Kết quả chính và kết luận Dựa vào các kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính trên địa bàn huyện.. Việc xây dựn
Trang 1PHẠM TRUNG TUẤN ANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Giang
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn “Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng” là công sức nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học, cũng như trao đổi với giảng viên hướng dẫn và bạn bè Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được trích dẫn cụ thể nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều được ghi nhận và cảm
ơn sâu sắc Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nghiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Trung Tuấn Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong những lời đầu tiên của luận văn thạc sỹ này, tôi muốn gửi lời cảm ơn và biết ơn chân thành tới tất cả những người đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi về chuyên môn, vật chất
và tinh thần trong quá trình thực hiện luận văn
Đầu tiên, xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô trong khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện học tập tốt nhất, dạy
dỗ và chỉ bảo tôi trong suốt những năm tháng học tập nâng cao kiến thức chuyên môn tại trường Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, cũng như những kiến thức của các Thầy, Cô
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Lê Thị Giang, giáo viên trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn với kết quả tốt nhất có thể
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và Ban lãnh đạo Trung tâm Đánh giá đất - Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất - Tổng cục Quản lý Đất đai đã giúp đỡ trong quá trình triển khai, thu thập số liệu để tôi hoàn thành bản luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè, gia đình tôi đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện về mọi mặt, để tôi có thể hoàn thành tốt chương trình học, cũng như nội dung bản luận văn
Do hạn chế về thời gian và kiến thức chuyên môn, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy,
cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Trung Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lờı cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ảnh viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.4.1 Đóng góp mới của đề tài 2
1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá đất đai 3
2.1.1 Khái niệm về đánh giá đất 3
2.1.2 Khái quát chung về đánh giá đất đai trên thế giới 3
2.1.3 Đánh giá đất đai theo FAO 10
2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất theo FAO 12
2.2.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai 12
2.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 13
2.3 Tình hình nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở Việt Nam 15
2.4 Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (GIS) 15
2.4.1 Khái quát về hệ thống thông tin địa lý 15
2.4.2 Các kiểu dữ liệu trong GIS 17
2.4.3 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới và Việt Nam 19
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng 29
3.4.2 Tình hình sử dụng đất của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng 29
3.4.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 29
3.4.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính theo yêu cầu sử dụng đất của các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện 30
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
3.5.2 Phương pháp xây dựng các bản đồ đơn tính bằng công nghệ GIS 31
3.5.3 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ GIS 32
3.5.4 Phương pháp đánh giá thích hợp đất đai theo FAO 32
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 33
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
4.2 Tình hình sử dụng đất huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng 41
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện 41
4.2.2 Công tác quản lý đất đai 42
4.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Thạch An ở tỷ lệ 1:50000 43
4.3.1 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 44
4.3.2 Xây dựng các bản đồ đơn tính 45
4.3.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Thạch An ở tỷ lệ 1:50000 55
4.3.4 Mô tả các đơn vị đất đai 58
4.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính theo yêu cầu sử dụng đất của các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện 60
4.4.1 Xác định yêu cầu sử dụng đất cho các LUT 60
4.4.2 Đánh giá khả năng thích hợp của các đơn vị đất đai trên cơ sở yêu cầu sử dụng đất của các LUT 61
Trang 6Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Kiến nghị 71
Tài liệu tham khảo 72
Phụ lục 74
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
HTTTĐL Hệ thống thông tin địa lý
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất hiện trạng năm 2017 huyện Thạch An 41
Bảng 4.2 Phân cấp chỉ tiêu phục vụ xây dựng bản đồ đơn tính huyện Thạch An 44
Bảng 4.3 Thuộc tính của bản đồ loại đất 45
Bảng 4.4 Thuộc tính của bản đồ độ dốc 47
Bảng 4.5 Thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 49
Bảng 4.6 Thuộc tính của bản đồ độ phì 51
Bảng 4.7 Thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 53
Bảng 4.8 Số lượng và đặc tính các đơn vị đất đai 57
Bảng 4.9 Đánh giá mức độ thích hợp đất đai của các LUT theo yêu cầu sử dụng đất 61
Bảng 4.10 Tổng hợp các loại hình thích hợp đất đai của LMU 62
Bảng 4.11 Tổng hợp diện tích thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng đất 68
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 13
Hình 2.2 Các thành phần của GIS 16
Hình 2.3 Minh hoạ cấu trúc dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian 17
Hình 2.4 Biểu diễn bản đồ dạng Vector 18
Hình 2.5 Mô hình dữ liệu Raster 19
Hình 4.1 Vị trí huyện Thạch An trong tỉnh Cao Bằng 33
Hình 4.2 Bản đồ loại đất huyện Thạch An - Tỉnh Cao Bằng 46
Hình 4.3 Bản đồ độ dốc huyện Thạch An - Tỉnh Cao Bằng 48
Hình 4.4 Bản đồ độ dày tầng đất huyện Thạch An - Tỉnh Cao Bằng 50
Hình 4.5 Bản đồ độ phì huyện Thạch An - Tỉnh Cao Bằng 52
Hình 4.6 Bản đồ chế độ tưới huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 54
Hình 4.7 Chồng xếp các bản đồ đơn tính 55
Hình 4.8 Bản đồ đơn vị đất đai huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 56
Hình 4.9 Bản đồ thích hợp đất trồng lúa huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 63
Hình 4.10 Bản đồ thích hợp đất trồng màu và CCNNN huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 64
Hình 4.11 Bản đồ thích hợp đất trồng cây lâu năm huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 65
Hình 4.12 Bản đồ thích hợp đất nông lâm kết hợp huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 66
Hình 4.13 Bản đồ thích hợp đất lâm nghiệp huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng 67
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Trung Tuấn Anh
Tên luận văn: Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất
huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 8850103
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
Đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính theo yêu cầu sử dụng đất của các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên nhằm đánh giá khí hậu, thời tiết, thủy văn, thảm thực vật, tài nguyên đất
Tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội, đánh giá tình hình dân số, mức sống, ngành nghề địa phương
Điều tra, thu thập số liệu, phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Xây dựng các bản đồ đơn tính và bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ GIS, mô
tả, minh họa các đặc tính đất đai trên bản đồ
So sánh, đối chiếu các yêu cầu sử dụng của từng loại hình sử dụng đất, sau đó tiến hành đánh giá thích hợp đất đai theo FAO
Kết quả chính và kết luận
Dựa vào các kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính trên địa bàn huyện
Phục vụ phân vùng các loại hình sử dụng đất trong công tác quy hoạch; chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, tái cơ cấu ngành nông nghiệp hợp lý và đem lại hiệu quả bền vững
Trong quá trình đánh giá đất cần phải căn cứ vào nguồn cơ sở dữ liệu, xác định các chỉ tiêu đánh giá của các loại sử dụng đất để có thể bố trí cây trồng hợp lý Vì việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu tại huyện Thạch An đã tập trung vào việc ứng dụng công nghệ GIS
để thành lập bản đồ đơn vị đất đai thông qua việc chồng xếp 05 bản đồ đơn tính, gồm: bản đồ loại đất, bản đồ độ dốc, bản đồ độ dày tầng đất, bản đồ độ phì, bản đồ chế độ
Trang 11tưới Nguồn dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được quản lý trên phần mềm ArcGis và theo hệ toạ độ chuẩn quốc gia VN 2000 Trong đó, mỗi bản đồ có sự phân loại và phân cấp đặc trưng riêng biệt Bản đồ đơn vị đất đai là cơ sở khoa học để định hướng sử dụng hợp lý đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Trung Tuan Anh
Thesis title: Applying GIS in building land unit map for land evaluation in Thach An
district, Cao Bang province
Major: Land Management Code: 8850103
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Build land unit map in Thach An district, Cao Bang province
Evaluate the land suitability for some major land uses in accordance with the land use requirement of land units in the district
Materials and Methods
Understand natural conditions to assess climate, weather, hydrology, vegetation and land resources
Study socio-economic conditions, assess the situation of population, living standards and local industy density
Survey, collect data, analyze and assess the current status of land use
Develop unity maps and land unit maps using GIS technology, describe and illustrate land features on the map
Compare and contrast the requirements for use of each type of land use, then conduct an appropriate land assessment under the FAO
Main findings and conclusions
Based on research results, build land unit maps and assess the land suitability for some major land uses in the district
Zone of land use types in planning; restructure the crop, reorganize the agricultural sector rationally to bring sustainable effects
During the land evaluation process, it is necessary to base on the database source, identify the assessment indicators of land use type to arrange a reasonable crop Since the application of geographic information system for mapping land units is essential The reseach in Thach An district has focused on the application of GIS technology for mapping land units by overlaying 05 unity maps, including land type map, slope map, soil layer thickness map, fertility map, irrigation regime map Spatial data and attribute
Trang 13data are managed on ArcGis software in accordance with Vietnam National Standard Coordinate System 2000 Each map has a hierarchical classification and specific characteristics Land unit map is a scientific basis to guide the rational use of agricultural land in the study area
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là yếu tố cấu thành lên lãnh thổ của mỗi quốc gia Ngày nay, cùng với sự phát triển về kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước là sự bùng
nổ về dân số đã kéo theo nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó trong khi đất đai và tiềm năng đất đai là có hạn Mặt khác việc quản lý và tổ chức sử dụng đất chưa hợp lý đã dẫn tới tình trạng diện tích đất vốn đã hạn hẹp ngày càng bị suy thoái, đặc biệt là diện tích đất trong sản xuất nông - lâm nghiệp
Mỗi quốc gia, để sử dụng, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên đất đai của mình một cách có hiệu quả thì nhà nước, các đơn vị chức năng cũng như các tổ chức cần có những biện pháp quy hoạch, quản lý và tổ chức sử dụng phù hợp, hiệu quả Một trong những biện pháp thiết thực nhất phải kể đến công tác điều tra, đánh giá đất đai Điều tra, đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc phát huy tối đa tiềm năng của đất đai, đồng thời cải tạo những hạn chế và sử dụng có hiệu quả cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này Việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở để so sánh với các yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình sử dụng đất và phân hạng thích hợp đất đai
Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ trong mọi lĩnh vực, ngành nghề thì quản lý tài nguyên ở thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang không ngừng nâng cao, ứng dụng các chương trình, phần mềm, hệ thống công nghệ thông tin vào việc lưu trữ, quản lý, phân tích và hỗ trợ giải pháp có hiệu quả cao Hệ thống thông tin địa lý (Geography Information System - GIS) là một trong những thành tựu của công nghệ đã được ứng dụng rộng khắp trên toàn thế giới trong nhiều lĩnh vực khác nhau Nhờ những khả năng phân tích và xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác, GIS được ứng dụng để nghiên cứu xói mòn và thoái hóa đất trồng trọt; quản lý chất lượng nước; theo dõi và dự báo dịch sâu bệnh hại cây trồng; v.v Cùng với đó, GIS đã được nhiều cơ quan, tổ chức ứng dụng vào việc nghiên cứu nông lâm nghiệp và đặc biệt là trong điều tra, đánh giá đất đai
Trang 15Huyện Thạch An nằm ở phía đông nam của tỉnh Cao Bằng, diện tích tự nhiên của huyện là 690,97 km2; do kiến tạo của địa chất, địa hình của huyện khá phức tạp, thấp dần từ tây sang đông, có nhiều nếp gấp tạo nên những khe sâu và được hình thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi đá, vùng núi đất và thung lũng trong đó rừng và đất rừng chiếm trên 90% diện tích canh tác toàn huyện, phần lớn diện tích đất đồi núi chưa được sử dụng hợp lý trong sản xuất nông lâm nghiệp, tỷ lệ đất lâm nghiệp khá cao tuy nhiên sinh khối còn thấp Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất cây trồng chưa cao và ổn định
Xuất phát từ những thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng
dụng GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
- Đánh giá thích hợp đất đai cho một số loại sử dụng đất chính theo yêu cầu
sử dụng đất của các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài nghiên cứu trên phạm vi huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng
1.4 ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.4.1 Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai, từ đó xác định thích hợp đất đai của các vùng trong huyện
1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Các đơn vị đất đai là cơ sở khoa học tin cậy cho việc định hướng bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai các tiểu vùng trong huyện
- Góp phần xây dựng hệ thống lý luận trong việc đánh giá các loại hình sử dụng đất có hiệu quả bền vững cho vùng trung du miền núi phía Bắc
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ở địa phương trong việc xây dựng kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, phục vụ cho định hướng
sử dụng đất bền vững của huyện Thạch An
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI
2.1.1 Khái niệm về đánh giá đất
Đánh giá đất là quá trình xem xét khả năng thích hợp của đất đai với những loại hình sử dụng đất khác nhau Nhằm cung cấp những thông tin về sự thuận lợi
và khó khăn của việc sử dụng đất làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết định
về việc sử dụng đất một cách hợp lý Thực chất công tác đánh giá đất đai là quá trình đối chiếu giữa chất lượng đất đai với các yêu cầu sử dụng đất
Định nghĩa theo FAO đề xuất năm 1976 như sau: “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu giữa những tính chất vốn có của những vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có”
Như vậy, việc đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian các yếu tố tự nhiên và xã hội Cho nên, đánh giá đất không chỉ là lĩnh vực tự nhiên mà còn mang tính kinh tế, kỹ thuật
2.1.2 Khái quát chung về đánh giá đất đai trên thế giới
