1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây sơn đậu tại huyện nguyên bình tỉnh cao bằng

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nảy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm; - Đánh giá được ảnh hưởng của t

Trang 1

––––––––––––––––––––––––

BÙI TẤT KHOA

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

TRONG NHÂN GIỐNG CÂY SƠN ĐẬU

TẠI HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS Bùi Lan Anh

Thái Nguyên - năm 2018

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các thông tin trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc trích dẫn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Tất Khoa

Trang 3

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Đại học Thái Nguyên, Ban Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng Đào tạo sau đại học, các cán bộ & giáo viên Khoa Nông học thuộc trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Bùi Lan Anh – người giáo viên tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian định hướng và chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy Ban nhân dân huyện Nguyên Bình - tỉnh Cao Bằng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực hiện đề tài

Xin gửi tấm lòng tri ân tới Gia đình của tôi Những người thân yêu trong Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao, là những người truyền nhiệt huyết, luôn dành cho tôi sự quan tâm, sự trợ giúp trên mọi phương diện để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Bùi Tất Khoa

Trang 4

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết……… 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài……… 2

2.1 Mục đích của đề tài……… 2

2.2 Yêu cầu của đề tài……… 2

3 Ý nghĩa của đề tài……… 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU……… 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài……… 4

1.2 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học và yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu……… 4

1.2.1 Nguồn gốc của cây Sơn đậu……… 4

1.2.2 Phân bố của cây Sơn đậu……… 5

1.2.3 Đặc điểm thực vật học……… 6

1.2.4 Yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu……… 6

1.2.5 Phòng trừ sâu bệnh hại trên cây Sơn đậu……… 7

1.3 Công dụng và tình hình sản xuất thuốc từ cây cây Sơn đậu trên thế giới và Việt Nam……… 8

1.3.1 Công dụng của cây Sơn đậu trên thế giới và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu……… 8

1.3.2 Công dụng của cây Sơn đậu ở Việt Nam và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu……… ……… 9

1.3.3 Tình hình nghiên cứu dược liệu tại Cao Bằng……… 12

1.4 Tình hình nghiên cứu về nhân giống và việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong nhân giống cây Sơn đậu……… 14

1.5 Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ tổng quan……… 15

Trang 5

2.1 Vật liệu nghiên cứu……… 17

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu……… 19

2.3 Nội dung nghiên cứu……… 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu……… 20

2.5 Phương pháp xử lý số liệu……… 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 29

3.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nẩy mầm và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 29

3.1.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu 29

3.1.2 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến thời gian nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 30

3.1.3 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến số cành lá/cây Sơn đậu……… 31

3.1.4 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn đậu… …… 36

3.2 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nẩy mâm và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 41

3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến thời gian nẩy mâm của hạt Sơn đậu……… 41

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu……… …… 42

3.2.3 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến số cành lá/cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 43

3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến chiều cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… ……… 43

3.3 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mâm và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 44

3.3.1 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mâm của hạt Sơn đậu……… 44

Trang 6

hạt Sơn đậu……… …… 45 3.3.3 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu

3.3.4 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… ……….… 49 3.3.5 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….… 51 3.3.5.1 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 51 3.3.5.2 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 52 3.3.5.3 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 53 3.3.5.4 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 55 3.4 Tình hình sâu bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 58 3.4.1 Thành phần các loài sâu bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn

3.4.2 Tỷ lệ cây Sơn đậu bị hại do sâu bệnh gây ra trong giai đoạn vườn ươm 59 3.4.3 Mật độ sâu hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 59 3.4.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh thối rễ cây Sơn đậu do nấm

3.4.5 Hiệu lực phòng trừ sâu róm hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm 62 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 65 KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ……… 68

Trang 7

Bộ NN&PTNT = Bộ NNPTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

Trang Bảng 3.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 29 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến thời gian nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 30 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến số cành lá/cây Sơn đậu… 32 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn đậu.… 37 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến tỷ lệ nẩy mầm

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến số cành lá/cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 43 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến chiều cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… ……… 44 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mâm của

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 47 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… ……….… 49 Bảng 3.12 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 52 Bảng 3.13 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….………… 52 Bảng 3.14 Ảnh hưởng số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……….……… 53

Trang 9

cao cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm.……… 56 Bảng 3.16 Thành phần các loài sâu bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn

Bảng 3.17 Tỷ lệ cây Sơn đậu bị hại do sâu bệnh gây ra trong giai đoạn vườn ươm 59 Bảng 3.18 Hiệu lực của một số thuốc BVTV trong phòng trừ nấm gây bệnh

Bảng 3.19 Ảnh hưởng của việc xử lý đất bằng nấm đối kháng Trichoderma

viride đến tỷ lệ nẩy mầm và khả năng ức chế bệnh thối rễ do nấm Fusarium

Bảng 3.20 Hiệu lực phòng trừ sâu róm hại cây Sơn đậu……… 63

Trang 10

Trang Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 30 Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến thời gian nẩy mầm của hạt Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm……… 31 Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến số cành lá/cây Sơn đậu

Biểu đồ 3.10 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Biểu đồ 3.11 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Biểu đồ 3.12 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Biểu đồ 3.13 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Trang 11

đậu (sau nẩy mầm 5 tháng)……… 39 Biểu đồ 3.15 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Biểu đồ 3.16 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến chiều cao cây Sơn

Biểu đồ 3.17 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến thời gian

Biểu đồ 3.18 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 1 tháng)… ……… 47 Biểu đồ 3.19 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 2 tháng)… ……… 48 Biểu đồ 3.20 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến số cành lá/cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 3 tháng)… ……… 48 Biểu đồ 3.21 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 1 tháng)……… …… 49 Biểu đồ 3.22 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 2 tháng)……… …… 50 Biểu đồ 3.23 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu (sau nẩy mầm 3 tháng)……… …… 51 Biểu đồ 3.24 Số cành lá/cây sau nẩy mầm 1 tháng (ở các công thức xử lý

Trang 12

lần, 3 lần và 5 lần)……… 57 Biểu đồ 3.29 Chiều cao cây sau nẩy mầm 3 tháng (ở các công thức xử lý 1

Biểu đồ 3.30 Mật độ sâu hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm…… 60

