TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vũ Văn Tàı Tên luận văn: Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và ảnh hưởng của nó đến các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Trực - tỉnh
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thời
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Văn Tài
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong cả quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo thuộc Khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý Đào tạo và các Khoa có liên quan đến nội dung đào tạo – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Đề tài được hoàn thành, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Nguyễn Khắc Thời là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của UBND huyện Nam Trực, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi Trường huyện Nam Trực, các phòng ban của huyện, UBND các xã vùng nghiên cứu, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Văn Tài
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Tính mới của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa khoa học 2
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Chính sách quản lí và sử dụng ruộng đất ở Việt Nam 3
2.1.1 Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta sau cách mạng Tháng Tám đến trước năm 1986 3
2.1.2 Chính sách ruộng đất sau thời kì đổi mới đến nay 4
2.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa 7
2.2.1 Khái quát về ruộng đất manh mún 7
2.2.2 Khái quát về dồn điền đổi thửa 9
2.3 Tình hình dồn điền đổi thửa ruộng đất ở trên thế giới và ở Việt Nam 12
2.3.1 Tình hình dồn điền đổi thửa ruộng đất trên thế giới 12
2.3.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ruộng đất ở Việt Nam 13
2.4 Tổng quan về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 18
2.4.1 Sử dụng đất nông nghiệp 18
2.4.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19
2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 22
Trang 52.5 Tình hình dồn điền đổi thửa tại tỉnh Nam Định 25
2.6 Nhận xét chung về công tác dồn điền đổi thửa 27
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.2.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất 30
3.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai huyện Nam Trực 30
3.2.3 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 30
3.2.4 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 30
3.2.5 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ DĐĐT và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Trực 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 31
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
3.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 32
3.3.5 Phương pháp so sánh 33
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 34
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Nam Trực 34
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 34
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 38
4.2 Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất của huyện Nam Trực 47
4.2.1 Tình hình quản lý đất đai 47
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2016 50
4.3 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Nam Trực 53
4.3.1 Quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa huyện Nam Trực 53
4.3.2 Kết quả dồn điền đổi thửa huyện Nam Trực 56
4.4 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 61
4.4.1 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở 2 xã nghiên cứu 61
Trang 64.4.2 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp 63
4.4.3 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng 65
4.4.4 Ảnh hưởng của DĐĐT đến kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, khả năng đầu từ cho sản xuất và áp dụng các phương tiện cơ giới trong sản xuất 68
4.4.5 Ảnh hưởng của DĐĐT đến công tác quản lý nhà nước về đất đai 70
4.4.6 Ảnh hưởng của DĐĐT đến một số loại sử dụng đất nông nghiệp 72
4.5 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ DĐĐT và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Trực 76
4.5.1 Các giải pháp về đẩy nhanh tiến độ DĐĐT 76
4.5.2 Giải pháp về nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa 78
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Tài liệu tham khảo 82
Phụ lục 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CĐRĐ Chuyển đổi ruộng đất
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá
CPTG Chi phí trung gian
LUT Loại sử dụng đất (Land Use Type)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình tích tụ đất ở một số nước Châu Á 12
Bảng 2.2 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ 14
Bảng 2.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 15
Bảng 2.4 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH 15
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu thời kỳ 2010 - 2016 38
Bảng 4.2 Giá trị sản xuất ngành thủy sản 41
Bảng 4.3 Cơ cấu GTSX ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 41
giai đoạn 2010 - 2016 41
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực thời kỳ 2010 – 2016 43
Bảng 4.5 Hiện trạng sử dụng đất huyện Nam Trực năm 2016 50
Bảng 4.6 Quy mô diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau chuyển đổi ruộng đất của các xã 57
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Nam Trực 58
Bảng 4.8 Diện tích đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa 60
Bảng 4.9 Kết quả dồn diền đổi thửa tại 2 xã nghiên cứu 61
Bảng 4.10 Biến động diện tích đất nông nghiệp trước và sau DĐĐT tại 2 xã điều tra 63
Bảng 4.11 Diện tích, năng suất, một số cây trồng chính trước và sau dồn điền đổi thửa của 2 xã nghiên cứu 66
Bảng 4.12 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi nội đồng trước và sau DĐĐT 68
Bảng 4.13 Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau DĐĐT 69
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của DĐĐT đến công tác QLNN về đất đai 71
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của một số loại sử dụng đất nông nghiệp 73
Bảng 4.16 Hiệu quả xã hội của một số loại sử dụng đất nông nghiệp 74
Bảng 4.17 Kết quả phỏng vấn nông hộ sau dồn điền đổi thửa 75
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2016 huyện Nam Trực 51
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Nam Trực 34
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vũ Văn Tàı
Tên luận văn: Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và ảnh hưởng của nó đến
các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định
- Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất
- Đánh giá tình hình quản lý đất đai huyện Nam Trực
- Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp khuyến khích dồn điền đổi thửa để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Vàn thấp chuyên lúa (xã Đồng Sơn) và
vàn cao trồng màu (xã Nam Dương)
- Phương pháp thu thập thông tin: Sơ cấp và thứ cấp
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel
- Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Phương pháp so sánh
Trang 11Kết quả nghiên cứu chính
1 Sau khi thực hiện quá trình dồn điền đổi thửa trên toàn huyện Nam Trực, tổng diện tích đất nông nghiệp sau chuyển đổi năm 2016 là 11.588,83 ha giảm 141,09 ha so với trước khi chuyển đổi, mức độ manh mún đã giảm đáng kể cụ thể: bình quân số thửa đất/hộ giảm từ 5,89 thửa xuống còn 3,53 thửa (giảm 2,36 thửa/hộ), bình quân diện tích/thửa tăng từ 512,08 m2
lên 844,23 m2 , bình quân diện tích đất/khẩu giảm 18,36 m2
2 Kết quả nghiên cứu tại 2 xã Đồng Sơn và Nam Dương đại diện cho 2 vùng (vùng trũng chuyên lúa và vùng đồng màu) có sự thay đổi như sau:
- Bình quân diện tích/thửa tăng từ 522,62 m2 lên 822 m2 (xã Đồng Sơn) và 424,47
m2 lên 709,64 m2 (xã Nam Dương)
- Bình quân số thửa/hộ đã giảm ở xã Đồng Sơn từ 5,15 thửa/hộ xuống còn 3,17 thửa/hộ và ở xã Nam Dương giảm từ 5,18 thửa/hộ còn 3,11 thửa/hộ
3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp sau khi dồn điền đổi thửa ở 2 xã nghiên cứu như sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp giảm 16,92 ha ở xã Đồng Sơn và giảm 12,17 ha ở xã Nam Dương
- Đất giao thông tăng 12,15 ha ở xã Đồng Sơn và tăng 5,04 ha ở xã Nam Dương
- Đất thủy lợi giảm 5,09 ha ở xã Đồng Sơn và giảm 1,87 ha ở xã Nam Dương
- Sau dồn điền đổi thửa một phần đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sang nuôi trồng thủy sản và trồng cây ăn quả
- Dồn điền đổi thửa đã thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa sản xuất từ 2 vụ lúa đã chủ động trồng thêm vụ đông…mang lại hiệu quả kinh tế cao + Về hiệu quả kinh tế: LUT chuyên lúa trước dồn điền đổi thửa với GTSX là 89,34 triệu đồng/ha tăng lên 97,54 triệu đồng/ha sau dồn điền đổi thửa LUT chuyên màu cho hiệu quả kin tế cao nhất sau dồn điền đổi thửa với GTSX là 140,39 triệu đồng/ha
+ Hiệu quả xã hội: Sau dồn điền đổi thửa hầu hết người dân đều phấn khởi vì hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn trước khi chuyển đổi ruộng đất
4 Dồn điền đổi thửa đã mạng lại hiệu quả tích cực như không còn hiện tượng tranh chấp, lấn chiếm và khiếu nại tố cáo về đất sản xuất nông nghiệp trên phạm vi 2 xã nghiên cứu
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Vu Van Tai
Thesis title: Assessment of the status of land consolidation and its impact on
agricultural land use issue in Nam Truc district – Nam Dinh province
Major: Land management Code: 8850103
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
- Assessment on the actual situation of land consolidation to the agricultural land use in Nam Truc district – Nam Dinh province
- Impact of the land consolidation on the agricultural land use in Nam Truc district – Nam Dinh province
- Proposal for some solutions to strictly enhance the land consolidation in Nam Truc district – Nam Dinh province
Subjects of research: the land consolidation in Nam Truc district
Contents of research:
- Generally assess the natural and socio - economic conditions related to land use
- Asessment on the land management of Nam Truc district
- The actual situation of land consolidation in Nam Truc district, Nam Dinh province
- Impact of land consolidation to the agricultural land use in the locality of research
- Proposal for solutions to encourage land consolidation to improve land use efficiency
Method of research
- Method of selecting research location: low land for rice growing (Dong Son commune) and high land for vegetable growing (Nam Duong commune)
- Method of information collection: primary and secondary information
- Method of data processing: using Excel software
- Method of defining criteria system for assessment of agricultural land use efficiency
- Method of comparison
Main research result
1 After implementing land consolidation process throughout Nam Truc district, total agricultural land area after consolidation in 2016 is 11,588.83 ha, decreasing 141.09 ha
Trang 13compared to that before consolidation, the level of fragmentation has been significantly reduced, as specified : the average of land plot/household reduced from 5.89 plots to 3.53 plots (reducing 2.36 plots per household), the average of land area / plot increased from 512.08 m2 to 844.23 m2, the average of land area/person decreased by 18.36 m2
2 The results of the research in two communes such as Dong Son and Nam Duong as representatives for two regions (rice and vegetable areas) showare as follows:
- The average area/plot increased from 522.62 m2 to 822 m2 (Dong Son commune) and 424.47 m2 to 709.64 m2 (Nam Duong commune)
- Average number of plots/household in Dong Son commune decreased from 5.15 plots/household to 3.17 plots/household and in Nam Duong commune decreased from 5.18 plots/household to 3.11 plots/household
3 Impact of land consolidation on the agricultural land use after consolidation in two conducted comunes as follows:
- Agricultural land decreased 16.92 ha in Dong Son commune and decreased by 12.17 ha in Nam Duong commune
- Traffic land increased 12.15 ha in Dong Son commune and increased 5.04 ha in Nam Duong commune
- Irrigation land decreased 5.09 ha in Dong Son commune and decreased 1.87 ha
in Nam Duong commune
- After land consolidation, a part of agricultural land has been transfered into aquaculture and fruit trees
- Land consolidation has strengthened the conversion of crop structure and diversification of production, from two rice crops, one winter crop is added, which has brought high economic efficiency
+ Economic efficiency: the land for rice growing before land consolidation with the production value of VND 89.34 million/ha increased to VND 97.54 million/ha after land consolidation The land for vegetable growing has reached highest economic efficiency after land consolidation with production value of VND 140.39 million/ha + Social benefits: After land consolidation, most people have been excited for the economic efficiency which is higher before land conversion
4 The land consolidation has brought about positive results such as the absence of disputes, encroachment and complaints about land for agricultural production in the two researched communes
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện, phương tiện duy trì và phát triển sự sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh Vai trò của đất đối với con người và các hoạt động sống là rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người Vì vậy, quản lý
và sử dụng đất một cách hiệu quả là mục tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và mỗi quốc gia
Trong những năm qua, sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân còn một số hạn chế, điển hình là tình trạng manh mún ruộng đất ở nông thôn Khái niệm manh mún ruộng đất trong nông nghiệp được hiểu trên hai khía cạnh: Một là sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ), một hộ có nhiều thửa ruộng với kích thước một thửa tương đối nhỏ Hai là sự manh mún thể hiện
về quy mô đất đai trên một đơn vị sản xuất, diện tích ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác Cả hai kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng các quy trình tiến bộ
kỹ thuật đồng nhất của một loại hình canh tác nào đó trong sản xuất Ngoài ra tình trạng manh mún ruộng đất cũng gây nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lý
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai
Ở Việt Nam, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là
ở đồng bằng sông Hồng, nơi mật độ dân số cao dẫn đến tình trạng hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng các quy trình tiến bộ kỹ thuật đồng nhất của một loại hình canh tác nào
đó trong sản xuất, ngoài ra còn gây nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lý
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai
Công tác DĐĐT là một giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề trên, đồng thời còn gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánh đồng mẫu cho thu nhập cao đã tạo điều kiện để đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thu hút khuyến khích doanh nghiệp liên kết trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
Trang 15Để đánh giá công tác DĐĐT trên địa bàn huyện Nam Trực một cách khách quan, sát thực, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy nhanh công tác DĐĐT, tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh, tiến tới phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới Được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời Với tất cả những lý do
trên, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng công tác dồn điền
đổi thửa và ảnh hưởng của nó đến các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định
- Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định
1.3 TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá đúng thực trạng dồn điền đổi thửa của huyện Nam Trực
- Đề xuất giải pháp thực hiện ở giai đoạn sau
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC
- Hệ thống hóa và luận giải sâu sắc hơn cở sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Trình bày quan điểm và những giải pháp cơ bản để thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp ở huyện Nam Trực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CHÍNH SÁCH QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 2.1.1 Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta sau cách mạng Tháng Tám đến trước năm 1986
- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước từ sau cách mạng Tháng Tám đến trước năm 1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: Địa chủ và Tá điền, tầng lớp Địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là Tá điền không có đất và đi làm thuê cho tầng lớp Địa chủ
Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và Tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với Thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình Cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp, trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm
do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm
ở mức rất thấp (2,0%) Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2 - 2,35%/năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đã dẫn đến một bộ phận
Trang 17lớn dân số sống trong tình trạng nghèo đói (Bộ Nông nghiệp và PTNT - 2003)
- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước từ năm 1981 đến năm 1986
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các mô hình thí điểm, ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ra Chỉ thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đã hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị 100 là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn sự
sa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Từ đó nền nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó Đã xuất hiện nhiều mô hình mà năng suất lúa đạt
10 tấn/ha (Bộ Nông nghiệp và PTNT - 2003)
2.1.2 Chính sách ruộng đất sau thời kì đổi mới đến nay
- Chính sách khoán sản phẩm tới các hộ nông dân trong các HTXNN
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp Theo cơ chế khoán 10, ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên trong khoảng 15 năm, sản lượng khoán ổn định trong 5 năm, các hộ xã viên nhận khoán được hưởng khoảng 40% sản lượng khoán Tiếp theo đó Hội nghị TW
6 (khóa VI) đã ra Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ Việc khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ và được nhận
Trang 18khoán đất nông nghiệp sử dụng lâu dài đã tạo ra động lực mới trong sản xuất, khuyến khích hộ nông dân bỏ thêm vốn liếng, công sức, vật tư vào sản xuất
Sau một thời gian tạo ra động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp, chính sách quản lý đất đai dựa trên cơ chế khoán thể hiện một số hạn chế như cơ chế quản lý và phân phối kết quả sản xuất do nông dân làm ra chưa công bằng; Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất Từ đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp
- Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân trong sở hữu và sử dụng đất theo tinh thần đổi mới từ năm 1993 đến nay
Luật Đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Theo đó, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất Luật cũng quy định thời gian giao đất được ổn định trong 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Hết thời hạn giao đất nông dân có thể được gia hạn sử dụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản lý đất đai khác của Nhà nước Luật cũng quy định hạn mức giao đất tới 3ha áp dụng cho 16 tỉnh, tỉnh, ở Miền Nam, hạn mức 2 ha đối với các tỉnh thành khác Điểm mới của Luật Đất đai năm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tự chủ cá nhân trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụng khuyến khích nông dân tìm phương thức sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn
Luật Đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2001 và đặc biệt sau 10 năm thực hiện Luật Đất đai 1993 được sửa đổi căn bản vào năm 2003, trong đó phân định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của cả Nhà nước
và nông dân sử dụng đất nông nghiệp Với việc ban hành Luật Đất đai năm 2003,
2013 Nhà nước ta đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho việc xây dựng chính sách đất nông nghiệp thích hợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trên các điểm sau: thừa nhận quyền tự do kinh doanh trên đất của nông
Trang 19dân; quyền sử dụng đất có đủ điều kiện pháp lý trở thành hàng hóa; thiết lập thể chế pháp lý cần thiết để đất nông nghiệp tham gia thị trường bất động sản; bảo hộ thích đáng lợi ích của người sử dụng đất
- Chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và Luật Đất đai năm
2003 và Luật Đất đai năm 2013 đều quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp GCNQSDĐ Việc giao đất, cấp GCNQSDĐ nông nghiệp cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định
- Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 2013 chú trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để kinh doanh nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tích tụ, tập trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả Do diện tích đất nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu, có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phân chia rất manh mún Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 - 0,3 ha đất canh tác nằm rải rác trên nhiều xứ đồng vẫn rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc Các quy định của Luật Đất đai về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước ta trong một số năm gần đây
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay
đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000 - 2003.An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi (Nguyễn Sinh Cúc, 2003)
Trang 202.2 TỔNG QUAN VỀ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
2.2.1 Khái quát về ruộng đất manh mún
2.2.1.1 Khái niệm
Manh mún đất đai, nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là một trong những đặc điểm cơ bản của nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Khái niệm manh mún đất đai được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác (Bộ Nông nghiệp và PTNT - 2003)
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Vì thế người ta luôn tìm cánh khắc phục tình trạng này
Manh mún đất đai xẩy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và
ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của công tác địa chính,
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa đất, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7 - 8 thửa Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
Trang 212.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất
Những nguyên nhân sau dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún:
- Do sự phức tạp của địa hình đất nước ta, đất đai bị chia cắt theo 3 dạng: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún;
- Chế độ chia đều ruộng đất cho con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả con cái sau khi lập gia đình và tách hộ ra ở riêng
Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ;
- Tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các
hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là thay đổi liên quan đến ruộng đất;
- Phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về giao đất cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã tác động không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do khiến các địa phương chia nhỏ ruộng đất cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp,… có như vậy mới thể hiện tính công bằng;
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ; + Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều ruộng đất cho các hộ;
+ Có những chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua, mặn, Do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng (Nguyễn Khắc Thời – 2011)
2.2.1.3 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước ở địa phương
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất gây khó khăn cho người nông dân sản xuất và nhà quản lý, cụ thể như sau:
- Manh mún ruộng đất, dẫn đến giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp do
bờ ngăn, bờ thửa, theo tính toán có thể làm giảm từ 2,4 - 4% diện tích đất nông
Trang 22nghiệp (Nguyễn Khắc Thời – 2009);
- Manh mún ruộng đất làm hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất;
- Manh mún ruộng đất làm tăng chi phí sản xuất cao hơn do chi phí lao động cao bởi nông dân phải tốn nhiều thời gian hơn để đi từ mảnh ruộng này đến mảnh ruộng khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều mảnh nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra cao hơn;
- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm lại, tình trạng manh mún ruộng đất dẫn đến việc sản xuất đạt hiêu quả thấp, chất lượng sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường, không đáp ứng được việc xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Vì thế Đảng và Nhà nước ta chủ trương cần phải dồn điền đổi thửa tạo ra sự tươi mới trong sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Khái quát về dồn điền đổi thửa
2.2.2.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa
- Khái niệm về dồn điền đổi thửa: là tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành các thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành nhiều mảnh ruộng nhỏ Có hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ để cơ chế này vận hành tốt
Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện quy hoạch có chủ định, theo cách này các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông
hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên việc thực hiện trong quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất
ở các nhóm xã hội khác nhau
2.2.2.2 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp CNH -
Trang 23HĐH đất nước, nền nông nghiệp, đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp
đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính
là tình trạng ruộng đất quá manh mún, quá nhiều ô thửa nhỏ Chuyển đổi ruộng đất
để tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn (Tổng cục địa chính - 1998)
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất, nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Tổng cục địa chính - 1997)
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành dồn điền đổi thửa hay thường gọi là chuyển đổi ruộng đất Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn;
Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương đều xác định dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau
2.2.2.3 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền, đổi thửa
Nước ta bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình kể từ Đại hội VI của Đảng vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm
1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng
ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm
mà họ sản xuất ra Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn
Trang 24nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi
là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất
Luật Đất đai năm 1993 đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp bằng QSD đất Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất
là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 - 8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10 – 20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng ĐBSH đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700 xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các
hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng
Trang 25mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó
có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận
về kế hoạch hoá sử dụng đất (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2003)
2.3 TÌNH HÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA RUỘNG ĐẤT Ở TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình dồn điền đổi thửa ruộng đất trên thế giới
Ruộng đất ở một số nước châu Á
Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Á được thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1 Tình hình tích tụ đất ở một số nước Châu Á
Tên nước Quy mô trang trại (ha)
Năm 1950 Năm 1970 Năm 1990
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003)
Qua bảng 2.1 cho thấy: Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp, quy mô trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu,
Mỹ Ngay ở Nhật Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình trạng như vậy
Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán ruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương này nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, họ có kinh nghiệm đáng quan tâm là hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân Một hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con
Trang 26Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi NN) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thức sản xuất ủy thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
2.3.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ruộng đất ở Việt Nam
2.3.2.1 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác nhiều thửa đất diện tích nhỏ vị trí riêng lẻ xa rời nhau (từ 3 thửa đất trở lên) Ở miền Bắc nước ta, theo con
số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu mảnh ruộng, trung bình một hộ nông dân
có khoảng 7 - 8 mảnh Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt, cho nên rất nhiều nước
đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai.Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng có hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng mang lại một số lợi ích nhỏ, trước mắt cho nông dân Do đó ở nhiều nơi nông dân muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này
Trang 27* Đồng bằng sông Hồng
Muốn có được những giải pháp triệt để khắc phục tình trạng manh mún ở ĐBSH trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của manh mún ruộng đất và những nguyên nhân gây nên tình trạng này Manh mún ruộng đất ở ĐBSH là một hiện tượng mang tính lịch sử Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ: manh mún về ô thửa và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân Vào những năm 30 của thế
kỷ trước, ĐBSH đã có đến 16,0 triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau Diện tích trung bình mỗi thửa ở tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ là 680 m2 Nếu tính riêng diện tích phải giành ra làm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH đã mất đi trên 3% diện tích đất canh tác Đến năm 1997, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùng sinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía Bắc
Ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25 ha/hộ
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%)
đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Bảng 2.2 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
Loại quy mô hộ 2005 1994 So sánh
Trang 28nhiều thửa loại, hạng đất khác nhau và manh mún rất cao Tình trạng mang mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước tập trung chủ yếu trên các
loại đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể hiện ở 2 mặt:
cây màu nhỏ hơn từ 100-200 m2 đặc biệt, với cây rau thì rất nhỏ chỉ từ 20 – 50 m2
,
tỷ lệ thửa có diện tích < 100 m2 chiếm đến 5 - 10% tổng số thửa
Số thửa/hộ: Số hộ có từ 7 đến 10 thửa là phổ biến, thậm chí có nơi lên tới 25
thửa, cá biệt có hộ có 47 thửa (Vĩnh Phúc) Về số thửa/hộ giữa các vùng cũng có
sự khác nhau Ví dụ: ở Nam Định là 5,7 thửa, ở Tỉnh Hà Nam là 8,3 thửa, trong đó
ở Hải Dương là 11 thửa
Bảng 2.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
TTT Vùng sinh thái Tổng số thửa trên/ hộ Diện tích bình quân
(m 2 )/thửa Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau
1 Trung du miền núi Bắc bộ 10 – 20 150 150 - 300 100 – 150
2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 – 150
3 Duyên hải Bắc Trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 – 300
4 Duyên hải Nam Trung bộ 5 – 10 30 300- 1000 200 – 1000
7 Đồng bằng sông Cửu Long 3 10 3000 - 5000 500 – 1000
Nguồn: Tổng cục Địa chính năm (1997)
Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp năm 2003 cũng phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSH, kết quả cụ thể được tổng hợp ở bảng 2.4
Bảng 2.4 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
TT Tỉnh
Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa (m 2 )
Ít nhất
Nhiều nhất
Trung bình
Nhỏ nhất Lớn nhất
Trung bình
Trang 29Kết quả ở bảng 2.4 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số tỉnh đồng bằng sông Hồng rất khác nhau; ở các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng
2.3.2.2 Tình hình thực hiện dồn đổi ruộng đất ở một số tỉnh ở nước ta
Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí trong xây dựng NTM, song với những địa phương có diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, bình quân mỗi hộ dân sở hữu nhiều ô, thửa ruộng phân tán trên nhiều cánh đồng như hầu hết các xã của tỉnh Nam Định thì việc làm này hết sức cần thiết Nếu tiến hành thành công DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới hầu hết 19 tiêu chí trong xây dựng NTM Chính vì vậy, để triển khai thắng lợi Chương trình 02-CTr/TU, Ban chỉ đạo tỉnh Nam Định đã xác định một trong những khâu đột phá là tập trung chỉ đạo thực hiện công tác DĐĐT diện tích đất nông nghiệp không nằm trong quy hoạch công nghiệp và quy hoạch đô thị Ngay sau khi UBND tỉnh Nam Định có kế hoạch và Hướng dẫn, các Huyện, thị xã đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch và ban hành nghị quyết về công tác DĐĐT, đồng thời giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể để các xã căn cứ phấn đấu thực hiện Các xã đã bám sát hướng dẫn của Sở NN-PTNT tiến hành xây dựng phương án DĐĐT trình duyệt, đồng thời rà soát nhân khẩu, hộ khẩu, diện tích đất nông nghiệp giao theo Nghị định số 64/CP, một số xã đã và đang tiến hành đo đạc, quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng
Tại các địa phương trình tự, phương pháp đã cơ bản thực hiện theo hướng dẫn của tỉnh Nhiều huyện, thị xã đã coi nhiệm vụ DĐĐT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2013
Với những kết quả tích cực cũng đồng nghĩa với năng lực tổ chức thực hiện các nội dung Chương trình xây dựng NTM nói chung và công tác DĐĐT nói riêng của cán bộ từ huyện đến xã đã được nâng lên rõ rệt, củng cố lòng tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo công bằng, dân chủ trong cộng đồng nông thôn
Tuy nhiên, công tác DĐĐT là một việc làm rất khó, bởi nó đụng chạm tới quyền lợi của hầu hết các hộ dân, phải tiến hành một khối lượng công việc rất lớn
từ xây dựng phương án, kế hoạch triển khai, đến tổ chức tuyên truyền, họp ở nhiều cấp, đo đạc, lên bản đồ, gắp thăm, chia đất, cấp hồ sơ giấy tờ chính vì vậy cán bộ địa phương ở một số nơi ngại, không muốn làm Công tác tuyên truyền, vận động
Trang 30nhân dân ở một số nơi hạn chế, chưa làm cho người dân thấy được ích lợi trước mắt và lâu dài của công tác DĐĐT Những nguyên nhân đó đã dẫn đến một số hạn chế, khó khăn trong công tác DĐĐT trong thời gian qua tại các địa phương và rất cần phải khắc phục
Tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định là một trong những huyện đi đầu và làm tốt công tác chuyển đổi đất nông nghiệp để thực hiện cùng một lúc nhiều mục tiêu, đó là: khắc phục tình trạng đất manh mún, giảm thiểu số thửa ruộng trên mỗi hộ; kết hợp quy hoạch lại đồng ruộng phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá; tập trung lại đất công của từng xã lâu nay nằm tản mạn trong các hộ, việc quản lý và sử dụng diện tích đất này không hiệu quả Trong năm 2003 có
19 xã, thị trấn đã hoàn thành kế hoạch công tác dồn điền đổi thửa Còn xã Liêm Hải hoàn thành 26/33 đội (7 đội chưa thực hiện là các đội 1, 2, 10, 18 HTXNN Trực Liêm và các đội 5, 6, 10 HTXNN Trực Hải); xã Phương Định hoàn thành 8/10 đội của HTXNN Trực Phương, (2 đội chưa thực hiện là đội ông Hưng và đội ông Bộ thôn Cự Trữ); HTXNN Trực Định 14/14 đội chưa triển khai Đến năm 2006 HTXNN Trực Định đã thực hiện tại 5 đội là Hoà Lạc, Hoà Bình, Đại Thắng 1, Đại Thắng 2 và An Trong
Qua tổng hợp, công tác dồn điền đổi thửa đã đạt được một số mục đích, yêu cầu đề ra đó là:
+ Số thửa đất nông nghiệp bình quân/hộ đã giảm trên 34%: Từ 4,80 thửa/hộ xuống còn 3,16 thửa/hộ
+ Đất công ích và đất dành cho quy hoạch đã được dồn đổi cơ bản tập trung theo vùng và theo quy hoạch; số thửa đất công ích giảm 2.627 thửa (= 44,7%) số thửa, từ 5.868 thửa xuống còn 3.241 thửa
+ Bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích đất trồng lúa có năng suất thấp được chuyển sang nuôi trồng thủy sản, diện tích đất sản xuất cây vụ đông được tăng lên
+ Hiệu quả cho thuê đất công ích và đất nông nghiệp dành cho quy hoạch tăng lên rõ rệt
+ Song song với công tác dồn điền đổi thửa, việc lập hồ sơ cấp đổi GCN QSDĐ nông nghiệp đã được triển khai, đến nay đã lập xong hồ sơ cấp đổi GCN sau dồn điền đổi thửa tại 11 xã với 21.005 hộ đạt 47,55% Trong đó đã có quyết định cấp GCN của UBND huyện và ký, trao GCN tới hộ nông dân là 11.048 hộ
Trang 31Tỉnh Phú Thọ chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên (Phong Châu) và xã Trung Vương (TP Việt Trì) tổ chức làm thí điểm và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm 60 xã ở các vùng khác nhau
2.4 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.4.1 Sử dụng đất nông nghiệp
2.4.1.1 .Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp
Luật đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”
2.4.1.2 Mối liên hệ giữa DĐĐT và sử dụng đất nông nghiệp
- Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp sẽ khắc phục được tình trạng ruộng
đất manh mún
- Dồn điền, đổi thửa tạo tiền đề cho việc quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sở
cho việc hoạch định chính sách đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao thông nội đồng, cứng hóa hệ thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên canh, khai thác lợi thế của từng vùng đất khác nhau
Dồn điền đổi thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, làm tiền đề cho việc hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp và có điều kiện để hình thành nhiều trang trại, nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân công lại lao động xã hội Bởi vì hiện nay do ruộng đồng có ô thửa nhỏ, trên một cánh đồng các hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau, chế độ chăm sóc thu hoạch khác nhau Điều đó gây ảnh hưởng
và hạn chế lẫn nhau, không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không có khối lượng hang hóa lớn Nếu thực hiện dồn điền đổi thửa sẽ khắc phục được tình trạng này
Dồn điền đổi thửa thành công sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Hiện nay do thửa ruộng nhỏ, khâu làm đất người nông dân chủ yếu cày bừa
Trang 32thủ công theo lối truyền thống bằng trâu, bò, thậm chí nhiều nơi người dân vẫn cuốc đất bằng tay Mặt khác khâu gieo cấy, thu hoạch phổ biến hiện nay vẫn áp dụng phương pháp thủ công là chính, chi phí cao, mất nhiều thời gian, năng suất lao động thấp, nông dân vẫn phải lao động cực nhọc Nếu đẩy mạnh việc dồn điền đổi thửa sẽ dễ dàng cho việc áp dụng máy móc vào sản xuất như máy cày bừa, máy gặt đập liên hợp, phương tiện vận chuyển cơ giới… Khi đó hao phí thời gian công lao động ít, lao động sống được giải phóng, giảm được lao động cực nhọc của người dân, năng suất lao động cao, hiệu quả sản xuất tốt hơn Mặt khác dồn điền đổi thửa sẽ giảm được chi phí lao động tiết kiệm được các chi phí đầu tư khác như: giống, phân bón, nước tưới, thuốc trừ sâu, thời gian lao động, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, đời sống nhân dân và ổn định xã hội
Dồn điền đổi thửa sẽ tạo điều kiện sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hóa
đủ lớn giúp cho công nghiệp chế biến phát triển, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nông sản Bởi vì đến giai đoạn hiện nay nước ta không chỉ giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực mà còn phải phát triển giá trị kinh tế cao như sản xuất nông sản xuất khẩu, khai thác tốt thế mạnh của từng vùng Muốn làm được điều đó thì vai trò của dồn điền đổi thửa đóng góp rất quan trọng
2.4.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà khoa học kinh tế Samuelson Nordhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác".Theo các nhà khoa học Đức như: Stenien, Rusteruyer, Simmerman, Hanau hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội
Hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
- Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật "tiết
kiệm thời gian"
Trang 33- Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết
hệ thống
- Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người (Vũ Thị Bình – 2005)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
Hiệu quả xã hội
Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu
về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại
Theo Nguyễn Sinh Cúc (2003), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến
Hiệu quả sử dụng đất
Trang 34Đất đai nói chung và đất nông lâm nghiệp nói riêng là loại tư liệu sản xuất đặc biệt, một yếu tố đầu vào quan trọng nhất của sản xuất nông lâm nghiệp Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một đơn vị diện tích đất nông lâm nghiệp nhất định có thể thu được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với mức chi phí bỏ ra thấp nhất trong một khoảng thời gian nào đó Hoặc cũng có thể coi tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế
sử dụng đất là số lượng kết quả tăng thêm trên một đơn vị diện tích hoặc mức độ tiết kiệm chi phí bỏ ra để sản xuất một đơn vị sản phẩm (Vũ Thị Bình – 2005)
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Trong điều kiện sản xuất nhất định việc sử dụng đất đai phải cố gắng tối thiểu hoá các chi phí đầu vào theo nghĩa tiết kiệm các chi phí không cần thiết để sản xuất ra lượng sản phẩm nào đó hoặc cố gắng tối đa hoá lượng sản phẩm sản xuất khi có giới hạn diện tích đất và yếu tố sản xuất khác Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế sử dụng đất NLN phải gắn liền với hiệu quả kinh
tế xã hội của các chủ thể và ngành hàng trong nền kinh tế quốc dân Do vậy tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất đất được đánh giá dựa trên quan điểm sử dụng đất tổng hợp bền vững dựa vào các chỉ tiêu đánh giá sau:
- Đảm bảo an ninh lương thực và tạo nhiều sản phẩm có giá trị hàng hoá được thị trường chấp nhận, thúc đẩy sản xuất NLN phát triển, thực hiện tập trung
và chuyên canh hoá trong sản xuất
- Có thu nhập và khả năng sinh lợi cao Kiểm soát được xói mòn, bảo vệ và duy trì độ phì của đất, tăng năng suất cây trồng, giữ được quỹ đất, nguồn nước, đa dạng sinh học và tạo nhiều sản phẩm
- Không gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng, thu hút nguồn lao động, tạo công
ăn việc làm, không làm tổn hai đến rừng phòng hộ, các hoạt động sản xuất- xã hội, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống xã hội
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất đất NLN phải đặt trong mối quan hệ giữa việc sử dụng loại đất này với các loại đất khác (dân cư nông thôn, đất ở đô thị, đất chuyên dùng) và sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất NLN phải gắn với đặc điểm và trình độ phát triển sản xuất trong từng thời kỳ Phải hiểu một cách đầy đủ bản chất của hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, môi trường, hiệu quả trước mắt và lâu dài, hiệu quả toàn bộ và hiệu quả bộ phận
Trang 352.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.4.3.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên
a vị trí địa lý
Vị trí địa lý có ảnh hưởng lớn đến bố trí sản xuất nói chung và có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp (trồng trọt) nói riêng Sản xuất nông nghiệp và nhất là trồng trọt gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất, nước, khí hậu thời tiết, ngoài ra cũng cần có điều kiện thuận lợi cho đầu ra của sản phẩm trồng trọt Nếu vị trí thuận lợi sẽ là điều kiện vô cùng quan trọng giúp phát triển trồng trọt
theo hướng sản xuất hàng hóa
Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng các loại cây nhiệt đới, ôn đới, diện tích đất đai màu mỡ được bồi đắp hàng năm do có các hệ thống sông Mặt khác, nước ta nằm trong cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa các nước châu Á, châu Âu, có nhiều cảng biển dễ dàng cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa, nhất là hàng hóa nông sản
b Chất lượng đất
Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu quả Tuy
nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp nói chung và đất cho trồng trọt nói riêng cần cân nhắc
kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt mà làm không chú ý đến mục tiêu phát triển trong tương lai
c Khí hậu - thời tiết
Thời tiết là trạng thái khí quyển đặc trưng bởi một tập hợp các yếu tố khí tượng quan trắc được trong một thời điểm hoặc 1 khoảng thời gian ngắn nhất định Sự kết hợp các trị số của các yếu tố khí tượng rất khác nhau, ngoài ra nó biến thiên liên tục và đột ngột theo thời gian Vì vậy, thời tiết có biểu hiện muôn hình muôn vẻ
Việt Nam nằm trên vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương, là nơi gặp gỡ của các luồng gió mùa với gió phơn tây nam nên tính chất gió mùa thể hiện rõ rệt: khắp trong nước có 2 mùa, mùa mưa có lượng mưa chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, mùa khô ít mưa thủy triều xâm nhập sâu vào châu thổ nên đất bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn giống cây trồng phù hợp với từng miền, từng vùng lãnh thổ, theo
Trang 36từng mùa khác nhau Mặc dù mưa lặp đi lặp lại theo từng năm nhưng những năm gần đây cũng có những biến đổi thất thường không giống nhau làm ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng Nếu thời tiết thuận lợi, mưa nắng điều hòa thì năng suất chất lượng của nông sản thu hoạch tăng và ngược lại một số hiện tượng thời tiết gây bất lợi cho sản xuất của ngành trồng trọt:
- Hiện tượng bão: Khi thời tiết chuyển từ mùa hè sang mùa đông lạnh và mùa
hè là thời gian thường có những trận mưa lớn kèm theo những trận gió xoáy, gió lốc gây thiệt hại không nhỏ cả về con người lẫn vật chất như các công trình xây dựng nơi cơn bão đi qua, vật nuôi chết, các loại cây lương thực có thể sẽ không cho thu hoạch hoặc thu hoạch rất ít, chất lượng kém
- Rét đậm rét hại và sương muối: Mùa đông lạnh kèm theo là sương muối, đây là hiện tượng thời tiết phổ biến ở vùng trung du miền núi phía Bắc Rét đậm rét hại và sương muối khiến cho các loại cây lương thực dễ bị chết, nhất là mạ mới gieo, năng suất các cây ăn quả giảm
2.4.3.2 Yếu tố về kinh tế - xã hội
a Vốn đầu tư
Vốn đầu tư cho nông nghiệp là điều kiện không thể thiếu được để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy, vai trò của vốn đầu tư là rất quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, cũng như đối với hiệu quả sử dụng đất, nó thể hiện:
+ Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, có tính rủi
ro cao.Trong điều kiện nền kinh tế thi trường, người sản xuất sẽ tập trung vào đầu
tư các ngành có lợi nhuận cao.Ngành nông nghiệp là ngành có lợi nhuận thấp rủi
ro cao sẽ ít được chú ý quan tâm Bởi thế, muốn cho ngành nông nghiệp phát triển nhanh cần có sự đầu tư hợp lý
+ Đầu tư cho nông nghiệp còn góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội như: tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao hiệu quả các chính sách của Nhà nước Hoạt động đầu tư là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng
b Lao động
Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xă hội, nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản
Trang 37xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng người lao động Số lượng người lao động trong ngành trồng trọt là số người tham gia vào tất cả các hoạt động sản xuất trong ngành trồng trọt bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15 - 60 tuổi) Chất lượng người lao động thể hiện trình độ học vấn của người lao động Nếu như người lao động có trình độ sẽ dễ dàng tiếp thu những tiến bộ khoa học hơn nhờ đó cũng sẽ làm cho năng suất, chất lượng nông sản tăng
c Chính sách khuyến nông của Nhà nước
Chính sách khuyến nông là những chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích nông nghiệp phát triển theo định hướng Hệ thống chính sách nông nghiệp nhằm giúp đỡ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống và xây dựng nông thôn mới.Chính sách ruộng đất là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn
Thứ nhất, ruộng đất là nguồn lực chủ yếu và cơ bản của hoạt động sản xuất của ngành trồng trọt, là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm Người nông dân coi ruộng đất là tài sản quý giá và thiêng liêng Tuy nhiên, họ chỉ quan trọng khi ruộng đất nó là của chính họ Do vậy, họ chỉ đầu tư và cải tạo ruộng đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo đất khi mà họ làm chủ nó Bởi vậy, chính sách ruộng đất hợp
lý là rất cần thiết, nó sẽ làm cho việc sử dụng đất đai hợp lý hơn đồng thời cũng làm tăng hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp khác Do chính sách hợp lý tạo điều kiện cho việc sử dụng ruộng đất hợp lý có hiệu quả; thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; có tác dụng trong quá trình chuyển nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hóa Ngoài ra, chính sách ruộng đất hợp lý cũng làm giảm bớt vấn đề tranh chấp ruộng đất
d Thị trường đầu ra cho sản phẩm
Tất cả các hàng hóa đều cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, các sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu của vùng và trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác Nông sản nào mà không có thị trường tiêu thụ hoặc thị trường tiêu thu hẹp thì thu nhập của người dân khó khăn hơn Do vậy, nên lựa chọn các nông sản
có thị trường rộng rãi để làm tăng thu nhập
2.4.3.3 Yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật
a Hệ thống đê điều, thuỷ lợi, giao thông
Trong hoat động nông nghiệp, nhất là trong hoạt động trồng trọt, nước là yếu
tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu Cây trồng cần phải được tưới lượng
Trang 38nước phù hợp mới đảm bảo được các quá trình sinh trưởng phát triển Vì vậy, cần
có một hệ thống tưới tiêu với các kênh, mương phù hợp, sao cho dẫn nước được tới từng khu vực, đảm bảo lượng nước cần thiết cho cây trồng
Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, từ Bắc đến Nam, lại là lưu vực của nhiều con sông lớn nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chịt, có mùa mưa và mùa khô phân rõ rệt, mùa mưa có lượng mưa chiếm 80 - 85% lượng mưa trong năm nên vào mùa mưa lưu lượng nước qua các con sông lớn nên thường xảy ra lũ lụt làm ngập úng các loại cây Do vậy, một hệ thống đê kè kiên cố là rất cần thiết để bảo vệ mùa màng, mỗi năm sắp đến mùa lũ đều phải kiểm tra độ chắc chắn của đê Hệ thống giao thông giúp cho nông sản đến được tay người tiêu dùng, nó đóng vai trò không thể thiếu được trong việc lưu thông sản phẩm, góp phần làm tăng thu nhập của người sản xuất
b Kỹ thuật canh tác
+ Kỹ thuật về giống cây trồng:
Đây là vấn đề luôn được quan tâm của mọi nền sản xuất nông nghiệp là làm sao để tạo ra được giống cây trồng mới có sản lượng, chất lượng cao, thích hợp ở nhiều điều kiện về đất đai khí hậu khác nhau Giống cây trồng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất, giống tốt và thích hợp thì mới cho năng suất cao và chất lượng nông sản tốt, giá bán cao, tăng thu nhập của người sản xuất, làm tăng hiệu quả sử dụng đất
+ Trình độ của người lao động:
Người lao động có trình độ, tiếp thu tốt những kỹ thuật canh tác, tìm ra thị trường tiềm năng cho sản phẩm của mình, đồng thời cũng dễ dàng áp dụng được những loại máy móc sử dụng trong trồng trọt: máy cày, máy tuốt lúa
+ Trình độ kỹ thuật được áp dụng trong canh tác:
Kỹ thuật canh tác của người lao động tiến tiến làm cho sản lượng cây trồng theo đó cũng tăng lên, chất lượng nông sản tăng Mặt khác, kết hợp trồng cây xen
vụ tăng vụ cũng làm tăng sản lượng thu hoạc được trên đất sử dụng cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng đất
2.5 TÌNH HÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch
Trang 39hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, hộ nông dân được công nhận như là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hóa thị trường cũng như các tư liệu sản xuất, được giao đất sử dụng ổn định, lâu dài Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công
cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định
Tại tỉnh Nam Định, đất trồng cây hàng năm được chia thành 6 hạng Đất đai được chia bình quân theo bình quân theo nhân khẩu Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai
Theo báo cáo của các huyện, thành phố kết quả thực hiện công tác dồn đổi ruộng đất, kinh phí được hỗ trợ đầu tư phục vụ công tác dồn đổi ruộng đất Tính đến ngày 12 tháng 12 năm 2016 kết quả đạt được như sau:
Trên địa bàn toàn tỉnh có 200 xã, tỉnh thực hiện công tác DĐRĐ theo chương trình xây dựng nông thôn mới Cụ thể:
- Số xã hoàn thành xong dồn đổi ruộng đất: 180/200 xã (Hải hậu: 32/35
xã, Ý Yên: 28/32 xã, Trực Ninh: 19/21 xã, Xuân Trường: 17/20 xã, Nam Trực: 18/20, xã Mỹ Lộc: 10/11 xã, Nghĩa Hưng: 20/23 xã, Vụ Bản: 17/18 xã, Giao Thủy: 19/20 xã)
- Số xã đang thực hiện DĐRĐ chưa xong: 20 xã (Hải Hậu: 03 xã, Ý Yên: 04
xã, Trực Ninh: 03 xã, Xuân Trường: 03 xã, Nam Trực: 02 xã, Mỹ Lộc: 01 xã, Nghĩa Hưng: 03 xã, Vụ Bản: 01 xã, Giao Thủy: 01 xã)
- Số thôn (xóm) đã giao, chia ruộng xong tại thực địa: 2.472/2.596/200 xã
- Số thôn xóm đang giao, chia ruộng tại thực địa: 124 thôn (xóm)
- Số hộ tham gia dồn đổi: 396.703 hộ/ 417.239 hộ
- Số hộ đã dồn đổi xong: 372.256 hộ
- Tổng diện tích đất nông nghiệp tham gia dồn đổi: 64.832 ha/200 xã
- Tổng diện tích đất nông nghiệp đã thực hiện dồn đổi xong: 62.023 ha/64.832 ha tham gia dồn đổi Trong đó:
Trang 40+ Đất nông nghiệp giao ổn định cho hộ dân đã dồn đổi xong: 59.254,63 ha (gồm đất nông nghiệp: 55.072,05 ha, đất trong khu đa canh: 1.525,34 ha, đất trong khu dân cư: 2.656,24 ha)
+ Đất công ích UBND xã quản lý: 2.768,37 ha (gồm đất ngoài đồng: 2.077,39 ha, đất trong khu đa canh: 482,58 ha, đất trong khu dân cư: 208,4 ha)
- Tổng số thửa đất nông nghiệp sau dồn đổi: 793.406 thửa/ 1.983.515 thửa đất tham gia dồn đổi ruộng đất
- Bình quân số thửa/ hộ sau dồn đổi: 2.0 thửa/hộ (không tính đất mạ, đất màu)
- Tổng kinh phí đề nghị tỉnh hỗ trợ 1 triệu đồng/ha: 64.832 triệu đồng
- Kinh phí đã được tỉnh hỗ trợ: 58.350 triệu đồng
- Kinh phí đề nghị tỉnh hỗ trợ tiếp: 7.920 triệu đồng
Kinh phí từ nguồn thu bán vị trí nhận đất nông nghiệp: 681,95 triệu đồng
2.6 NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
Việc chuyển đổi ruộng đất trong nông nghiệp đã diễn ra ở nhiều địa phương trong những năm qua, nó đã đem lại những kết quả to lớn Khắc phục được những hạn chế do tình trạng manh mún ruộng đất gây nên, tạo những điều kiện thuận lợi trong đầu tư thâm canh, chuyển dần nền nông nghiệp sang sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá Tuy nhiên, đây là công việc khó khăn, liên quan đến lợi ích của người dân nên tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương mà triển khai để dồn điền đổi thửa thực sự mang lại ý nghĩa to lớn cho hộ nông dân không những về kinh tế mà còn có những tác động tích cực, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng
Qua quá trình nghiên cứu thực trạng dồn điền đổi thửa ở huyện Nam Trực chúng tôi thấy dồn điền đổi thửa đã thực sự mang lại những ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống của hộ nông dân Tuy nhiên trong quá trình thực hiện dồn đổi ruộng đất thì cũng gặp không ít khó khăn
Do việc tuyên truyền đến các hộ dân chưa sâu, rộng Việc dồn điền đổi thửa liên quan đến lợi ích của các hộ dân, nên nhận thức của hộ có nhiều ý kiến khác nhau, có hộ cho là phù hợp với xu hướng phát triển, có hộ không nhất trí với dồn đổi, có hộ chỉ đồng ý dồn đổi một số diện tích đất Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công khai và cùng có lợi, các cấp chính quyền đã phải tổ chức nhiều cuộc họp, nhiều cuộc vận động để lấy ý kiến thống nhất thực hiện