy giáo, Cô giáo, và các anh chị, bạn bè cũng như Viện Báo chí và truyền thông trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn đã động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và tiến hành làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, các bạn học sinh dân tộc thiểu

số và các đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên giúp đỡ, quan tâm, góp sức để luận văn của tôi có thể hoàn thành

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quý Thầy Cô và các anh chị, bạn bè

Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 17

1.1 Các khái niệm cơ bản 17

1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên DTTS 30

1.3 Vai trò của báo chí trong việc thông tin về giáo dục hướng nghiệp 39

Tiểu kết chương I 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM (TỪ THÁNG 6/2017 ĐẾN THÁNG 6/2020) 46

2.1 Vài nét về ba tờ báo điện tử 46

2.2 Nội dung và hình thức của những bài viết về GDHN trên ba tờ báo điện tử 52

2.3 Tác động của các bài viết về GDHN đối với thanh niên DTTS 64

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 75

3.1 Thành công và hạn chế thông tin về GDHN trên báo điện tử 75

3.2 Các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử 79

3.3 Khuyến nghị 84

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ lệ thiếu việc làm và tỉ lệ thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên theo quý

năm 2017 34 Bảng 1.2: Phân bổ phần trăm dân số trên 15 tuổi theo tình trạng hoạt động kinh tế

hiện tại và hoạt động kinh tế 12 tháng qua tính đến quý 4 năm 2017 35 Bảng 1.3: Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo CMKT từ 3 tháng trở

lên chia theo trình độ đào tạo quý 4 năm 2017 36 Bảng 2.1: Các chuyên mục đăng tải bài viết trên ba tờ báo điện tử đã thống kê 60 Bảng 2.2: Thể loại các bài viết về giáo dục hướng nghiệp trên ba tờ báo điện tử

đã thống kê: 61 Bảng 2.3: Sự phân chia các bài viết về GDHN theo tháng trên báo điện tử

Việt Nam 63 Bảng 2.4: Mức độ xem các bài viết về GDHN trên báo điện tử của học sinh 54 Bảng 2.5: Thông tin phân chia theo nội dung bài viết về GDHN đăng tải trên một

số báo điện tử Việt Nam từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019 52 Bảng 2.6: Sự phân chia các cấp học của bài viết về giáo dục hướng nghiệp trên

báo điện tử Việt Nam trong thời gian nghiên cứu 56 Bảng 2.7: Tính chất thông tin về giáo dục hướng nghiệp trên các tờ báo điện tử

từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019 58 Bảng 2.8: Mức độ xem các bài viết về GDHN trên báo điện tử của học sinh 69 Bảng 2.9: Thời gian thanh niên DTTS thường đọc báo 70 Bảng 2.10: Mức độ tác động của những bài viết trên báo điện tử về GDHN tới

thanh niên dân tộc thiểu số 70 Bảng 2.11: Thông tin về GDHN mà học sinh dân tộc thiểu số mong muốn

nhận được 71 Bảng 2.12: Đánh giá lợi ích từ những bài viết về GDHN trên báo điện tử 72 Bảng 2.13: Lí do học sinh tìm kiếm thông tin về GDHN 79

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện thể loại của các bài viết về GDHN đã đăng tải trên

báo Nhân dân điện tử từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019 62 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ bài viết theo tháng về giáo dục hướng nghiệp trên

báo ba tờ báo điện tử từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019 63 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện thông tin phân chia theo nội dung bài viết về

GDHN đăng tải trên báo điện tử từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019 53 Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thể hiện sự phân chia các cấp học của bài viết về GDHN

trên các tờ báo điện tử từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019 56 Biểu đồ 2.5: Biểu đồ thể hiện tính chất thông tin về giáo dục hướng nghiệp được

đăng tải trên báo Nhân Dân từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019 58 Biểu đồ 2.6: Mức độ xem các bài viết về GDHN của thanh niên DTTS trên báo

điện tử 69 Biểu đồ 2.7: Mức độ tác động của những bài viết về GDHN tới thanh niên DTTS 71

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục hướng nghiệp là hoạt động có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung và mỗi cá nhân con người nói riêng Đối với mỗi cá nhân, đây là khâu định hướng cuộc sống tương lai, là khâu đầu tiên và quan trọng trong cuộc đời lập nghiệp Giáo dục hướng nghiệp giúp mỗi người lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở nguyện vọng của bản thân đồng thời phù hợp với điều kiện gia đình, khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội Đối với xã hội, GDHN là một trong những trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ở Việt Nam, Đảng ta đã đưa ra một số văn bản pháp luật, quyết định, nghị quyết,… trú trọng đến sự cải thiện, phát triển giáo dục và giáo dục hướng nghiệp Ngày 27/11/2014, Quốc hội Việt Nam ban hành luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 với những quy định về giáo dục nghề nghiệp chủ yếu dành cho các trường nghề, trường cao đẳng, trung cấp, các doanh nghiệp và các

cơ quan, tổ chức có liên quan đến giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam Ngày 14/5/2018, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định 522/QĐ – TTg phê duyệt đề án

“Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” Mục tiêu là từ nay đến năm 2025, 100% trường THCS và THPT sẽ có chương trình giáo dục hướng nghiệp gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của địa phương và 100% các trường này có giáo viên kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tư vấn hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Đối với các trường ở địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 80%

Để thực hiện tốt và hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp cho các bạn thanh niên Báo chí đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền thông cho mọi người biết về giáo dục hướng nghiệp Báo chí là phương tiện, phương thức thông tin, giao tiếp và kết nối thông tin về giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu thông tin giáo dục hướng nghiệp cho toàn xã hội Báo chí tạo ra môi trường giao tiếp về giáo dục hướng nghiệp thậm chí có thể can thiệp vào xã hội, định hướng

Trang 10

tích cực trong xã hội về vấn đề giáo dục hướng nghiệp góp phần phát triển kinh

tế, xã hội Mặc dù vậy, công tác hướng nghiệp trên báo chí hiện nay chưa đồng

bộ, còn nhiều hạn chế về hình thức tổ chức, nội dung, số lượng và chất lượng của các bài viết… Đặc biệt, đối với các thanh niên dân tộc thiểu số - nơi có điều kiện dân trí, kinh tế, xã hội mang tính đặc trưng

Thực tế cho thấy, một lượng lớn các thanh niên, đặc biệt là thanh niên dân tộc thiểu số chưa được truyền thông, thông tin, kết nối đúng về giáo dục hướng nghiệp Một lượng lớn học sinh có xu hướng học cho xong cấp 3, học để lấy bằng, học cho bằng chúng bằng bạn rồi hết cấp 3 về làm công ty… mà chưa có ý thức hướng nghiệp cho bản thân Việc giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số thông qua báo điện tử là một việc làm có ý nghĩa thực tế giúp cho gia đình và xã hội tránh được sự lãng phí về thời gian, tiền bạc khi các em không chọn đúng nghề, đúng hướng, góp phần khắc phục được sự mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực là người dân tộc cho địa phương

Vấn đề giáo dục hướng nghiệp là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa thiết thực Giáo dục hướng nghiệp sẽ tác động gián tiếp, lâu dài đến nền kinh tế, chính

trị, xã hội của đất nước Vì vậy, đề tài “Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho

thanh niên dân tộc thiểu số trên báo điện tử hiện nay” là một vấn đề hết sức

cần thiết để tìm hiểu, nghiên cứu và có định hướng đúng đắn trên nền báo chí nước nhà nói chung và báo điện tử nói riêng Đó là những lý do khiến tác giả chọn nghiên cứu và sử dụng đề tài làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài: Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc

thiểu số trên báo điện tử hiện nay có một số công trình nghiên cứu đã đề cập:

Cuốn: Báo điện tử: hiệu quả truyền thông về bạo lực gia đình của Tác giả

Phạm Hương Trà NXB Lao động - Xã hội năm 2016 Cuốn sách đã đưa ra nhận thức chung về báo điện tử và bạo lực gia đình Vấn đề giới và bạo lực giới trong các sản phẩm truyền thông Sự phản ánh về bạo lực gia đình trên báo điện tử

Trang 11

Việt Nam lúc đó Nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng về bạo lực gia đình thông qua các bài viết trên báo điện tử

Cuốn: Phương pháp dạy và học hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp (theo

chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo) quyển Phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp do Nguyễn Hữu Long làm chủ biên

1-NXB Đại học Huế, năm 2020 Cuốn sách đã giới thiệu về hoạt động giáo dục trải nghiệm, trải nghiệm hướng nghiệp; đề cập đến thách thức của nhà giáo trong việc thực hiện yêu cầu chuẩn đầu ra năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông mới; quy trình phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp và các công cụ hỗ trợ giáo dục hướng nghiệp; bộ công cụ 4.0 – VINSI CORP Dream trong hỗ trợ giáo dục khởi nghiệp; các thông tin hướng nghiệp, nghề nghiệp để nhà giáo, phụ huynh tham khảo tư vấn cho học sinh, sinh viên

Đề án: Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong

giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025 Mục tiêu là từ năm 2018 đến năm

2025, 100% trường THCS và THPT sẽ có chương trình giáo dục hướng nghiệp gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của địa phương và 100% các trường này

có giáo viên kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tư vấn hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Đối với các trường ở địa phương có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 80%

Tài liệu: Giáo dục hướng nghiệp qua Hoạt động giáo dục nghề phổ thông

được biên soạn dựa trên các quy định, chủ trương của Chính phủ, Bộ Giáo dục

và Đào tạo, tình hình thực tế về năng lực, nguồn lực và nhu cầu thực hiện mục tiêu hướng nghiệp qua hình thức hoạt động giáo dục nghề phổ thông Tài liệu này đã đưa ra được phương pháp thực hiện, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, cách thức GDHN qua HĐGDNPT, đồng thời có khả năng áp dụng các nội dung GDHN vào HĐGDNPT cụ thể

Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước: chương trình chuyên viên quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực phần III của Học viện Hành chính Quốc gia năm 2003 Cuốn sách giới thiệu quản lý nhà nước về kinh tế; tài chính

Trang 12

tiền tệ, đô thị và nông thôn; lao động, việc làm; tiền lương, bảo trợ xã hội; về dân

số - kế hoạch hoá gia đình; về văn hoá giáo dục và y tế; về khoa học, công nghệ

và tài nguyên, môi trường; về dân tộc và tôn giáo; về quốc phòng và an ninh Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp

Đề tài khoa học cấp bộ, năm 1993: “Thông tin báo chí ở khu vực dân tộc và

miền núi phía Bắc: Thực trạng và giải pháp phát triển” Nhóm tác giả nghiên

cứu thuộc Phân viên Báo chí và Tuyên truyền, PGS Tạ Ngọc Tấn là Chủ nhiệm

đề tài Hội nghị sơ kết đánh giá tiến độ thực hiện Quyết định 975/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số báo, tạp chí cho đồng bào DTTS do Ủy ban Dân tộc tổ chức, năm 2007 Hội nghị cũng chỉ dừng lại đánh giá mặt tốt, sự cần thiết đưa thông tin tuyên truyền đến với đồng bào các DTTS, còn những hạn chế chưa được đại biểu đề cập

Luận văn: Vấn đề thông tin giáo dục hướng nghiệp trên báo in hiện nay

Luận văn thạc sỹ khoa Báo chí học của Nguyễn Thị Việt Hưng, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn cung cấp một số lý luận về GDHN; hệ thống lý luận, vai trò và chức năng của Báo chí trong đời sống xã hội Qua đó khẳng định tầm quan trọng và những đóng góp của báo chí nói chung và báo in nói riêng trong công tác tuyên truyền về vấn đề giáo dục hướng nghiệp

Luận văn: Báo chí với vấn đề hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên hiện nay Luận văn thạc sỹ khoa học của Cấn Thị Hải Yến, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn cung cấp hệ thống lý luận về giáo dục hướng nghiệp, báo chí, vai trò của báo chí Tìm ra nguyên nhân, hạn chế trong công tác thông tin về vấn đề GDHN trên báo in đồng thời đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thông tin về GDHN trên báo in

Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên

địa bàn Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của Lê Thị Thu Trà, Viện

khoa học giáo dục Việt Nam Luận văn đã đưa ra được những luận cứ khoa học,

Trang 13

các giải pháp triển khai hệ thống giáo dục hướng nghiệp để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước cho các trường THPT

Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường

dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Luận văn thạc sĩ của Bùi

Văn Hưng năm 2013, trường Đại học Giáo Dục, đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn đã đưa ra thực trạng và một số giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho các trường dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu lao động

Luận văn: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Mỏ Cày

Bắc, tỉnh Bến Tre trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp Luận văn

thạc sĩ của Lê Thị Hồng Nhung, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 2017 Luận văn được những kiến thức lý luận, phương pháp giúp cho học sinh THCS phát triển toàn diện và củng cố tư duy về giáo dục hướng nghiệp

Luận văn: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các

hoạt động ngoại khóa Luận văn đã xác định được nội dung và hình thức giáo

dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 thông qua hoạt động ngoại khóa môn địa

lý, giúp cho học sinh hiểu biết hơn về các nghành nghề, nâng cao hiệu quả giáo dục phổ thông

Luận văn: Thông tin về giáo dục đại học Việt Nam trên báo mạng điện tử

ở Việt Nam hiện nay (Khảo sát các báo mạng Dân trí, Tuổi trẻ Online, Giáo dục

Việt Nam, Hoa Học Trò Online từ tháng 6/2012 đến tháng 5/2014) Luận văn thạc sĩ của NGUYỄN PHƯƠNG ANH năm 2017 Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của việc thông tin về giáo dục Đại học Việt Nam trên báo mạng điện tử hiện nay, luận văn nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng thông tin giáo dục đại học trên các tờ BMĐT ở nước ta hiện nay, nhận diện những thành công, hạn chế, những vấn đề đặt ra Từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của BMĐT trong thông tin về giáo dục đại học ở nước ta hiện nay

Luận văn: Vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực

tế trên kênh VTV3 Luận văn đã đánh giá được thực trạng vấn đề giáo dục lối

Trang 14

sống trên ba chương trình truyền hình thực tế của VTV3 đó là chương trình: từ tháng 1/2016 đến tháng 9/2017 đồng thời đưa ra được giải pháp, cách thức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cân đối chức năng giáo dục lối sống và giải trí, giúp các chương trình thực tế trở nên hiệu quả hơn

Trên thực tế, có rất nhiều tài liệu, nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề giáo dục hướng nghiệp Các tài liệu này đều thuộc chuyên nghành giáo dục, quản lý giáo dục và các giải pháp Nhưng lại chưa có tài liệu cụ thể nào nghiên cứu sâu và tìm hiểu về vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số trên báo điện tử Ở Luận văn này, tác giả sẽ tìm hiểu và nhìn nhận vấn đề giáo dục hướng nghiệp dưới góc độ báo chí và hiệu quả truyền thông trên các tờ báo điện

tử

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận cụ thể, dựa trên kết quả điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và khảo sát các bài viết về GDHN trên ba tờ báo điện tử Báo Dân tộc và phát triển (https://baodantoc.com.vn); báo Hà Giang (http://baohagiang.vn) và Báo Vĩnh Phúc (http://baovinhphuc.com.vn) từ tháng 6/2017 đến đầu tháng 6/2020] hướng đến đối tượng là DTTS, mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm:

Bổ sung thông tin khoa học và đưa ra các vấn đề còn tồn tại trong việc thông tin về GDHN cho thanh niên DTTS trên báo chí nói chung và báo điện

tử nói riêng

Đưa ra giải pháp khuyến nghị cho báo điện tử về cách thức tổ chức đưa tin, nội dung viết bài, về hình thức thể hiện, về đào tạo phóng viên, biên tập viên chuyên cho giáo dục hướng nghiệp trên các tờ báo điện tử nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp của báo điện tử cách hiệu quả nhất

Ngoài ra, luận văn cũng bổ sung tài liệu nghiên cứu cho ngành báo chí và truyền thông về các vấn đề liên quan đồng thời giúp học viên có thể hiểu thêm về

Trang 15

tình hình đưa tin, định hướng về giáo dục hướng nghiệp nước nhà, vai trò của

nó cùng những kinh nghiệm quý báu cho tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục hướng nghiệp, vai trò của báo chí truyền thông ở Việt Nam hiện nay dựa trên việc nghiên cứu các văn bản về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; các tài liệu, luận văn, sách, báo,

- Tiến hành khảo sát thực trạng các bài viết về GDHN trên các tờ báo điện tử: Báo Dân tộc và phát triển (https://baodantoc.com.vn); báo Hà Giang (http://baohagiang.vn) và Báo Vĩnh Phúc (http://baovinhphuc.com.vn) từ đầu tháng 6 năm 2017 đến đầu tháng 6 năm 2020 Đồng thời tiến hành điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, cụ thể về đặc điểm dân cư, văn hóa, xã hội ngời DTTS để rút ra các kết luận và chứng cứ khoa học nhằm đánh giá khách quan hiệu quả thông tin hoạt động GDHN và những vấn đề còn tồn tại xung quanh GDHN cho thanh niên DTTS trên báo điện tử

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả về việc truyền thông GDHN cho thanh niên DTTS ở Việt Nam trên báo điện tử đồng thời rút ra một

số kết luận nhằm bổ sung vào công tác nghiên cứu lý luận báo chí

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề về GDHN cho thanh niên DTTS trên ba tờ báo điện tử: Báo Dân tộc và phát triển (https://baodantoc.com.vn); báo Hà Giang (http://baohagiang.vn) và Báo Vĩnh Phúc (http://baovinhphuc.com.vn) Theo đó,

sẽ tập trung khảo sát về nội dung, hình thức, hiệu quả tác động của những bài viết về GDHN, thông qua khảo sát các bài viết liên quan đến vấn đề GDHN trên

ba tờ báo điện tử từ tháng 6/2017 đến đầu tháng 6/2020

Ngoài ra, luận văn cũng tìm hiểu, nghiên cứu nội dung và hình thức thể hiện các bài báo về giáo dục hướng nghiệp trên ba tờ báo này đã tác động đến thanh

Trang 16

niên như thế nào Từ đó thấy được tầm quan trọng, vai trò không thể thiếu của báo chí trong việc phản ánh và góp tiếng nói vào phát triển GDHN nói chung và GDHN cho thanh niên DTTS nói riêng đồng thời đưa ra một số nhận xét về báo điện tử

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên DTTS trên báo điện tử mà cụ thể là trên các tờ báo: Dân tộc và phát triển (https://baodantoc.com.vn); báo Hà Giang (http://baohagiang.vn) và Báo Vĩnh Phúc (http://baovinhphuc.com.vn)

Phạm vi thời gian: Đề tài sẽ khảo sát những thông tin về giáo dục hướng nghiệp trên ba tờ báo điện tử trên từ đầu tháng 6 năm 2017 đến đầu tháng 6 năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở là quan điểm chỉ đạo, đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về vấn đề giáo dục, phát triển giáo dục hướng nghiệp Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng

Lý luận chung về báo chí truyền thông; các vấn đề về truyền thông cho thanh niên trên báo điện tử; nhóm kiến thức lý luận về lý thuyết truyền thông; báo chí; báo điện tử; tâm lý học giáo dục, tâm lý học báo chí, xã hội học truyền thông đại chúng, phương pháp nghiên cứu xã hội học để nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung viết về giáo dục hướng nghiệp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đề tài sẽ sưu tầm và hệ thống các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động truyền thông cho thanh niên, vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên đặc biệt là thanh niên DTTS Đề tài cũng sẽ tham khảo tư liệu, tài liệu, các luận

Trang 17

văn và khóa luận liên quan tới đề tài, các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo để xây dựng khung lý thuyết về thông tin giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử Toàn bộ nội dung này được thực hiện trong chương 1 của luận văn

Trang 18

Phương pháp khảo sát, thống kê tác phẩm

Đề tài sẽ phân tích nội dung, hình thức thể hiện của các bài viết về GDHN trên các tờ báo điện tử

Phương pháp phân tích nội dung tác phẩm: Thông qua các tác phẩm (bài báo) đã đăng tải trên ba tờ báo điện tử sẽ giúp học viên đánh giá được thực trạng vấn đề giáo dục hướng nghiệp trên báo Dân tộc và phát triển (https://baodantoc.com.vn); báo Hà Giang (http://baohagiang.vn) và Báo Vĩnh

này và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng của các tờ báo điện tử Đây

là nội dung sẽ được tác giả trình bày trong chương 2 của luận văn

Phương pháp điều tra xã hội học

Tác giả tiến hành gặp gỡ trực tiếp và điều tra bằng bảng hỏi với hơn 500 bảng hỏi cho đối tượng là những thanh niên người dân tộc thiểu số đang học cấp

2, cấp 3 và trường nghề trong tỉnh Hà Giang và Vĩnh Phúc để thống kê và đưa ra mức độ tác động, ý kiến đóng góp, mong muốn cũng như nhu cầu của thanh niên DTTS đối với những bài viết về GDHN trên báo điện tử

Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong luận văn này, học viên sẽ tiến hành gặp gỡ, phỏng vấn sâu một số lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các trường học phụ trách về GDHN và một số nhà báo có kinh nghiệm viết về giáo dục và đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp… để tìm hiểu về đặc điểm đối tượng mà đề tài nghiên cứu cũng như những giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại trong việc hướng nghiệp cho thanh niên DTTS trên báo điện tử Đồng thời đưa ra đánh giá chung về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử hiện nay đồng thời đề xuất giải pháp, định hướng tham khảo nội dung liên quan đến GDHN cho thanh niên DTTS

Trang 19

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Vấn đề GDHN cho thanh niên nói chung và thanh niên DTTS nói riêng là vấn đề được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sát sao Thực trạng tìm kiếm những giải pháp thiết thực cho vấn đề GDHN cho thanh niên DTTS vẫn còn nhiều nan giải ở địa phương Để giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều mà cần có những giải pháp, chính sách cụ thể cho từng khu vực, từng đối tượng; có sự tham gia phối hợp tích cực hơn nữa giữa các cấp, các ngành trong quá trình triển khai song cũng đòi hỏi thanh niên phải tự vận động, tự chủ, năng động và sáng tạo hơn trong lập thân, lập nghiệp Báo điện tử cũng đưa ra một lượng lớn các bài viết có ích cho GDHN cho thanh niên Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ, vai trò của báo chí, thì các bài viết về GDHN cần chất lượng, phù hợp, hiệu quả hơn nữa Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng sẽ có những đóng góp quan trọng cho:

Bổ sung lý luận về báo chí truyền thông; tính giáo dục và vai trò của giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử; giúp cho các cơ sở đào tạo; giúp những người đang làm báo có thể ứng dụng vào thực tế để nâng cao hiệu quả truyền thông hướng nghiệp cho thanh niên DTTS, để có cách đi đúng hướng trong vấn

đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên Từ đó thấy rõ những chuyển biến về

tư duy, chất lượng cuộc sống của thanh niên DTTS hiện nay

Thông qua khảo sát và phân tích cụ thể, luận văn này sau khi hoàn thành

sẽ là tài liệu hay cho những nhà báo – những người viết bài trực tiếp về vấn đề giáo dục đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp; Luận văn cũng có thể giúp đỡ các nhà quản lý giáo dục và các cơ sở đào tạo, những đội ngũ nhà báo cùng những ai quan tâm đến vấn đề giáo dục hướng nghiệp như một tài liệu bổ ích và giá trị; giúp họ có cái nhìn toàn diện hơn đối với công tác truyền thông về vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên DTTS, để đưa ra chủ trương, chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động tuyên truyền các thông tin về thanh niên nói chung và vấn đề GDHN cho thanh niên DTTS nói riêng

Trang 20

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục bố cục của luận văn gồm các nội dung chính như sau:

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục hướng nghiệp

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.2 Chính sách của Đảng và nhà nước về giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên DTTS

1.3 Vai trò của báo chí trong việc thông tin hướng nghiệp

CHƯƠNG 2: Thực trạng vấn đề giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử Việt Nam (Từ đầu tháng 6/2018 đến đầu tháng 6/2019)

2.1 Vài nét về các tờ báo điện tử

2.2 Nội dung và hình thức các bài viết về GDHN trên ba tờ báo điện tử 2.3 Tác động của các bài viết về GDHN đối với thanh niên DTTS

CHƯƠNG 3: Đánh giá và các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số trên Báo điện tử hiện nay

3.1 Thành công và hạn chế thông tin về GDHN trên báo điện tử

3.2 Các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trên báo điện tử

3.3 Khuyến nghị

Trang 21

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Các khái niệm về hướng nghiệp cho thanh niên DTTS

Có rất nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về Hướng nghiệp Ở mỗi một tiêu chí, một mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau người người ta lại có những khái niệm khác nhau:

Theo UNESCO, “Hướng nghiệp là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp” [26, Tr.76]

Theo từ điển Tiếng Việt, “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai, trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường cá nhân với nhu cầu xã hội” [13; tr.458]

Theo từ điển Giáo dục học, “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực, sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội [12; tr.209]

Từ những khái niệm này ta có thể nhận thấy việc hướng nghiệp nếu như chỉ cung cấp thông tin là không đủ, mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của học sinh Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động hướng nghiệp là nó được nhận thức như một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận cách hệ thống, chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định

Trong nhiều tài liệu tham khảo khác, hướng nghiệp được hiểu là tổng thể chứa đựng nhiều thành phần, biểu thị những hình thức riêng lẻ của hướng nghiệp như: thông tin nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, tùy từng lĩnh vực khác nhau

Trang 22

Trong tâm lý học thì hướng nghiệp được coi là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Điều này cũng giống như cách

mà K.K Platônốp ghi: Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tâm lý – giáo dục, y học nhằm giúp con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phù hợp với năng lực của bản thân Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội với quyền lợi cá nhân.” Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động – một thái độ tâm lý tích cực trước hoạt động lao động Nhà tâm lý học Đặng Danh Ánh cũng bổ sung: “ Hướng nghiệp giờ đây không chỉ gắn với khâu chọn nghề của học sinh trường phổ thông mà còn gắn với khâu thích ứng nghề ở bất

kỳ trường chuyên nghiệp nào”

Trong kinh tế học thì hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những giải pháp dẫn dắt tổ chức thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp

lý tiềm năng lao động trẻ tuổi đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội

Các nhà nghiên cứu cho rằng để giúp các em chọn nghề phù hợp cần làm tốt công tác hướng nghiệp cho các em dưới nhiều hình thức Việc hướng nghiệp có thể hiểu theo hai cách

- Hướng nghiệp trên bình diện xã hội: Mỗi loại hình lao động đều cần những con người có năng lực và phẩm chất phù hợp Để chọn được những người theo đúng những tiêu chuẩn đã định, xã hội cần làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện lao động ở mỗi loại nghề nghiệp cụ thể Thực hiện mục đích này gia đình và xã hội cần hướng nghiệp cho thế hệ trẻ

- Hướng nghiệp trên bình diện phổ thông: Trong trường phổ thông hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp trong tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành

Trang 23

sản xuất trong xã hội Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông như một

hệ thống tác động sư phạm nhằm giúp các em học sinh chọn được nghề tương lai một cách hợp lí

Vậy, việc giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông phải thống nhất với công tác hướng nghiệp ngoài xã hội Hai bộ phận này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ xung lẫn nhau, hỗ trợ nhau Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động từ gia đình, nhà trường và xã hội; Giáo dục hướng nghiệp

là hoạt động dạy dỗ cho học sinh cách khoa học, cụ thể về vấn đề lựa chọn nghề nghiệp Sau khi nhận được sự giáo dục hướng nghiệp học sinh phải nhận định được:

Một là: Làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần phải phát triển ở địa phương Trước hết phải cho các em thấy được yêu cầu phải chọn, tạo cho mình nghề nghiệp tương lai

Hai là: Phát hiện, hướng dẫn, phát triển hứng thú nghề nghiệp của các em

Ba là: Tạo điều kiện để cho học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã có thông qua hoạt động lao động sản xuất kết hợp với dạy nghề

Như vậy, hướng nghiệp là một quá trình, một hệ thống giúp đỡ cho thế hệ trẻ hòa nhập vào quá trình lao động sản xuất của xã hội cách hiệu quả Điều này

có nghĩa là việc hướng nghiệp cần phải xét trên bình diện cá nhân (Thỏa mãn nguyện vọng, nhu cầu cá nhân đồng thời thích hợp với sở trường, điều kiện tâm sinh lý của cá nhân để phát triển tới đỉnh cao nghề nghiệp, tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân) và bình diện xã hội (Lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội, mang cái cá nhân của mình để làm ích lợi, cống hiến thật nhiều cho xã hội) Dù ở trên bình diện nào thì đây cũng là một hoạt động vô cùng cần thiết, có ích cho cả cá nhân và xã hội, giúp cho thế hệ trẻ đi vao lao động sản xuất trong xã hội có định hướng và hiệu quả hơn

Trang 24

1.1.2 Thanh niên dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, do tính tự trọng, tự chủ phát triển mạnh nên thanh niên dễ có tính chủ quan, tự phụ đánh giá quá cao về bản thân Thanh niên còn có tính nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn, thiếu cặn kẽ, dễ đưa đến thất bại Thanh niên có tính gan dạ, dũng cảm cao nhưng đôi khi hành động liều lĩnh, mạo hiểm Ở thanh niên khi không thành công ở một vài việc nào đó thì thường dễ hán nản, bi quan với những công việc khác Từ đó thanh niên dễ tự ti, thụ động, sống khép kín ít tích cực tham gia hoạt động Thanh niên có tinh thần đổi mới,

dễ tiếp thu cái mới song thanh niên cũng dễ phủ nhận quá khứ, phủ nhận những thành quả của thế hệ đi trước, dễ có thiên hướng chuộng hình thức, đánh giá sự việc qua hình thức bề ngoài

Mặc dù vậy, ta vẫn có thể khẳng định thanh niên là nhóm người ở tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực Họ có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp, cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nước

Trang 25

1.1.2.2 Dân tộc thiểu số và đặc điểm của dân tộc thiểu số

- Dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo khái niệm của từng bộ môn nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia Một số nhà nghiên cứu cho rằng dân tộc thiểu số chia làm 2 thành phần:

tộc người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa (peuples autochtones)

ngoài sang định cư tại một quốc gia có chủ quyền

Năm 1992, Hội Đồng LHQ thông qua khái niệm về “dân tộc thiểu số” bằng cách dựa trên quan điểm mà Gs Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ)

đã đưa ra vào năm 1977: "Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này"

Năm 1995, Liên Hiệp Âu Châu cũng đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số rất gần gũi với quan điểm của Liên Hiệp Quốc: “Dân tộc thiểu số ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liện Hiệp Âu Châu và có quốc tịch của khối Âu Châu”

Trong điều 4, nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ: Về Công tác dân tộc có giải thích:

“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việt Nam hiện có 54 dân tộc trong đó dân tộc kinh chiếm 81.8%, 53 dân tộc còn lại thuộc nhóm dân tộc thiểu số và DTTS ít người

Trang 26

- Đặc điểm dân tộc thiểu số

Về đặc điểm dân cư: Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc

Trong 54 dân tộc có tới 53 DTTS, các thành phần DTTS có số dân gần 11 triệu người, chiếm hơn 13% dân số cả nước Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng và phong phú về văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Quy mô dân số của các dân tộc không đồng đều Theo dữ liệu khảo sát 53 DTTS năm 2019 của Ủy ban Dân tộc: các cộng đồng người Tày, Thái, Mường, Khmer, Nùng, và Mông có trên một triệu người trong khi nhóm dân tộc Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, SiLa, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô chỉ có từ vài trăm đến dưới 5000 người 89,6% người DTTS sống ở khu vực nông thôn Người Hoa là DTTS duy nhất sống chủ yếu ở khu vực thành thị (61,9%)

Cũng theo số liệu khảo sát 53 DTTS năm 2019, tỷ lệ nam và nữ DTTS tương đối cân bằng (50,4% nam và 49,6% nữ) ngoại trừ nhóm dân tộc Sán Chay, Thổ, Pu Péo, Sán Dìu, Ngái và Ơ Đu có tỷ lệ nam giới cao (trên 52%) so với nữ

Về quy mô hộ gia đình, hộ DTTS có từ 3,4 đến 5,6 thành viên tùy theo từng dân tộc, bình quân một hộ có 4,4 người Nhóm dân tộc có quy mô hộ nhỏ (dưới 4 thành viên/hộ) bao gồm Brâu, Hrê, Rơ Măm, Ngái, Gié Triêng, và Tày Các dân tộc có quy mô hộ lớn (5 thành viên trở lên) bao gồm Pà Thẻn, Hà Nhì, La Chí, Mông Đáng chú ý là nhóm dân tộc Tày và Khmer mặc dù có quy mô dân số lớn, trên một triệu người nhưng quy mô hộ lại thuộc nhóm thấp nhất, chỉ khoảng 4 thành viên/hộ Tỷ lệ hộ có quy mô trên 5 người chiếm khá cao (39,4%) Dân tộc Mông thuộc nhóm dân tộc có quy mô hộ gia đình cao nhất trong tất cả các DTTS

- trung bình có đế 5,6 thành viên/hộ cùng sinh sống

Tuy các DTTS có sự khác biệt với nhau về phong tục tập quán, rừng vẫn đóng vai trò quan trọng với phần lớn các DTTS Người Mông, Thái, Dao đỏ, Vân Kiều, Ja Rai, Ê Đê, và Ba Na sinh sống trên nhiều tỉnh thành trên cả nước vẫn nương tựa vào rừng cộng đồng Họ có những khu rừng thiêng phục vụ mục đích về tâm linh tín ngưỡng cũng như người Kinh có đền thờ và nhà thờ dòng

Trang 27

họ Luật tục cũng quy định những khu rừng đầu nguồn, rừng nguồn nước nơi người dân thờ Thần Nước Ngoài ra còn có các khu rừng khai thác sản phẩm chung của cả làng bản, ví dụ như dược liệu, củi, và vật liệu để làm đồ thủ công Hình thức quản lý rừng truyền thống theo cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phong tục tập quán cũng như sinh kế của các DTTS tại Việt Nam

Theo kết quả điều tra 53 DTTS năm 2019 của Tổng cục Thống kê, Các DTTS Việt Nam có tỉ lệ số dân không đồng đều: 5 dân tộc có số dân trên 1 triệu người (Mường, Nùng, Tày, Thái và khơ Me); 12 dân tộc có số dân từ 10 vạn người trở lên; 20 dân tộc có số dân từ 1 vạn người đến 10 vạn người; 11 dân tộc

có số dân từ 1000 người đến 10.000 người; 5 dân tộc có số dân dưới 1000 người (Cống, Sila, Pupéo, Rơmăm, Ơ Đu)

Về đặc điểm lãnh thổ địa lý: Các thành phần DTTS cư trú phân tán ở tất

cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong một đơn vị hành chính có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống Địa bàn có nhiều người DTTS nhất là miền núi, biên giới với diện tích tự nhiên chiến 2/3 diện tích cả nước Đây là vùng có

vị trí kinh tế, địa lý và quốc phòng quan trọng

Vùng tây Bắc, tỷ lệ DTTS chiếm 79.2% dân số vùng và chiếm 16.8% số DTTS trên cả nước

Vùng Đông Bắc, tỷ lệ DTTS chiếm 41.3% dân số toàn vùng và 34.6% dân

số DTTS của cả nước

Vùng Bắc Trung Bộ, tỷ lệ DTTS chiếm 10.6% dân số toàn vùng và 10% dân số DTTS của cả nước

Vùng Tây Nguyên, tỷ lệ DTTS chiếm 33% dân số toàn vùng và 13% dân

số DTTS của cả nước Nhiều dân tộc chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Cơ Ho

Đặc điểm kinh tế xã hội: các DTTS có trình độ dân trí, trình độ phát triển

KT-XH không đều nhau Các dân tộc ở vùng đồng bằng Nam Bộ với địa hình đất đai khá màu mỡ, khí hậu, thời tiết ổn định, canh tác thuận lợi, đời sống KT-

XH phát triển ổn định hơn các vùng khác.Vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Miền Trung

Trang 28

với địa hình chia cắt, phức tạp, đất đai khô cằn, nhiều đồi dốc, núi đá, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, canh tác khó khăn, đời sống các DTTS khó khăn hơn, tỷ lệ nghèo cao hơn, kinh tế chậm phát triển hơn

Theo kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế xã hội của tổng cục thống kê năm 2019: đã có 99,5% xã người DTTS đã có trạm y tế trong

đó có 83,5% trạm y tế đạt chuẩn; 97,2% thôn có điện lưới quốc gia; 91,3% có trường học kiên cố và 25,7% giáo viên là người DTTS

Đặc điểm văn hóa: Các DTTS có những sinh hoạt, di sản văn hóa đa dạng, bản sắc riêng, trong đó có những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất độc đáo mang tầm quốc gia, quốc tế Tuy vậy, trong sinh hoạt vẫn còn những ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu

Gìn giữ ngôn ngữ, các bài hát, điệu múa và nhạc cụ truyền thống là các yếu tố quan trọng nhận diện đặc trưng của các DTTS Bên cạnh yếu tố duy trì ngôn ngữ mẹ đẻ, số liệu cho thấy tình trạng đáng báo động về tỷ lệ người DTTS biết đến bài hát truyền thống, điệu múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình

Theo báo cáo về 53 DTTS của Ủy ban Dân tộc năm 2019, có tới 42 dân tộc có tỷ lệ dưới 50% người biết đến bài hát truyền thống, điệu múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình, trong đó 15 dân tộc có tỷ lệ dưới 30%, đặc biệt thấp là các dân tộc: Ngái (8,49%), Ơ Đu (10,55%)…Việc duy trì bản sắc văn hóa với các nhóm DTTS có quy mô dân số nhỏ thực sự là một thách thức với chính bản thân người dân của nhóm này Các thiết chế văn hóa cơ sở cho vùng DTTS cũng đang hết sức khó khăn Tỷ lệ xã vùng DTTS không có nhà văn hóa chỉ lên đến 53,3%; chỉ có 62,4% số thôn, bản có nhà văn hóa/nhà sinh hoạt cộng đồng trong tổng số 48.494 thôn, bản vùng DTTS, tỷ lệ thôn, bản có loa truyền thanh cũng chỉ đạt 56,8% Khu vực miền núi phía Bắc và Tây nguyên là những nơi đang gặp khó khăn nhất hiện nay về thiết chế văn hóa cơ sở Mai một

và mất dần bản sắc văn hóa (pha tạp, biến đổi, biến thái văn hóa, mất dần ngôn ngữ mẹ đẻ…) truyền thống các DTTS đang ngày càng diễn ra ở nhiều chiều cạnh

Trang 29

khác nhau, nhất là đối với 16 tộc người thiểu số rất ít người gồm: Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo (dưới 1.000 người), Cống, Mảng, Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao, Ngái (dưới 5.000 người), Lự, Pà Thẻn, Chứt, La Ha và La Hủ (dưới 10.000 người) Tuy nhiên, ngay cả các dân tộc có số dân lớn thì đây cũng luôn là một nguy cơ Từ ngôn ngữ, các vật dụng trong cuộc sống hàng ngày, đến kiến trúc nhà ở, các lễ nghi trong đời sống xã hội (hôn nhân, tang ma, thờ cúng ) mang tính bản sắc truyền thống và khác biệt của từng tộc người ít còn được duy trì, thay vào đó là nét văn hóa của người đa số Hệ luỵ từ xu hướng này sẽ để lại những hậu quả khó lường, nó không đơn thuần chỉ là mai một bản sắc văn hoá truyền thống tộc người, mà kết hợp với các tác động KT-XH khác có thể dẫn đến không còn sự sự hiện diện của một số tộc người thiểu số trong tương lai ,

1.1.2.3 Thanh niên dân tộc thiểu số

Như đã định nghĩa về thanh niên nói chung: Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc

Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Thanh niên dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam; là một nhóm người có độ tuổi đủ từ 16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các DTTS Thanh niên DTTS được sinh ra, lớn lên và học tập ở những dân tộc có số dân ít người hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thanh niên DTTS thường suy nghĩ, hoạt động và ứng xử hàng ngày năng động, sáng tạo, luôn hướng tới cái mới, cái tích cực

* Đặc điểm của thanh niên DTTS:

Ngoài những đặc điểm chung của thanh niên Việt Nam, thanh niên DTTS có những đặc điểm riêng bắt nguồn từ phong tục tập quán và môi trường sống Đó

Trang 30

là những thanh niên khỏe mạnh, trung thực, thẳng thắn, tính cộng đồng rất cao nhưng họ lại có tư tưởng dòng họ lớn nhỏ, không muốn làm việc xa gia đình “ly nông chứ không ly hương”, chịu nhiều ảnh hưởng bởi luật tục, tập quán, nhất là ảnh hưởng bởi chế độ mẫu hệ, tục nối dây, cồng chiêng và rượu cần là một nét văn hóa đặc trưng của họ Mặc dù họ rất trung thực và thẳng thắn nhưng họ lại

Mặc dù điền kiện kinh tế, xã hội… còn nhiều hạn chế, xong trong thời đại hội nhập và phát triển như hiện nay ở nước ta, người dân tộc thiểu số cũng đã bắt đầu tiến bộ hơn, tham gia vào việc đi làm thuê thông qua tuyển dụng công nhân, công việc phổ thông ở khắp nơi Họ cũng rất thích thú và sử dụng phổ biến các sản phẩm công nghệ thông tin tiện nghi như máy tính, điện thoại… giá cả hợp lý

sử dụng mạng 3G, 4G Đây là cơ hội rất tốt để báo chí có thể làm nhiệm vụ hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp thông qua mạng internet

1.1.3 Truyền thông hướng nghiệp trên báo điện tử

Khi mạng internet ra đời thế giới cũng bắt đầu chứng kiến sự ra đời của báo điện tử vào những năm 1990 Một trong những hãng truyền thông lớn nhất thế giới là CNN của Mỹ đã chạy thử phiên bản báo mạng từ năm 1993 Tiếp đến BBC online của Anh ra đời vào 13/9/1994 Đó là sự khởi đầu, là nền tảng cho báo điện tử Tuy nhiên thời gian này website tin tức chủ yếu là phiên bản điện tử

Trang 31

của báo giấy hoặc truyền hình Đến tháng 10/1993, Khoa Báo chí Đại học Florida (Mỹ) tung ra tờ báo điện tử đầu tiên Năm 1994, phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên và hàng loạt báo khác tại

Mỹ ồ ạt mở Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới Có thể coi báo điện tử hiện nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video) Người lướt web không chỉ được cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe rất nhiều kênh phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website Với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet, báo điện tử

ra đời đã, đang và sẽ phát triển nhanh chóng

Thực tế tên gọi về loại hình báo điện tử đến nay vẫn chưa thống nhất và có nhiều tên gọi khác nhau: báo trực tuyến, báo online, báo chí Internet…Phổ biến

phép được sử dụng thuật ngữ báo điện tử vì lý do sau: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 2016 do Quốc hội ban hành trong đó Điều 3, mục 6 đã sử dụng tên gọi “Báo điện tử” rõ ràng: Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử

Ngày 19/11/1997, Việt Nam chính thức hòa mạng internet và ngay sau đó

đó lần lượt các tờ báo điện tử trên nền internet ra đời Giai đoạn 1997 - 2001,

"báo điện tử" Việt Nam chỉ dừng ở phiên bản điện tử của báo in Tuy nhiên, với mức độ phát triển nhanh chóng của mình, báo điện tử đã dần trở thành phương tiện gần gũi, thân thiện, được nhiều người Việt Nam ưu tiên sử dụng hơn hẳn so với các phương tiện truyền thông khác Trong báo cáo tỷ lệ người dân sử dụng các phương tiện truyền thông, nghe nhìn do Bộ Thông tin - Truyền thông tiến hành, tỷ lệ người dùng Internet vượt độc giả đọc báo, nghe đài và báo giấy để trở thành phương tiện thông tin được sử dụng hàng ngày phổ biến nhất tại Việt Nam, với tỷ lệ 42%

Trang 32

Ngay từ khi ra đời báo điện tử đã nhanh chóng trở thành một trong những phương tiện truyền thông hiện đại, có nhiều ưu thế hơn so với các loại hình báo chí truyền thống về khả năng truyền tải thông tin Hiện nay báo điện

tử đang ngày càng phát triển mạnh, có một vị thế nhất định trong hệ thống các phương tiện truyền thông, có ảnh hưởng đến mọi tầng lớp trong xã hội Đồng thời báo điện tử có số lượng độc giả truy cập ngày càng tăng nhanh chóng Trong khuôn khổ đề tài luận văn này, đối tượng khảo sát của học viên là một tờ báo điện tử trung ương và hai tờ báo điện tử địa phương có liên quan trực tiếp đến người DTTS

Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội Truyền thông gắn liền với lịch

sử phát triển của loài người, bắt đầu từ những hoạt động truyền thông đơn giản đến phức tạp, từ những phương tiện truyền thông thô sơ đến những phương tiện

truyền thông hiện đại Truyền thông với “các phương tiện thông tin liên lạc hiện

đại trở thành những công cụ không thể thiếu được để đảm bảo sự hoạt động ổn định của mỗi nền kinh tế cũng như mỗi chế độ xã hội.” [32;tr 6]

Truyền thông giúp cho con người hiểu nhau hơn, những mệnh lệnh, chỉ thị, thông tin được truyền đi một cách nhanh chóng, chính xác sẽ kéo gần khoảng cách giữa người với người, tạo thành vòn tròn khép kín thúc đẩy xã hội tiến bộ đồng thời thỏa mãn được nhu cầu nhận thức của con người

Theo tác giả Dương Xuân Sơn: Truyền thông là một quá trình liên tục

trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau

để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức.”[32 ; tr 9]

Truyền thông GDHN qua báo điện tử là một kiểu tương tác xã hội thông qua các bài viết, hình ảnh, được đăng tải trên các trang báo điện tử ở dạng đơn giản, truyền thông sẽ giúp thông tin được truyền từ người gửi đến người nhận Ở dạng phúc tạp hơn, các thông tin truyền thông sẽ được trao đổi liên kết người gửi

và người nhận

Trang 33

Truyền thông thường có ba phần: Nội dung, hình thức và mục tiêu Nội dung truyền thông là việc trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, hoặc là lời khuyên, mệnh lệnh, câu hỏi, được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau Mục tiêu có thể là cá nhân hay tổ chức, thậm chí chính là người/tổ chức gửi thông tin đi

Truyền thông hướng nghiệp là quá trình chia sẻ thông tin kiến thức, thái

độ, tình cảm, kỹ năng thuộc lĩnh vực thông tin nghề nghiệp cho thanh niên nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền thông và bên nhận Kết quả của quá trình này là dẫn tới những thay đổi về nhận thức và trong hành động nhằm tác động vào việc đưa ra quyết định đúng trong lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu và năng lực nghề nghiệp của từng thanh niên

Truyền thông hướng nghiệp xây dựng nên nền tảng liên kết nội dung nghề nghiệp, mà ở đó diễn ra một quá trình đối thoại từ nhiều phía tác động đến suy nghĩ của mỗi các nhân Tuy quá trình truyền thông cần nhiều thời gian vì hiệu quả tác động của nó được tích lũy theo thời gian nhưng ở đó thông tin nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp sẽ được giới thiệu và phát tán tới cộng đồng thanh niên DTTS, tạo sự ảnh hưởng, lan tỏa trong cộng đồng thanh niên DTTS

Thông qua các hình thức giới thiệu, tư vấn nghề đã giúp thanh niên hiểu

rõ hơn về các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, pháp luật lao động, hướng nghiệp cho lao động trẻ cách thức tìm việc làm phù hợp với trình độ, khả năng chuyên môn, trang bị cho họ những kiến thức ban đầu trên con đường lập thân, lập nghiệp

“Truyền thông hướng nghiệp là hệ thống các kênh thông tin nghề nghiệp cho cá nhân về tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng, để họ sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống Truyền thông hướng nghiệp góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người đồng thời cũng góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp.”

Trang 34

Như vậy, truyền thông hướng nghiệp trên báo điện tử được hiểu là mối liên quan đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn trên báo điện tử (Phương tiện truyền tải là báo điện tử) mà chương trình này có tác động đến nhận thức của cá nhân dẫn đến hành động ra quyết định về sự lựa chọn nghề của một người

1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên DTTS

1.2.1 Đánh giá về thanh niên DTTS

Nước ta hiện nay vẫn đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ thanh niên cao nhất trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của đất nước Tính đến năm 2017, cả nước có 55,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trong đó có 800,4 nghìn lao động thiếu việc làm và 1,1 triệu lao động thất nghiệp Thanh niên đang ngày càng gia tăng mỗi năm, nhu cầu việc làm cũng ngày càng lớn, những đối tượng là thanh niên DTTS là đối tượng có đặc điểm riêng đặc thù riêng bắt nguồn từ phong tục, tập quán, môi trường, địa hình, hình thái kinh tế, xã hội đặc thù lại càng cần được quan tâm

Vùng dân tộc và miền núi nước ta chiếm 3/4 diện tích đất liền, trải dài từ Bắc vào Nam Trong 64 tỉnh, thành phố cả nước hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng dân tộc và miền núi, bao gồm: 12 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có huyện, xã miền núi và 10 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Bao gồm 235 huyện, với hơn 4.360 xã miền núi vùng cao Dân số toàn vùng là 23 triệu người, với hơn 12 triệu đồng bào dân tộc thiểu số Đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn thu nhập

và mức sống thấp, thêm vào đó trình độ dân trí vùng dân tộc thiểu số không cao, đa số đồng bào dân tộc thiểu số chỉ học hết cấp 1, 2 hoặc không đi học (lao động phổ thông)

Theo nghiên cứu của Ủy ban Dân tộc, có khoảng 75% dân số vùng dân tộc thiểu số và miền núi (tương đương 50 triệu người trong đó 44 triệu người thuộc diện không có kĩ năng ) đang ở độ tuổi lao động, và nếu như Việt Nam

Trang 35

không chuẩn bị một chính sách đúng đắn về phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn thì có khả năng là các dân tộc đó càng ngày càng bị gạt ra khỏi quá trình phát triển kinh tế chung của quốc gia

Việc đào tạo nghề trong giai đoạn trung hạn và dài hạn cho những thanh niên DTTS đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra việc làm bền vững, tuy nhiên tỉ lệ người dân tộc thiểu số bỏ học và tỉ lệ dân số trên 15 tuổi không biết chữ lại ở mức cao (ví dụ tỉ lệ không biết chữ của người H mong là 61%)

Khi chúng ta so sánh về dân trí và nhân lực giữa lao động và thanh niên DTTS và dân tộc đa số, nhiều công trình nghiên cứu đều đồng ý rằng: Người DTTS có trình độ dân trí, nhân tài và đào tạo nghề thấp hơn dân tộc đa số Vì vậy, nhiều thanh niên DTTS thường mang mặc cảm thiếu tự tin vào bản thân, thiếu đi sự năng động để quyết định con đường riêng cho tương lai cách rõ ràng Bên cạnh đó, đa số thanh niên DTTS chưa có khát vọng làm giàu bởi hai yếu tố: Một là chưa có động lực từ chính bản thân và gia đình Phần lớn cha mẹ người DTTS đều muốn con mình đi làm thuê kiếm tiền nhiều hơn là lập nghiệp thành công, giàu có vì chính bản thân họ như vậy Hai là có một số thanh niên có khát vọng làm giàu, nhưng họ không biết bắt đầu từ đâu; có khi suy nghĩ được rồi thì

họ không biết lấy đâu ra tiền để đầu tư? rồi thị trường tiêu thụ như thế nào? Rất nhiều trăn trở mà họ không giải quyết được mà lại không có tài liệu, có cơ sở hay người hỗ trợ tư vấn đã làm cản trở ước vọng làm giàu cho trong thanh niên DTTS hiện nay

Trong khi đó, số lượng các doanh nghiệp, công ty về các khu vực DTTS

để đều tư là không nhiều, các doanh nghiệp đầu tư thiếu sự nhiệt tình, tin cậy vào người DTTS để hỗ trợ tài chính cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh Việc phổ biến nghề mới, đào tạo nghề, tư vấn nghề và hỗ trợ các kỹ năng nghề cũng như hỗ trợ khuyến khích đầu tư vào khu vực có người DTTS chủ yếu là hoạt động của Đảng và Nhà nước Các doanh nghiệp tin tưởng và về đây là rất ít

Trang 36

1.2.2 Chính sách của Đảng và nhà nước về GDHN

Ngay sau Cách mạng tháng 8/1945, bộ quốc gia giáo dục đã chuẩn bị một

Dự án cải cách giáo dục để chuẩn bị cho một nền giáo dục mới cho nước Việt Nam dựa trên 3 nguyên tác cơ bản: dân chủ, dân tộc và khoa học Dự án đã được đưa ra và thành lập theo sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, Bộ Quốc gia giáo dục định thành chính sách giáo dục và ban hành sắc lệnh số 146 ngày 10/08/1946 đặt những nguyên tắc căn bản của ngành giáo dục mới Trong đó, điều 7 của sắc lệnh quy định: “1) Bậc thực nghiệm dành cho học sinh sau một năm dẫn tuyển tỏ ra có những năng khiếu và khuynh hướng thực nghiệm để luyện chúng thành những nông gia, thương gia và công nhân lành nghề Có nhiều ban dạy nghề và hạn học từ một năm đến ba năm tùy từng ban, Những sinh viên đỗ tốt nghiệm hạng ưu của bậc học thực nghiệm có thể xin vào lớp dự bị chuyên nghiệp để thi vào các trường chuyên nghiệp 2) Bậc chuyên nghiệp dành cho học sinh đã theo học các lớp dự bị chuyên nghiệp chia ra nhiều ban và mục đích huấn luyện các cán bộ thực tiễn về phần học lý thuyết và thực hành để giúp việc kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế xã hội Hạn học ít nhất là ba năm và bằng bằng kỹ sư ” Đây cũng là một sự hướng nghiệp sớm, ngay sau bậc tiểu học 4 năm Nguyên bộ trưởng quốc gia giáo dục trong chính phủ nhân dân lâm thời Vũ Đình Hòe đã khẳng định “Tôi đồng ý ngay ở lớp cuối

“sơ học” (tiểu học của bây giờ) ta đã phải thực hiện việc hướng học cho học sinh hoặc theo ngành thực nghiệm hoặc theo ngành học phổ thông Dân ta toàn cảnh

xã hội đòi hỏi như vậy Rồi ngành phổ thông cũng phải sớm đi vào các cấp phổ thông chuyên ban để cuối cùng hướng học sinh vào các ngành đại học chuyên khoa hoặc các ngành chuyên nghiệp, tức là dạy nghề ở cấp độ cao, có kỹ thuật hiện đại.”

Năm 2016, nhà xuất bản Giáo dục đã công bố bản Scan bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài viết “Học sinh và lao động” Người viết: “Thi đỗ tiểu học rồi, thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi, thì muốn lên đại học - Riêng về mỗi cá nhân của người học sinh, thì ý muốn ấy không có gì lạ Nhưng chung đối với nhà nước, thì ý muốn ấy thành vô lý; vì bất kỳ ở nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học càng ít hơn trường trung học

Trang 37

Thế thì những học trò tiểu học và trung học không được chuyển cấp, sẽ làm gì?" Vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị tư tưởng cho học sinh sẵn sàng tham gia sản xuất nộng nghiệp, công nghiệp, hoặc công việc xây dựng khác cách hợp lí

Hướng nghiệp nói chung và hướng nghiệp cho thanh niên DTTS nói riêng

từ lâu đã được ưu tiên và quan tâm hàng đầu trong hệ thống chính sách và công

cụ quản lý giáo dục mang tính chiến lược của Đảng và nhà nước Nhiều văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa hướng nghiệp vào vị trí trung tâm của các giải pháp mang tính chiến lược phát triển giáo dục, xử lý mối quan hệ cung - cầu trên thị trường đào tạo và sự tương tác giữa các hệ thống giao dục, đào tạo và việc làm Trong số ấy, chúng ta có thể kể đến Quyết định số 126/CP ngày 19/03/1081 của Chính phủ về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh phổ thông các cấp THCS, PTTH tốt nghiệp ra trường” Luật Giáo dục (1998), Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội, Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010,

và gần đây là các chỉ thị có liên quan về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông (Chỉ thị 33/2003/Ct ngày 23/07/2003) cũng như về công tác phân luồng học sinh phổ thông của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo

Đảng và nhà nước ta cũng có chính sách phát triển về giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số có quan tâm đến GDHN trong điều 10, nghị định số 5/2011/NĐ - CP của Chính phủ có nêu: “ giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên dân tộc thiểu số ”

Tuy vậy, so với nhu cầu thực tế, để đảm bảo các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước cũng như các ngành giáo dục đào tạo đã giao, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, hướng nghiệp nói chung và hướng nghiệp cho thanh niên DTTS còn cần phải được củng cố, giúp đỡ, thống nhất từ nhiều phương diện, lĩnh vực và địa hạt khác nhau trong đó có sự giúp sức không thể thiếu của công nghệ, của báo chí và cụ thể là báo điện tử Việt Nam

Theo thống kê sơ bộ của ngành Giáo dục đào tạo, chỉ tính riêng trong hệ thống các trường trong hệ thống giáo dục phổ thông và đại học chúng ta hiện có

Trang 38

8.734 trường THCS, 1.687 trường THPT và trên 200 trường đại học, cao đẳng các loại và 300 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp nhằm phân tán ở nhiều nơi trong cả nước mà ngành giáo dục và đào tạo quản lý thì nhu cầu cần có thông tin, tư vấn, giới thiệu, đào tạo, chọn nghề cùng sự tư vấn của các chuyên gia về giáo dục nghề nghiệp trên báo điện tử là rất lớn

1.2.3 Thực trạng thiếu việc làm và thất nghiệp của thanh niên

- Thanh niên nói chung

Thanh niên Việt Nam là nguồn lao động dồi dào và tiềm năng Tuy nhiên, việc sử dụng lao động thanh niên ở nước ta vẫn chưa đồng đều, một lượng lớn thanh niên ở trong tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm

Năm 2017, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta có sự khác biệt khi so sánh giữa các vùng miền Vùng có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất cả nước vẫn là Trung du và miền núi phía Bắc (0,86%, thấp hơn gần 2,6 lần so với mức chung của cả nước) tiếp theo là Tây Nguyên (0,99%) Các vùng có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam

Nguồn: Tổng cục thống kê (Năm 2017), số liệu điều tra lao động - việc làm hàng quý

Trang 39

Bảng 1.2 Phân bổ phần trăm dân số trên 15 tuổi theo tình trạng hoạt động kinh tế hiện tại và hoạt động kinh tế 12 tháng qua tính đến quý 4 năm 2017

ĐVT: %

Hoạt động trong 12 tháng DS trên 15

tuổi

Lực lượng lao động

Ngoài lực lượng lao động

Làm nông nghiệp cho gia

Nguồn: Tổng cục thống kê (Năm 2017), số liệu điều tra lao động - việc làm hàng

quý.(Không bao gồm thanh niên không sống tại Việt Nam)

Kết quả điều tra quý 4 năm 2017 cho thấy trong nhóm dân số thuộc lực

lượng lao động theo phân loại “hoạt động kinh tế hiện tại – 7 ngày qua”- hiện ước tính khoảng 55,2 triệu người (bao gồm có việc làm và thất nghiệp), khi được tham vấn tới hoạt động chính trong 12 tháng qua tính từ thời điểm điều tra đã có gần 7,9% thuộc nhóm “làm các công việc thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản cho mục đích tiêu dùng của hộ gia đình” Một tỷ lệ rất nhỏ 1,0% dành cho nhóm “tìm việc” Các phân tổ khác “nội trợ gia đình”, “ốm/thương tật lâu dài”,

“hưu trí/hưởng trợ cấp” chỉ chiếm 1 phần nhỏ, khoảng 1,8%

Ngược lại, trong nhóm dân số ngoài lực lượng lao động (hiện ước tính

khoảng 16,6 triệu người – theo phân loại hoạt động kinh tế hiện tại – 7 ngày

Trang 40

qua), khi tham chiếu tới hoạt động chính trong 12 tháng qua tính từ thời điểm điều tra, thì thị phần của nhóm “có việc tạo thu nhập”, “tìm việc” và “làm nông

nghiệp cho mục đích tiêu dùng của hộ” chỉ chiếm 1 phần nhỏ, khoảng 3,5%

(tương đương 0,58 triệu người)

Bảng 1.3 Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo CMKT từ 3 tháng trở

lên chia theo trình độ đào tạo quý 4 năm 2017

ĐVT: %

thị

Nông thôn

Nguồn: Tổng cục thống kê (Năm 2017), số liệu điều tra lao động - việc làm hàng quý

qua đào tạo CMKT từ 3 tháng trở lên đứng ở mức 15,1%, trong đó mức độ thất nghiệp ở nữ thanh niên là cao hơn so với ở nam thanh niên (15,3% so với 14,9%) Tương tự, khác biệt giữa thành thị và nông thôn vẫn tồn tại, khoảng 3,0 điểm phần trăm (16,7% so với 13,7%) Đáng chú ý là mức độ thất nghiệp thanh niên tăng dần theo trình độ CMKT đạt được, nghĩa là với những thanh niên có trình độ CMKT cao thì tình trạng thất nghiệp của họ càng cần được lưu tâm hơn

Ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp thanh niên trình độ cao đẳng, và đại học trở lên hiện

là khoảng 10,1% và 25,4% Trong khi tỷ lệ này là thấp hơn đáng kể cho nhóm thanh niên có trình độ sơ cấp hoặc trung cấp (chỉ khoảng 7,7% và 9,0%) Điều này có thể do thanh niên có trình độ CMKT cao (cao đẳng, đại học và trên đại học) tuổi chỉ từ 20 đến 24, vừa tốt nghiệp, chưa có đủ kinh nghiệm nên khó khăn trong tìm việc làm trình độ phù hợp

Ngày đăng: 24/03/2021, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh, Quan điểm mới về hướng nghiệp và hướng nghiệp trong trường phổ thông, Tạp chí giáo dục, số 42, tr 21 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm mới về hướng nghiệp và hướng nghiệp trong trường phổ thông
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1987), Giáo trình công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1987
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Định hướng hoạt động lao động hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH 1996 – 2000, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng hoạt động lao động hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH 1996 – 2000
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1996
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Chỉ thị số 33/2003/CT – BGD&ĐT ngày 23 – 7 – 2003 về tăng cường giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho HS phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
5. Vụ Báo chí, Bộ văn hóa - Thông tin (2005), Các quy định về Báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ Báo chí, Bộ văn hóa - Thông tin (2005), "Các quy định về Báo chí
Tác giả: Vụ Báo chí, Bộ văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
6. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
7. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thanh Bình (2008), "Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại – Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Dững (2011), "Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
10. Phạm Tất Dong (2003), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
11. Phạm Tất Dong (2002), Sự lựa chọn tương lai: Tư vấn về hướng nghiệp, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lựa chọn tương lai: Tư vấn về hướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2002
12. Hà Thị Đức (2005), Giáo dục đại cương 1, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại cương 1
Tác giả: Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2005
13. Hà Minh Đức (chủ biên) (2013), Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2013
14. Phạm Thị Đức (2013), Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh – thanh – thiếu niên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh – thanh – thiếu niên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Thị Đức
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiệp nhà báo, NXB Chính trị Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp nhà báo
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: NXB Chính trị Hành chính
Năm: 2011
16. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
17. Đỗ Ngọc Hà (2011), Một số nét đặc trưng về định hướng giá trị của thanh niên hiện nay, Tạp chí Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét đặc trưng về định hướng giá trị của thanh niên hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hà
Năm: 2011
18. Đinh Văn Hường và tập thể tác giả (2006), Nghề báo, NXB Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề báo
Tác giả: Đinh Văn Hường và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2006
19. Đinh Văn Hường , Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ báo chí, Tạp chí Người làm báo, số 10, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ báo chí
20. Bùi Hiền (chủ biên), Từ điển giáo dục, NXB Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w