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sơn đậu hay còn gọi là Sơn đậu căn, Đậu gốc núi, Quảng đậu căn, Hòe

bắc bộ, Hòe bắc có tên khoa học là Sophora tonkinensis Gagnep hay là Sophora

subprostrata Chu etT Chen, Pophora subprostrata Chu etT Chen còn gọi

là Sophorasub subprosrlata Chu etT Chen [20] hoặc Sophora tetraptera [22],

thuộc họ đậu (Lleguminosae hay Fabaceae), bộ đậu (Fabales)

Sơn đậu lần đầu tiên được ghi nhận trong Kaibao Bencao vào năm 973 trước công nguyên (973 AD) [22] Cây Sơn đậu là loại thuốc quý trong y học cổ truyền của Trung Quốc và Nhật Bản Rễ Sơn đậu được sử dụng để giảm sốt, giải độc, chữa viêm họng, viêm lợi , viêm loét dạ dày và nhuận tràng [14]

Theo y học hiện đại, trong rễ Sơn đậu có nhiều các alkaloid như: matrine, oxymatrine, sophocapine [12], [13], [21] có tác dụng chống ung thư và ức chế

sự phát triển của khối u, điều trị các bệnh viêm gan siêu vi trùng, rối loạn nhịp tim, viêm da [15],[16],[23]

Ở Trung Quốc, Sơn đậu là một trong những cây thuốc quan trọng đã được nghiên cứu rất kỹ về thành phần hóa học của rễ cây Sơn Đậu bao gồm: các alkaloid [19], flavonoid [17], saponin [18] và polysaccharides

Ở Việt Nam, Sơn đậu là loại cây quý hiếm, phân bố hẹp (trên đỉnh núi đá vôi ở Trùng Khánh – Cao Bằng; Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ - Hà Giang; một

số dảo thuộc Vịnh Hạ Long – Quảng Ninh; Nho Quan - Ninh Bình; Sơn Trà -

Đà Nẵng …), trữ lượng không lớn, lại thường bị khai thác bừa bãi nên cây Sơn đậu có trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 [10] với cấp độ sẽ nguy cấp (VU – Vulnerable) Ở Việt Nam, Sơn đậu có ở: Cao Bằng (Hạ Lạng, Trùng Khánh); Hà Giang( Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh (các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình (Nho quan); Đà Nẵng (Sơn trà), [10]

Trang 14

Sơn đậu là cây khó nhân giống do hạt Sơn đậu nhanh mất sức nẩy mầm Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc phát triển nguồn dược liệu cây Sơn đậu tập

trung, ổn định và bền vững việc “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây Sơn đậu tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là rất cần

- Xác định được thành phần, tần suất xuất hiện của các loài sâu bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm Trên có sở đó, xác định được hiệu quả của một số thuốc BVTV trong phòng trừ những loài gây hại chính

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nảy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm;

- Đánh giá được ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nảy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm;

- Đánh giá được ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy mầm của hạt và sinh rưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Trang 15

- Xác định được thành phần, tần suất xuất hiện của các loài sâu bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm Trên có sở đó, xác định được hiệu quả của một số thuốc BVTV trong phòng trừ những loài gây hại chính

3 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu xác định được thời điểm gieo trồng thích hợp; đã lựa chọn được chất kích thích sinh trưởng thích hợp nhất trong nhân giống cây Sơn đậu nhằm nâng cao khả năng nẩy mầm và chất lượng cây con giống Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra được thành phần các loài sâu, bệnh hại cây Sơn đậu và hiệu lực của một số thuốc BVTV trong phòng trừ những loài gây hại chính

Các kết quả này, không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà còn là cơ sở để người nông dân, các doanh nghiệp có sự lựa chọn về kỹ thuật và phương thức canh tác phù hợp nhất nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của cây Sơn đậu theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Sơn đậu là loại cây dược liệu quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên số lượng cây Sơn đậu ngày càng khan hiếm

Sơn đậu là loài thực vật ưa sáng, chỉ phân bố trên đỉnh núi đá vôi và khó nhân giống vì: hạt nhanh mất sức nẩy mầm sau khi thu hoạch Song việc nghiên

về ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt, thời gian bảo quản hạt giống và ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt giống, đến sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm đến nay cũng chưa được đề cập và nghiên cứu

Sơn đậu là loại cây lâu năm Trong quá trình sinh trưởng, phát triển bị nhiều loại sâu, bệnh xuất hiện và gây hại Nhưng cho đến hiện nay, chưa có tác giả nào đền cập đến thành phần các loài sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên cây Sơn đậu

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây Sơn đậu tại huyện Nguyên Bình tỉnh Cao bằng”

1.2 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học và yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu

1.2.1 Nguồn gốc của cây Sơn đậu

Sơn đậu là cây có nguồn gốc ở nhiệt đới nóng ẩm, Sơn đậu mọc hoang dại

đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa và các tỉnh miền Bắc nước ta cho đến tận

Đà Nẵng Sơn đậu là cây ưa sáng, chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng,

Trang 17

thường mọc ở núi đá vôi hay các sườn đồi khô cằn ở độ cao dưới 1000m Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới (nguyên sản là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc)

1.2.2 Phân bố của cây Sơn đậu

Sơn đậu là loài cây dược liệu quý hiếm, mọc rải rác trên các sườn núi đá vôi thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm phía Nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam

Cây Sơn đậu sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nóng ấm của vùng

nhiệt đới (nguyên sản của cây Sơn đậu – Sophora tonkinensis là phía Bắc Việt

Nam và phía Nam Trung Quốc)

Trước năm 1950, Sophora tonkinensis được phân bố ở 21 châu của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc Sau đó, các nguồn tài nguyên Sophora tonkinensis

hoang dã bị giảm nhanh chóng do người dân gia tăng việc khai thác sử dụng làm

thuốc và xuất khẩu Cho nên, trong những năm của thập niên 1980, Sophora

tonkinensis hoang chỉ còn ở 10 châu và đến năm 2002 chỉ còn ở 4 châu thuộc

tỉnh Quảng Tây – Trun Quốc Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho giá dược

liệu Sơn đậu tăng nhanh: năm 2002, 1 kg Sơn đậu (Sophora tonkinensis) tươi có

giá 4 – 5 nhân dân tệ (khoảng 0,63 USD/kg tươi); đến năm 2013, có giá là 80 nhân dân tệ (khoảng 12,6 USD/kg tươi) Trước thực tế đó, để đáp ứng nguồn nguyên liệu dược Sơn đậu trong nước và xuất khẩu, Chính Phủ Trung Quốc đã

và đang có nhiều chính sách khuyến khích trồng cây Sơn đậu với quy mô lớn Nhưng vấn đề này hiện nay vẫn đang gặp khó khan do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cây giống