Các phương pháp đánh giá đất đai được rất nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm Do vậy, nó trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và gắn liền với công tác quy hoạch sử dụng đất, trở nên gần gũi với người sử dụng đất
Một quốc gia hay một dân tộc sử dụng đất đai của họ như thế nào là tuỳ thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm cả các đặc tính của đất, các yếu tố kinh tế - xã hội, hành chính và những hạn chế về chính trị cũng như nhu cầu và mục tiêu của con người
Các phương pháp đánh giá đất đai mới đã dần dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành mang tính hệ thống (tự nhiên - kinh tế - xã hội) nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử dụng đất (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
Các nhà thổ nhưỡng học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính cấu tạo, các quy luật và quá trình hình thành đất, điều tra và lập các bản đồ toàn thế giới với tỷ lệ 1/5.000.000 Đồng thời từ thực tế lao động sản xuất trên đồng
Trang 17ruộng, các nhà khoa học và cả những người nông dân đã đi sâu nghiên cứu, xem xét nhiều khía cạnh có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất trên từng vạt đất Nói cách khác là họ tiến hành đánh giá đất đai
Như vậy việc đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên và xã hội Cho nên đánh giá đất đai cần không chỉ là lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn là kinh tế, kỹ thuật nữa Vì vậy cần phải kết hợp chuyên gia của nhiều ngành tham gia đánh giá đất (Nguyễn Đình Bồng và cs., 1995)
Trong đánh giá, phân hạng đất, những tính chất của đất đai có thể đo lường
và ước lượng được Có rất nhiều đặc điểm, tính chất nhưng khi đánh giá tuỳ theo khu vực cần nghiên cứu cần lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa tới đất đai và vùng nghiên cứu
Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất đai trên thế giới đã đạt nhiều thành tựu
to lớn trong nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng ngoài thực tế sản xuất nông nghiệp Cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của kỹ thuật máy tính và hệ thống thông tin địa lý, công tác đánh giá đất đai trở thành công cụ cần thiết cho mục tiêu phát triển bền vững (Trần An Phong, 1995)
Tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ đề ra nội dung
và phương pháp đánh giá đất đai của mình Có rất nhiều phương pháp đánh giá đất đai khác nhau nhưng xét về mặt tổng quan có 2 hướng chính: đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên có xem xét tới điều kiện kinh tế - xã hội và đánh giá kinh
tế đất đai có xem xét tới điều kiện tự nhiên Dù là phương pháp nào cũng phải lấy đất đai làm nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá, kết quả được thể hiện bằng các bản đồ, báo cáo và các số liệu thống kê Hiện nay có 3 phương pháp đánh giá đất chính:
- Đánh giá đất dựa vào sự mô tả
- Đánh giá đất theo cách cho điểm các chỉ tiêu (từ 0 đến 100 điểm)
- Đánh giá đất trên cơ sở tính thích hợp của các loại sử dụng đất đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội - định lượng
Quá trình nghiên cứu và phát triển đánh giá đất trên thế giới đã hình thành nhiều trường phái đánh giá khác nhau, trong đó đáng chú ý là một số trường phái
Trang 18và phương pháp đánh giá đất ở Liên Xô (cũ), Bulgari, Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ và một số nước nhiệt đới ẩm châu Âu
2.4.1.1 2.1.2.1 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
Đánh giá đất đai theo quan điểm phát sinh, phát triển của V.V Đôcuchaev Trước hết phải đề cập đến loại thổ nhưỡng và chất lượng tự nhiên của đất là những chỉ tiêu mang tính khách quan và đáng tin cậy Phải có sự đánh giá thống
kê kinh tế và thống kê nông học của đất đai mới có giá trị trong việc đề ra những biện pháp sử dụng đất tối ưu Trong đánh giá đất thường áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố trên cơ sở thang điểm chuẩn đã được xây dựng thống nhất Đối chiếu giữa tính chất đất và điều kiện tự nhiên với yêu cầu của hệ thống cây trồng được lựa chọn để phân hạng đánh giá đất
Công tác điều tra đánh giá đất ở Liên Xô cũ phát triển rất sớm từ thế kỷ XVIII nhưng mãi đến năm 1967 Liên Xô mới xuất bản cuốn “Phân hạng đất toàn Liên Bang” Trong cuốn này đánh giá đất được hiểu như sau: “Đánh giá đất là sự phân hạng đất chuyên môn hoá theo sức sản xuất của đất được cấu thành bởi những đặc tính khách quan và những tính chất tự nhiên rất cần thiết cho sự phát triển và sinh trưởng của cây trồng và có tương quan với năng suất trung bình nhiều năm”
Theo quyết định của Chính phủ, công tác đánh giá đất đai được tiến hành trên toàn Liên Bang và do Bộ Nông Nghiệp chủ trì (Bộ Nông nghiệp Liên Xô, 1980) Nội dung cơ bản là:
- Xác định hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai
- Đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp
- Dự kiến số lượng và giá thành sản phẩm, là cơ sở để đảm bảo công bằng trong thu mua và giao nộp sản phẩm
- Hoàn thiện kế hoạch sản xuất và xây dựng các đồ án quy hoạch
- Đánh giá đất được thực hiện theo hai hướng: đánh giá chung và đánh giá riêng (theo hiệu suất của từng loại cây trồng) Chỉ tiêu đánh giá là:
+ Năng suất - giá thành sản phẩm
+ Mức hoàn vốn
+ Địa tô cấp sai (phần lãi thuần túy)
- Cây trồng lấy làm gốc để đánh giá nhất thiết phải là cây ngũ cốc và cây
Trang 19họ đậu, đơn vị đánh giá là các chủng đất
- Nội dung tiến hành gồm 7 công đoạn:
+ Chuẩn bị
+ Tổng hợp tài liệu
+ Phân vùng đánh giá đất
+ Xác định đơn vị đánh giá đất đai
+ Xác định các thông số cơ bản cho từng nhóm chủng đất
+ Xây dựng thang đánh giá đất đai
+ Xác định các tiêu chuẩn đánh giá đất đai cho từng cơ sở sản xuất
Ngoài ra có quy định đánh giá cụ thể cho: đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ cắt và đồng cỏ chăn thả…
2.4.1.2 2.1.2.2 Đánh giá đất đai ở Bulgari
Đánh giá đất ở Bulgari thường chú ý đến các chỉ tiêu có tính chất tự nhiên,
nó ảnh hưởng đến độ phì của đất và ảnh hưởng đến sự phát triển, sinh trưởng của các loại cây nông nghiệp Mỗi loại đất có một thang điểm riêng cho từng yếu tố Các loại cây trồng chính đều được nghiên cứu và xây dựng thành các thang điểm
về đất như lúa mỳ
Phương pháp này không chú ý đến hiệu quả kinh tế, tổng lợi nhuận và vấn
đề xã hội, môi trường
2.4.1.3 2.1.2.3 Đánh giá đất đai ở Anh
Ở Anh tồn tại 2 phương pháp đánh giá đất:
- Đánh giá đất dựa hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên Phương pháp này không chú ý đến sự tham gia của con người mà chỉ chủ yếu dựa vào độ phì tự nhiên và được chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm yếu tố con người không thể thay thế được như khí hậu, vị trí, địa hình, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới
+ Nhóm các yếu tố mà con người có thể cải tạo được nhưng cần phải đầu tư cao như tưới tiêu, thau chua rửa mặn…
+ Nhóm các yếu tố mà con người có thể cải tạo được bằng các biện pháp canh tác thông thường như điều hoà dinh dưỡng trong đất, cải thiện độ chua…
Trang 20- Đánh giá đất căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế: kết quả đánh giá dựa trên số liệu thống kê năng suất cây trồng thực tế qua nhiều năm Việc đánh giá này gặp nhiều khó khăn và không khách quan vì năng suất cây trồng phụ thuộc vào loại cây trồng được chọn và khả năng của con người sử dụng
2.4.1.4 2.1.2.4 Đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ
Tại Mỹ hiện nay đang ứng dụng rộng rãi hai phương pháp: phương pháp tổng hợp và phương pháp yếu tố, chủ yếu dựa trên khả năng khai thác và hiệu quả kinh tế sử dụng đất Ở mức tổng quát, Mỹ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đất phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp gọi là đánh giá tiềm năng đất
- Phương pháp tổng hợp: Phân chia lãnh thổ tự nhiên và đánh giá đất thông qua năng suất cây trồng nhiều năm (10 năm)
- Phương pháp yếu tố: Thống kê các yếu tố tự nhiên, xác định tính chất đất
và phương hướng cải tạo Các yếu tố đánh giá là: Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ thẩm thấu, chất lẫn vào, hàm lượng các độc tố, muối, địa hình, mức độ xói mòn và khí hậu Việc đánh giá đất này không chỉ dựa trên năng suất cây trồng trên các loại đất mà còn thống kê các chi phí và thu nhập Trong trường hợp này lợi nhuận tối đa được chọn làm mốc so sánh cho các loại hình khác nhau trên cùng một loại đất
Ngoài ra ở Mỹ còn có hệ thống đánh giá đất đai dành riêng cho công tác thủy lợi Do dành riêng cho một mục đích sử dụng nên phương pháp này đã xem xét đến mặt kinh tế và đánh giá theo định lượng
Trang 21hợp Mỗi yếu tố chia thành nhiều cấp và tính theo phần trăm (%) Bằng phương pháp này, đất đai ở Ấn Độ được chia thành 6 nhóm:
- Nhóm siêu tốt: đạt 80 - 100 điểm, đất có thể trồng bất kỳ loại cây nào cũng cho năng suất
- Nhóm tốt: 60 - 79 điểm, đất có thể trồng bất kỳ loại cây nào nhưng năng suất khá
- Nhóm trung bình: đạt 40 - 59 điểm, đất có thể trồng được một số nhóm cây trồng nhưng năng suất chỉ đạt trung bình
- Nhóm nghèo: đạt 20 - 39 điểm, đất chỉ trồng được một số loại cây cỏ
- Nhóm rất nghèo: 10 - 19 điểm, đất chỉ làm đồng cỏ chăn thả gia súc
- Nhóm cuối cùng: < 10 điểm, đất không thể dùng vào sản xuất nông nghiệp được mà phải sử dụng cho các mục đích khác (Đỗ Nguyên Hải, 2000)
2.4.1.6 2.1.2.6 Đánh giá đất theo FAO
Nhận thức rõ vai trò quan trọng, cấp thiết của thực tiễn sản xuất là phải có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tài nguyên đất đai, về tính cấp thiết của đánh giá đất đai, qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đánh giá đất đai đã nhận thấy cần có những cuộc hội thảo quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá các phương pháp đánh giá đất Tổ chức FAO đã tổ chức tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước và đề
ra các phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất Cơ sở của phương pháp này là so sánh yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu Năm 1970, tổ chức FAO đã tập hợp các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu ở nhiều quốc gia tổng hợp xây dựng “Đề cương đánh giá đất đai” Các nhà nghiên cứu đánh giá đất cũng đã nhận thấy những nỗ lực không thể đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ, mà phải có sự thống nhất về các nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá đất đai chung trên phạm vi toàn thế giới
Kết quả là Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO đã cho
ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó được Blikman
và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973
Năm 1975 bản dự án đã được các chuyên gia đánh giá đất của tổ chức FAO tham gia đóng góp năm 1976 đề cương đánh giá đất (A Framework for land
Trang 22Evaluation, 1976) đã ra đời Qua những thử nghiệm ban đầu ở các nước đang phát triển, đề cương này tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện vào các năm sau đó
để áp dụng cho từng đối tượng sản xuất nông nghiệp, cụ thể:
- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp nhờ nước mưa (FAO, 1983)
- Đánh giá đất cho vùng đất rừng (FAO, 1984)
- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp được tưới (FAO, 1985)
- Đánh giá đất cho phát triển nông nghiệp
- Đánh giá đất cho sự phát triển nông thôn (FAO, 1988)
- Đánh giá đất cho đồng cỏ chăm thả (FAO, 1989)
- Đánh giá đất cho sự phát triển (FAO, 1990)
- Đánh giá đất cho vùng cỏ quảng canh (FAO, 1991)
- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1992)
Trong phần quy trình đánh giá đất của FAO, điều tra đất được xem như là một phần thiết yếu và yêu cầu thu thập thông tin từ nhiều phương diện của đất đai bao gồm: thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật và cả các điều kiện kinh tế - xã hội liên quan đến mục đích
sử dụng đất Năm 1996, tổng kết về các hệ thống đánh giá đất trên đây, FAO đã
có nhận định: các nhân tố kinh tế - xã hội, môi trường yêu cần phải cân nhắc kỹ trong quá trình đánh giá đất Đây được xem là ưu điểm nổi trội của phương pháp đánh giá đất theo FAO so với các phương pháp khác Cụ thể:
- Các chỉ tiêu được sử dụng có thể đo đếm được
- Đánh giá đất đai được nhìn nhận khá toàn diện trên các khía cạnh: tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường
- Đánh giá thích hợp đất đai cho những hệ thống cây trồng riêng rẽ, trả lời những yêu cầu cụ thể của các loại sử dụng đất (LUT) trong sản xuất
- Dễ dàng vận dụng cho đánh giá đất ở các mức độ chi tiết, do sự khác biệt
về yêu cầu của từng loại cây trồng đối với đất, một số yếu tố được xác định trong đánh giá có thể là yếu tố hạn chế cho các loại hình sử dụng khác
- Phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và Hoa Kỳ chủ yếu dựa vào khả năng thích hợp điều kiện tự nhiên đối với LUT, rất ít quan tâm đến những
Trang 23yếu tố kinh tế và xã hội Điều này có thể đưa đến những sai lệch trong áp dụng kết quả kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá đất của FAO đã đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế - xã hội liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận Đây là những thông tin rất có ý nghĩa cho việc xác định và lập kế hoạch cho sử dụng đất
Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế trong sử dụng và quản lý đất liên quan đến các vấn đề về môi trường trong phương pháp đánh giá đất của Mỹ và của FAO là rất có ý nghĩa cho môi trường sinh thái, đặc biệt trên những loại đất
có vấn đề và dễ bị suy thoái
Tóm lại:
- Phương pháp đánh giá đất của FAO là sự kế thừa, kết hợp được những điểm mạnh của cả hai phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và của Hoa kỳ, đồng thời bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích khác nhau
- Việc đưa ra phương pháp đánh giá mang tính quốc tế giúp các nhà khoa học có được tiếng nói chung trong trao đổi thông tin, kiến thức trong đánh giá sử dụng đất giữa các quốc gia trên thế giới
- Điểm ưu việt nổi bật của phương pháp FAO là rất quan tâm đến khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai nhằm xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trên phạm vi toàn thế giới cũng như ở từng quốc gia riêng rẽ
2.1.3 Đánh giá đất đai theo FAO
2.4.1.7 2.1.3.1 Mục đích của đánh giá đất đai theo FAO
- Phát hiện tiềm năng đất đai chưa sử dụng
- Đề xuất các biện pháp cải tạo đất
- Làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất
- Cung cấp các thông tin về những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng đất, từ đó có cơ sở để đề xuất các quyết định hợp lý
2.4.1.8 2.1.3.2 Yêu cầu cần đạt được trong đánh giá đất đai theo FAO
- Thu thập được thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người
Trang 24- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy hoạch là toàn quốc, vùng, tỉnh, huyện hoặc các cơ sở sản xuất
- Mức độ thực hiện đánh giá đất phụ thuộc vào cấp tỷ lệ bản đồ
2.4.1.9 2.1.3.3 Nguyên tắc đánh giá đất đai theo FAO
- Đánh giá đất tập trung và so sánh các loại hình sử dụng đất (LUT) khác nhau trong vùng nghiên cứu
- Đánh giá và phân loại thích hợp đất đai cho các LUT cụ thể
- Đánh giá đất đòi hỏi có sự so sánh hiệu quả kinh tế giữa các LUT
- Đánh giá đất trên quan điểm tổng hợp với sự phối hợp và tham gia của các nhà khoa học nông nghiệp khác nhau
- Đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực, vùng nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT phải dựa trên cơ sở bền vững, mang tính quyết định là các yếu tố sinh thái
* Xác định các yêu cầu sử dụng đất LUT
Đó là những điều kiện đất đai cần thiết đòi hỏi để bố trí một loại hình sử dụng đất ổn định và có hiệu quả Mỗi LUT lại có các yêu cầu riêng biệt thường liên quan đến đặc tính đất đai (LQ), thường bao gồm:
- Điều kiện sinh trưởng, phát triển và điều kiện sinh thái của cây trồng được thỏa mãn
- Đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả trong thời gian dài
- Bảo vệ được độ phì của đất và không gây ô nhiễm môi trường
* Hệ thống sử dụng đất - LUS
