Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, vǎn hóa Việt Nam tiếp tục được phát huy, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dâ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG TRUNG KIÊN
CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở KHU DÂN CƯ HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
(2001 - 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Thái Nguyên - 2016
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG TRUNG KIÊN
CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở KHU DÂN CƯ HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
(2001 - 2013)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Loan
Thái Nguyên - 2016
Trang 310 năm 2016
ận văn
Phùng Trung Kiên
Trang 4T - TS Nguyễn Thị Quế
Trang 5Trang
Trang bìa phụ
i
ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN 11
1.1 Vị trí địa lý, điêu kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 11
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11
1.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 14
1.2 Truyền thống đấu tranh 18
1.3 Kinh tế - xã hội 21
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN CƯ Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN (2001 – 2013) 30
2.1 Chủ trương của Trung ương về việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 30
2.1.1 Khái niệm văn hóa dân cư và xây dựng đời sống văn hóa dân cư 30
2.1.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 34
2.1.3 Nội dung cơ bản của cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 40
2.2 Quá trình thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa 43
Trang 6Tiểu kết chương 2 54
Chương 3 ĐÁNH GIÁ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN 55
3.1 Kết quả 55
3.1.1 Đoàn kết xây dựng đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển, chung sức xây dựng nông thôn mới 55
3.1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng lành mạnh, phong phú; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, phát huy 61
3.1.3 Sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình 68
3.1.4 Môi trường cảnh quan từng bước được xây dựng sạch đẹp 72
3.1.5 Dân chủ được phát huy; ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân được nâng cao; cơ sở chính trị được xây dựng vững mạnh 75
3.1.6 Đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng 79
3.2 Những hạn chế 81
3.3 Một số vấn đề đặt ra cho những giai đoạn tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa dân cư huyện Định Hóa 84
Tiều kết chương 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
UBTWMTTQ Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Trang 8đến năm 2015 63 Bảng 3.3: Kết quả đánh giá xếp loại cuối năm học về phong trào“Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”(2012 - 2013) 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu phát triển kinh
tế có chức năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành vi của mỗi con người trong toàn xã hội Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn mực đó được lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc, trở thành hệ thống các giá trị đặc trưng cho mỗi dân tộc, bao gồm chính trị, đạo đức, pháp luật, khoa học, văn học, nghệ thuật, các thể chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc
Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, vǎn hóa Việt Nam tiếp tục được phát huy, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Hội nghị lần thứ hai UB TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa IV (3/5/1995) quyết định mở cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, ban hành Thông tư số 04-TT/MTTW ngày 3/5/1995 để hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động
Sau 4 năm thực hiện, tháng 1/1999, Ban Thường thực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tư số 01-TT/MTTW hướng dẫn để
Trang 10tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, bổ sung và cụ thể hóa những nội dung, yêu cầu mới vào cuộc vận động Sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trên địa bàn khu dân
cư có nhiều cuộc vận động với những tên gọi khác nhau Để thống nhất trong tổ chức thực hiện, ngày 12/6/2001 Chính phủ và Ban thường trực Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thành tên gọi mới là Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư do Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì, nối tiếp Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư trước đây
Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư góp phần đẩy mạnh việc phối hợp giữa chức năng quản lí của Nhà nước với vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng từ khu dân cư, phát huy ý chí tự lục tự cường, khơi dậy mọi tiềm năng
và sức mạnh của mỗi người, mỗi gia đình, một tập thể và của cả cộng đồng tạo thành sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa
Với những ý nghĩa quan trọng đó, từ khi phát động, cuộc vận động đã được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng nhiệt tình và tham gia thực hiện Cuộc vận động đã khơi dậy truyền thống đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, sức mạnh nội lực ngay trong mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư; tạo tiền đề và điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân thông qua hình thức tự quản ở cơ sở, góp phần xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh ở cơ sở, theo phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Trang 11Tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, nhận thức sâu sắc ý nghĩa của cuộc vận động hàng năm, căn cứ chương trình công tác Mặt trận, kế hoạch, hướng dẫn của UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên, UB Mặt trận Tổ quốc Huyện xây dựng kế hoạch, hướng dẫn phối hợp với các ban, ngành, các tổ chức chính trị, UB Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc vận động bằng nhiều hình thức biện pháp cụ thể với chủ trương hướng mạnh mọi hoạt động về địa bàn khu dân cư, chăm lo lợi ích thiết thực của các hội viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân tạo đà cho công tác vận động quần chúng tham gia phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hóa cũng như các phong trào khác
Vì vậy, nghiên cứu về cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa về mặt khoa học, vừa có giá trị về mặt thực tiễn đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của
huyện Định Hóa Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả chọn vấn đề Công cuộc
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2013) làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Nhân văn chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa mới ở Việt Nam từ trước tới nay đã được
đề cập dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau
Ngay từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã xác định quan điểm
về cách mạng văn hóa Đề cương văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh,
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khởi thảo và được công bố năm
1943 trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai đang lan rộng và ngày càng ác liệt Từ nhận thức đúng vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội và của phong trào cách mạng, Đề cương xác định: vǎn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; nền tảng kinh tế và chế độ kinh tế của xã hội quyết định toàn bộ vǎn hóa của xã hội đó Vǎn hóa là một trong ba mặt trận
Trang 12(kinh tế, chính trị, vǎn hóa); cùng với làm cách mạng chính trị, còn phải làm cách mạng vǎn hóa; có lãnh đạo được phong trào vǎn hóa, Đảng mới định hướng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả Với bối cảnh
xã hội Việt Nam lúc đó, khi “vǎn hóa nửa phong kiến, nửa tư sản và hoàn toàn
có tính cách thuộc địa” thống trị, thì sự ra đời của “Đề cương về văn hóa Việt Nam” (1943) là cương lĩnh văn hóa đầu tiên của Đảng; là ngọn đuốc sáng soi đường, chỉ lối và định hướng tư tưởng, nhận thức, phương châm hoạt động văn hóa, văn nghệ cho toàn Đảng, toàn dân và cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam
Đề cương đã xác định nền văn hóa dân chủ mới của Việt Nam phải được xây
dựng theo ba tính chất cơ bản: Dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa [18]
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã phát động phong trào "Xây dựng đời sống mới" Ngày 3/4/1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập Một năm sau (20/3/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Đời sống mới" với bút danh là Tân Sinh để chỉ đạo và động viên phong trào Tác phẩm này được Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương cho xuất bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các cấp chỉ đạo và của toàn dân Khái niệm Đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới” Ba nội dung ấy, có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống Chính vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống mới và nếp sống mới Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từ ngày 16 đến ngày 20/7/1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông qua báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh trình bày Bản báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính chất và nhiệm vụ văn hóa
Trang 13dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của những người làm công tác văn hóa kháng chiến Mọi hoạt động văn hóa trong kháng chiến đều hướng theo phương châm “văn hóa kháng chiến, kháng chiến văn hóa”
Năm 2001, trong cuốn “Việt Nam trong thế kỷ XX”, do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản (tập3), đã tập hợp các bài viết của các tác giả về các vấn đề kinh tế,
văn hóa, xã hội Trong đó đáng chú ý là bài viết:
- “Tác động của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển của con người Việt Nam trong thế kỉ XX” của PGS.TS Đỗ Long, Viện Tâm lý học Trong báo cáo này, tác giả đã đề cập đến các nội dung: Giao lưu và sự phát triển con người; Giao lưu văn hóa và sự chuyển biến từ con người nông dân đến con người chiến sĩ; Con người Việt Nam bước vào thế kỉ XXI trong bối cảnh giao lưu văn hóa và phát triền thông tin Tác giả phân tích sâu sắc đặc trưng của người Việt Nam nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng; sự chuyển biến trong đời sống văn hóa từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Cũng trong bài viết tác giả
nêu rõ: “Phong trào xây dựng Đời sống mới đề ra nhiệm vụ trước hết là cải tạo đời sống văn hóa cũ, khẳng định đời sống văn hóa mới trong các tầng lớp quần chúng nhân dân, chống hủ tục, xây mỹ tục, chống mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, xây nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa học, chống hành vi xam phạm, bạo lực đối với con người, trước hết là đối với phụ nữ, xây quan hệ ứng xử tốt đẹp giũa người với người từ trong gia đình, làng xã, phố phường đến toàn xã hội”
[53, tr 421]
Trong kỷ yếu Hội nghị sơ kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” các tỉnh miền Bắc (Hà Nội – 11/2002) đã đưa ra các nội dung sơ kết tình hình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong 2 năm (2000 – 2002) Các tác giả đã đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo trung ương về: công tác triển khai các chủ trương của Đảng, Chính phủ về cuộc vận động này; công tác chỉ đạo tổ chức lễ phát động
Trang 14phong trào; công tác chỉ đạo địa phương kiện toàn hệ thống chỉ đạo phong trào; việc tổ chức các hội nghị giao ban phong trào; công tác tuyên truyền, hướng dẫn các địa phương
Trong báo cáo tổng kết 5 năm (2000 – 2005) triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc tổng kết 5 năm phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
do Ban chỉ đạo phong trào tổ chức vào tháng 11/2005), cũng đã đánh giá về công tác chỉ đạo triển khai phong trào của các cấp, các Ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương, cũng như hoạt động chỉ đạo của Ban chỉ đạo các địa phương…
Đối với huyện Định Hóa, việc tìm hiểu về “Công cuộc xây dựng đời sống văn hóa dân cư ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2013)” từ trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống Tuy nhiên trong từng lĩnh vực, khía cạnh khác nhau các nhà nghiên cứu đã có đề cập tới một
cách trực tiếp hay gián tiếp như cuốn:“Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hóa”
cung cấp thêm một số tư liệu khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ngoài ra có một số đề tài luận văn đã nghiên cứu về Định Hóa nhưng chủ yếu là đề cập đến kinh tế - xã hội, văn hóa các dân tộc của huyện Định Hóa
Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về “Công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2013) là một vấn
Trang 15xây dựng đời sống văn hóa ở ừ năm 2001 đến năm 2013
- Đánh giá kết quả đã dạt được, những hạn chế còn tồn tại và đề ra một số biện pháp nhằm thực hiện Công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa đạt hiệu quả cao hơn
3.2 Nhiệm vụ đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Khái quát về lịch sử hành chính, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội của huyện Định Hóa
- Làm rõ quá trình triển khai và các hoạt động thực hiện công công cuộc xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của công cuộc xây dựng đời sống văn hóa dân cư ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
- Trình bày một số vấn đề đặt ra cho các giai đoạn tiếp theo trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 đến năm 2013
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên gồm 24 xã, thị trấn,
với 435 khu dân cư
- Về thời gian : Từ năm 2001 đến năm 2013 Tuy nhiên, để làm rõ yêu cầu của đề tài, Luận văn còn đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội của huyện trong những năm trước đó