Ở Việt Nam, cây Sơn đậu phân bố hẹp ở: Cao Bằng (Hạ Lạng, Trùng Khánh); Hà Giang (Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh (các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình (Nho quan); Đà Nẵng (Sơn trà), Trữ lượng cây Sơn đậu trong tự nhiên hiện còn không đáng kể do người dân khai thác tận

Trang 18

diệt (lấy cả cây to, cây con, hạt, quả và rễ) để bán sang Trung Quốc Chính vì vậy, loại cây dược liệu quý này có nguy cơ bị tuyệt chủng [10]

Cụm hoa mọc thành chùm ở nách lá, dài 12-15cm, hoa cánh bướm màu vàng trắng, đài hoa hình chuông bên ngoài có lông Tràng hoa mầu vàng

Quả màu tím đen, thành chuỗi, dài 4 cm, có lông, tự mở, có chứa hạt hình trứng, đen bóng Thời kì hoa là tháng 5-7, thời kì quả là tháng 8-12

1.2.4 Yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu

Sơn đậu là cây thuốc nhiều năm (3-4 năm mới cho thu hoạch), bộ phận thu làm thuốc là bộ rễ Do vậy nên chọn đất có tầng đất trồng dày, đất có kết cấu, thoát nước tốt, vùng trồng đủ ánh sang [14]

Phân bón lót cho 1 ha: Phân chuồng 10-12 tấn/ha Phân chuồng phải được

ủ hoai mục, có thể sử dụng phân xanh bổ xung để làm tơi xốp đất Rắc đều phân lên trên luống trước khi vun đất lên luống, dùng cuốc lên luống lấp kín phân

+ Phân bón vô cơ: Năm thứ nhất dùng 80kg đạm urê/ha hòa nước tưới vào từng hốc cho giai đoạn cây trong vườn ươm Từ năm thứ 2 trở đi thì mỗi năm bón 2 lần vào tháng 2-4 tháng 8-9, sử dụng phân tổng hợp bón vào gốc cây, mỗi lần bón khoảng 250kg NPK

Trang 19

Năm đầu là thời kỳ cây con trong vườn ươm nên chỉ bón phân đạm (urê), mỗi gốc bón 5g Từ năm thứ 2 trở đi trên ruộng sản xuất bón phân tổng hợp NPK, bón 2 lần/năm:

+ Lần 1 bón vào tháng 2-4 và bón sau khi đã làm sạch cỏ

+ Lần 2 bón vào mùa thu (khoảng tháng 9), mỗi lần bón 25g/ hốc

1.2.5 Phòng trừ sâu bệnh hại trên cây Sơn đậu

Hiện nay trên cây Sơn đậu đã phát hiện ra 2 loại bệnh do vi khuẩn gây ra:

Bệnh thối rễ (Root rot) và bệnh Sclerotium rolfsii

- Bệnh thối rễ nguyên nhân là do vi khuẩn xâm nhập vào bộ rễ gây ra thối, làm cho nước và chất dinh dưỡng không vận chuyển được từ đó dẫn đến bộ phận trên mặt đất bị héo và chết Bệnh gây hại cả năm nhưng hại nghiêm trọng nhất là vào mùa hè và mùa thu Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng thuốc Chlorothalonil pha loãng với nước 500 lần rồi tưới vào gốc

- Bệnh Sclerotium rolfsii gây hại cả thân và bộ rễ của cây, khiến cho tại

vết bệnh của bộ phận bị hại chuyển sang màu nâu, sau đó sẽ bị thối Bệnh phát sinh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm đều cao Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng Carbendazim pha loãng với nước 800 lần rồi tưới vào gốc hoặc phun dưới dạng sương mù

- Sâu hại Sơn đậu căn có 4 loại chính: Sâu bore hại thân cành, sâu bore hại quả, nhện đỏ và côn trùng cánh cứng

+ Sâu bore hại thân cành: Sâu non (ấu trùng) đục thân và cành tạo thành khoảng trống trong thân (làm thân rỗng) Kết quả là làm bộ phận trên mặt đất bị khô và chết do quá trình vận chuyển nước và vật chất trong thân bị ngăn cản Trên bề mặt nơi bị bệnh tấn công sẽ thấy có vệt kéo dài màu trắng Phòng trừ bệnh này bằng cách là bắt ấu trùng tuổi nhỏ và trứng của chúng (thường tiến hành vào tháng 4-6) hoặc dùng thuốc Lorsban pha loãng nước 800 lần phun dưới dạng sương mù hoặc tưới trực tiếp

Trang 20

+ Sâu bore hại quả: Sâu này hại vào thời kỳ hoa quả Cách phòng trừ tương tự như đối với sâu bore hại thân cành

+ Nhện đỏ: Chúng gây hại gần như quanh năm, chúng tập chung chủ yếu

ở phía sau mặt lá và gây hại bằng cách chích hút làm cho mặt trên của lá xuất hiện các đốm trắng (chuyển từ màu xanh lục sang màu trắng), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình quang hợp của cây

+ Côn trùng cánh cứng: Xuất hiện quanh năm, chúng tập chung gây hại vào các bộ phận còn non của cây như lá non…bằng cách chích hút, khiến cho lá non

bị quăn lại (bị biến dạng) [14]

1.3 Công dụng và tình hình sản xuất thuốc từ cây Sơn đậu trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Công dụng của cây Sơn đậu trên thế giới và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu

Theo kinh nghiệm truyền thống và y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, rễ Sơn đậu được sử dụng để giảm sốt, giải độc, chữa viêm họng, viêm lợi, viêm loét dạ dày và nhuận tràng

Ở Thái Lan và Việt Nam, nước sắc lá dùng uống để làm cho dễ sinh đẻ

Ở Malaixia, người ta dùng hạt có vị đắng làm thuốc trị các bệnh về ngực

và như là thuốc chống độc và bổ

Ở Inđônêxia, cây được dùng làm thuốc diệt côn trùng

Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ được dùng trị viêm ruột, ỉa chảy, đầy bụng, đau dạ dày, đau hầu họng

Theo y học hiện đại, trong rễ Sơn đậu có nhiều các alkaloid như: matrine, oxymatrine, sophocapine,… có tác dụng chống ung thư và ức chế sự phát triển của khối u, điều trị các bệnh viêm gan siêu vi trùng, rối loạn nhịp tim, viêm da

Trang 21

Ở Trung Quốc, Sơn đậu là một trong những cây thuốc quan trọng đã được nghiên cứu rất kỹ về thành phần hóa học của rễ cây Sơn đậu bao gồm: flavonoid; polysaccharides, saponin và các alkaloid

Độc tính của alkaloid (matrine và oxymatrine) trong rễ Sơn đậu rất thấp

và ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương rất nhẹ, cụ thể: LD50 đối với chó là 650 mg, với người là 40g/ngày

Sơn đậu ít có tác dụng phụ Khi sử dụng ở liều lượng quá nhiều, nó có thể làm phát sinh một số triệu chứng về tiêu hóa như: buồn nôn, nôn, táo bón, đôi khi, chóng mặt, rụng tóc, và phát ban Các tác dụng phụ liên quan đến liều lượng: Khi liều sử dụng là dưới 30 gam mỗi ngày, không có phản ứng bất lợi xuất hiện

Liều dùng của các alkaloid của rễ cây Sơn đậu chiết xuất đối với người là

300 – 600 mg/ngày (tức ở mức 2% alkaloid, điều này tương ứng với 15 – 30g rễ/ngày) Tuy nhiên trong điều trị chứng loạn nhịp tim liều dùng có thể cao hơn, 1.000 – 1.500 mg/lần và ngày dùng 3 lần Đối với một số bệnh nhân bị bệnh hen suyễn, chỉ dùng 100mg/ngày và dùng 3 lần/ngày đã thấy xuất hiện hiện tượng chóng mặt, buồn nôn Nhưng những triệu chứng này cũng nhanh chóng qua đi

mà không cần phải giảm liều hay ngừng điều trị

1.3.2 Công dụng của cây Sơn đậu ở Việt Nam và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu

Bộ phận dùng và thành phần hóa học: Bộ phận dùng là rễ Rễ cây có vị đắng, tính hàn Thành phần hóa học của rễ Sơn đậu chủ yếu là matrin và oxymatrin

Theo Hoàng Tích Huyền (2011) [6], hoạt chất matrin và oxymatrin trong rễ cây Sơn đậu có tác dụng ức chế sự tạo loét ở dạ dày do ức chế tiết acid; có tác dụng làm ổn định màng tế bào khi màng tế bào bị kích thích quá mức, ví dụ trong động

Trang 22

kinh, hen phế quản, các dạng ung thư, các bệnh tự miễn, tắc nghẽn phổi mạn tính, khí thũng phế nang, suy giảm thính lực, nhức nửa đầu, khó ngủ, loạn trương lực cơ v.v…

Theo Đỗ Tất Lợi (2012) [4], Sơn đậu được dùng để trị phát nóng, ho đau

cổ họng, trị hoàng đản cấp tính (hội chứng vàng da cấp tính), sát trùng Ngày dùng 6 – 12g dạng thuốc sắc hay thuốc bột

Theo Trung Y: Lấy rễ khô ngâm nước 4 - 5 ngày, rửa sạch, bỏ hết tạp chất, rễ nhỏ cắt khúc, rễ to chẻ đôi, ủ độ 4 - 5 ngày cho mềm, thái lát mỏng 1 - 2

ly phơi khô Rễ to, nhỏ trộn lẫn với nhau mà dùng

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm 4 - 5 ngày, thái lát mỏng 1

- 2 ly Còn có thể ngậm vào miệng hoặc mài ra uống

* Các bài thuốc đông y ở Việt Nam có thành phần Sơn đậu:

+ Thuốc uống để trị bệnh Sùi Mào Gà:

Bài 1: Dã cúc hoa 30g, thổ phục linh 30g, kim ngân hoa 10g, cam thảo 10g, bản lam căn 10g, sơn đậu căn 10g, xạ can 10g, liên kiều 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, hoàng bá 10g, thương truật 10g, sơn từ cô 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang [6]

+ Thuốc bôi ngoài để trị bệnh Sùi Mào Gà:

Bài 1: Mãxỉ hiện 45g, bản lam căn 30g, sơn đậu căn 30g, khổ sâm 30g, hoàng bá 20g, mộc tặc thảo 15g, bạch chỉ 10g, đào nhân 10g, lộ phong phòng 10g, cam thảo sống 10g, tế tân 10g, sắc đặc lấy nước thấm vào gạc đắp lên tổn thương mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15 phút, 5 lần là 1 liệu trình [6]

Bài 2: Khổ sâm 50g, đậu căn 20g, đào nhân 15g, đan bì 12g, tam lăng 30g, nga truật 30g, mộc tặc 20g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 8 phút, 14 ngày là 1 liệu trình [6]

Trang 23

+ Thuốc chữa bệnh Thủy đậu thể nặng: Thủy đậu mọc dày, sắc tím tối, màu nước đục, xung quanh nốt thủy đậu màu đỏ sẫm, trẻ sốt cao, khát nước, bứt rứt, mặt đỏ, môi hồng, niêm mạc miệng có những nốt phỏng, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ Phép chữa là thanh nhiệt giải độc ở khí phận, lương huyết ở danh phận Dùng bài: kim ngân 12g, liên kiều 8g, sinh địa 12g, xích thược 8g, bồ công anh 16g, chi tử (sao) 8g Sắc uống ngày 1 thang Nếu họng đau gia xạ can 4g, sơn đậu căn 8g Nếu phiền táo gia hoàng liên 8g; táo bón gia đại hoàng 4g; khát nước, miệng khô gia thiên hoa phấn, sa sâm, mạch môn mỗi vị 8 - 12g

+ Bài thuốc hỗ trợ điều trị Mụn trứng cá: Bồ công anh, ngưu hoàng, đại hoàng, sơn đậu căn có tác dụng thanh huyết nhiệt, thanh phế nhiệt, tiêu viêm, tán ứ, trừ nhiệt độc tái lập cân bằng sinh lý da; một số kháng sinh thực vật cũng thường phối hợp trong bài thuốc trị trứng cá như: Kim ngân hoa, Xuyên tâm liên, chi tử

+ Bài thuốc chủ trị ung thư phổi dạng vảy cá: Tảo lưu 15g, Hải tảo 15 g,

tử thảo căn 30 g, tiền hồ 10g, thổ bối mẫu 20g, sơn đậu căn 15 g, nam mộc hương 15g, sơn hiair loa 30g, thảo hà xa 15g, hạ khô thảo 15g

+ Trị họng sưng đau lở loét (do uống rượu quá nhiều): Sơn đậu căn 14g, bạc hà 8g, cam thảo 6g, cát cánh 10g, lien kiều 14g, mạch môn 12g, ngưu bang 12g, trần bì 10g, xạ can 14g

+ Trị họng sưng nghẹt đau: Chi tử, sơn đậu căn, đạm trúc diệp, đăng tâm, lăng tiêu căn, ngài diệp, mỗi vị khoảng 10-12 g trộn đều sắc với rượu hoặc nước uống

+ Hỗ trợ điều trị ung thư gan: Sơn đậu căn 14g, đan sâm 14g, bán chi liên 16g + Hỗ trợ ung thư thực quản: Bán chi liên 14g, bạch hoa xà thiệt thảo 20g, sơn đậu căn 14g, cam thảo 6g

Trang 24

+ Hỗ trợ ung thư mũi họng: Kim ngân hoa 14g, sơn đậu căn 14g, bồ công anh 12g, xạ can 12 g

* Các sản phẩm có thành phần Sơn đậu đã và đang lưu hành trên thị trường Việt Nam:

- OP.Cel, sản phẩm của Mylipha Group [9]

Công dụng: TPCN phòng bệnh, tăng cường chức năng gan, giải độc gan, tăng sức đề kháng, năng lượng của tế bào để hỗ trợ quá trình làm giảm các tác dụng phụ của hóa trị liệu và xạ trị

- CELLOG SP, sản phẩm của Công ty TNHH LOHHA [2]

Công dụng: Giúp thanh nhiệt, giải độc, chống phù nề, bồi bổ gan, hỗ trợ điều trị một số chứng bệnh thông thường như giảm đau, chống viêm, hạ sốt, lợi tiểu và các bệnh ung bướu

- Viên ngừa mụn Hoa Linh của Công ty cổ phần VNG [3] Lư hành toàn quốc theo số 1031/2007/YT_CNTC

Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, tiêu viêm, tán ứ, trừ nhiệt độc tích tụ trên da, tái lập cân bằng sinh lý ở da Hỗ trợ điều trị tận gốc mụn trứng cá, chống mụn trứng cá mọc thêm, ngừa mụn tái phát (bao gồm: mụn trứng cá thông thường; trứng cá bọc; trứng cá đỏ; mụn mủ; mụn cám)

1.3.3 Tình hình nghiên cứu dược liệu tại Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc có độ cao từ 600 - 1.300 m so với mặt nước biển, có diện tích đất tự nhiên lớn 6.690,72 km², trong đó diện tích rừng núi chiếm 90%

Cao Bằng là một trong những nơi sinh trưởng của nhiều loài cây thuốc quý của Việt Nam Theo thống kê của Viện Y học cổ truyền, tỉnh Cao Bằng có hàng nghìn loài cây thuốc quý, chiếm 1/4 -1/3 tổng số các loài cây thuốc Việt

Trang 25

Nam Trong đó, cây Sơn đậu sinh trưởng phát triển tốt ở điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng Cao Bằng

Người dân các huyện giáp biên có trình độ văn hóa thấp, cuộc sống chủ yếu vẫn là tự cung tự cấp Cho nên, để mưu sinh cuộc sống họ đã đổ xô lên rừng tìm cây thuốc, chặt cả cây, nhổ tận gốc rễ cây thuốc đem bán cho Trung Quốc làm cho nguồn tài nguyên dược liệu của tỉnh Cao Bằng bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Theo số liệu thống kê của các cơ quan chức năng tỉnh Cao Bằng mỗi năm ước tính có từ 300 – 500 ngàn tấn dược liệu được khai thác vận chuyển bán sang Trung Quốc Trong vòng 20 năm qua số dược liệu bán sang biên giới ít nhất cũng hàng triệu tấn với giá trị kinh tế rất lớn, có lẽ những con số về sự thất thoát tài nguyên thuốc của tỉnh Cao Bằng cũng là những con số mang tính đại diện cho các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta

* Tình hình nghiên cứu dược liệu tại Nguyên Bình

Cao Bằng nói chung và huyện Nguyên Bình nói riêng có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế rừng, nhiều loại cây dược liệu quý như Hoàng tinh, Ngưu tất, Tam thất, Kim tuyến mọc tự nhiên Tuy nhiên trong quá trình khai thác người dân chưa có ý thức trong việc gây trồng, phát triển một số cây thuốc quí hiếm Bên cạnh đó, cũng chưa có đơn vị nào trên địa bàn tỉnh được giao hoặc chủ động trong việc trồng thử và chế biến các cây thuốc quý Việc nghiên cứu các thành phần hoạt chất, kỹ thuật nhân giống và công nghệ chế biến các loại thuốc đặc hữu cũng chưa đầy đủ, nhất là chưa có mô hình trồng cây thuốc nào để tạo ra sản phẩm có giá trị cho người dân

Vì vậy việc nghiên cứu phát triển dược liệu một cách toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nguyên liệu dược

Trang 26

liệu trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập cho người dân trên trên địa bàn huyện rất cần thiết

1.4 Tình hình nghiên cứu về nhân giống và việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong nhân giống cây Sơn đậu

Biện pháp nhân giống cây Sơn đậu hiện nay chủ yếu là hình thức nhân giống hữu tính (gieo hạt) Biện pháp này đơn giản, dễ làm tốn ít lao động, hệ số nhân giống cao, tuổi thọ của cây cao Nhưng thực tế hiện nay, trên thế giới và Việt Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu về ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt, thời gian bảo quản hạt giống và ảnh hưởng của thuốc kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn

ươm

Chất điều hoà sinh trưởng thực vật (plant growth regulator) là một nhóm chất có bản chất hoá học khác nhau nhưng đều có một tác dụng điều hoà quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan, bộ phận của cây Chất điều hoà sinh trưởng thực vật được chia ra làm 2 nhóm: Các chất kích thích sinh trưởng (Stimulator) và chất ức chế sinh trưởng (Inhibitor) Hai nhóm này có tác dụng đối kháng với nhau về mặt sinh lý Các chất kích thích sinh truởng bao gồm các chất mà ở nồng độ sinh lý có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng của cây (gồm các nhóm chất auxin, gibberellin và cytokinin) Các chất ức chế sinh trưởng gây tác dụng ức chế lên quá trình sinh trưởng của cây (gồm các chất như abcisic acid (ABA), ethylene; các chất phenol, các chất làm chậm sinh trưởng, các chất diệt cỏ, ) Các chất điều hoà sinh trưởng do cây tự tổng hợp gọi là chất tự nhiên, còn các chất do con người tổng hợp bằng con đường hoá học gọi là chất nhân tạo

Chất điều hòa sinh trưởng là khám phá mới trong thế kỷ 20 và đã được ứng rộng rộng rãi trong nhân giống cây trồng nông nghiệp Nhờ có chất điều hòa sinh trưởng, con người đã tác động vào quá trình sinh lý của thực vật để tạo ra của cải vật chất phục vụ con người Trong đề tài này, chúng tôi đã tập trung

Trang 27

nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng ARROW-R, NAA và Comcard đến khả năng nẩy mầm và sinh trưởng của cây Sơn đậu

1.5 Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ tổng quan

Cây Sơn đậu là một loại dược liệu quý, hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng do nạn khai thác dược liệu bừa bãi bán sang Trung Quốc

Từ năm 2014 đến nay, có các tác giả Bùi Lan Anh, Nguyễn Thị Liên, Nông Trung Nghiệp, Đoàn Văn Thuyên và Trần Minh Hòa cũng đã nghiên cứu

về biện pháp kỹ thuật nhân giống và chăm sóc cây Sơn đậu tại Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng Để hoàn thiện quy trình nhân giống cây Sơn đậu, chúng tôi đã nghiên cứu tổng thể một số biện pháp nhân giống cây Sơn đậu tại huyện Nguyên Bình

từ năm 2016 – 2017 để có kết luận chính xác hơn

Để phát triển cây Sơn đậu tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo nguyên liệu cho sản xuất thuốc, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Do điều kiện thời gian có hạn, nên kết quả nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu trong giai đoạn vườn ươm mà chưa nghiên cứu được ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai vườn sản xuất

Trang 28

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu:

- Hạt giống cây Sơn đậu

- Thuốc kích thích sinh trưởng (nẩy mầm, ra rễ): ARROW-R; NAA 1,5%

và Comcard 150WP

+ Thuốc ARROW-R (năng lượng tạo rễ) với thành phần: N 8%; P2O5 8%;

K2O 6%; α Naphthalene Acetic Acid 0,1% và Vitamin B1 0,1% Pha 100 ml nước thuốc với 4 lít nước lã Đây là sản phẩm của Công ty TNHH TM & SX Quang Nông

+ Kích thích tố thực vật α-NAA 99% (Ấn Độ) hay còn gọi là NAA, Naphthaleneaceticd, α-Naphthalene Acetic Acid 99% α-NAA với tác dụng tăng khả năng nảy mầm của hạt giống Pha nồng độ 1,5% để ngâm hạt giống 1 ngày trước khi gieo

+ Comcard 150WP: Chất kích thích sinh trưởng sinh học được chiết xuất

từ cây Lychnis viscaria Pha 1 gói 5 g với 1,0 lít nước lã và ngâm hạt trước khi gieo 1 ngày Nguyên liệu của sản phẩm (dịch chiết cây Lychnis viscaria) nhập từ CHLB Đức

và do Công ty TNHH Hoa Nông Lúa Vàng sản xuất

- Thuốc phòng trừ bệnh thối rễ cây Sơn đậu do nấm Fusarium oxysporium

gây ra: Thuốc Pro Thiram 80WP; Cantop – M5SC; Anvil 5SC; Trizole 75WP

+ Thuốc Pro Thiram 80WP: Hoạt chất Thiram (TMTD) 80%; thuộc nhóm độc 3; tác động của thuốc gồm: nội hấp, tiếp xúc & diệt trừ; thuốc dạng bột thấm nước Thuốc xâm nhập vào cây qua rễ và lá Pha 50 gram nước thuốc vào bình 8 lít nước lã để phun và tưới lên cây bị bệnh Thuốc có xuất xứ từ Bỉ do Công ty

Cổ phần Khử trùng Việt Nam phân phối

+ Thuốc Cantop – M5SC: Hoạt chất Thiophanate – Methyl 93% Thuốc thuộc nhóm thuốc Benzimidazol, nhóm độc 3; tác động của thuốc gồm: nội hấp

Trang 29

& diệt trừ; thuốc dạng bột thấm nước Thuốc xâm nhập vào cây qua rễ và lá Pha

20 ml nước thuốc vào bình 8 lít nước lã để phun và tưới lên cây bị bệnh Thuốc

do Công ty thuốc sát trùng Việt Nam sản xuất và phân phối

+ Thuốc Anvil 5SC: Hoạt chất Hexaconazole với cơ chế tác động là ngăn cản tổng hợp Ergosterol (chất cấu tạo nên màng tế báo nấm bệnh), nấm bị cô lập

và ngừng phát triển và chết Thuốc có tác động lưu dẫn mạnh Thuốc do Công ty Syngenta phân phối

+ Thuốc Trizole 75WP: Hoạt chất Tricyclazole 95%, thuộc nhóm thuốc Triazale, nhóm độc 2 Cơ chế tác động của thuốc: nội hấp, xâm nhập nhanh vào

rễ và cây Thuốc do Công ty cổ phần BVTV Sài gòn phân phối

- Thuốc xử lý đất phòng trừ bệnh thối rễ cây Sơn đậu: Nấm đối kháng

Trichoderma viride với thành phần Trichoderma viride, Trichoderma koningi, Trichoderma harzianum, Trichoderma polysporum

Nấm đối kháng Trichoderma viride ký sinh nấm, kháng sinh, cạnh tranh

chất dinh dưỡng và không gian sống với nấm các loại nấm hại cây trồng; sự chịu đựng các điều kiện bất lợi bằng việc gia tăng sự phát triển của cây và rễ; làm hòa tan và cô lập chất dinh dưỡng vô cơ, cảm ứng sự kháng bệnh, bất hoạt enzyme gây bệnh

- Thuốc phòng trừ sâu róm hại cây Sơn đậu: Thuốc Trebon 10EC; thuốc thảo mộc “Ớt + Tỏi + Gừng”

+ Thuốc Trebon 10EC: Hoạt chất Etofenprox 10% Là thuốc trừ sâu trên lúa, chè, vải, ngô bông, dùng cho các loại sâu như: Sâu cuốn lá, sâu vẽ bùa, sâu xanh, sâu khoang, rầy xanh, rầy nâu, bọ trĩ, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, sâu róm

và rệp muội Pha 12-15ml thuốc với bình 10 lít nước lã

+ Thuốc trừ sâu thảo mộc”Ớt + Tỏi + Gừng” được pha chế theo các bước sau:

Trang 30

Nguyên liệu gồm: 1 kg tỏi, 1 kg ớt, 1 kg gừng và 6 lít rượu trắng 45o Cách làm: Theo các bước sau:

Bước 1: Xay nhỏ và để riêng từng loại nguyên liệu (tỏi, ớt và gừng);

Bước 2: Ngâm từng loại nguyên liệu (tỏi, ớt, gừng) đã được xay nhỏ với rượu trắng theo tỷ lệ 1 kg nguyên liệu + 2 lít rượu Thời gian ngâm 20 ngày Dụng cụ để ngâm phải có nắp đậy kín;

Bước 3: Lọc dung dịch ngâm để riêng từng loại;

Bước 4: Pha dung dịch nước thuốc đêm phun như sau: Ở mỗi loại dung dịch ngâm (ở bước 3), lấy 50 ml cho vào bình 8 lít

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm

2016 đến tháng 6 năm 2017

- Địa điểm: Tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Trang 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Thời gian thu hoạch hạt: Ngày 10 hàng tháng (tức ngày 10/10; ngày 10/11 và ngày 10/12 năm 2016)

- Thời điểm gieo hạt: Gieo hạt vào ngày 15 hàng tháng (15/10, 15/11 và ngày 15/12 năm 2016)

- Địa điểm thực hiện: Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại (mỗi công thức 30 hạt và 3 lần nhắc lại) Tổng số hạt đem gieo trong thí nghiệm là 90 hạt Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn

- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

Trong đó: + Công thức 1: gieo hạt ngày 15/10/2016

+ Công thức 2: gieo hạt ngày 15/11/2016

+ Công thức 3: gieo hạt ngày 15/12/2016

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Thời gian nảy mầm (ngày): Được tính từ ngày gieo cho đến 50% cá thể cây nẩy mầm

+ Tỷ lệ nảy mầm (%):

∑ hạt nẩy mầm

∑ hạt gieo

Trang 32

+ Số cành lá/cây (cành lá/cây): Đếm số cành lá/cây của các cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm (đếm số cành lá sau nẩy mầm 1, 2, 3, 4,5, 6 và 7 tháng)

+ Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc lên đỉnh sinh trưởng của cây Sơn đậu trong vườn ươm Đo chiều cao cây sau nẩy mầm 1, 2, 3, 4,5, 6 và 7 tháng)

2.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Thời gian thu hoạch hạt: Ngày 15/10/2016; 15/11/2016 và 15/12/2016

- Thời gian gieo hạt: Ngày 10/01/2017

- Địa điểm thực hiện: Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 công thức, mỗi công thức 30 hạt với 3 lần nhắc lại Tổng số hạt đem gieo trong thí nghiệm là 90 hạt Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn

- Chỉ tiêu theo dõi:

Trang 33

+ Thời gian nảy mầm (ngày); tỷ lệ nảy mầm (%); số cành lá/cây (cành lá/cây); chiều cao cây (cm): Như mục 2.4.1

2.4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

2.4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Thời gian thu hoạch hạt: Ngày 10/12/2016

- Thời gian xử lý và gieo hạt: Ngày 15/12/2017

- Địa điểm thực hiện: Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 4 công thức, mỗi công thức 60 hạt với 3 lần nhắc lại Tổng số hạt đem gieo trong thí nghiệm là 240 hạt Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn Ở các công thức, hạt giống được ngâm trong thuốc kích thích sinh trưởng 4 giờ

CT4: Xử lý bằng Com Card 150WP

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Thời gian nảy mầm (ngày); Tỷ lệ nảy mầm (%); số cành lá/cây (cành lá/cây); chiều cao cây (cm): Như mục 2.4.1

Trang 34

2.4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Sau hơn một tháng kể từ khi gieo hạt đến khi hạt nẩy mầm ở thí nghiệm thuộc mục 2.4.3.1., chúng tôi sơ bộ đánh giá và lựa chọn thuốc kích thích sinh trưởng ARROR-R để thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây con giống trong giai đoạn vườn ươm”

- Thời gian thu hoạch hạt: Ngày 25/01/2017

- Thời gian xử lý và gieo hạt: Ngày 05/02/2017

- Địa điểm thực hiện: Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 4 công thức, mỗi công thức 60 hạt với 3 lần nhắc lại Tổng số hạt đem gieo trong thí nghiệm là 240 hạt Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn Ở các công thức, hạt giống được ngâm trong thuốc kích thích sinh trưởng 4 giờ

CT2: Xử lý hạt 01 lần bằng ARROW-R trước khi gieo

CT3: Xử lý hạt 03 lần bằng ARROW-R (xử lý 01 lần trước khi gieo; sau gieo 4 ngày và sau gieo 7 ngày tiến hành pha dung dịch ARROW-

R để tưới lên mặt bầu đã gieo hạt)

Trang 35

CT4: Xử lý hạt 05 lần bằng ARROW-R (xử lý 01 lần trước khi gieo; sau gieo 4 ngày, 7 ngày, 10 ngày và 13 ngày tiến hành pha dung dịch ARROW-R để tưới lên mặt bầu đã gieo hạt)

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Thời gian nảy mầm (ngày); tỷ lệ nảy mầm (%); số cành lá/cây (cành lá/cây); chiều cao cây (cm): Như mục 2.4.1