Khi tiến hành đánh giá đất ở các cấp chi tiết, mỗi loại hình sử dụng đất cần phải được mô tả gắn liền với các đặc tính đất đai của chúng do đó sẽ hợp thành một hệ thống sử dụng đất đặc trưng cho cả vùng nghiên cứu Mỗi loại hình sử dụng đất chỉ chịu sự tác động trực tiếp và quyết định của một số đặc tính đất đai
* Đánh giá mức độ thích hợp đất đai của các LUT đã lựa chọn
Dựa vào quy trình và phương pháp của FAO, Việt Nam cũng đã tiến hành đánh giá phân hạng thích hợp đất đai Các chương trình đánh giá phân hạng thích hợp đất đai của Việt Nam thường lấy yếu tố đơn vị đất đai hoặc tính chất đất làm
Trang 25cơ sở của việc xếp hạng và phân cấp các chỉ tiêu cho đánh giá mức độ thích hợp của các LUT
2.4.1.10 2.1.3.4 Quy trình chung đánh giá đất đai theo FAO
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Xác định các loại hình sử dụng đất đai
- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai và phân hạng thích hợp đất đai
- Đề xuất sử dụng đất thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất
2.4.1.11 2.1.3.5 Các phương pháp thực hiện quy trình đánh giá đất đâi
theo FAO
- Phương pháp thu thập và xử lý các tài liệu sẵn có
- Phương pháp điều tra thực địa
- Phương pháp phân tích và xử lý các mẫu đất, các số liệu điều tra
- Phương pháp phân tích đánh giá khả năng thích hợp cho từng LUT
- Phương pháp phân hạng thích hợp đất đai cho các LUT hiện tại và tương lai phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất
2.2 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI TRONG ĐÁNH GIÁ ĐẤT THEO FAO
2.2.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai
Theo khái niệm của FAO năm 1976 “Đơn vị bản đồ đất đai (LMU)” là một vùng hay một vạt đất trong đó có sự đồng nhất của các yếu tố tự nhiên và có sự phân biệt của một hoặc nhiều yếu tố tự nhiên so với các vùng lân cận Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực / vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Như vậy, bản đồ đơn vị đất đai là một loại bản đồ chuyên đề được xây dựng trên cơ sở chồng xếp các loại bản đồ đơn tính về các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến chất lượng đất đai
Theo đề xuất của FAO, việc xây dựng các LMU phải dựa trên những yếu tố đất đai có ảnh hưởng rõ đến khả năng thích hợp của các LUT, gồm:
* Tính chất đất đai (Land Characteristic - LC):
- Là thuộc tính của đất đai mà ta có thể đo đếm và định lượng được, ví dụ như: Độ dốc, chế độ nước, tầng dày đất, thành phần cơ giới, phần trăm các chất
Trang 26dinh dưỡng,
- Tính chất đất đai được dùng để phân biệt các LMU với nhau và để mô tả các đặc tính đất đai Vì vậy, một tính chất đất đai có thể ảnh hưởng cùng lúc đến vài đặc tính đất đai và từ đó sẽ ảnh hưởng đến tính thích hợp khác nhau
* Đặc tính đất đai (Land Quanlity - LQ):
- Là tính chất phức tạp của đất đai thể hiện những mức độ thích hợp khác nhau cho một loại hình sử dụng đất cụ thể Đặc tính đất đai thường phản ánh nội tại của rất nhiều tính chất đất đai, ví dụ như mức độ xói mòn, chế độ nhiệt, chế
độ ẩm, địa hình, mức độ sâu của lớp đất Như vậy, đặc tính đất đai chính là các thuộc tính của đất đai tác động đặc biệt đến tính thích hợp của đất đó đối với các loại sử dụng đất riêng biệt
* Các đặc tính của đơn vị bản đồ đất đai:
- Các đơn vị đất đai được thể hiện trên bản đồ là những vùng với những đặc tính và tính chất đủ để tạo nên sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác và đảm bảo sự thích hợp với các loại hình sử dụng đất khác nhau
- Các đơn vị đất đai có thể được mô tả theo các đặc tính và tính chất của chúng
2.2.2 Quy trình Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bao gồm 4 bước “Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009) Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp Tập
2 Phân hạng đánh giá đánh giá đất đai.”:
Chi tiết các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai:
Bước 1: Lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai Lựa chọn các đặc tính và tính chất đất đai thích hợp với các LUT cần đánh giá Trên cơ cở các chỉ tiêu phân cấp tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng các
2 Điều tra, tổng hợp, xây dựng các bản
4 Thống kê,
mô tả bản đồ đơn vị đất đai
Hình 2.1 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Trang 27tư liệu thu thập được, cần thiết phải tiến hành điều tra, khảo sát bổ sung cho những tài liệu có chất lượng chưa đạt yêu cầu hoặc điều tra xây dựng mới trong trường hợp chưa có (ví dụ như bản đồ chế độ nước, bản đồ vị trí, )
Bước 2: Điều tra tổng hợp, xây dựng các bản đồ đơn tính
Bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện đặc tính, tính chất riêng rẽ theo các mức khác nhau của đất đai, thành lập theo các chỉ tiêu phân cấp được lựa chọn, phù hợp với mục đích, yêu cầu và phạm vi đánh giá đất
Phạm vi toàn lãnh thổ: theo vùng sinh thái nông nghiệp với các yếu tố chính như loại đất, khí hậu, chế độ nước, thực vật
Phạm vi vùng, tỉnh: theo ranh giới hành chính và mục đích sử dụng với các yếu tố về đặc tính đất, khả năng tưới tiêu, khả năng luân canh,
Phạm vi huyện, xã, trang trại: theo mục đích sử dụng và điều kiện sử dụng đất với các yếu tố như độ phì đất, điều kiện tưới tiêu, mức độ thâm canh,
Bước 3: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009): Việc xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai được tiến hành bằng phương pháp chồng xếp các bản đồ chuyên đề cùng tỷ lệ và cùng lưới chiếu Có thể chồng ghép thủ công hoặc bằng công nghệ GIS
Hiện nay, thường sử dụng phương pháp chồng ghép bằng GIS với khả năng
xử lý nhanh và độ chính xác cao, có thể thực hiện với các bước như sau:
- Số hóa các bản đồ chuyên đề để chuyển bộ chỉ tiêu đánh giá đất nông nghiệp vào GIS
- Mã hóa các chỉ tiêu để chúng có thể so sánh với nhau
- Tiến hành chồng xếp các bản đồ đơn tính bằng phần mềm GIS như Mapinfor, Arcgis, Arcview Đề tài này đề cập đến kỹ thuật chồng ghép các bản
đồ đơn tính trong phần mềm Arcgis
Bước 4: Thống kê, mô tả bản đồ đơn vị đất đai
Bao gồm các bước:
- Thống kê số lượng và diện tích các LMU
- Thống kê số khoanh của mỗi LMU và mức độ phân bố của chúng
- Đặc tính và tính chất đất của các LMU
Công tác xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là bước đi mang tính kỹ thuật
Trang 28không thể thiếu được trong quá trình đánh giá đất theo FAO và là cơ sở cho toàn
bộ quá trình đánh giá đất
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI
Ở VIỆT NAM
Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và
đã trở thành một khâu quan trọng trong công tác đánh giá nguồn tài nguyên và quy hoạch sử dụng đất Tại Việt Nam, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
đã liên tục nghiên cứu, ứng dụng phương pháp, quy trình đánh giá đất của FAO trên thực tế nước ta để đưa vào quy trình xây dựng các dự án quy hoạch và phát triển nông nghiệp, quy hoạch tổng thể, quy hoạch sử dụng đất ở tất cả các cấp Dựa theo chỉ dẫn của FAO về các bước trong công tác đánh giá đất và tiến trình đánh giá đất, công tác đánh giá đất của Việt Nam tập trung vào các nội dung:
- Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đất đai
- Xác định được các loại hình sử dụng đất bền vững thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ở Việt Nam, từ đó là cơ sở giúp định hướng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
- Các chương trình đánh giá, phân hạng thích hợp đất đai của Việt Nam thường lấy yếu tố đơn vị đất đai hoặc tính chất đất làm cơ sở của việc xếp hạng
và phân cấp các chỉ tiêu cho đánh giá mức độ thích hợp của các LUT
- Đề xuất các chính sách sử dụng đất, các dự án đầu tư cho sản xuất và các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp, phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất
2.5 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)
2.4.1 Khái quát về hệ thống thông tin địa lý
2.5.1.1 Khái niệm về hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý (HTTĐL) - Geographical information system (GIS) là một tập hợp có tổ chức của bốn hợp phần: phần cứng máy tính, phần
Trang 29mềm, dữ liệu địa lý và con người điều hành được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý HTTĐL có mục tiêu đầu tiên là xử lý hệ thống dữ liệu trong môi trường không gian địa lý (Viện nghiên cứu môi trường Mỹ - 1994)
Hình 2.1: Các thành phần của GIS
Một định nghĩa khác có tính chất giải thích, hỗ trợ là: “HTTĐL là một hệ thống máy tính có chức năng lưu trữ và liên kết các dữ liệu địa lý với các đặc tính của bản
đồ dạng đồ họa, từ đó cho một khả năng rộng lớn về việc xử lý thông tin, hiển thị thông tin và cho ra các sản phẩm bản đồ, các kết quả xử lý cùng các mô hình”
Công nghệ GIS: Là một loại hệ thông tin kiểu mới (New Information System) được xây dựng trên nền tảng công nghệ máy tính và công nghệ bản đồ
Từ các thông tin vị trí địa lý của đối tượng (dữ liệu không gian) và thông tin thuộc tính được lưu trữ (dữ liệu thuộc tính) ta có thể dễ dàng tạo ra các loại bản
đồ và các báo cáo để cung cấp một sự nhìn nhận có hệ thống và tổng thể, nhằm thu nhận và quản lý thông tin vị trí có hiệu quả Khả năng của một hệ GIS tối thiểu giải quyết được 5 vấn đề chính sau:
- Vị trí: quản lý và cung cấp vị trí của các đối tượng theo yêu cầu bằng các cách khác nhau như tên địa danh, mã vị trí hoặc toạ độ
- Điều kiện: thông qua phân tích các dữ liệu không gian cung cấp thông tin các sự kiện tồn tại hoặc xảy ra ở một địa điểm nhất định hoặc xác định các đối tượng thoả mãn các điều kiện đặt ra
- Chiều hướng: cung cấp hướng thay đổi của đối tượng thông qua phân tích các dữ liệu trong một vùng lãnh thổ nghiên cứu theo thời gian
- Kiểu mẫu: cung cấp mức độ sai lệch của các đối tượng so với kiểu mẫu và nơi sắp đặt chúng đã có từ các nguồn khác
- Mô hình hoá: cung cấp và xác định những gì xảy ra nếu có sự thay đổi dữ
Trang 30liệu hay nói cách khác xác định xu thế phát triển của các đối tượng Ngoài thông tin địa lý, hệ thống cần phải có thêm thông tin về các quy luật hoặc nguồn thông tin thống kê
Song song với sự thâm nhập của công nghệ GIS vào các lĩnh vực khác nhau, phần mềm GIS đang hướng tới đưa công nghệ GIS thành hệ tự động thành lập bản đồ và xử lý dữ liệu Hypermedia (phương tiện cao cấp), tích hợp với công nghệ hệ chuyên gia, một ngành trong khoa học công nghệ trí tuệ nhân tạo, để đưa giá trị ứng dụng của nó lên một tầm cao hơn - ứng dụng vào công tác dự báo và
- Dữ liệu (Geographic data)
- Con người (Expertise)
2.4.2 Các kiểu dữ liệu trong GIS
Số liệu được sử dụng trong GIS không chỉ là số liệu địa lý (geo - referenced data) riêng rẽ mà còn phải được thiết kế trong một cơ sở dữ liệu (database) Những thông tin địa lý có nghĩa sẽ bao gồm các dữ kiện về (1) vị trí địa lý, (2) thuộc tính (attributes) của thông tin, (3) mối liên hệ không gian (spatial relationships) của các thông tin, và (4) thời gian Có 2 dạng số liệu được sử dụng trong kỹ thuật GIS là dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian
Hình 2.2 Minh hoạ cấu trúc dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian
Trang 312.5.1.2 Quản lý dữ liệu không gian
Cơ sở dữ liệu không gian chứa đựng những thông tin định vị của các đối tượng, cho biết vị trí, kích thước, hình dạng, sự phân bố… của các đối tượng Các đối tượng không gian được định dạng về 3 loại: đối tượng dạng điểm, dạng đường và dạng vùng Dữ liệu không gian có hai mô hình lưu trữ: mô hình dữ liệu raster và mô hình dữ liệu vector
2.4.2.2 Quản lý dữ liệu phi không gian
Cơ sở dữ liệu phi không gian (dữ liệu thuộc tính) lưu trữ các số liệu mô tả các đặc trưng, tính chất,… của đối tượng nghiên cứu Các thông tin này có thể là định tính hay định lượng, được lưu trữ trong máy tính như là tập hợp các con số hay ký tự; ở dạng văn bản và bảng biểu Thông thường, dữ liệu thuộc tính là các thông tin chi tiết cho đối tượng hoặc các số liệu thống kê cho đối tượng Các dữ liệu thuộc tính chủ yếu được tổ chức thành các bảng dữ liệu, gồm có các cột dữ liệu (trường dữ liệu): mỗi cột diễn đạt một trong nhiều thuộc tính của đối tượng;
và các hàng tương ứng với một bản ghi: gồm toàn bộ nội dung thuộc tính của một đối tượng quản lý
2.4.2.3 Chuyển đổi cơ sở dữ liệu dạng vector và raster
Hệ thống thông tin địa lý làm việc với hai dạng khác nhau của thông tin địa
lý - đó là vector và raster
Hình 2.3 Biểu diễn bản đồ dạng Vector
Mô hình dữ liệu vector hình thành trên cơ sở các vector với thành phần cơ bản là điểm Các đối tượng khác được tạo ra bằng cách nối các điểm bởi các đường thẳng hoặc các cung Vùng bao gồm một tập các đường thẳng Thuật ngữ
Trang 32đa giác đồng nghĩa với vùng trong cơ sở dữ liệu vector vì đa giác tạo bởi các đường thẳng nối với các điểm Như vậy, mô hình dữ liệu vector sử dụng các đoạn thẳng hay điểm rời rạc để nhận biết các vị trí của thế giới thực
Mô hình dữ liệu Raster không gian được chia thành các ô lưới đều, thường được gọi là các điểm ảnh (pixel) Mỗi ô gồm một giá trị đơn và vị trí của nó Độ phân giải của raster phụ thuộc vào kích thước điểm ảnh của nó Kích thước điểm ảnh càng nhỏ, độ phân giải càng cao
Hình 2.4 Mô hình dữ liệu Raster 2.4.3 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới và Việt Nam
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, giữa các ngành xâm nhập vào nhau, đan xen, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau phát triển ngày càng nhanh hơn Nhất
là khoa học công nghệ tin học phát triển nhanh và thâm nhập sâu vào các lĩnh vực khoa học khác
Công nghệ số nói chung trong đó bao gồm hệ thống thông tin địa lý (GIS)
là một công cụ hữu ích trong việc tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu gắn kết với bản
đồ, tiến bộ này đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước phát triển Việc áp dụng
hệ thống GIS vào lĩnh vực quản lý đất đai sẽ giúp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, là công cụ đắc lực cho các ban, ngành, địa phương trong việc quản lý nhà nước về đất đai
Trang 332.4.3.1 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1960 và đến nay đã phát triển hoàn chỉnh với khả năng thu nhận, lưu trữ, truy cập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin cần thiết để hỗ trợ quá trình ra quyết định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực đánh giá đất đai phục vụ cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Trên quy mô toàn thế giới, FAO (1983) đã ứng dụng GIS trong mô hình phân vùng sinh thái nông nghiệp (Agro - Ecological Zone - AEZ) để đánh giá đất đai thế giới tỷ lệ 1/5.000.000
Tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ & Canada), Mỹ là một trong những nước đi đầu về công nghệ GIS, hệ thống dữ liệu quốc gia được xây dựng rất hoàn chỉnh dựa trên
hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế GIS đã được phát triển ở khắp các lĩnh vực liên quan đến không gian lãnh thổ như: môi trường (lâm nghiệp, hải dương học, địa chất học, khí tượng thuỷ văn…); hành chính - xã hội (nhân khẩu học, quản lý rủi ro, an ninh…); kinh tế (nông nghiệp, khoáng sản, dầu mỏ, kinh doanh thương mại, bất động sản, giao thông vận tải, bưu điện…); đa ngành liên ngành (trắc địa, quản lý đất đai, quy hoạch và quản lý phát triển đô thị, thuế bất động sản…) Đã có nhiều phần mềm GIS của Mỹ được lập và sử dụng tại nhiều nước trên Thế giới như: ESRI, Integraph, MapInfo, Autodesk; phần mềm GIS của Mỹ chiếm thị phần lớn nhất trên thế giới
Tại Pháp, các lĩnh vực ứng dụng công nghệ GIS như: Dịch vụ công (quy hoạch lãnh thổ quốc gia, địa chính, lãnh thổ địa phương, dân số học, hạ tầng xã hội, giáo dục, quốc phòng,…), tiếp vận (hàng không, tối ưu hóa hành trình tuyến đường…); môi trường/tài nguyên (nông nghiệp, địa chất, quản lý đất,…); bất động sản (kiến trúc, xây dựng, quản lý di sản…); hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, cấp điện, quản lý mạng lưới, gas, thông tin lien lạc…); thị trường (bảo hiểm, ngân hàng, thương mại…); xã hội, tiêu dùng (xuất bản, y tế, du lịch)
Trong quy hoạch sử dụng đất, GIS được áp dụng thành công trong quy hoạch lãnh thổ quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị do có nền tảng dữ liệu Quốc gia phong phú, nền chuẩn Quốc gia - địa hình, địa chính, bản đồ không ảnh, số liệu thống kê và nhiều chuyên ngành khác
Tại Nhật Bản, ứng dụng GIS đã được áp dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực Những năm 70, các nghiên cứu tập trung vào xây dựng hệ thống thông tin
Trang 34khu vực, thông tin đô thị, hệ thống thông tin về sử dụng đất, mạng lưới hạ tầng
kỹ thuật đô thị Những năm 80, triển khai ứng dụng vào công tác quản lý tại địa phương (quy hoạch, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đô thị…), nghiên cứu nâng cao
và chuyên sâu vào hệ thống thông tin đô thị Những năm 90, áp dụng vào đa ngành, liên ngành (nông nghiệp, khảo cổ, khoa học trái đất, giao thông, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai, giáo dục) Nhật Bản đã ứng dụng GIS trong công tác quản lý và quy hoạch xây dựng từ cấp Chính phủ đến các bộ ngành liên quan và công tác đào tạo quy hoạch trong các trường đại học
Tại Hàn Quốc, GIS đã được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực trên cả nước Hàn Quốc đã triển khai xây dựng hệ thống GIS quốc gia chia thành 03 giai đoạn:
1995 - 2000, 2001 - 2005 và 2006 - 2010 với tổng mức đầu khoảng 2 tỷ USD nhằm tập trung vào các mục tiêu: xây dựng nền tàng cơ sở (bản đồ địa hình toàn quốc, địa chính, dữ liệu phi không gian…); xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian (khung dữ liệu quốc gia, ngân hàng dữ liệu, phát triển công nghệ GIS, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, đào tạo chuyển giao công nghệ…); xây dựng hệ thống ứng dụng đa ngành (hệ thống quản lý thông tin đất đai, hệ thống quản lý thông tin quy hoạch, hệ thống quản lý thông tin kiến trúc…); đang phát triển hệ thống nâng cao (thành phố thông minh - U - city, tối ưu hóa ứng dụng nâng cao, hệ thống hỗ trợ quyết sách quy hoạch…)
Trong đánh giá đất đai, nhiều nguồn thông tin có thể được khai thác sử dụng, bao gồm ảnh vệ tinh, bản đồ sử dụng đất, thông tin địa giới hành chính, phân bố thực vật và thông tin thống kê kinh tế, xã hội, môi trường Chính vì vậy, với ứng dụng GIS có thể dễ dàng phân tích, tổng hợp được khối lượng thông tin lớn cho độ chính xác cao và xử lý nhanh
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng GIS trong nghiên cứu đất đai Ứng dụng GIS trong lĩnh vực này đã đem lại kết quả vô cùng to lớn, nó cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác cho các nhà quản lý ra quyết định hợp lý phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững
2.4.3.2 Tình hình ứng dụng GIS ở Việt Nam
Với tầm quan trọng của GIS, ở Việt Nam các cơ quan Nhà nước đã quan tâm đầu tư xây dựng các ứng dụng GIS phục vụ cho công tác quản lý, khai thác
và sử dụng các lợi ích do công nghệ này mang lại
Từ những năm cuối thập niên 80, hệ thống thông tin địa lý (GIS) bắt đầu
Trang 35thâm nhập vào Việt Nam qua các dự án hợp tác Quốc tế Tuy nhiên, cho đến những năm cuối thế kỷ XX, GIS mới có cơ hội phát triển tại Việt Nam GIS ngày càng được nhiều người biết đến như một công cụ hỗ trợ quản lý trong các lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, quản lý đất đai, xây dựng bản đồ
Công nghệ GIS được thí điểm khá sớm và được sử dụng phổ biến để quản
lý nhiều lĩnh vực Từ năm 1995, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập dự án
Hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý tài nguyên thiên nhiên và giám sát môi trường, tạo điều kiện cho nhiều cơ quan trong cả nước tiếp cận với công nghệ thông tin địa lý (GIS) Hàng năm công nghệ GIS đều được Bộ Khoa học và Công nghệ xác định là một trong những nội dung nghiên cứu ứng dụng phục vụ nghiên cứu chuyên ngành và hiện đại hóa quản lý nhà nước
Thực tế cho thấy trình độ ứng dụng GIS tại Việt Nam nói chung chưa đạt mức phát triển cao trên thế giới, hiện chỉ đạt trung bình Cơ sở dữ liệu còn chưa đồng bộ và thiếu tính liên kết Các cơ quan tự tạo lập dữ liệu qua quá trình nghiên cứu triển khai cụ thể nên hệ thống dữ liệu cũng đã tản mát, khó tập trung
Số liệu của ngành thống kê rất cần thiết để sử dụng chung cho các ngành nhưng không đủ chi tiết
Điểm mạnh của GIS so với các công nghệ khác là khả năng gắn kết các thông tin kể cả yếu tố không gian phục vụ phân tích và truy cập theo yêu cầu GIS là một công nghệ kết hợp nhiều loại hình công nghệ (đồ họa trên máy tính, bản đồ trợ giúp bằng máy tính, viễn thám…), đặc biệt với khả năng phân tích, GIS được coi như là một công cụ trợ giúp đắc lực hiện nay, hệ thống GIS đã và đang được ứng dụng trong nhiều bộ ngành ở các lĩnh vực: quy hoạch xây dựng,
sử dụng đất, tài nguyên môi trường, giao thông vận tải, các cơ quan đo đạc bản đồ… và đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại một số trường đại học Trong lĩnh vực Tài nguyên & môi trường, hệ thống GIS chủ yếu vẫn hoạt động độc lập riêng biệt, chưa có sự liên kết khớp nối liên ngành Bộ Tài nguyên và môi trường đã ban hành một số văn bản quy định liên quan đến hệ thống ký hiệu và quy chuẩn trong việc thể hiện bản đồ; tuy nhiên đây mới chỉ
là quy chuẩn ngành
Trong ngành giao thông vận tải, hệ thống GIS đã được áp dụng thực tế vào một số yêu cầu cụ thể về quản lý cơ sở hạ tầng giao thông cũng như quản lý phương tiện giao thông theo thời gian thực Phần mềm GIS được sử dụng phổ
Trang 36biến là Mapinfo và Arcgis
Trong lĩnh vực đo đạc bản đồ: đã ứng dụng hệ thống GIS trong việc thành lập bản đồ ảnh số, thành lập bản đồ địa hình, bản đồ địa chính bằng công nghệ số, đo đạc và thành lập các lưới tọa độ, độ cao, xây dựng các cơ sở
dữ liệu nền GIS cho các thành phố Phần mềm GIS được sử dụng: Intergraph, Mapinfo, Arcgis…
Trong công tác quy hoạch xây dựng, công nghệ GIS thời gian gần đây đã được áp dụng tại một số đơn vị trong ngành quy hoạch xây dựng và cơ quan quản
lý địa phương như: Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc Gia, Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội, Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội, tại Đà Lạt, Nam Định… và nhiều cơ quan khác Tuy nhiên, trong thực tế công tác lập quy hoạch xây dựng hiện nay vẫn chủ yếu thực hiện theo công nghệ truyền thống với phần mềm hỗ trợ thiết kế AutoCad và các phần mềm diễn họa Công nghệ GIS đã có sự phát triển vượt bậc trong các ứng dụng ở Việt Nam Các cơ quan Trung ương như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giao thông đã có những dữ liệu và ứng dụng GIS phục vụ công tác quản lý Nhà nước Ở các địa phương, đã có nhiều dự án triển khai ứng dụng GIS trong phạm vi tỉnh
Hiện nay, nhiều cơ quan nhà nước và doanh nghiệp đang tiếp cận sử dụng công nghệ thông tin địa lý (công nghệ GIS) để giải quyết những bài toán thiết kế quy hoạch sử dụng đất, quản lý và thiết kế các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng chiến lược về thị trường Một số cơ quan ứng dụng công nghệ GIS ở Việt Nam:
+ Viện Điều tra Quy hoạch rừng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; + Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
+ Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất - Tổng cục Quản lý đất đai; + Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn biển thuộc Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn
và BĐKH;
+ Trung tâm Viễn thám thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường;
+ Trung tâm Khảo sát, Nghiên cứu và Tư vấn môi trường biển thuộc Viện
Cơ học;
Trang 37+ Trung tâm bảo vệ môi trường thuộc Viện Kỹ thuật Nhiệt đới;
+ Trung tâm Công nghệ Thông tin Ðịa lý thuộc trường Ðại học Mỏ - Ðịa chất; + Phân viện Quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ - Bộ NN&PTNT;
+ Ngoài ra, còn có một số trung tâm, viện nghiên cứu, các trường đại học, các sở, ban ngành, các địa phương và một số tổ chức doanh nghiệp (VidaGIS, GeoViet, DitaGis, Trung tâm GIS và Ứng dụng mới…) ứng dụng công nghệ GIS
Từ những nghiên cứu về đánh giá phân hạng thích hợp đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng được quy trình chung để thành lập bản đồ chất lượng đất theo các bước như sau:
+ Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ
+ Đánh giá lựa chọn các thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ đã thu thập + Điều tra thực địa và chuyển kết quả lên bản đồ
+ Tổng hợp xử lý thông tin tài liệu nội, ngoại nghiệp Xây dựng được các lớp thông tin chuyên đề về đất, khí hậu, địa hình, nước, độ phì nhiêu của đất + Chồng xếp các lớp thông tin và biên tập xây dựng bản đồ chất lượng đất + Tiêu chí đánh giá chất lượng đất các loại hình sử dụng đất gồm: các yếu
tố trong các bản đồ đơn tính và tập hợp của các “thách thức phải đối mặt” (Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến đánh giá đất như:
- Điều tra, đánh giá thoái hóa đất vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ phục vụ quản lý sử dụng đất bền vững do Tổng cục quản lý đất đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm 2013
- Xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất tại xã Phú Sơn, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế của Huỳnh Văn Chương và Ngô Thế Lân (2010)
- Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch phát triển cây cao
su tiểu điền tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị của Huỳnh Văn Chương (2012)
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ cho đánh giá đất nông nghiệp huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên của Ngô Thị Hồng Gấm và Đàm Xuân Vận (2011) Đề tài đã ứng dụng công
Trang 38nghệ GIS để thành lập bản đồ đơn vị đất đai thông qua việc chồng xếp 6 bản đồ đơn tính, gồm: Bản đồ loại đất, bản đồ độ dầy tầng đất, bản đồ địa hình, bản đồ thành phần cơ giới, bản đồ chế độ tưới, bản đồ độ phì Bản đồ đơn vị đất đai huyện
Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên được thành lập sẽ giúp cho công tác đánh giá phân hạng đất đai, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của huyện một cách hiệu quả
- Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho đánh giá đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên của Trần Thị Thu Hiền (2009) Đề tài đã xây dựng bản đồ đơn vị đất đai dựa trên cơ sở đã xác định được
8 chỉ tiêu phân cấp là: loại đất, độ dốc, độ cao, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới đất, pHKCl, mùn, lân tổng số đối với các loại đất sản xuất trong vùng nghiên cứu; kỹ thuật GIS được ứng dụng trong xây dựng các bản đồ đơn tính; bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng theo phương pháp chồng xếp các bản đồ đơn tính bằng công nghệ GIS
Một số đề tài ứng dụng GIS tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam như:
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá thích hợp đất sản xuất nông nghiệp khu vực ven đô thành phố Hà Tĩnh của Hồ Huy Thành, Đào Châu Thu, Trần Quốc Vinh (nghiên cứu sinh khoa quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
- Ứng dụng GIS để đánh giá thích hợp với cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Khoái Châu - Hưng Yên của Trần Thị Băng Tâm, Trần Quốc Vinh, Phạm Văn Vân, Nguyễn Đình Công, Lê Thị Giang (đề tài cấp Bộ) Đề tài ứng dụng nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về đất nông nghiệp và xử lý dữ liệu trong công tác đánh giá đất theo quy trình của FAO
- Ứng dụng GIS và phương pháp nghiên cứu đa chỉ tiêu MCE để đánh giá thoái hóa đất huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế của Lưu Thị Ngoan (luận văn thạc sĩ)
- Tổng cục Quản lý đất đai (2008) Đánh giá chất lượng đất nông nghiệp sau chuyển đổi vùng Bán đảo Cà Mau Dự án “Đánh giá chất lượng đất nông nghiệp sau chuyển đổi vùng Bán đảo Cà Mau”
Nhìn chung, sự phát triển của công nghệ thông tin địa lý với nhiều ứng dụng hữu hiệu đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, những áp dụng ngày càng phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học thông tin địa
lý nói chung và ứng dụng GIS trong lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng
Trang 392.4.3.3 Một số phần mềm GIS được ứng dụng tại Việt Nam
a) Phần mềm Mapinfo
Mapinfo là một phần mềm của hệ thông tin địa lý (GIS) cho phép chúng ta quản lý, tạo ra một cơ sở dữ liệu vừa và nhỏ đồng thời cũng cho phép cập nhật, lưu trữ, quản lý và khai thác các thông tin, tài liệu lưu trữ trong máy tính
MapInfo tổ chức tất cả các thông tin bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian dưới dạng bảng cơ sở dữ liệu (Table) Các thông tin không gian
và thông tin thuộc tính này được MapInfo liên kết với nhau một cách chặt chẽ, không thể tách rời thông qua chỉ số ID, lưu trữ và quản lý chung cho cả hai loại
dữ liệu Mỗi một bảng dữ liệu là một nhóm các tệp với các phần đuôi mở rộng khác nhau:
- Cung cấp khả năng thu nhận và chuyển đổi dữ liệu rất thuận tiện và rộng rãi thông qua chức năng Import, Export
- Với dữ liệu không gian, MapInfo có thể trao đổi dữ liệu với các phần mềm khác như AutoCad, Acr/Info, Famis, MicroStation, Arcgis với các đuôi khi chiết xuất là:
MIF: Dữ liệu trao đổi của Mapinfo
DXF: Dữ liệu trao đổi của AutoCad
ASCII: Dữ liệu trao đổi bộ mã ASCII
SHP: Dữ liệu trao đổi của Arcgis
Nhập dữ liệu ảnh ở đuôi Tif, Bmp, Gif
- Với dữ liệu thuộc tính, MapInfo có khả năng trao đổi và thu nhận các dữ liệu từ Excel, Foxpro, CADDB, Access … thông qua các đuôi tab, txf, dbf,… Các bản đồ máy tính được tổ chức, quản lý theo từng lớp (layers) Có thể hình dung các lớp như là các tờ giấy bóng trong suốt chồng lên nhau Mỗi một lớp thông tin chỉ thể hiện một khía cạnh của mảnh bản đồ Các thông tin bản đồ trong phần mềm MapInfo được tổ chức quản lý theo từng lớp đối tượng
Hiện nay, Mapinfo được nâng cấp với các phiên bản mới phù hợp với các máy tính có tốc độ xử lý cao và khả năng biên tập bản đồ hiệu quả, có độ thẩm
mỹ tốt hơn
* Tham khảo tại trang wed:
Trang 40“http://www.geoviet.vn/goc-ky-thuat/vn/401/476/322/2016/gioi-thieu-chung-ve-phan-mem-mapinfo.aspx” - Giới thiệu chung về phần mềm Mapinfo b) Phần mềm ArcGIS
ArcGIS là phần mềm hệ thống thông tin địa lý của hãng ESRI rất nổi tiếng
và đang được tin dùng trên toàn thế giới ArcGIS là một hệ thống phần mềm cung cấp một giải pháp tổng thể về hệ thống thông tin địa lý, từ thu thập, nhập số liệu, chỉnh lý, phân tích và phân phối thông tin trên mạng Internet tới các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu cho mọi tổ chức, từ những người sử dụng đơn lẻ cho đến hệ thống có tính toàn cầu
Về mặt công nghệ, hiện nay các chuyên gia GIS coi công nghệ ESRI là một giải pháp mang tính chất mở, tổng thể và hoàn chỉnh, có khả năng khai thác hết các chức năng của GIS trên các ứng dụng khác nhau như: desktop (ArcGIS Desktop), máy chủ (ArcGIS Server), các ứng dụng Wed (ArcIMS, ArcGIS Online), hoặc hệ thống thiết bị di động (ArcPAD), và có khả năng tương thích cao đối với nhiều loại sản phẩm của nhiều hãng khác nhau
Phần mềm ArcGIS cung cấp nhiều chức năng để có thể:
- Xây dựng một mô hình xử lý không gian rất hữu dụng cho việc tìm ra các mối quan hệ, phân tích dữ liệu và tích hợp dữ liệu
- Thực hiện chồng lớp các véc tơ, tính xấp xỉ và phân tích thống kê
- Tạo ra các đặc tính cho sự kiện và chồng xếp các đặc tính của các sự kiện đó
- Chuyển đổi dữ liệu và các định dạng của dữ liệu theo rất nhiều loại định dạng
- Xây dựng những dữ liệu phức tạp, các mô hình phân tích và các đoạn mã
để tự động hóa các quá trình GIS…
ArcGIS gồm nhiều các ứng dụng khác nhau như: desktop (ArcGIS Desktop), máy chủ (ArcGIS Server), các ứng dụng Web (ArcIMS, ArcGIS Online), hoặc hệ thống thiết bị di động (ArcPAD)
Trong đó ArcGIS Desktop được sử dụng nhiều trong phân tích và quản lý
cơ sở dữ liệu tài nguyên đất đai, là một bộ phần mềm ứng dụng gồm: ArcMap, ArcCatalog, ArcToolbox, ModelBuilder, ArcScene và ArcGlobe Khi sử dụng các ứng dụng này đồng thời, người sử dụng có thể thực hiện được các bài toán