Trang 165 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu sau đây: + Nguồn tư liệu thành văn bao gồn:
- Tài liệu kinh điển Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
- Văn kiện, Nghị quyết Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề văn hóa
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư của Chính phủ, UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư của Tỉnh ủy, UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên và huyện Định Hóa
- Các báo cáo thường niên, báo cáo theo từng giai đoạn của công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư của UB Mặt trận Tổ quốc huyện Định Hóa
- Các công trình khoa học, các bài viết đã được đăng trên các sách, tạp chí
có liên quan đến đề tài
+ Nguồn tư liệu điền dã: Do tác giả tự thu thập trong quá trình đi thực địa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn Bằng phương pháp lịch sử, trên cơ sở thu thập và xử lí tài liệu, tác giả trình bày hệ thống về quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ở huyện Định Hóa Trên cơ sở phân tích các sự kiện lịch sử, tác giả rút ra những đánh giá về thành tựu và hạn chế của công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ở huyện Định Hóa
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, các phương pháp liên ngành như: điền dã để quan sát
Trang 17những kết quả đạt được và sự thay đổi của khu dân cư sau những năm thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa
6 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên trình bày một cách có hệ thống, toàn diện về công cuộc xây dựng đời sống văn hóa dân cư ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
- Luận văn đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên; phân tích nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất một
số giải pháp giúp đỡ địa phương nghiên cứu mở rộng nâng cao chất lượng của công cuộc xây dựng đời sống văn hóa trong thời kỳ mới
- Dùng làm tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông trên địa bàn huyện Định Hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Quá trình thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2013)
Chương 3: Đánh giá công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2013)
Trang 18Nguồn: 55
Trang 19Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Vị trí địa lý, điêu kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Định Hóa được hình thành từ rất sớm Thời Hùng Vương, Định Hóa thuộc
Bộ Vũ Định Thời Đường thuộc đất châu Long và châu Võ Nga, thời Lý là châu Thái Nguyên và châu Vũ Lặc Thời thuộc Minh, Định Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa, châu Thái Nguyên Dưới thời Lê sơ, Tuyên Hóa thuộc Bắc đạo, năm Quang thuận thứ 7, Tuyên Hóa thuộc Thái Nguyên thừa tuyên Năm Quang Thuận thứ 10 đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên Đến thời Hồng Đức, châu Tuyên Hóa thuộc xứ Thái Nguyên Đến thời vua Gia Long, châu Tuyên Hóa được đổi thành châu Định Hóa, thuộc phủ Phú Bình Theo sách Đại Nam Nhất thống chí chép lại, châu Định đông tây cách nhau 172 dặm, bắc nam cách nhau
98 dặm, phía đông đến địa giới huyện Phú Lương 46 dặm, phía tây đến địa giới châu Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang 126 dặm, phía nam đến địa giới huyện Văn Lãng 146 dặm, phía bắc đến địa giới châu Thông Hóa 47 dặm Xưa là đất bộ
Vũ Định, thời thuộc Minh gọi là huyện Tuyên Hóa, sau đổi thành châu Định Hóa, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời quản trị…
Dưới thời Lê sơ theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi viết năm 1438 huyện Đinh Hóa đổi thành châu Định Hóa thuộc phủ Phú Bình trong số 9 huyện châu Định Hóa lúc đó có 40 xã, 12 trang
Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1832), châu Định Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên Năm Minh Mạng thứ 16 (năm 1836) cắt 4 huyện là Định Châu, Văn Lãng, Đại Từ, Phú Lương đặt thành phủ Tòng Hóa và đặt chức Lưu quan Địa giới phủ Tòng Hóa: cách tỉnh 99 dặm về phía tây, đông tây cách nhau 153 dặm, nam bắc cách nhau 187 dặm Phía đông đến Đồng Hỷ phủ Phú Bình Phía tây đến địa giới huyện Sơn Dương, tỉnh Sơn Tây và châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Trang 20Quang Phía nam giáp huyện Phổ Yên, phủ Phú Bình Phủ Tòng Hóa gồm có 9 tổng và 36 xã Từ đó dến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Định Hóa có
8 tổng với 30 xã và 1 thị trấn Đó là các tổng: Định Biên Thượng, Định Biên Trung, Định Biên Hạ, Khuynh Kỳ, Thanh Điểu, Phượng Vĩ Thượng, Phượng
Vĩ Trung và Phượng Vì Hạ
Sau Cách mạng tháng Tám, Định Hóa thuộc phủ Ngô Quyền, tháng 6 năm
1945 đổi thành phủ Vạn Thắng Năm 1948 phủVạn Thắng đổi thành huyện Định Hóa và giữ nguyên cho đến ngày nay Hiện nay, huyện Định Hóa gồm 1 thị trấn (thị trấn Chợ Chu) và 23 xã (Bảo Cường, Bảo Linh, Bình Thành, Bình Yên, Bộc Nhiêu, Định Biên, Điềm Mặc, Đồng Thịnh, Phú Tiến, Phúc Chu, Phượng Tiến, Quy Kỳ, Sơn Phú, Tân Dương, Tân Thịnh, Thanh Định, Trung Hội, Trung Lương)
Huyện Định Hóa là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, là căn cứ điạ cách mạng, An toàn khu, Thủ đô kháng chiến của cả nước trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa, Đảng và Nhà nước đã phong tặng huyện Định Hóa và 17/24 xã, thị trấn danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”; 24/24 xã, thị trấn của huyện được công nhận là xã ATK (An toàn khu) trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Trung tâm huyện Định Hóa nằm cách thành phố Thái Nguyên 50km, phía bắc giáp với huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn; Phía đông giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên; Phía tây giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang Huyện Định Hóa có 24 đơn vị hành chính gồm 23 xã và 01 thị trấn với 435 thôn bản, có 17 xã và 13 thôn, xóm đặc biệt khó khăn
Địa hình Định Hóa khá phức tạp và tương đối hiểm trở, có nhiều đồi núi; thấp dần theo hướng tây bắc – đông nam Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên địa hình huyện Định Hóa được chia làm hai vùng: Vùng núi cao bao gồm các xã
Trang 21khu vực phía Bắc (Linh Thông, Quy Kỳ, Bảo Linh, Lam Vĩ, Tân Thịnh, Kim Phượng, Kim Sơn, Phúc Chu) đây là vùng có nhiều dãy núi cao từ 200 mét –
400 mét so với mặt nước biển Vùng núi thấp bao gồm: thị trấn Chợ Chu và các xã thuộc khu vực phía Nam (Bảo Cường, Trung Hội, Trung Lương, Tân Dương, Định Biên, Đồng Thịnh, Phượng Tiến, Thanh Định, Bình Yên, Điềm Mặc, Sơn Phú, Phú Đình, Bộc Nhiêu, Phú Tiến, Bình Thành) Đây là vùng đồi núi đất, độ cao trung bình từ 50 mét đến dưới 200 mét có nhiều rừng và cánh đồng tương đối rộng, đát đai khá phì nhiêu nên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Huyện Định Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chế độ hai mùa rõ rệt
Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình khoảng 280C, mùa lạnh
từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 150C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,50C (tháng 6), thấp tuyệt đối là 30C (tháng 1), biên độ nhiệt ngày đêm khá lớn (>70
C) Ngoài hai mùa hè kể trên khí hậu Định Hóa còn có giai đoạn chyển tiếp là mùa xuân và mùa thu Mùa xuân thời tiết ấm dần lên, mùa thu nhiệt độ trung bình giảm dần, chuyển từ trạng thái nóng ẩm sang trạng thái khô hanh Với nền nhiệt độ như trên, các loại cây ăn quả nhiệt đới phát triển rât tốt Đối với các cây trồng ngắn ngày có thể trồng hai, ba vụ trong năm
Huyện Định Hóa có ba con sông chính, con sông lớn nhất là sông Chu, đây
là hệ thống sông lớn nhất chảy dài uốn lượn trên 100 km phân bố trên 2/3 lãnh thổ huyện Định Hóa Sông Chu được hợp lưu bời nhiều ke suối nhỏ bắt nguồn
từ các sườn núi phía tây và phía bắc huyện, với 3 nhánh chính là suối Chao, suối Múc, suối Tao; đoạn chảy qua xã Tân Dương là đoạn lớn nhất Sau đó chảy qua xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) và hợp lưu với sông Cầu ở Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn) Sông Chu có lưu vực rộng 437 km2, lưu lượng nước bình quân trong năm 3,06m3
/h Sông Công (phần trên đất Định Hóa là thượng nguồn) có hai nhánh chính Nhánh thư nhất bắt nguồn từ xã Thanh Định, chảy qua xã Bình Yên, Sơn Phú Nhánh thư hai bắt nguồn từ dãy núi Khuôn Tát, xã Phú Đình chảy qua xã Phú Đình, hợp lưu với nhánh thứ nhất ở xã Bình Thành rồi
Trang 22chảy qua xã Minh Tiến huyện Đại Từ Tổng diện tích lưu vực trên địa bàn là
128 km2, lưu lượng nước bình quân 3,06 m3/h Sông Đu (phần chảy trên địa bàn huyện thuộc thượng nguồn) bắt nguồn từ xã Yên Trạch (huyện Phú Lương), đoạn chảy qua xã Phú Tiến (Định Hóa) dài khoảng 3,5km, sau đó chảy dọc phía tây huyện Phú Lương, hòa vào sông Cầu ở xã Sơn Cẩm(huyện Phú Lương) Sông Đu có tổng diện tích lưu vực 70km2 Lưu lượng nước bình quân 1,68m3/h Ngoài ba con sông chính, trên địa bàn huyện Định Hóa còn có nhiều khe suối nhỏ len lỏi quanh các khu rừng, các cánh đồng thuộc các thôn bản Sông suối Định Hóa trước đây lưu lượng nước còn lớn còn có giá trị giao thông
đẻ bà con các dân tộc đóng mảng, bè chở gỗ nứa về xuôi, nhưng đến nay lưu lượng nước giảm nhiều vì vậy không còn giá trị về mặt giao thông đường thủy Nhưng hệ thống sông suối phân bố khá đòng đều nên có vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu gần 7.200 ha đất canh tác, còn là nơi cung cấp nguồn phù sa cho đồng ruông trong mùa mưa lũ, đồng thời là nguồn nước phục vu nhu cầu sinh hoạt của nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa
1.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất đai dựa trên cơ sở tài nguyên đất và bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh Thái Nguyên và cơ sở phân loại, đánh giá theo PAO, UNESSCO huyện Định Hóa có 6 nhóm đất với 11 loại chính
Nhóm đất: Nhóm phù sa; nhóm đất dốc tụ; nhóm đất đên và màu thẫm; nóm đất vàng xám; nhóm đất đỏ nâu vàng; nhóm đất mới biến đổi
Loại đất có 11 loại đất chính: Đất phù sa không được bồi đắp; Đất phù sa ngòi suối; Đất thung lũng do sản phẩm dóc tụ; Đất nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazơ; Đất đỏ vàng trên đá biến chất; Đất đỏ vàng trên đa phiến thạch; Đất đỏ vàng trên macma axít; Đất vàng nhạt trên đá cát; Đất vàng trên phù sa cổ; Đất mun vàng đỏ trên đá macma axít; Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Theo số liệu thống kê năm 2009, huyện Định Hóa có tổng diện tích tự nhiên là: 52.075ha; trong đó tổng diện tích đất nông nghiệp là 38.903,83 ha
Trang 23chiếm 76,1% diện tích tự nhiên tăng so với năm 2000 là 6.878,6 ha(tăng chủ yếu ở diện tích đất lâm nghiệp)
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Định Hóa
Đơn vị: Ha
Tăng (+); giảm (-) 2005-
nghiệp 22.154,0 24.792,0 33.595,2 2.638,0 8.803,2 1.3 Đất nuôi
-Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Định Hóa
Trang 24Tài nguyên khoáng sản ở huyện Định Hóa khá phong phú, gồm có: Sắt
limonit ở xã Bộc Nhiêu, Bình Thành; Man Gan, sắt ở xã Phú Tiến; Ti tan, sa khoáng ở xã Sơn Phú; Đá granit có ở xã Phú Đình Tuy nhiên các khoáng sản này trữ lượng không lớn và chưa đủ tuổi khai thác Vì vậy, đến nay trên địa bàn huyện nay mới chỉ khai thác đá vôi cà cát sỏi để sản xuất vật liệu xây dựng ở địa phương
Về tài nguyên rừng, toàn huyện có diện tích đất lâm nghiệp là 27.483,74 ha
Trong đó đất lâm nghiệp có rừng là 24.112,8 ha Rừng tự nhiên có diện tích là 15.732,7 ha, chủ yếu là rừng phục hồi tập trung ở khu vực núi cao, có độ dốc lớn, trữ lượng gỗ từ 50 – 100m3/ha với những loại cây có giá trị kinh tế thấp như gỗ, tre, nứa, song, mây, cọ và một số lâm sản khác Ngoài giá trị kinh tế, rừng tự nhiên còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng hộ, bảo vệ đất đai, duy trì nguồn nước cho sông suối, có ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học và góp phần tạo nên cảnh quan kỳ thú; Rừng trồng có diện tích là 8.380 ha, chủ yếu là cây làm nguyện liệu như: Keo lai, bạch đàn…Tăng trưởng bình quân chỉ đạt dưới 10m3/ha/năm
Định Hóa có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao đã tạo nên
vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Việt Bắc, cùng với sự đa dạng về thực vật đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn với phát triển du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm:
Hồ Bảo Linh là hồ nhân tạo thuộc xã Bảo Linh, được xây dựng từ năm
1992 với mục đích thủy lợi và khai thác thủy sản Hồ khá rộng diện tích mặt nước lên tới 80 ha, dung tích hữu ích 5,8 triệu m3 Đây là điểm lý tưởng phục
vu du lịch sinh thái
Thác Khuôn Tát thuộc xã Phú Đình cách nhà tưởng niệm Tỉn Keo 1 km về phía Tây Nam Đây là một thác nước cao 7 tầng qua các dãy núi hoa cương ở dưới chân Đèo De Thác vừa là di tích lịch sử vừa là danh lam thắng cảnh nằm giữa rừng đặc dụng với hệ sinh thái rừng đa dạng Đây sẽ là điểm nhấn quan trọng về du lịch sinh thái trong tương lai
Trang 25Động Chùa Hang (Bảo Cường) gần thị trấn Chợ Chu Đây là một cảnh đẹp thiên tạo có ý nghĩa tâm linh Hàng năm Chùa Hang đều tổ chức lễ hội nên thu hút du khách đến tham quan Ngoài việc chiêm ngưỡng cảnh đẹp du khách có thể tham gia hoạt động leo núi
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, nghệ thuật, phong tục tập quán, đặc sản của các dân tộc Đặc biệt vùng ATK là Thủ đô kháng chiến Hiện nay Định Hóa có 128 điểm di tích, trong đó có 12 điểm được Bộ Văn Hóa xếp hạng di tích cấp quốc gia như: Khau Tý, Khuôn Tát, Tỉn Keo, Đèo De, Núi Hồng, Bảo Biên trong đó có 4 điểm được xếp hạng cấp tỉnh Những địa danh mà tên đất, tên làng đã nổi tiếng và mãi mãi là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Định Hóa Đây là những tiềm năng và lợi thế cho việc phát triển du lịch địa phương
Những năm tháng kháng chiến, các cơ quan Trung ương, quân đội và nhân dân khắp nơi tản về Định Hóa tạo nên sự giao thoa văn hóa độc đáo giữa các dân tộc Cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, hơn 60 năm đã qua đi, nhưng những kỷ niệm của những năm tháng kháng chiến gian khổ cùng
ăn cùng ở với đồng bào, Định Hóa trở thành nơi gắn bó, thân quen với nhiều cán bộ và đòng bào cả nước Nhiều di sản văn hóa của Định Hóa đã trở nên nổi tiếng như nhà sàn Định Hóa (hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng dân tộc học), nghệ thuật múa rối Tày Thẩm Rộc (Bình Yên) được cử đi tham dự liên hoan nghệ thuật múa rối dân tộc quốc tế (tổ chức tại bảo tàng dân tộc học); Lễ hội Lồng Tồng được duy trì và tổ chức thường niên vào đầu xuân hàng năm, cùng với các di sản văn hóa phi vật thể khác như các làn điệu hát sli, hát lượn, then, dân ca, dân vũ
và những phong tục, những sản vật và các món ăn dân tộc là sản vật mang đặc trưng của Việt Bắc là những tiềm năng du lịch của địa phương
Tuy nhiên, về cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho du lịch Định Hóa còn hạn chế Vì vậy, du khách đến với Định Hóa chủ yếu đi về trong ngày nên thu nhập từ dịch vụ du lịch chiếm tỷ lệ chưa cao trong cơ cấu kinh tế của huyện
Trang 26Các lợi thế về du lịch vẫn ở dạng tiềm năng chưa trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế
1.2 Truyền thống đấu tranh
Định Hóa nằm ở trung tâm vùng Việt Bắc, có nhiều đường bộ đi các địa phương, có thể lên biên giới phía Bắc, đi Tây Bắc, Đông Bắc, tới trung du, xuống đồng bằng… tương đối thuận lợi Từ xa xưa Định Hóa luôn là địa bàn chiến lược quan trọng, “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” Để tồn tại và phát triển, nhân dân các dân tộc Định Hóa ngoài việc phải đấu tranh với thiên nhiên, còn phải thường xuyên đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Trong suốt gần mười thế kỉ (từ thế kỉ I đến thế kỉ X), dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, nhân dân các dân tộc Định Hóa luôn góp phần cùng nhân dân cả nước, kiên cường bền bỉ đấu tranh chống ách nô dịch và âm mưu đồng hóa dân tộc của chúng Trong gần 10 thế kỉ tiếp theo (thế kỉ XI đến thế kỉ XVIII), với ý chí tự lực tự cường và bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc, nhân dân các dân tộc Định Hóa đã góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại nhiều cuộc xâm lược, đó là cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ XI, quân Mông - Nguyên thế kỉ XIII, quân Minh thế kỉ XV, quân Thanh thế kỉ XVIII…
Thế kỉ XVI, chế độ phong kiến trên con đường suy yếu, các tập đoàn phong kiến Mạc và Lê – Trịnh tranh giành quyền lực gây ra cuộc nội chiến tương tàn Thời kì này Định Hóa bị tập đoàn nhà Mạc chiếm đóng làm căn cứ, đánh nhau với tập đoàn nhà Trịnh Chiến tranh Trịnh – Mạc đã gây ra cho nhân dân địa phương bao lầm than đâu khổ Căm thù các tập đoàn phong kiến đã gây
ra cuộc nội chiến tương tàn, nhân dân các dân tộc Định Hóa hướng về cuộc khởi nghĩa của Quang Trung – Nguyễn Huệ năm 1771
Năm 1883 nhân dân các dân tộc Định Hóa đã sôi nổi hưởng ứng cuộc khởi nghĩa do Nông Văn Vân lãnh đạo
Sau khi chiếm thành Thái Nguyên tháng 5- 1884 và bình định các tỉnh lân cận, tháng 10- 1886 quân Pháp đánh chiếm Định Hóa, ngày 31/1/1889, thực
Trang 27dân Pháp huy động 37 sĩ quan, 779 lính lê dương, 278 lính khố đỏ - không kể 1.200 dân phu bị bắt ở Hà Nội và Thái Nguyên làm nhiện vụ vận chyển lương thực, thực phẩm…do tướng Borgnis Desbordes chỉ huy, chia làm 2 mũi tấn công, đánh chiếm vào vùng Chợ Chu
Chiếm đóng Đinh Hóa, quân Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân nơi đây Tiêu biểu là những trận chiến đấu của nhân dân Định Hóa phối hợp với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đánh Pháp ở Quảng Nạp ngày 1/4/1912; trận đánh trên đường Chợ Chu đi Quảng Nạp ngày 13/9/1912 Ngày 28/8/1922, những người tù Chợ Chu nổi dậy chống Pháp
Đến cuối năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lại được tăng cường thêm cán bộ, phong trào cách mạng ở Định Hóa phát triển ngày càng mạnh mẽ Ngày 19/11/1941 một tổ chức Cứu quốc quân II gồm các đồng chí Nguyễn Cao Đàm, Chu Viết Phóng, Phương Cương, Đường Thị Ân, Hoàng Thị Môn, Hoàng Thị Ngoan bí mật vượt vòng vây địch sang vùng Bảo Cường, Chợ Chu làm nhiệm
vụ gây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ Từ giữa năm 1944, trong không khí sôi nổi của những ngày “sửa soạn khởi nghĩa”, các đội tự vệ võ trang ở các địa phương lần lượt
ra đời Phong trào sắm vũ khí và luyện tập quan sự diễn ra sôi nổi Để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo cho Đảng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, các cơ sở cách mạng của Định Hóa phối hợp với Cứu quốc quân II tổ chức cho 12 đảng viên cộng sản bị địch giam ở nhà tù Chợ Chu vượt ngục thành công, trở về hoạt động ở các địa phương
Dưới sự lãnh đạo, phối hợp của Cứu quốc qân, đêm 26/3/1945, quân cách mạng bao vây, tiến công đồn bảo an binh, giải phóng châu lỵ Ngày 28/3 tại cuộc mít tinh lớn tổ chức tại đình Quán Đế thị trấn Chợ Chu, Việt Minh đã tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch Ngày 18/4/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời châu Định Hóa được thành lập, châu Định Hóa đổi thành châu Ngô Quyền Đến cuối tháng 4/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập ở hầu hết các xã, lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Nhật, bảo vệ
Trang 28căn cứ núi Hồng, bảo vệ Khu giải phóng, cung cấp lương thực thực phẩm cho Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội quốc dân ở Tân Trào
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do có vị trí chiến lược đặc biệt, Định Hóa được Trung ương Đảng, Chính phủ chọn làm trung tâm căn cứ địa, nơi các cơ quan đầu não kháng chiến, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ở và làm việc
Ngày 20/5/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Định Hóa, Người đã đặt đại bản doanh ở đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc Xã Phú Đình là nơi Bác ở nhiều lần trong nhiều năm kháng chiến, cùng Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng
tư lệnh có những quyết định quạn trọng
Mảnh đất ATK Định Hóa trong những năm tháng kháng chiến còn là nơi ra đời nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nơi tổ chức nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Hội đồng Chính phủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Bộ Quốc phòng – Bộ Tổng tư lệnh; nơi ra đời và làm việc của nhiều cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện, nhà máy, binh xưởng Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 3.117 con em nhân dân các dân tộc Định Hóa, trong đó có 98 nữ đã lên đường cần súng bảo vệ Tổ quốc Hàng trăm các đồng chí đã chiến đấu và anh dũng hi sinh hoặc để lại một phần thân thể trên chiến trường
Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân huyện Định Hóa và các xã Phú Đình, Bảo Linh, Bình Thành, Bình Yên, Bộc Nhiêu, Đồng Thịnh, Quy Kỳ, Điềm Mặc, Định Biên, Phượng Tiến, Kim Phượng, Thanh Định, Trung Lương, Phú Tiến, Sơn Phú, thị trấn Chợ Chu và hai đồng chí Ma Văn Viên (xã Tân Dương), Âu Văn Hùng (xã Sơn Phú) được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 10 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; hàng trăm tập thể, cá nhân được phong tặng các danh hiệu cao quý [29]
Trang 291.3 Kinh tế - xã hội
Thành phần kinh tế chủ yếu của huyện Định Hóa là nông lâm nghiệp Khoảng trên 80% dân số của huyện sinh sống bằng nghề làm ruộng và khai thác lâm sản Do vậy sản xuất nông lâm đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống của phần lớn dân cư trong huyện Từ năm 1995, theo Quyết định của Chính phủ, huyện Định Hóa có 9 xã và 01 thị trấn được công nhận là xã ATK Đến năm 2003, thêm 14 xã đã được công nhận là ATK Huyện Định Hóa được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư với các nguồn vốn ATK, vốn chương trình mục tiêu 134, 135 và các nguồn vốn khác hỗ trợ phát triển sản xuất Vì vậy, sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn đã đạt được những kế quả nhất định, năm
2002 giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 130.666 triệu đồng đến năm 2010 đạt 386.605 triệu đồng
Mặc dù là huyện miền núi nhưng do có nhiều di tích lịch sử và đường đến các trung tâm cụm xã đều có đường rải nhựa nên thương mại dịch vụ của Huyện cũng khá phát triển Năm 2002, giá trị từ dịch vụ là 66.727 triệu đồng đến năm 2010 tăng lên đến 330.660 triệu đồng Toàn huyện có 18 chợ, trong đó
có 01 chợ trung tâm huyện (chợ Tân Lập), 04 chợ tại trung tâm cụm xã: Chợ Sơn Phú, Điềm Mặc, Lam Vỹ, Quy Kỳ, 04 chợ truyền thống: Chợ Chu, Phú Tiến, Quán Vuông, Bình Thành Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch
vụ xã hội trên địa bàn huyện tăng so với trước đây Tuy nhiên, dịch vụ thương mại trên địa bàn huyện còn nhỏ lẻ, số chợ tạm vẫn chiếm 50%, nhà tranh tre do nhân dân dựng làm quán chợ, chưa có nhà hàng, siêu thị lớn hoặc các chợ đầu mối để thu gom, phân phối hàng hóa trên địa bàn huyện mà chủ yếu là các chợ người dân địa phương bán các mặt hàng nông sản, thực phẩm, hàng tiểu thủ công nghiệp do địa phương sản xuất
Dịch vụ vận tải của Huyện trong những năm qua phát triển nhanh, cơ bản
đã đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân, chất lượng dịch vụ vận tải được nâng lên
Trang 30Định Hóa có rất nhiều di tích lịch sử, theo thống kê, hiện nay trên địa bàn huyện có 128 di tích nằm dải rác trên địa bàn các xã trong toàn huyện Năm
2005, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với việc mở đường giao thông sang khu di tích Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) và hoàn thành nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đèo De và khu phục vụ du lịch tại xã Phú Đình,
là nơi hành hương về nguồn của các cơ quan Trung ương và du khách thập phương về với “Thủ đô gió ngàn – chiên khu Việt Bắc” Chủ yếu các du khách
đi lại trong ngày, số khách nghỉ lại rất ít Điều đó, cũng phản ánh những bất cập trên con đường phát triển du lịch thành một ngành kinh tế, những bất cập đó là: Chưa có quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết để xây dựng khu du lịch Vì vậy, chưa thu hút được các nhà đầu tư và và cộng đồng nhân dân than gia đầu
tư phát triển du lịch; kết cấu hạ tầng còn yếu, toàn bộ hệ thống di tích lịch sử chưa được quy hoạch chi tiết, hệ thống giao thông chưa được đầu tư nâng cấp, các dịch vụ ẩm thực, hướng dẫn du lịch, sinh hoạt vui chơi giải trí còn thiếu và yếu, chưa hấp dẫn nên chưa thu hút được nhiều du khách
Dân số toàn huyện năm 2010 ước tính là trên 86.000 người (tốc độ giảm 0,6%/năm giai đoạn 2002 – 2009 ) Trong đó đân số nông thôn là 80.200 người chiếm 92,9% dân số toàn huyện Dân số đô thị là 6.100 người chiếm 7,1 % dân
số toàn huyện Mật độ dân số toàn huyện là 168,5 người/km2 (toàn tỉnh là 309 người/km2
)
Sự phân bố dân cư không đều trên địa bàn toàn huyện Dân cư tập trung khá đông ở thị trấn và những nơi giao thông thuận tiện, thị trấn Chợ Chu có mật độ dân số cao nhất huyện là 1.359 người/km2, trong khi đó các xã vùng cao như Quy Kỳ, Tân Thịnh mật độ dân số là 72 người/km2 Năm 2009 ước tính số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn toàn huyện là 50.120 người (chiếm 62,1% tổng dân số) Số lao động tham gia trong nền kinh tế quốc dân là 45,190 người Trong đó: Lao động trong ngành nông lâm là 90,6%; Lao động trong ngành xây dựng chiếm 2,3%; trong đó xuất khẩu lao động là 80 người Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 2,1%, tỷ lệ lao động trong độ tuổi không có việc làm ở khu vực thành thị là 5,4%, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao
Trang 31động trong độ tuổi lao động ở nông thôn là 81,5%; Số lao động trong độ tuổi không có việc làm năm 2005 còn 375 lao động, năm 2009 là 572 lao động Nhìn chung, số lao động ở Định Hóa chủ yếu là lao động phổ thông trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, số lao động qua đào tạo có tay nghề còn chiếm tỷ
lệ thấp
Theo kết quả điều tra, tỷ lệ hộ nghèo ở Định Hóa còn cao Từ năm 2001 – 2005,
số hộ nghèo của toàn huyện là 4.707 hộ (chiếm 23,76%) Trong đó, khu vực thị trấn
là 111 hộ (chiếm 0,56%), khu vực nông thôn là 4596 hộ (chiếm 23,2%) (1)
Giai đoạn 2006 – 2010, tổng số hộ nghèo trên toàn huyện là 9.057 hộ chiếm 41,63%, khu vực thị trấn là 721 hộ chiếm 1,25%, khu vực nông thôn là
8786 hộ chiếm 40,38% (2)
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo là do kinh tế của huyện còn chậm phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, kết cấu kinh tế hạ tầng còn kém, các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu…
Về Giáo dục và đào tạo, trong những năm gần đây, do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với chương trình kiên cố hóa trường lớp học, cơ sở vật chất các trường được xây dựng khang trang hơn Hiện nay, không còn lớp học tranh tre Đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các xã đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ thu hút vì vậy các giáo viên yên tâm công tác Chất lượng dạy và học hàng năm được nâng lên, toàn huyện có 02 trường Trung học phổ thông: Trung học phổ thông Định Hóa (thị trấn Chợ Chu); Trung học phổ thông Bình Yên (xã Bình Yên) và 71 trường của 03 cấp học (trung học cơ sở, tiểu học và mầm non) Hiện nay, huyện mới tập trung xây dựng được 38 trường đạt chuẩn quốc gia, phần còn lại cơ sở vật chất đã xuống cấp nghiêm trọng không đảm bảo cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh trên địa bàn Đặc biệt, công tác xây
( 1 ) Theo Quyết định số 1143/2000/ QĐ – LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/ tháng; Vùng đồng bằng 100.000 đồng/ người/tháng; vùng thành thị 150.000 đồng/ người/tháng)
( 2 ) Theo Nghị quyết 06/NQ- CP ngày 06/05/2005 (Khu vực nông thôn: Những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 200.000 đồng/tháng trở xuống là hộ nghèo
Trang 32dựng trường chuẩn còn chậm so với tiêu chỉ tiêu chung trên địa bàn toàn Tỉnh
do nguồn kinh phí còn quá hạn hẹp
Bảng 1.2: Tình hình phát triển của ngành Giáo dục trong 3 năm học
Trang 33Về y tế: toàn huyện có 02 trung tâm y tế, 01 bệnh viện Đa khoa và 01, 01 phòng khám đa khoa phía nam (xã Bình Yên), 01 trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình, 24 trạm y tế thuộc các xã, thị trấn Số bác sỹ tính bình quân toàn huyện là 6,3 bác sỹ/10.000 dân, mỗi trạm y tế có 8,5 cán bộ, các trạm y tế ở 24
xã, thị trấn đều có bác sỹ Ngành y tế có nhiều nỗ lực trong việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại như: Việc đầu tư trang thiết bị máy móc để đáp ứng tiến bộ khoa học công nghệ còn hạn chế, đội ngũ cán bộ ở các trạm y tế chuyên môn chưa cao, nên dẫn đến việc quá tải cho bệnh viện đa khoa trung tâm
Ngành văn hóa Thông tin đã bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của đất nước
và của huyện, kịp thời đưa tin về việc tổ chức thành công các ngày lễ lớn, các lễ hội của địa phương, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Phong trào thể thao được duy trì và nhân dân tích cực tham gia Tính đến năm 2015, toàn huyện có hơn 65 Câu lạc bộ thể dục, thể thao trên toàn huyện (trong đó: 10 CLB Bóng đá; 14 CLB Bóng chuyền; 15 CLB Cờ tướng; 26 CLB Cầu lông), 30 sân bóng đá ở các xã, thôn bản, 150 sân cầu lông, bóng chuyền được duy trì thường xuyên Hàng năm, các đơn vị cơ sở, đội tuyển của huyện được tổ chức luyện tập và tham dự ngày hội văn hoá các dân tộc tỉnh Thái Nguyên; giải việt dã, giải bóng đá và các giải thể thao của cấp huyện, tỉnh tổ chức đạt kết quả cao Tuy nhiên, nhìn chung cở sở vật chất và các thiết bị đáp ứng cho nhu cầu hoạt động thể dục, thể thao từ huyện đến cơ sở còn quá thiếu thốn, hơn nữa do đặc thù của huyện diện tích rộng, giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là trong mùa mưa, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nên điều kiện phát triển văn hóa thể thao còn hạn chế
Trên địa bàn huyện Định Hóa có 13 tộc người cùng sinh sống Trong đó dân tộc thiểu số chiếm số đông với 70,4% (dân tộc Tày chiếm tỷ lệ cao nhất với 46% tổng dân số), các dân tộc khác như: Kinh, Nùng, Cao Lan, San Chí,
Trang 34Dao,Mông, Sán Dìu… Mỗi dân tộc có nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa…, đã tạo thành bức tranh đa sắc màu, đó là tiềm năng phong phú
về văn hóa phi vật thể của huyện
Là cư dân bản địa, người Tày Định Hóa cư trú ở tất cả các xã trong huyện Riêng các xã Linh Thông, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Bình Yên, Lam Vỹ, số người Tày cư trú chiếm trên 90% so với dân cư trong xã Nguồn sống chính của người Tày là nên kinh tế nông nghiệp trồng trọt với phương thức anh tác ruộng nước, kêt hợp gieo trồng các loại hoa màu trên đất dốc và vườn đồi Bên cạnh canh tác lúa nước người Tày còn làm nương, soi bãi trồng các loại ngũ côc như: ngô, khoai, sắn, đỗ…Sau trồng trọt chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng của người Tày Gắn liền với nông nghiệp, người Tày còn có một sơ nghề thủ công truyền thống (kéo sợi, dệt vải, đan lát, làm mộc, rèn đúc…) chế tạo các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày
Trước đây người Tày ở nhà sàn quần tụ thành các bản, làng, nhưng những năm gần đây do việc chặt phá rừng dẫn đến vật liệu lần nhà sàn ngày càng ít ỏi và tác động của việc đô thị hóa, nên hện nay đa số ở nhà xây, số ít ở nhà tranh tre Quan hệ cộng đồng là quan hệ đặc trưng nổi bật trong các xóm, bản của người Tày Người Tày trong các xóm, bản có những mối liên hệ chặt chẽ trong các khía cạnh của đời sống, từ lao động sản xuất đến các hoạt động văn hóa, tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng… Người Tày cũng rất coi trọng tình làng, nghĩa xóm, tất cả công việc quan trọng của cộng đồng (làm nhà mới, cưới xin, ma chay…) đều được coi là công việc chung của cả cộng đồng
Dân tộc Kinh ở huyện Định Hóa có số dân đông thứ hai sau dân tộc Tày Người Kinh đến định cư ở huyện Định Hóa theo nhiều con đường khác nhau Một số quan lại được triều đình phong kiến cử lên cai quản vùng Định Hóa đã mang theo gia đình, họ hàng trong dòng tộc Một số thương nhân lên làm ăn buôn bán rồi ở lại Định Hóa Đầu thế kỉ XX do hậu quả của cuộc khai thác
Trang 35thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều nông dân bị bần cùng hóa ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định,Hưng Yên phải rời bỏ quên hương lên Định Hóa khai phá ruộng đất để làm ăn Trong kháng chiến chống Pháp Định Hóa là nơi tiếp nhận các cơ quan Trung ương và đồng bào ở các tỉnh miền xuôi, sau khi hòa bình lập lại một số cán bộ và nhân dân không hồi cư mà vẫn ở lại với Định Hóa Trong những năm 1963 – 1965, thực hiện chủ trương vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế - văn hóa miền núi của Đảng và Chính phủ, huyện Định Hóa đã đón 3.500 đồng bào miền xuôi (chủ yếu là đồng bào Thái Bình) lên khai hoang, xây dựng quên hương mới, thành lập 25 đội sản xuất độc lập một số ghép vào đội sản xuất cùng với địa phương
Dân tộc Kinh cư trú ở hầu khắp các xã trong huyện, chủ yếu tập trung ở thi trấn Chợ Chu và ven các trục đương giao thông, thành lập các làng riêng biệt Một số khác cư trú xen kẽ với người Tày, Nùng và các dân tộc khác
Người Kinh ở huyện Định Hóa không có các làng chuyên sống bằng nghề thủ công như ở đồng bằng Tuy nhiên, nhiều gia đình trong huyện có làm nghề đan lát Làm mộc một số gia đình có nghề làm bún, bánh đa, đậu phụ…
Các hoạt động chăn nuôi, thủ công gia đình đang dần thoát khỏi vai trò và
là các nghề hỗ trợ Tuy nhiên đa số người Kinh trong huyện vẫn sống bằng nghề làm ruộng, trồng chè và các loại cây công nghiệp
Dân tộc Sán Chay (gồm hai nhóm địa phương là Cao Lan và Sán Chí) là cộng đồng mới di cư từ Trung Quốc sang Viêt Nam cách đây vài trăm năm Đến Định Hóa họ có mặt ở hầu khắp các xã, đông nhất là ở xã Tân Thịnh (64,8%) và các xã khác Hoạt động kinh tế chủ đạo là trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm
Dân tộc Nùng chuyển cư đến Định Hóa trong nhiều thế kỷ, nhưng chủ yếu vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Người Nùng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ với người Tày Họ ở nhà sàn, ăn cơm tẻ với
Trang 36những thực phẩm như măng, rau rừng, thú rừng Người Nùng sống tập trung thành từng bản theo các triền núi, ven sông, có mặt ở hầu khắp các xã trong huyện Người Dao cư trú ở 12/24 xã, thị trấn chủ yếu ở xã Phúc Chu, Kim Sơn, Tân Thịnh Trước đây, Người Dao có tập quán du canh, du cư, sinh sống bằng canh tác nương rẫy Họ trồng các loại cây lương thực (lúa, ngô, kê, cao lương), các loại hoa màu (khoai, sắn) các loại đậu, rau Đa số người Dao cư trú ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn và kha phân tán Những năm gần đây với chính sách định canh định cư người Dao đã sinh sống ổn định, việc canh tác đã thay đổi, họ trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm, bán các loại thuốc chữa bệnh
Dân tộc Hoa ở Định Hóa có sơ lượng đông nhất so với các huyện, chiếm 48,86% tổng dân số tỉnh Thái Nguyên, tập trung chủ yếu ở thị trân Chợ Chu và các xã Kim Phượng , Bảo Cường, Tân Dương, Kim Sơn
Dân tộc Sán Dìu mới đến cư trú tại huyện Định Hóa từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX và cư trú ở 14/24 xã thị trấn Họ thường cư trú sâu trong bản với nghề nông là chính
Mặc dù có những nét riêng biệt, nhưng các dân tộc huyện Định Hóa đã sống gần giũi, quy tụ bên nhau, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau nhiều mặt trong cuộc sống Từ việc ma chay, cưới hỏi,… cho đến việc làm nhà, đào mương dẫn nước vào ruộng… đều có quan tâm, thăm hỏi và giúp đỡ lẫn nhau Mỗi dân tộc có một kho tàng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống và có tác dụng tích cực trong việc góa dục nhân cách con người
Nhìn chung các dân tộc trên địa bàn huyện Định Hóa sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và đồi rừng, trình độ dân trí chưa cao, dân sinh thấp, việc áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất còn nhiều hạn chế, kinh tế còn chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Trang 37Tiểu kết chương 1
Định Hóa là một huyện miền núi cách thành phố Thái Nguyên 50 Km về phía Tây – Bắc, mặc dù đã có đường nhựa, nhưng đường quanh co, khúc khuỷu, hẹp, nên không thuận tiện cho việc đi lại, trao đổi lưu thông hàng hóa
Nông nghiệp là ngành kinh tế chính của huyện Tuy nhiên, diên tích đất nông nghiệp phân tán, đất sản xuât nông nghiệp trên hộ gia đình còn quá thấp (0,46 ha/hộ) Trên địa bàn huyện không có khu công nghiệp, chủ yếu là sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhưng trình độ sản xuất còn yếu chưa mang tính chuyên nghiệp nên sản phẩm tiêu thụ ra thị trường còn hạn chế Hệ thống khu
du lịch chưa được quy hoạch tổng thể và chi tiết, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn nhiều bất cập Thu ngân sách trên địa bàn không đáng kể nên hoạt động sản xuất kinh doanh còn yếu kém, việc đầu tư trang thiết bị, máy móc để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ chưa đồng bộ
Thêm vào đó, điều kiện xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, dân sinh thấp, vẫn còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong các ngành còn hạn chế Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm ổn định còn cao, nhiêu vấn đề
về giáo dục, y tế, trật tự an ninh còn bất cập…
Bên cạnh những khó khăn trên, Định Hóa cũng có những thuận lợi cơ bản: nhân dân các dân tộc đoàn kết, cần cù lao động, đời sống văn hóa tinh thần phong phú, giàu truyền thống Lực lượng lao động dồi dào, các tiềm năng về đất đai, du lịch phong phú
Mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế, nhưng những thành kinh tế - xã hội đạt được trong những năm đổi mới đất nước, đặc biệt là trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là những cơ sở, điều kiện để huyện tiến hành công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đạt được kết quả
Trang 38Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN CƯ Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN (2001 – 2013)
2.1 Chủ trương của Trung ương về việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
2.1.1 Khái niệm văn hóa dân cư và xây dựng đời sống văn hóa dân cư
Văn hóa là một phạm trù xã hội rộng lớn, gắn liền với đời sống con người,
do con người tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái
niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và
theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do
con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Trang 39[23, tr 431] Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một
số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ
về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise”
Văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong giáo dục con người và hoàn thiện xã hội Nhờ có văn hóa, con người có thể được truyền đạt những tri thức và kinh nghiệm sống, những chuẩn mực giá trị của nhân loại cho cá nhân và cộng đồng Trải qua quá trình lịch sử, những tri thức, những kinh nghiệm được đúc kết thành những chuẩn mực, giá trị như đạo đức, pháp luật…, một phần được hun đúc thành phong tục, tập quán, lễ nghi và được chuyển tải trong ngôn ngữ thẩm thấu vào đời sống xã hội
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI (12/1986), quan điểm của Đảng ta vừa có sự kế thừa, vừa có những nhận thức mới, quan điểm về văn hóa Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhận loại, dựa trên định hướng phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đổi mới tư duy về văn hóa, tiến đến nhận thức mới, sâu sắc, toàn diện về văn hóa và vai trò của nó với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong thời kì đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Quan điểm của Đảng về vị trí vai trò của văn hóa hàm chứa nội dung lí luận thực tiễn sâu sắc, vừa bổ sung, phát triển lí luận văn hóa Mácxít, vừa tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của thời đại, đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước ta trong thời kì đổi mới
Trang 40Đời sống văn hoá là cụm từ mới được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX Tiền thân của cụm từ này là cụm từ đời sống mới, tiêu đề của bài viết dưới dạng hỏi - đáp, công bố năm 1947, tác giả Tân
Sinh, một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bối cảnh ra đời cụm từ này là dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vùng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đánh đổ thực dân Pháp và tầng lớp thống trị phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945) Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sử dụng từ mới thay cho từ văn hoá để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho
việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945
Năm 1987, cuốn sách Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã luận giải: "Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu
hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người" Năm
2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra
khái niệm: "Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu
tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa
của nó) Năm 2007, cuốn Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho
rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các "tế bào" trong mỗi cộng đồng,
từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”
Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người
tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng