HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐỖ THỊ MỸ HẠNH ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THỊ MỸ HẠNH
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ XÂY DỰNG
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Song
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ, lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Mỹ Hạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban quản lý đào tạo, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế và Tài nguyên Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện, Phòng Quản lý đô thị huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Kinh tế huyện; UBND các xã trên địa bàn huyện đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn /
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Mỹ Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Tích yếu luận văn x
Thesis abstract Error! Bookmark not defined Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và điều tra 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4
1.4.1 Về lý luận 4
1.4.2 Về thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6
2.1.1 Lý luận về sự hài lòng 6
2.1.2 Nông thôn và chính sách xây dựng nông thôn mới 10
2.1.3 Bảng hỏi nghiên cứu 21
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24
2.2.1 Thực tiễn ở nước ngoài 24
2.2.2 Thực tiễn ở Việt Nam 28
2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả 30
2.3.1 Một số nghiên cứu về nông thôn mới 30
Trang 52.3.2 Một số bài học kinh nghiệm 33
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn của tình hình cơ bản liên quan tới luận văn 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 41
3.2.2 Nguồn số liệu 42
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 44
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích và xử lý số liệu 46
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.1 Khái quát tình hình thực hiện tiêu chí cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Đức 48
4.1.1 Công tác quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM của huyện 48
4.1.2 Công tác chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM của huyện 49
4.1.3 Thực trạng nguồn vốn, huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo tiêu chí NTM của huyện 51
4.1.4 Công tác quản lý xây dựng các tuyến đường GTNT theo tiêu chí NTM của huyện 54
4.1.5 Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện 59
4.1.6 Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo tiêu chí NTM giai đoạn 2014 – 2018 của huyện Mỹ Đức 61
4.2 Một số đánh giá về sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức 62
4.2.1 Sự hài lòng của người dân về xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức 62
4.2.2 Sự hài lòng của người dân về các tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức 71
Trang 64.2.3 Đánh giá chung về một số vấn đề khác liên quan đến xây dựng hạ tầng
giao thông trong xây dựng nông thôn mởi trên địa bàn huyện Mỹ Đức 74
4.3 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức 78
4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức 81
4.4.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đóng góp tích cực của các chủ thể tham gia xây dựng 82
4.4.2 Hoàn thiện công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng GTNT của các xã 84
4.4.3 Lựa chọn mô hình quản lý đầu ra khi xây dựng các tuyến đường 86
4.4.4 Tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát của chủ đầu tư 88
4.4.5 Tăng thu nguồn vốn đầu tư từ vốn xã hội hóa 89
4.4.6 Thực hiện tốt công tác quản lý duy tu, bảo dưỡng đường GTNT 90
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 93
5.1 Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
5.2.1 Đối với nhà nước 94
5.2.2 Đối với người dân 96
Tài liệu tham khảo 97
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng khảo sát sự hài lòng và các nhân tố tác động đến sự hài lòng của
người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao
thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Huyện Mỹ Đức 22
Bảng 3.1 Tổng hợp thông tin thứ cấp 42
Bảng 3.2 Phân bổ mẫu điều tra (lượng mẫu điều tra) 43
Bảng 3.3 Bảng thống kê cơ cấu mẫu khảo sát 43
Bảng 3.4 Bảng mã hóa thang đo nghiên cứu 44
Bảng 4.1 Số liệu về quy hoạch mạng lưới đường giao thông nông thôn huyện Mỹ Đức năm 2018 48
Bảng 4.2 Nhu cầu vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo tiêu chí NTM của huyện Mỹ Đức (Thời điểm đầu năm 2018) 52
Bảng 4.3 Số liệu về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo tiêu chí NTM của huyện Mỹ Đức từ năm 2015 đến hết năm 2018 52
Bảng 4.4 Số liệu đường GTNT được đầu tư xây dựng và nâng cấp theo tiêu chí NTM của huyện Mỹ Đức từ năm 2014 đến năm 2018 61
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT từ năm 2014 đến năm 2018 so với kế hoạch đề ra 61
Bảng 4.6 Công tác xây dựng quy hoạch 63
Bảng 4.7 Công tác chỉ đạo xây dựng 65
Bảng 4.8 Nguồn vốn và Công tác huy động vốn 67
Bảng 4.9 Công tác quản lý đầu tư xây dựng 68
Bảng 4.10 Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng 69
Bảng 4.11 Chất lượng công trình xây dựng 70
Bảng 4.12 Sự hài lòng của người dân về tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn của huyện Mỹ Đức trong xây dựng NTM 71
Bảng 4.13 Giá trị trung bình các tiêu chí xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM 73
Bảng 4.14 Đánh giá của người dân về các tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới của huyện 74
Bảng 4.15 Đánh giá của người dân về kết quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới của huyện 75
Trang 9Bảng 4.16 Đánh giá của người dân về công tác lập kế hoạch phân bổ vốn của
huyện Mỹ Đức 75 Bảng 4.17 Đánh giá của người dân về nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới của huyện 76 Bảng 4.18 Đánh giá của người dân về Chất lượng các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tuyến huyện 76 Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về Chất lượng các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tuyến xã 77 Bảng 4.20 Đánh giá của người dân về Chất lượng các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tuyến thôn 77
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF (Cronin và Taylor) (1992) 9 Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 35
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Thị Mỹ Hạnh
Tên luận văn: Đánh giá sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
Tên cơ sở đào tạo: Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến mức độ hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, trong đó dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết phát triển kinh tế xã hội tại Mỹ Đức, báo cáo tổng kết xây dựng nông thôn mới của huyện… Còn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phát phiếu khảo sát trực tiếp đến từng hộ dân, mẫu khảo sát được tiến hành trên 03 xã của Huyện gồm 02 xã đã đạt chuẩn NTM là Phù Lưu Tế
và Hợp Tiến, và 01 xã đang tiến hành xây dựng NTM là Hùng Tiến, với số phiếp phát
ra là 250 phiếu, số phiếu thu về là 250 phiếu, trong đó có 11 phiếu không hợp lệ do điền thiếu thông tin còn lại 239 phiếu đạt yêu cầu Số liệu sau khi thu thập về, học viên tiến hành khai báo biến và nhập dữ liệu trên phần mềm SPSS20.0; học viên thực hiện phân tích thống kê mô tả về sự hài lòng của người dân về xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện Mỹ Đức và thực trạng các nhân tố tác động đến “Sự hài lòng” đó
Kết quả chính và kết luận
Nghiên cứu đã là rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và sự hài lòng của khách hàng; về các tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, sự hài lòng của người dân về các tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó, học viên đã khái quát nên mô hình, bảng hỏi và các khái niệm nghiên cứu về đánh giá sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Trang 12Về thực trạng sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng
cơ sở hạ tầng giao thông nông thông trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Mỹ Đức tiến hành thu thập dữ liệu dựa trên việc phát bảng hỏi khảo sát tại 03 xã của Huyện gồm 02 xã đã đạt chuẩn NTM là Phù Lưu Tế và Hợp Tiến, và 01 xã đang tiến hành xây dựng NTM là Hùng Tiến, với 250 phiếu được phát ra và thu về có 239 phiếu hợp lệ Số liệu thu về được xử lý trên phần mềm SPSS 20.0 dựa trên công cụ phân tích thống kê mô tả, kết quả cho thấy, người dân đánh giá cao nhất là tiêu chí “Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng” với 3.91 điểm, tiếp thứ hai là tiêu chí “Công tác quản lý đầu tư xây dựng” với 3.58 điểm, thứ ba là tiêu chí “Công tác huy động vốn” với 3.47 điểm, thứ tư là tiêu chí “Chất lượng công trình xây dựng” với 3.31 điểm, thứ năm là tiêu chí “Công tác xây dựng quy hoạch” với 2.90 điểm, và thấp nhất là tiêu chí “Công tác chỉ đạo xây dựng” với 2.64 điểm Bên cạnh đó, người dân Mỹ Đức cũng chưa hài lòng
về các tiêu chí xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM khi kết quả của “Sự hài lòng của người dân về tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn của huyện Mỹ Đức trong xây dựng NTM” chỉ đạt 2.45 điểm
Luận văn đã chỉ ra được một số chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới gồm công tác quy hoạch; Công tác chỉ đạo; Vốn đầu tư; quản lý đầu tư; năng lực nhà thầu; thiếu tầm nhìn phát triển
Sau khi chỉ ra một số nguyên nhân dẫn tới sự không hài lòng của người dân, tác giả đã đề ra một số giải pháp được đề xuất nhằm tăng sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM cho địa phương như: Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đóng góp tích cực của các chủ thể tham gia xây dựng; Hoàn thiện công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng GTNT của các xã; Lựa chọn mô hình quản lý đầu ra khi xây dựng các tuyến đường; Tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát của chủ đầu tư; Tăng thu nguồn vốn đầu tư từ vốn xã hội hóa; Thực hiện tốt công tác quản lý duy tu, bảo dưỡng đường GTNT
Trang 13THESIS ABSTRACT
Author: Do Thi My Hanh
Thesis title: “Evaluating people's satisfaction on the implementation of criteria for
building rural transport infrastructure in the development new rural areas in My Duc
district, Hanoi City.”