2.4.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

2.4.4.1 Nghiên cứu thành phần, mức độ gây hại của các loài sâu, bệnh hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên với diện tích mỗi ô thí nghiệm 50m2 Trên mỗi ô, lấy 5 điểm trên đường chéo góc, mỗi điểm

có diện tích: dài 1 m và rộng 0,5 m

- Phương pháp theo dõi theo Quy chuẩn của Bộ nông nghiệp & PTNT (QCVN 01-38:2010/BNNPTNT) [1] Thí nghiệm được tiến hành trên các vườn nhân giống ở các thí nghiệm Tại mỗi vườn, điều tra thành phần các loại sâu, bệnh hại xuất hiện ở mỗi lần điều tra

- Chỉ tiêu theo dõi: Mức độ phổ biến của các loài sâu, bệnh hại được đánh giá bằng chỉ tiêu tần suất xuất bắt gặp trong quá trình điều tra

Số lần bắt gặp cá thể của mỗi loài sâu bệnh

Tần suất xuất hiện (%) = x 100 ∑ lần điều tra

Trong đó: < 5% số lần bắt gặp: rất ít (+)

6-25% số lần bắt gặp: trung bình (++) 26-50% số lần bắt gặp: nhiều (+++)

> 50% số lần bắt gặp: rất nhiều (++++)

Trang 36

2.4.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh thối rế cây Sơn đậu do nấm Fusarium oxysporium trong giai đoạn vườn ươm

* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu hiệu lực của thuốc hóa học trong phòng trừ nấm Fusarium oxysporium hại rễ cây Sơn đậu

Thí nghiệm gồm 5 công thức (tương ứng với các thuốc trừ bệnh Fusarium

oxisporium: Pro Thiram 80WP, Cantop-M5SC, Anvil 5SC, Trizole 75 WP) và 3

lần nhắc lại

Phương pháp lấy mẫu điều tra theo dõi được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01 – 38: 2010/BNNPTNT) Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên với diện tích mỗi ô thí nghiệm 50m2 Trên mỗi ô, lấy 5 điểm trên đường chéo góc, mỗi điểm có diện tích: dài 1 m và rộng 0,5 m

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Hiệu lực của thuốc trong phòng trừ nấm được tiến hành: Đếm tổng số cây bị nhiễm bệnh trước khi phun 1 ngày và sau khi phun 7 ngày, 14 ngày và 21

ngày Hiệu lực phòng trừ nấm Fusarium oxysporium gây bệnh thối rễ cây Sơn

đậu trong giai đoạn vườn ươm được tính theo công thức của Tilton

Trang 37

Henderson-(Ta x Cb) Hiệu lực phòng trừ (%) = 1- x 100

(Tb x Ca) Trong đó: Ta là mức độ bệnh (%) ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý

Tb là mức độ bệnh (%) ở công thức thí nghiệm trước khi xử lý

Ca là mức độ bệnh (%) ở công thức đối chứng sau khi xử lý

Cb là mức độ bệnh (%) ở công thức đối chứng trước khi xử lý

* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc xử lý đất bằng nấm đối kháng Trichoderma viride đến tỷ lệ bệnh thối rễ cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Thí nghiệm gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại

Trong đó: Công thức 1 (CT1): Đối chứng (Không xử lý đất)

Trichoderma viride trước khi gieo hạt 5 ngày

Phương pháp lấy mẫu theo dõi tương tự như Thí nghiệm 1 thuộc mục 2.4.4.2

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Tỷ lệ nầy mầm: Được tính theo công thức sau:

 hạt nẩy mầm

 hạt gieo + Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh được tính theo công thức:

Trang 38

 cây bị bệnh

Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = x 100

 cây điều tra

2.4.4.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu róm hại cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

Thí nghiệm gồm 3 công thức (tương ứng với các thuốc trừ sâu: Trebon 10EC & thuốc thảo mộc “Ớt+Tỏi+gừng”) và 3 lần nhắc lại

Phương pháp lấy mẫu điều tra theo dõi được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01 – 38: 2010/BNNPTNT) Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên với diện tích mỗi ô thí nghiệm 50m2 Trên mỗi ô, lấy 5 điểm trên đường chéo góc, mỗi điểm có diện tích: dài 1 m và rộng 0,5 m

+ CT2: Phun thuốc Trebon 10EC

+ CT3: Phun thuốc trừ sâu thảo mộc tự chế “Ớt+Tỏi+Gừng”

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Đếm mật độ sâu trước phun 1 ngày và sau phun 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày Hiệu lực của thuốc sau phun 1, 3 và 5 ngày được tính theo công thức của Henderson – Tilton

(Ta x Cb) Hiệu lực phòng trừ (%) = 1 - x 100

(Tb x Ca)

- Trong đó:

Trang 39

+ Ta là mật độ sâu ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý

+ Tb là mật độ sâu ở công thức thí nghiệm trước khi xử lý

+ Ca là mật độ sâu ở công thức đối chứng sau khi xử lý

+ Cb mật độ sâu ở công thức đối chứng trước khi xử lý

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Tính các giá trị trung bình và một số thống kê cơ bản bằng chương trình

phần mềm trong bảng Excel 2010 Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến khả năng nẩy mầm và sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm

3.1.1 Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn đậu

Tỷ lệ nảy mầm là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cây sơn đậu Một giống cây Sơn đậu tốt ngoài các chỉ tiêu như năng suất, chất lượng tốt thì cần có tỷ lệ nảy mầm cao, sức nảy mầm khỏe Vì tỷ lệ mọc mầm có ảnh hưởng rất nhiều đến mật độ cây trên đơn vị diện tích - một chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất cây Sơn đậu Đồng thời, tỷ lệ mọc mầm cao sẽ giảm chi phí về giống tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất Tỷ lệ mọc mầm cao hay thấp phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: bản chất di truyền của giống, chế độ bảo quản hạt giống, điều kiện ngoại cảnh khi gieo, kĩ thuật gieo

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt Sơn

đậu trong vườn ươm

Qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1.ta thấy : Tại các thời điểm gieo hạt khác nhau, tỷ

lệ nảy mầm của hạt cũng không giống nhau, cụ thể: Tỷ lệ nảy mầm của hạt Sơn đậu căn gieo tháng 10 là cao nhất (đạt 94,0%), tiếp đến hạt Sơn đậu gieo tháng 11 (tỷ

lệ nảy mầm đạt 82,0%) và tỷ lệ nảy mầm của hạt Sơn đậu căn gieo tháng 12 là thấp nhất (chỉ đạt 78,0%) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bùi Lan Anh, Trần Minh Hòa (2018)

Ngày đăng: 24/03/2021, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w