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives:
Based on the research, analysis of theoretical and practical issues related to the level of people's satisfaction about the implementation of the criteria for building rural transport infrastructure, from which proposed solutions in order to increase people's satisfaction about the implementation of criteria for building rural transport
infrastructure in new rural construction in My Duc district, Hanoi city
Research Methods:
The study used a combination of secondary and primary data collection methods,
in which secondary data was collected from the socio-economic development summation reports in My Duc and the development new rural areas reports of the district As for the primary data collected through the distribution of questionnaires directly to each household, the survey sample was conducted in 03 communes of the District, including Phu Luu Te and Hop Tien communes which got standard of new rural areas is, and 01 commune under construction of new rural areas is Hung Tien, with the number of coupons issued is 250 votes, the number of votes collected is 250 votes,
of which 11 are invalid due to lack of information remaining 239 votes qualified After collecting data, students proceed to declare variables and enter data on SPSS20.0 software; participants conducted a descriptive statistical analysis of people's satisfaction
on the construction of rural transport infrastructure in new rural construction in My Duc District and the reality of factors affect to satisfaction on the implementation of criteria for building rural transport infrastructure in the development new rural areas
Main findings and Conclusions:
The research has clarified the theoretical and practical basis for quality and customer satisfaction; on the criteria of rural transport infrastructure construction in new rural construction, people's satisfaction with criteria on rural transport infrastructure construction in new rural construction Based on that, participants have generalized the
Trang 14model, questionnaire and research concepts on assessing people's satisfaction about the implementation of rural transport infrastructure construction criteria in the development new rural areas in My Duc district, Hanoi city
On the situation of people's satisfaction on the implementation of criteria for building rural transport infrastructure in new rural construction in My Duc district, data collection is based on the distribution of questionnaires The survey in 03 communes of the District, including 2 communes that get new rural areas standards, namely Phu Luu
Te and Hop Tien, and 1 commune in the process of developing a new rural area is Hung Tien, with 250 votes issued and received 239 valid votes The collected data was processed on SPSS 20.0 software based on the descriptive statistical analysis tool, the results showed that people rated the most as the "Construction inspection and supervision" criterion with 3.91 The second point is the criterion of "Construction investment management" with 3.58 points, the third is the criterion of "Capital mobilization" with 3.47 points, the fourth is the criterion "Quality of construction works." With 3.31 points, the fifth is criterion" Construction planning "with 2.90 points, and the lowest is the criterion" Construction direction work "with 2.64 points Besides,
My Duc people are not satisfied with the criteria to build rural transport infrastructure in the construction of new urban centers when the results of "People's satisfaction on the criteria for rural transport infrastructure construction in the US district" Germany in building new rural areas ”only reached 2.45 points
The thesis has pointed out a number of reasons for people's satisfaction about the implementation of criteria for building rural transport infrastructure in new rural construction, including planning work; Steering work; Investment; investment Management; contractor capacity; lack of development vision
After pointing out some causes of people's dissatisfaction, the author proposed a number of proposed solutions to increase people's satisfaction about the implementation
of the criteria for building rural transport infrastructure in building new rural areas such as: Strengthening the propaganda and advocacy of active contributions of entities involved in the construction; Complete the planning of rural transport infrastructure of communes; Select output management model when building roads; Enhancing the investors' ability to inspect and supervise; Increase revenues from investment capital from socialized capital; Implement well the management of maintenance and maintenance of rural roads
Trang 15PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng nông thôn mới nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, được xác định trong Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X với mục tiêu đến năm 2020 có 50% số xã đạt được tiêu chuẩn nông thôn mới
Các huyện phía Tây của Thành phố Hà Nội chủ yếu phát triển kinh tế gắn với nông nghiệp, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH), tốc độ
đô thị hóa nhanh ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số, lao động và cơ cấu đất đai của các địa phương Quan điểm xây dựng nông thôn mới của Hà Nội đối với các địa phương ở phía Tây là: Yêu cầu cao về chất lượng, nhanh về thời gian xây dựng
và hoàn thành kế hoạch; Mạnh về sự hỗ trợ nguồn lực từ thành phố Hà Nội ngoài
sự hỗ trợ của Trung ương và các nguồn khác Trong 04 năm (2013-2017) triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, bước đầu đã đạt được những thành tựu khả quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói riêng; cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt Nhiều xã đã có phương pháp, cách làm sáng tạo trong việc huy động sức dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội Quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, xây dựng các mô hình phát triển sản xuất đã có
sự chuyển biến tích cực về sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, đặc biệt đã
có sự liên kết giữa người dân, nhà khoa học với các doanh nghiệp trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm; tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất và nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chương trình trên địa bàn huyện vẫn còn những khó khăn, hạn chế nhất định, khiến cho đến nay mới có 9/21 xã thuộc huyện đạt chuẩn nông thôn mới Một trong những khó khăn, hạn chế lớn nhất khi triển khai xây dựng nông thôn mới của huyện là vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn do thiếu vốn, nguồn vốn xây dựng chủ yếu vẫn đến từ ngân sách nhà nước, mà thiếu sự đóng góp từ phía nhân dân Tính từ năm 2016 đến nay, toàn huyện đã huy động được hơn 1.262 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn
Trang 16mới, trong đó chủ yếu là nguồn vốn ngân sách, vốn huy động ngoài ngân sách chỉ đạt gần 8 tỷ đồng (Nguyễn Mai, 2018) Điều này có thể là do nhận thức của người dân về các tiêu chí liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, sự tin tưởng vào việc thực hiện… Trong khi đó, để phát triển kinh tế - xã hội thì hạ tầng điện, đường, trường, trạm là nhân tố có tính chất quyết định, là then chốt để xây dựng nông thôn mới
Một vấn đề nữa là các công trình xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn sau khi nghiệm thu xong, nhà quản lý chỉ quan tâm đến các điều kiện chất lượng
có đảm bảo hay không mà chưa có sự quan tâm đến sự đánh giá của người dân về chất lượng hay quy trình thực hiện việc xây dựng các công trình này, do đó chưa đánh giá được một cách khách quan về chất lượng các công trình thông qua sự hài lòng của người dân Điều này dẫn đến, người dân cho rằng việc xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới là của Đảng, Nhà nước chứ không phải là của người dân
Vì vậy, câu hỏi đặt ra là, Mức độ hài lòng của người dân ở huyện Mỹ Đức
về tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới hiện nay như thế nào? Đánh giá của người dân về tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức hiện nay như thế nào? Làm thế nào để tăng sự hài lòng của người dân về tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức? Việc trả lời được các câu hỏi này sẽ giúp huyện Mỹ Đức có thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm triển khai tốt hơn tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn mới nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng thành công nông thôn mới trên địa bàn huyện
Với những chăn chở trên, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Đánh giá sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Tp Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 17lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức
Đề xuất giải pháp tăng cường sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU TRA
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: sự hài lòng của người dân và các nhân
tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức
Đối tượng điều tra của đề tài là: người dân sử dụng các công trình cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Mỹ Đức
Các công trình hạ tầng kỹ thuật trong xây dựng nông thôn mới gồm có 8 tiêu chí đó là: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa,
cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư Các tiêu chí này lại được phân chia thành các tiêu chí nhỏ hơn (UBND thành phố Hà Nội, 2017)
Trang 18Trên địa bàn huyện Mỹ Đức, hầu hết các xã chưa đạt điểm tối đa đối với tiêu chí giao thông Đây là tiêu chí khó, đòi hỏi ngân sách đầu tư lớn Trên địa bàn huyện có 21 xã và 1 thị trấn, đối với đường trục thôn của huyện là tuyến đường được người dân đi lại, sử dụng hàng ngày, có chức năng kết nối các khu dân cư, từ khu dân cư tới các cánh đồng, xứ đồng, các cơ sở hạ tầng khác của thôn với nhau Trong những năm qua, tuy hệ thống giao thông đã được đầu tư nhiều, nhưng chủ yếu là các tuyến đường lớn, đường tỉnh lộ, đường huyện lộ, liên xã (Phòng Kinh tế huyện Mỹ Đức, 2017)
Do đó trong phạm vi bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu mức độ hài lòng của người dân trong việc sử dụng các cở sở hạ tầng giao thông nông thôn trên địa bàn huyện
- Phạm vi về không gian:
Đề tài nghiên cứu tại 2 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới, 1 xã hiện đang phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới, 1 xã còn lại chưa đạt chuẩn nông thôn mới của huyện Mỹ Đức là xã: Phù lưu tế, Hợp Tiến và Hùng Tiến
- Phạm vi về thời gian:
Các số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014-2018, theo quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Số liệu
sơ cấp được điều tra trong năm 2019
Thời gian thực hiện đề tài từ năm 2018 – cuối năm 2019
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Về lý luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của người dân đối
về tình hình thưc hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
- Đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người dân trong thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nôn thôn trong xây dựng nông thôn mới
1.4.2 Về thực tiễn
- Bài nghiên cứu sử dụng thang đo Likert điều tra 239 hộ dân hưởng lợi từ các công trình cơ sở hạ tầng giao thông trên địa bàn 3 xã thuộc huyện Mỹ Đức
Trang 19- Về thực trạng sự hài lòng của người dân khi thực hiện tiêu chí xây dựng
cơ sở hạ tầng giao thông: Sau khi điều tra và tiến hành phân tích cho thấy mức độ hài lòng của người dân về các tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là ở mức bình thường đạt 54,8%; sự hài lòng của người dân về kết quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông được đánh giá đạt 44,8% cho thấy các cơ sở hạ tầng giao thông khi đưa vào sử dụng là thiết thực với người dân Sau khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, nhân tố được đánh giá cao là nhân tố công tác kiểm tra, giám sát xây dựng với 3.91/5 và nhân
tố được đánh giá thấp nhất là nhân tố công tác chỉ đạo xây dựng 2.64/5 trong Thang đo Likert
- Một số phương pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Đức: Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đóng góp tích cực của các chủ thể tham gia xây dựng; Hoàn thiện công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn của các xã; Lực chọn mô hình quản lý đầu ra khi sử dụng các tuyến đường; Tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát của chủ đầu tư; Tăng thu nguồn vốn đầu tư từ nguồn vốn xã hội hoá; Thực hiện tốt công tác quản lý duy tu, bảo dưỡng đường giao thông nông thôn
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét việc thực hiện các tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo tiêu chuẩn nông thôn mới như một loại hình dịch vụ công, khi người dân (khách hàng) nhận thức tố về chất lượng dịch
vụ công này đem lại thì họ sẽ ủng hộ và đóng góp nhằm nâng cao chất lượng và tiến độ thực hiện các dịch vụ công này Do vậy, ở phần cơ sở lý luận này, tác giả
sẽ hệ thống hóa lý thuyết theo nội dung về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ và gắn với tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo tiêu chuẩn nông thôn mới
2.1.1 Lý luận về sự hài lòng
* Quan niệm về sự hài lòng
Đề tài này hướng đến việc đo lường sự hài lòng của người dân đối với tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo tiêu chuẩn nông thôn mới Tuy nhiên, các khái niệm chính thức về sự hài lòng của người dân chưa được nghiên cứu và thừa nhận rộng rãi Do đó, đề tài sử dụng khái niệm và các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với các hàng hóa, dịch vụ kinh doanh thông thường Tuy lĩnh vực này có nhiều đặc thù nhà trường không hoàn toàn giống doanh nghiệp, người dân không hoàn toàn giống khách hàng Nhưng trong việc cung ứng các dịch vụ công, nhà nước cần phần nào đó ứng xử giống doanh nghiệp Nói cách khác, nhà nước cũng cần coi sự hài lòng của người dân là một mục tiêu để phục vụ, để nâng cao chất lượng phục vụ
Có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự hài lòng của khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa
kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi (Parasuraman et al., 1988; Speng et al.,
1996) Nghĩa là, kinh nghiệm đã biết của khách hàng khi sử dụng một hàng hóa, dịch vụ và kết quả sau khi hàng hóa, dịch vụ được cung cấp
Còn theo tác giả Kotler and Keller (2006), SHL là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đo, gồm ba cấp độ sau: Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn Nếu nhận thức bằng
kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thich thú
Trang 21Theo Kano (Kano, 1984), mỗi khách hàng đều có 03 cấp độ nhu cầu: nhu cầu cơ bản, nhu cầu biểu hiện, nhu cầu tiềm ẩn
- Nhu cầu cơ bản: không bao giờ được biểu lộ, nếu đáp ứng loại nhu
cầu này sẽ không đến SHL của khách hàng, tuy nhiên, nếu ngược lại khách hàng
sẽ không hài lòng
- Nhu cầu biểu hiện: là nhu cầu mà khách hàng biểu lộ sự mong
muốn, chờ đợi đạt được Theo ông, giữa SHL của khách hàng và sự đáp ứng được nhu cầu này có mối quan hệ tuyến tính
- Nhu cầu tiềm ẩn: đây là loại nhu cầu mà khách hàng không đòi
hỏi, tuy nhiên nếu có sự đáp ứng từ phía nhà cung ứng dịch vụ thì SHL khách hàng sẽ tăng lên
Ngoài ra, còn một lý thuyết thông dụng khác để xem xét SHL của khách hàng là lý thuyết “Kỳ vọng – Xác nhận” Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) và được dung để nghiên cứu SHL của khách hàng đối với chất lượng của các dịch vụ hay sản phẩm của một tổ chức Lý thuyết đó bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến SHL của khách hàng: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải nghiệm Theo lý thuyết này có thể hiểu SHL
của khách hàng là quá trình như sau: (1) Trước hết, khách hàng hình thành trong
suy nghĩ của mình những kỳ vọng về những yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch
vụ mà nhà cung cấp có thể mang lại cho họ trước khi các khách hàng quyết định
mua (2) Sau đó, việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ đóng góp vào niềm tin khách hàng về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ đang sử dụng (3) Sự thỏa mãn của
khách hàng, chính là kết quả của sự so sánh kết quả mà dịch này mang lại giữa
những gì mà họ kỳ vọng trước khi mua dịch vụ và những gì mà họ đã nhận được
sau khi đã sử dụng nó và sẽ có ba trường hợp: Kỳ vọng của khách hàng là: Được
xác nhận nếu kết quả của dịch vụ đó hoàn toàn trùng với kỳ vọng của khách hàng;
Sẽ thất vọng nếu kết quả dịch vụ không phù hợp với kỳ vọng, mong đợi của khách
hàng; Sẽ hài lòng nếu như những gì họ đã cảm nhận và trải nghiệm sau khi đã sử
dụng dịch vụ vượt quá những gì mà họ mong đợi, kỳ vọng trước khi mua dịch vụ
Từ việc phân tích ý kiến của các chuyên gia cho thấy SHL khách hàng có vai trò tác động đối với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức, doanh nghiệp Việc thỏa mã khách hàng trở thành một mục tiêu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp Khách hàng được thỏa man là một yếu tố quan
Trang 22trọng để duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các chiến lược kinh
doanh phù hợp nhằm thu hút và duy trì khách hàng (Zeithaml et al., 1996)
Tương tự như vậy, SHL của người dân có ảnh hưởng lớn tới mục tiêu phát triển, chiến lược phát triển của mỗi địa phương, là cơ sở để địa phương có những biện pháp cải tiến nhằm nâng cao chất lượng diachj vụ công và hỗ trợ cho người dân, từ đó có thể xây dựng và thực hiện thành công các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra cho địa phương
* Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng
Zeithaml và công sự: sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự thỏa mãn của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml and Bitner, 2000) Oliver khẳng định, chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến mức độ thỏa mãn của khách hàng (Oliver and Bearden, 1985) Nghĩa là, chất lượng dịch vụ được xác định bởi nhiều nhân tố khác nhau, là một phần nhân tố quyết định sự
hài lòng (Parasuraman et al., 1988) Cronin và Taylor đã kiểm định mối quan hệ
này và kết luận rằng, cảm nhận chất lượng dịch vụ dẫn đến sự thỏa mãn của khách hàng (Cronin and Taylor, 1992)
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất lượng dịch vụ là tiền đề của
sự thỏa mãn và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự hài lòng
* Các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ
Mô hình chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật của Gronroos, mô hình này đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên ba điểm thiết yếu là: (1) phân biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật; (2) hình ảnh có ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ; (3) Cảm nhận về chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ cảm nhận (Gronroos, 1984)
Mô hình lý thuyết về chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI), Mô hình này được ứng dụng nhằm đo lường sự thỏa mãn của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp dịch vụ Theo mô hình này sự hài lòng của khách hàng được đo thông qua mối quan hệ nhân quả xuất phát từ những biến số khởi tạo như: sự mong đợi của khách hàng; hình ảnh của doanh nghiệp và sản phẩm; chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận về sản phẩm hoặc dịch vụ đi kèm đến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành hay sự than phiền của khách hàng (Lê Văn Huy, 2007)
Mô hình chất lượng dịch vụ Servqual của Parasuraman (1985) đo lường chất lượng dịch vụ thông qua hiệu số giữa mức độ cảm nhận với giá trị kỳ vọng
Trang 23Mô hình này đánh giá chất lượng dịch vụ qua 10 thành phần (00Thọ and 00Trang, 2003) Sau đó, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp và đưa ra thang đo Servqual gồm 5 thành phần chính là: (1) Phương tiện hữu hình; (2) Độ tin cậy; (3) Sự đáp ứng; (4) Sự phục vụ; và (5) Sự cảm thông
Mô hình chất lượng dịch vụ Servperf của Cronin và Taylor (1992), đã khắc phục hạn chế của mô hình Servqual và cho rằng, chất lượng dịch vụ = mức
độ cảm nhận Mô hình này đánh giá chất lượng dịch vụ cũng thông qua 5 tiêu chuẩn như mô hình Servqual nhưng đã cụ thể ra thành tiêu chí
Bộ thang đo SERVPERF cũng có hai mươi hai phát biểu với năm thành phần
cơ bản tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, tuy nhiên bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng, năm thành phần cơ bản, đó là:
- Tin cậy (reliability): Thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp
và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
- Đáp ứng (responsiveness): Thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
- Năng lực phục vụ (assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
- Sự cảm thông (empathy): Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá nhân, khách hàng
- Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ
Hình 2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF (Cronin và Taylor) (1992)
Trang 242.1.2 Nông thôn và chính sách xây dựng nông thôn mới
2.1.2.1 Nông thôn
Tác giả Dương Tuấn Kiệt cho rằng, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh (Dương Tuấn Kiệt, 2015)
Tác giả Trần Minh Huyền nhấn mạnh, nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình
độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị (Trần Minh Huyền, 2015)
Đến nay, khái niệm nông thôn được trình bày trong Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009)
2.1.2.2 Chính sách xây dựng nông thôn mới
Có nhiều tài liệu khác nhau trình bày khái niệm, quan điểm về nông thôn mới, chẳng hạn, theo tác giả Dương Tuấn Kiệt thì nông thôn mới là nông thôn
mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới (Dương Tuấn Kiệt, 2015)
Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã xác định: Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị quyết TW, 2008)
Chính sách xây dựng nông thôn mới là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào
Trang 25việc cung cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng), tác động tới giá đầu vào hay giá đầu ra trong nông thôn, tác động về việc thay đổi tổ chức, trong đó thị trường đầu vào và cả đầu ra được thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ (Cù Ngọc Hưởng, 2006; Hồ Xuân Hùng, 2011)
Chính sách xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng, cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh (Nguyễn Đăng Khoa, 2011)
2.1.2.3 Nội dung chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính sách xây dựng nông thôn mới có nội dung rất rộng, thể hiện trong việc thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia NTM được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 5 nhóm tiêu chí,
19 tiêu chí cụ thể như sau: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - xã hội - môi trường; Hệ thống chính trị (thủ, 2009) Cụ thể:
Nội dung thứ nhất: Về quy hoạch phát triển, xây dựng nông thôn mới: Nội dung này do UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính kết nối của hệ thống giao thông trên địa bàn
Nội dung thứ hai: Hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm: (1) Hạ tầng giao thông; (2) Hạ tầng thủy lợi; (3) Hạ tầng điện; (4) Hạ tầng trường học; (5) Hạ tầng
Cơ sở vật chất văn hóa; (7) Hạ tầng Chợ nông thôn; (8) Hạ tầng Bưu điện; (9) Hạ tầng Nhà ở dân cư (chi tiết theo quy định của Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Nội dung thứ ba: Hạ tầng kinh tế và tổ chức sản xuất Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh cần phải đạt tối thiểu 1.2 lần; Tỷ lệ hộ nghèo (mức chung) dưới 6%, còn tùy theo từng địa phương mà có thể dao động từ 10 – 3%: Về cơ cấu lao động thì, Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động phải đạt từ 90% trở
Trang 26lên ở tất cả các địa phương; Về Tổ chức sản xuất, Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững
Nội dung thứ tư: Về Văn hóa – Xã hội và môi trường bao gồm: (1) Giáo dục và Đào tạo; (2) Y tế; (3) Văn hóa; (4) Môi trường và an toàn thực phẩm
Nội dung thứ năm: Về Hệ thống chính trị: (1) Hệ thống tổ chức chính trị
xã hội vững mạnh: Cán bộ xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên; (2) An ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
2.1.2.4 Nội dung đánh giá sự hài lòng của người dân và các yếu tố ảnh hưởng về xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
a Về xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng nông thôn mới
Công tác quy hoạch giao thông nông thôn được xây dựng trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội, kế thừa hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông cũ, tuân thủ quy hoạch phát triển giao thông của cấp trên và phải phân kỳ thực hiện quy hoạch (đảm bảo yếu tố nguồn lực để đưa quy hoạch vào thực tiễn).Cơ sở chuẩn xác cho công tác lập quy hoạch là phải xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu
cơ hội và thách thức để định hướng phát triển giao thông Quy hoạch cơ sở hạ tầng GTNT được chia làm hai mảng: Quy hoạch các tuyến đường huyện và quy hoạch các tuyến đường còn lại
Quy hoạch các tuyến đường huyện nằm trong Hồ sơ quy hoạch và phát triển giao thông của tỉnh Cơ sở quy hoạch phát triển các tuyến đường huyện dựa trên sự kết nối với các tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và các khu vực dân cư, khu vực sản xuất… Phạm vi lập quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính tỉnh, Sở Giao thông - Vận tải là chủ đầu tư lập quy hoạch; thuê đơn vị tư vấn lập; lấy ý kiến ủa Ủy ban nhân dân các huyện và các sở ngành liên quan,Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Kinh phí lập quy hoạch lấy từ ngân sách tỉnh, ủy ban nhân dân huyện công khai quy hoạch
Quy hoạch các tuyến đường xã, đường thôn, đường xóm, đường sản xuất được xây dựng trong quy hoạch xây dựng NTM Mục tiêu quy hoạch GTNT được cụ thể hóa bởi các Tiêu chí NTM Khi đưa Tiêu chí NTM về GTNT vào
Trang 27Bản vẽ quy hoạch giao thông để làm rõ quy mô các tuyến đường và để tạo sự đồng bộ với các tiêu chí còn lại trong quá trình xây dựng NTM.Hơn nữa, cơ sở
hạ tầng GTNT đóng vai trò dẫn động và truyền lực để thực hiện các nội dung xây dựng NTM: Phân vùng sản xuất, là cơ sở để tổ chức, phân bố mật độ giao thông
để bố trí các công trình sản xuất, công trình xã hội GTNT còn tạo cảnh quan cho làng xóm, cải thiện nhu cầu giao lưu của người nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.Phạm vi lập quy hoạch là địa giới hành chính xã, chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân xã, thuê đơn vị tư vấn lập quy hoạch; lấy ý kiến của người dân trong xã; các phòng Tài nguyên – Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạ tầng – Kinh tế thẩm định, trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt Tỉnh hỗ trợ ngân sách để lập quy hoạch
Quản lý lập quy hoạch cũng thực hiện theo mô hình quản lý theo đầu ra, lấy mục đích của công tác lập quy hoạch để chỉ đạo (thường nằm trong mục đích xây dựng phát triển kinh tế - xã hội), lấy mục tiêu để làm mốc thực hiện để nâng cao chất lượng đầu ra (Hồ sơ quy hoạch); các hoạt động lập quy hoạch phải đảm bảo tính khoa học (thường được cụ thể trong hệ thống văn bản quy định), năng lực của các bộ phận tham gia phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn; các căn cứ để lập quy hoạch phải đảm bảo tính chính xác
Công tác quản lý chất lượng quy hoạch được thực hiện bởi Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT- ngày 28/10/2011 của liên bộ: Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên môi trường ban hành quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới nhằm lồng ghép các quy hoạch ngành liên quan trong quá trình quy hoạch, giúp các địa phương đơn giản, dễ thực hiện hơn đối với công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới.Công tác quản lý thực hiện quy hoạch được cụ thể qua công bố, cắm mốc quy hoạch và cấp phép xây dựng theo quy hoạch [7]
Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT được thể hiện qua phân kỳ thực hiện trong Quy hoạch xây dựng NTM, thường xuyên hàng năm được điều chỉnh theo sự cân đối các nguồn lực của tỉnh, huyện, xã và nhân dân Kế hoạch đầu tư cải tạo các tuyến đường sử dụng Ngân sách Nhà nước thường được xây dựng quý III hàng năm, còn các tuyến đường xây dựng bằng các nguồn vốn khác thì đăng
ký theo định kỳ đầu năm, phụ thuộc nhiều và khả năng huy động vốn
Như vậy, để đánh giá sự hài lòng của người dân và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 28về tiêu chí này, ta cần đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: Công tác quy hoạch giao thông nông thôn có được xây dựng trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế
xã hội địa phương hay không; Quy hoạch giao thông nông thôn có sự kết nối các tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và các khu vực dân cư, khu vực sản xuất hay không; Người dân được tham gia đóng góp ý kiến khi quy hoạch giao thông nông thôn hay không; hàng năm có thực hiện điều chỉnh quy hoạch theo sự cân đối các nguồn lực của tỉnh, huyện, xã và nhân dân hay không; hay người dân được tham gia kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch giao thông nông thôn hay không?
b Về công tác chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng GTNN trong xây dựng NTM
Sản phẩm đầu tiên của công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT là mục tiêu và chủ trương đầu tư đúng trước khi quyết định đầu tư
Mục tiêu của công tác lãnh đạo xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM của các cấp là khuyến khích được các chủ thể tự chủ linh hoạt xây dựng, tối ưu mạng lưới GTNT của huyện trong khoảng thời gian ngắn nhất nhưng trong quá trình đó vẫn phải tuân thủ các quy định hiện hành
Công tác chỉ đạo theo nguyên tắc phân quyền, giao công việc và giao quyền để thực hiện công việc, khuyến khích sự tự chủ linh hoạt của cấp thực hiện Thành lập các Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở các cấp: Ban chỉ đạo quốc gia, Ban xây dựng NTM của tỉnh, Ban xây dựng NTM cấp huyện, Ban quản lý cấp
xã, Ban Phát triển thôn
Những nội dung xây dựng tiêu chí GTNT được hướng dẫn, giải thích từ
Bộ Giao thông – Vận tải; cấp tỉnh, cấp huyện rồi mới đến cấp xã tổ chức thực hiện Mô hình chỉ đạo chặt chẽ, mang tính thứ bậc từ Chính phủ, các bộ đến địa phương bằng hệ thống văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện, ban hành các quy chế
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đối với các tuyến đường huyện trực tiếp quản
lý, lãnh đạo huyện và là người trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện, nhưng các công trình này được thực hiện theo thẩm quyền của cấp huyện, không theo cơ chế đặc thù của Chương trình xây dựng NTM Đối với việc xây dựng các tuyến đường giao thông xã, đường thôn, đường xóm và đường ra đồng, Lãnh đạo huyện đứng ở vị trí lãnh đạo trung gian của Chương trình nhưng cũng ở vị trí đứng đầu
Trang 29trong phạm vi huyện để lãnh đạo các xã thực hiện, Lãnh đạo xã vừa là người chỉ đạo trực tiếp và là người tổ chức thực hiện
Những cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo là cơ chế;hệ thống văn bản về xây dựng;
hồ sơ quy hoạch (quy hoạch mạng lưới giao thông các cấp, quy hoạch xây dựng NTM, ); công tác bố trí nhân sự thực hiện; phân bổ vốn; tổ chức tuyên truyền
Kiểm tra kết quả chỉ đạo dựa vào tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng các tuyến đường bằng các Tiêu chí giao thông của xây dựng NTM [1]
Như vậy, để đánh giá sự hài lòng của người dân về tiêu chí này thì có thể đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: Công tác chỉ đạo có theo nguyên tắc phân quyền, giao công việc và giao quyền để thực hiện công việc, khuyến khích sự tự chủ linh hoạt của cấp thực hiện hay không; Địa phương đã có Ban xây dựng NTM cấp huyện, Ban quản lý cấp xã, Ban Phát triển thôn hay chưa; Các Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở các cấp thực hiện chỉ đạo có theo đúng quy hoạch, chức năng; Công tác tuyên truyền xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM được phổ biến rộng rãi đến người dân hay không?
c Về nguồn vốn và công tác huy động vốn cho xây dựng GTNN trong xây dựng NTM
Trong bối cảnh xây dựng NTM của địa phương, có rất nhiều công việc cần phải thực hiện như: chi hoạt động thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi phòng chống lụt bão, chi an toàn giao thông, trong khi nguồn thu lại rất hạn chế Chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT nằm trong chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên (đối với hoạt động duy tu các tuyến đường) vì vậy việc chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT phải cân đối với các chi khác, tuy được ưu tiên nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ so với nhu cầu thực tế Ngoài nguồn vốn ngân sách, phải có các nguồn vốn khác bổ sung là rất cần thiết nên công tác huy động vốn nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT
Xét trên giác độ hàng hóa thì các công trình cơ sở hạ tầng GTNT là hàng hóa công cộng; thuộc sở hữu của Nhà nước; được người dân sử dụng; thuộc diện hàng hóa được đầu tư bởi Nhà nước Tuy vậy, do nhu cầu bức thiết của người dân và do tần suất sử dụng thường xuyên nên tính chất công cộng của hàng hóa này cũng mang mức độ khác nhau, xếp theo tính chất hàng hóa công cộng có mức độ từ cao đến thấp thì lần lượt là: Đường huyện, đường xã, đường thôn và
Trang 30đường ra đồng (riêng đường ra đồng phải tính đến yếu tố đầu tư để sản xuất ra lợi nhuận từ canh tác), đường xóm; Nếu thứ tự ưu tiên của Ngân sách Nhà nước từ đường huyện đến đường xóm và ngược lại thứ tự ưu tiên từ nguồn đóng góp trực tiếp của người dân nông thôn từ đường xóm đến đường huyện
Nếu xét theo góc độ an sinh xã hội – đảm bảo nguyên tắc phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, ưu tiên công trình phục vụ được nhiều đối tượng hưởng lợi, vì vậy trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT thì thứ tự ưu tiên đầu tư
từ đường huyện, đường xã, đường thôn, rồi mới dần đến đường xóm; đường sản xuất
Xét theo góc độ quản lý, thì Ủy ban nhân dân huyện đầu tư các tuyến đường huyện quản lý; Ủy ban nhân dân xã đầu tư các tuyến đường xã quản lý: đường xã, đường thôn, đường xóm, đường sản xuất;
Xét theo nhu cầu thực tế của người dân nông thôn thì dựa vào tần xuất sử dụng các tuyến đường và phương tiện tham gia giao thông của họ thì thứ tự ưu tiên lại là từ đường xóm, đường thôn, đường sản xuất rồi mới đến đường xã Người dân chỉ kiến nghị huyện, tỉnh đầu tư đường huyện quản lý
Nguồn vốn phục vụ cho xây dựng giao thông nông thôn được đa dạng hóa
từ Ngân sách các cấp, vốn vay tín dụng, vốn xã hội hóa, Trong bốn nguồn lực
để xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT: Nhân lực, tài nguyên, công nghệ, vốn thì vốn
có vai trò quyết định vì đối với các công trình này công nghệ không phức tạp, nhân lực không yêu cầu kỹ thuật cao, tài nguyên nếu được sử dụng cũng chỉ góp phần giảm giá thành, nếu đủ vốn có thể bảo cả ba nguồn lực còn lại.Yêu cầu của nguồn vốn đảm bảo công khai, minh bạch và có khả năng thực hiện công trình theo lộ trình phù hợp
Trên cơ sở hiện trạng, mục tiêu đầu tư được thể hiện hóa qua hồ sơ quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT xác định được quy mô đầu tư: chiều dài các tuyến đường, thông số kỹ thuật của các tuyến, khối lượng công việc cần thực hiện; Căn cứ vào đơn giá vật liệu, nhân công trên địa bàn, định mức đơn xây dựng tính chi phí xây lắp, chi phí tư vấn, chi phí quản lý, dự phòng phí,… của từng tuyến đường và tổng thể Từ đó xác định được tổng mức đầu tư, dựa vào tổng mức đầu tư và khả năng của các chủ thể sẽ xác định nguồn vốn, tỷ lệ vốn của mỗi nguồn, thời điểm cấp vốn,
Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,theo Quyết
Trang 31định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, được huy động từ ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện, tiếp đến là vốn tín dụng (khoảng 30%), vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh
tế khác (khoảng 20%) và huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%).Từ vị trí, vai trò, đặc điểm của cơ sở hạ tầng GTNT thì Ngân sách đóng vai trò chủ đạo và vốn từ huy động sự đóng góp của cộng đồng đóng vai trò bổ sung.Ngoài ra, nguồn vốn hỗ trợ phát triển và nguồn vốn vay ưu đãi cũng được
ưu tiên sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn [12]
Đối với nguồn hỗ trợ từ các nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình (Nguồn vốn đầu tư phát triển để đầu tư các tuyến đường từ huyện tới trung tâm xã, nguồn vốn sự nghiệp để hỗ trợ thực hiện quy hoạch); Đối tượng là các đoạn tuyến đường huyện đến xã, tuyến trục xã từ đường huyện vào trung tâm xã; Nguồn hỗ trợ từ Ngân sách tỉnh hỗ trợ; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án Đây cũng là những nguồn hỗ trợ chính khi xây dựng cơ sở
hạ tầng GTNT
Nguồn vốn tín dụng được huy động chủ yếu thông qua hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Ngân hàng phát triển Việt Nam Nguồn vốn này được thực hiện thông qua ngân sách tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh vay của ngân hàng sau đó phân bổ cho các công trình theo đề án Phát triển GTNT của tỉnh; đối với huyện và xã xây dựng các công trình GTNT khó tiếp cận nguồn vốn này vì phải có tài sản bảo đảm
Vốn huy động từ doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tiền mặt hoặc sản phẩm của doanh nghiệp (như xi măng, sắt thép, gạch, ngói ), tham gia đầu tư trực tiếp Các công trình GTNT khó tiếp cận nguồn vốn này vì các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, không cùng mục tiêu khi xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT
Các hình thức huy động từ cộng đồng bao gồm tiền mặt; hiện vật (như đất đai, hoa màu và các tài sản gắn liền với đất…) ngày công lao động, và các hình thức xã hội hoá khác Nguồn vốn này được huy động cùng với nguồn vốn Ngân sách, đóng vai trò quan trọng đối với phong trào xây dựng NTM, tăng cường ý thức xây dựng và bảo vệ của người dân đối với công trình như tăng cường giám sát xây dựng, bảo dưỡng các tuyến đường, ngăn cấm xe quá khổ, quá tải, Đối với đường xóm, đường thôn gắn liền với nhu cầu của người dân nên việc huy
Trang 32động nguồn vốn tương đối thuận lợi
Quy định cấp vốn từ nguồn Ngân sách: Sau khi dự toán ngân sách năm được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ thông qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp thông báo tổng mức vốn cho các địa phương; Hội đồng Nhân dân tỉnh quyết định phương án phân bổ vốn UBND tỉnh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập kế hoạch phân bổ vốn và thông báo cho các huyện; UBND huyện tập hợp các nguồn vốn được phân bổ (vốn của Chương trình, vốn ngân sách tỉnh, vốn ngân sách huyện, vốn từ các chương trình/dự án lồng ghép) và vốn tự huy động, phân bổ vốn cho từng xã; UBND xã chỉ đạo Ban quản lý NTM xã phân bổ vốn cho từng công trình, trình Hội đồng nhân dân xã thông qua; Khung thời gian xây dựng kế hoạch NTM nên phù hợp với khung thời gian xây dựng kế hoạch kinh tế xã hội (hàng năm và 5 năm) [1]
Quy định về huy động vốn đóng góp từ phía người dân nông thôn theo nguyên tắc dân tự nguyện và được Hội đồng nhân dân xã thông qua
Cơ chế huy động vốn Ngân sách: thực hiện lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển GTNT; tăng vốn từ nguồn đấu giá quyền sử dụng đất; và các nguồn khác từ ngân sách Theo nguyên tắc hỗ trợ 100% từ ngân sách trung ương cho: công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; Hỗ trợ một phần từ ngân sách trung ương cho xây dựng công trình đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng, mức hỗ trợ căn cứ điều kiện kinh tế xã hội của địa phương,ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt
Để đánh giá sự hài lòng của người dân về tiêu chí này, ta có thể đánh giá thông qua các chỉ số: Nguồn vốn phục vụ cho xây dựng giao thông nông thôn có được đa dạng hóa từ Ngân sách các cấp, vốn vay tín dụng, vốn xã hội hóa, hay không; Nguồn vốn chi cho xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM được chi theo mức độ ưu tiên: Đường huyện, xã, thôn ; Nguồn vốn chi cho xây dựng
hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM được chi theo quy hoạch, kế hoạch hay không; Chính quyền có thực hiện công khai về các khoản chi cho xây dựng giao thông nông thôn hay không?
Trang 33d Về công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng NTM
Quản lý xây dựng các tuyến đường GTNT trong xây dựng NTM là công tác hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của
dự án đúng thời hạn với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt Nói một cách khác, Quản lý xây dựng các tuyến đường GTNT là công việc
áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào quá trình đầu tư xây dựng tuyến đường nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra
Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo mô hình chuỗi kết quả:Đầu vào Hoạt động Đầu ra Mục tiêu
Quản lý để đạt mục tiêu hay các đầu ra có giá trị cao nhất đối với mục tiêu
và có chi phí thấp nhất Nói cách khác quản lý để đảm bảo đồng thời tính Hữu hiệu, hiệu lực đối với công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM
Đầu vào của công tác xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT là: Mặt bằng xây dựng; vật liệu xây dựng (cát gia cố nền, cát vàng, đá, sỏi, xi măng, đất đắp lề, nước …); công nhân xây dựng cầu đường (công nhân lái máy xúc, máy lu, công nhân trộn bê tông, đầm bê tông; ) và kỹ sư quản lý chất lượng (quản lý vật liệu, quản lý quy trình, ) ; máy xây dựng (máy xúc, máy lu, máy trộn, máy đầm, ô tô,….); vốn và công nghệ xây dựng (những quy trình công nghệ từ khảo sát, thiết
kế, tổ chức thi công, kiểm soát chất lương, ) Yêu cầu chung đối với đầu vào là chất lượng tốt, giá thành thấp, kết hợp tốt trong quá trình xây dựng, tận dụng tối
đa những lợi thế của địa bàn để tạo ngoại ứng tích cực như: tạo công ăn việc làm, tăng sự tham gia xây dựng của cộng đồng, tăng sự giám sát công khai từ phía người dân qua các công việc tham gia
Các hoạt động của quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT gồm: Các hoạt động chuẩn bị (khảo sát, thiết kế kỹ thuật, tính dự toán, đánh giá tác động của công trình, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, ); Các hoạt động xây lắp (tiến độ xây lắp, thành phần đầu vào, biện pháp đảm bảo an toàn giao thông, an toàn lao động, đào khuôn đường, gia cố nền, làm rãnh thoát nước, các đường ống
kỹ thuật liên quan, làm mặt đường, bảo dưỡng mặt đường, thi công biển báo,…);
Trang 34Các hoạt động kiểm tra chất lượng (chất lượng vật liệu đầu vào từ xuất xứ, thí nghiệp mẫu; Tay nghề của công nhân; chất lượng máy thi công từ số lượng máy, chứng nhận kiểm định; kiểm tra kích thước khuôn đường; kiểm tra độ chặt đầm nèn; kiểm tra độ sụt của bê tông và thành phần của bê tông, đối với bê tông atphan kiểm tra nhiệt độ trước khi rải;…); Các hoạt động nghiệm thu (quy trình nghiệm thu vật liệu, nghiệm thu công việc, nghiệm thu hạng mục, nghiệm thu công trình, ); Các hoạt động quản lý tài chính (xác định tổng mức đầu tư, xác định nguồn vốn cho công trình, thủ tục giải ngân cho các hoạt động, chế độ báo cáo,…); Các hoạt động nhân sự (Thành lập Ban quản lý dự án, phân công nhiệm
vụ thành viên, chủ nhiệm công trình,…) Yêu cầu đối với các hoạt động là sự phối hợp nhịp nhàng, cân đối giữa các bộ phận, tiết kiệm đầu vào, giảm thời gian hoạt động để sản phẩm đầu ra có chất lượng tốt, giá trị cao thích ứng với mục tiêu đề ra
Đầu ra của quá trình quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT là các tuyến đường GTNTcó chất lượng,kích thước hình học đáp ứng tiêu chí xây dựng NTM, kết nối với nhau hợp lý góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, nâng cao mức sống cho người dân
Để đánh giá sự hài lòng của người dân đối với tiêu chí này thì có thể đánh giá qua các chỉ tiêu như: Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT có theo
mô hình chuỗi kết quả: Đầu vào Hoạt động Đầu ra Mục tiêu hay không; Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT có được thực hiện ở tất cả các cấp từ huyện xuống tới từng thôn xóm hay không; Người dân có được tham gia giám sát chặt chẽ các nguồn lực đầu vào của xây dựng giao thông nông thôn hay không; Người dân có được tham gia vào tất cả các hoạt động của quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT như: chuẩn bị, xây dựng, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu, tài chính, nhân sự…; Kết quả xây dựng hạ tầng GTNT có được quản lý chặt chẽ để không sai quy hoạch hay không?
e Về công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng NTM
Kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM là hoạt động không thể thiếu của nhà lãnh đạo quản lý, là yếu tố cấu thành của công tác quản lý xây dựng nhằm đảm bảo quá
Trang 35trình thực hiện hướng đúng mục tiêu, có sự điều chỉnh hợp lý khi các hoạt động xây dựng chịu sự tác động của các yếu tố chưa được tính đến để giảm thiểu rủi ro khi thực hiện
Công cụ của kiểm tra, giám sát là bản kế hoạch thực hiện; các bản báo cáo tiến độ thực hiện của các Ban quản lý; Báo cáo tài chính của các bộ phận; kết luận của các cuộc kiểm tra, giám sát, đánh giá
Kiểm tra, giám sát được thực hiện qua quan sát xác định khối lượng công việc được thực hiện qua sản phẩm của các công việc trong quá trình xây dựng; qua thăm dò ý kiến, kết quả hoạt động của các bộ phận liên quan;…
Hoạt động kiểm tra, giám sát là hoạt động thường niên, được tổ chức thực hiện thường xuyên; Với những công việc quan trọng, thời điểm cần thúc đẩy tiến
độ thì lãnh đạo tổ chức các cuộc kiểm tra đề xuất để vừa lấy thông tin có độ chính xác cao, vừa thúc đẩy được các hoạt động xây dựng
Yêu cầu đối với công tác kiểm tra là phải đảm bảo tính trung thực, chính xác nên đòi hỏi bộ phận kiểm tra phải có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và độc lập với các bộ phận bị kiểm tra
Như vậy, để đánh giá sự hài lòng của người dân về tiêu chí này, ta có thể đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: Ban chỉ đạo xây dựng NTM các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT hay không; Công cụ của kiểm tra, giám sát có phải là bản kế hoạch thực hiện, các báo cáo tiến độ, tài chính… hay không; Hoạt động kiểm tra, giám sát được tiến hành có sự tham gia của người dân địa phương hay không; Các báo cáo kiểm tra, giám sát đảm bảo tính trung thực, chính xác và được công bố rộng rãi hay không; Bộ phận kiểm tra phải có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và độc lập với các bộ phận bị kiểm tra hay không?
2.1.3 Bảng hỏi nghiên cứu
Căn cứ vào các nội dung cơ bản của việc tiến hành xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới, tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi cho nghiên cứu bao gồm 34 mệnh đề, trong đó có 28 mệnh đề hỏi cho 06 nội dung các nhân tố của xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới và 06 mệnh đề để đánh giá sự hài lòng của người dân như sau:
Trang 36Bảng 2.1 Bảng khảo sát sự hài lòng và các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người dân về tình hình thực hiện tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Huyện Mỹ Đức
I Công tác xây dựng quy hoạch
1 Công tác quy hoạch giao thông nông thôn được xây dựng
trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội địa phương 1 2 3 4 5
2
Quy hoạch giao thông nông thôn có sự kết nối các
tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và các
khu vực dân cư, khu vực sản xuất
1 2 3 4 5
3 Người dân được tham gia đóng góp ý kiến khi quy hoạch giao thông nông thôn 1 2 3 4 5
4 Quy hoạch hàng năm được điều chỉnh theo sự cân đối các nguồn lực của thành phố, huyện, xã và nhân dân 1 2 3 4 5
5 Người dân được tham gia kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch giao thông nông thôn 1 2 3 4 5
II Công tác chỉ đạo xây dựng
6
Công tác chỉ đạo theo nguyên tắc phân quyền, giao công
việc và giao quyền để thực hiện công việc, khuyến khích
sự tự chủ linh hoạt của cấp thực hiện
1 2 3 4 5
7 Tại địa phương đã có: Ban xây dựng NTM cấp huyện, Ban quản lý cấp xã, Ban Phát triển thôn 1 2 3 4 5
8 Các Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở các cấp thực hiện chỉ
9 Các Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở các cấp thực hiện chỉ đạo theo đúng chức năng 1 2 3 4 5
10 Công tác tuyên truyền xây dựng hạ tầng GTNT trong xây dựng NTM được phổ biến rộng rãi đến người dân 1 2 3 4 5
III Nguồn vốn và Công tác huy động vốn
11 Nguồn vốn phục vụ cho xây dựng giao thông nông thôn được đa dạng hóa từ Ngân sách các cấp, vốn vay tín dụng,
13 Nguồn vốn chi cho xây dựng hạ tầng GTNT trong xây
dựng NTM được chi theo quy hoạch, kế hoạch 1 2 3 4 5
14 Chính quyền thực hiện công khai về các khoản chi cho xây dựng giao thông nông thôn 1 2 3 4 5
IV Công tác quản lý đầu tư xây dựng
15
Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT theo mô
hình chuỗi kết quả: Đầu vào Hoạt động Đầu ra
Mục tiêu
1 2 3 4 5
Trang 3716 Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT được thực hiện ở tất cả các cấp từ huyện xuống tới từng thôn
xóm
1 2 3 4 5
17 Người dân được tham gia giám sát chặt chẽ các nguồn lực
đầu vào của xây dựng giao thông nông thôn 1 2 3 4 5
18
Người dân được tham gia vào tất cả các hoạt động của quá
trình xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT như: chuẩn bị, xây
dựng, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu, tài chính, nhân
sự…
1 2 3 4 5
19 Kết quả xây dựng hạ tầng GTNT được quản lý chặt chẽ để
V Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng
20 Ban chỉ đạo xây dựng NTM các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT 1 2 3 4 5
21 Công cụ của kiểm tra, giám sát là bản kế hoạch thực hiện, các báo cáo tiến độ, tài chính… 1 2 3 4 5
22 Hoạt động kiểm tra, giám sát được tiến hành có sự tham
gia của người dân địa phương 1 2 3 4 5
23 Các báo cáo kiểm tra, giám sát đảm bảo tính trung thực, chính xác và được công bố rộng rãi 1 2 3 4 5
24 Bộ phận kiểm tra phải có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và độc lập với các bộ phận bị kiểm tra 1 2 3 4 5
VI Chất lượng công trình xây dựng
25 Các công trình hạ tầng GTNT được xây dựng đúng theo
26 Các công trình hạ tầng GTNT được xây dựng đúng theo các
27 Các công trình hạ tầng GTNT được xây dựng đúng theo tiến độ công bố 1 2 3 4 5
28 Các công trình hạ tầng GTNT được xây dựng có độ bền cao 1 2 3 4 5
VII Sự hài lòng của người dân
29 Tôi hài lòng về Công tác xây dựng quy hoạch hạ tầng GTNT
trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
30 Tôi hài lòng về Công tác chỉ đạo xây dựng hạ tầng GTNT
trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
31 Tôi hài lòng về Nguồn vốn và Công tác huy động vốn hạ tầng
GTNT trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
32 Tôi hài lòng về Công tác quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng
GTNT trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
33 Tôi hài lòng về Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng hạ tầng
GTNT trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
34 Tôi hài lòng về Chất lượng công trình xây dựng hạ tầng GTNT
trong xây dựng NTM tại địa phương 1 2 3 4 5
(Nguồn: Tác giả tự xây dựng)
Trang 38Dựa trên nội dung các thang đo được xây dựng trong bảng hỏi, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến của người dân, sau đó thực hiện phân tích thống kê mô tả trên phần mềm SPSS 20 để đánh giá về sự hài lòng cà các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân về các tiêu chí xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn theo chuẩn nông thôn mới của địa phương
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Thực tiễn ở nước ngoài
2.2.1.1 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản đã lần lượt ban hành hàng loạt pháp lệnh và chính sách hỗ trợ nông nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài Trong thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX, Nhật Bản đã đề ra Luật cơ bản về nông nghiệp và gần 30 đạo luật khác, đồng thời nhiều lần sửa đổi Luật Đất nông nghiệp, Luật Nông nghiệp bền vững Tất cả các bộ luật này đã cấu thành một hệ thống hoàn chỉnh, tạo hành lang pháp lý để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành thuận lợi
Chính phủ Nhật Bản tích cực tham gia và đầu tư kinh phí lớn Để giải quyết vấn đề thiếu kinh phí đầu tư cho phát triển nông nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng chính sách hỗ trợ nông nghiệp như trợ giá nông phẩm, xây dựng quỹ rủi ro về giá nông phẩm, trong đó người nông dân bỏ ra 30%, Chính phủ bỏ ra 70% Những năm gần đây, kinh phí đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông nghiệp của Nhật Bản vào khoảng 1.100 tỷ yên/năm
Chính phủ luôn khuyến khích người nông dân tích cực tham gia, coi trọng tính tự lập tự chủ Thời gian đầu, công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
do Chính phủ đóng vai trò chủ đạo Chính phủ Nhật Bản đã tìm mọi cách để nâng cao tính tích cực, sáng tạo của người nông dân, để họ thực sự trở thành đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng phát triển nông thôn Cụ thể, trong phong trào xây dựng làng xã, Chính phủ Nhật Bản đề cao tinh thần phát huy tính sáng tạo, dám nghĩ dám làm, từ việc xây dựng, thực thi quy hoạch, đến việc lựa chọn sản phẩm trong phong trào “mỗi làng một sản phẩm”, đều là do dân cư các vùng
tự căn cứ vào nhu cầu của điạ phương mình để đề xuất, thực hiện
Nhật Bản đã luôn phát huy đầy đủ vai trò của hợp tác xã nông nghiệp Đó
là một tổ chức bao quát các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân Hiện nay, trên 99% số hộ nông dân ở Nhật Bản đều trực thuộc tổ chức này Thông qua sức mạnh tập thể, mạng lưới phân bố khắp cả nước đã cung cấp cho nông dân những dịch vụ nhanh chóng, chu đáo, tận tình
Trang 39Từ thập niên 70, tỉnh Oita đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” Mục đích là nhằm phát triển vùng nông thôn tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản
Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới (Trần Ngọc Ngoạn, 2016)
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình
2.2.1.2 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại Hàn Quốc
Vào những năm 1960, Hàn Quốc là một trong những trường hợp “lạc hậu”
ở châu Á (Philippines được coi là một trong những quốc gia tiên tiến nhất, chỉ đứng sau Nhật Bản) Ngày hôm nay, Hàn Quốc lại trở thành một trong những nền kinh tế phát triển cao trên thế giới trong khi Philippines vẫn đang cố gắng để
có được vị trí là một nền kinh tế đang nổi lên, ra khỏi danh sách của các nền kinh
tế kém phát triển Vậy Hàn Quốc đã làm gì để có được vị trí hiện nay? Dĩ nhiên, rất nhiều yếu tố làm nên sự khác biệt này nhưng chúng ta hãy điểm lại một số lý
do nổi bật cho sự thành công của Hàn Quốc
Hàn Quốc đã đưa ra rất nhiều giải pháp tập trung phát triển ngành công nghiệp để dẫn đến sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, đồng thời quốc gia này đặt niềm đam mê và niềm tin vào việc phát triển khu vực nông thôn và công nghiệp cùng một lúc Như vậy, sự phát triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp đã
mở đường cho nền tảng vững chắc của tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bền vững trong nhiều thập kỷ bắt đầu từ những năm 1970 Ngày nay, Hàn Quốc mạnh cả
về đô thị và nông thôn Dù ở đâu, hầu hết người dân cũng được hưởng một trong những tiêu chuẩn sống cao nhất ở châu Á Lý do cho sự thành công trong việc phát triển nông thôn là gì? Đó chính là các phong trào Saemaul Undong - có nghĩa là phong trào "Cộng đồng Mới"
Phong trào bắt đầu vào 22/4/1970 như một chiến dịch phát triển nông thôn Sau đó, sức lan tỏa được ví như “cháy rừng” trên toàn Hàn Quốc Chiến dịch được thiết lập theo sự chỉ dẫn của Tổng thống Park Chung-Hee Tổng thống
Trang 40đã từng lập luận "Tôi tin rằng nếu chúng ta chăm lo cho cộng đồng bằng chính bàn tay của mình với tinh thần tự chủ và độc lập, bằng mồ hôi của chính mình, sau này đời sống của chúng ta sẽ cải thiện xứng đáng" Khi phong trào được phát động, Hàn Quốc bắt đầu cất cánh về mặt kinh tế và không có sự tụt hậu từ đó Philippines ngày nay cũng được cho là quốc gia đang cất cánh nhưng vẫn cần một nền tảng vững chắc và hỗ trợ phát triển nông thôn Phần lớn sự tăng trưởng kinh tế mà là ở khu vực thành phố và nông thôn lại bị bỏ quên Trên thực tế, cái nghèo vẫn hiện hữu rất nhiều ở nông thôn Thống kê cho thấy rằng trong khi nghèo đói ở khu vực đô thị chỉ khoảng 10% dân số nhưng ở khu vực nông thôn, điều này có thể tăng cao khoảng 50% hoặc hơn
Hàn Quốc đã trải qua vấn đề này vào thời điểm những năm 1970 Vì thế, phong trào Saemaul Undong đã được hình thành để giải quyết vấn đề này Phong trào tìm cách loại bỏ mọi sự nghèo khó của quá khứ, để thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, công nghiệp và nông nghiệp Giáo sư Kim Yu-Hyok của Đại học Dankuk viết: "Phong trào Saemaul là một động lực vươn tới sự sự tích cực, tự lực và hợp tác Nó chạm đến hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống để thúc đẩy sự tiến bộ từ sức mạnh của tinh thần tự lực cánh sinh”
Năm 1979, thu nhập bình quân đầu người tăng 7 lần so với năm 1970 và tăng khoảng 20 lần so với năm 1960 Kim ngạch xuất khẩu đã tăng 17 lần so với năm 1970 Từ một quốc gia không phát triển trong năm 1960, thời gian này Hàn Quốc xem mình là một trong hàng ngũ của các nước đang phát triển Hôm nay, Hàn Quốc được phân loại như là một nền kinh tế phát triển cao Như vậy, từ kinh nghiệm thực tế của Hàn Quốc và đôi nét so sánh với Philippines, Việt Nam cũng
có thể rút ra những chân lý nhất định để có thể vươn tới tầm cao như Hàn Quốc
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp, lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của Chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó,và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có chất lượng, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng