HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRẦN THỊ HẢI YẾN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC BÓN PHÂN KHOÁNG VÀ KỸ THUẬT HÁI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
CÔNG THỨC BÓN PHÂN KHOÁNG VÀ KỸ THUẬT HÁI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ SHAN LŨNG PHÌN
TRỒNG TẠI PHÚ HỘ, PHÚ THỌ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Vinh
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới Nguyễn Đình Vinh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Cây Công Nghiệp, Khoa Nông Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm nghiên cứu phát triển chè thuộc Viện KHKT NlN miền núi phía Bắc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Giới thiệu về giống chè shan lũng phìn 4
2.2 Cơ sở khoa học về bón phân cho chè 4
2.2.1 Vai trò của phân bón đối với cây chè 4
2.2.2 Thành phần hóa học trong búp chè tươi 6
2.3 Các kết quả nghiên cứu về bón phân cho chè 7
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè trên thế giới 7
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè tại Việt Nam 11
2.4 Các kết quả nghiên cứu về hái chè 14
2.4.1 Quan hệ giữa hái chè và sinh trưởng, phát triển củacây chè 14
2.4.2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thê giới 16
2.4.3 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè tại Việt Nam 17
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Thời gian nghiên cứu 23
3.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 23
Trang 53.4 Nội dung nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Bố trí thí nghiệm: 23
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 31
4.1 Kết quả thí nghiệm bón phân 31
4.1.1 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến các chỉ tiêu dinh dưỡng đất 31
4.1.2 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng của cây chè Shan Lũng Phìn 32
4.1.3 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến kích thước lá chè 34
4.1.4 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến động thái sinh trưởng búp chè 35
4.1.5 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất búp chè 39
4.1.6 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng nguyên liệu búp 42
4.1.7 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến thành phần sinh hóa chè thành phẩm 44
4.1.8 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến một số loại sâu hại chính trên chè 37
4.1.9 Đánh giá cảm quan sản phẩm chè xanh chế biến từ giống chè Shan Lũng Phìn trong thí nghiệm 46
4.1.10 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm bón phân 48
4.2 Kết quả thí nghiệm hái 50
4.2.1 Ảnh hưởng của một số công thức hái đến sinh trưởng thân cành chè 50
4.2.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất búp chè 51
4.2.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến thành phần cơ giới nguyên liệu và phẩm cấp nguyên liệu 52
4.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ một số sâu hại chính của giống Shan Lũng Phìn 54
Trang 64.2.5 Ảnh hưởng của một số công thức hái đến thành phần sinh hóa trong chè
thành phẩm 55
4.2.6 Kết quả đánh giá cảm quan sản phẩm chè xanh từ giống chè Shan Lũng Phìn trong thí nghiệm 56
4.2.7 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của các công thức hái 57
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
Tài liệu tham khảo 61
Phụ lục 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần cơ giới búp chè 17 Bảng 2.2 Tỷ lệ tanin và chất hòa tan trong búp chè Trung Du 18 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến các chỉ tiêu dinh dưỡng đất 31
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng của thân
cành chè 33 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến kích thước lá chè 34 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến tốc độ sinh trưởng
búp chè vụ xuân 36 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến một số loại sâu hại
chính trên chè 38 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất búp chè 40 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến thành phần cơ giới búp
chè 42 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến thành phần sinh hóa
chè xanh 44 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến kết quả thử nếm cảm
quan sản phẩm chè xanh 47 Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân 49 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến sinh trưởng thân cành chè 50 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất búp chè 51 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến thành phần cơ giới búp chè và
phẩm cấp nguyên liệu 53 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ một số sâu hại chính của
giống Shan Lũng Phìn 54 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của một số công thức hái đến thành phần sinh hóa trong
chè thành phẩm 55 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của một số công thức hái đến kết quả thử nếm cảm quan
mẫu chè xanh 57 Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của các công thức hái 58
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng và tỷ lệ bón N, P, K đến tốc độ sinh
trưởng búp chè vụ xuân 36
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trần Thị Hải Yến
Tên luận văn:Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân khoáng và kỹ
thuật hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Shan Lũng Phìn trồng tại Phú Hộ, Phú Thọ
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn được bố trí với 4 công thức, 3 lần nhắc lại Các công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB Diện tích m i ô thí nghiệm là 20m2, t ng diện tích thí nghiệm là 240m2
không tính dải bảo vệ
Nền bón thí nghiệm là 30 tấn phân chuồng/ha
Trang 10Các công thức thí nghiệm:
+ CT1 ĐC : Hái 1 tôm 2 lá
+ CT2: Hái 1 tôm 1 lá
+ CT3: Hái 1 tôm 3 lá
Kết quả nghiên cứu
1 Các công thức bón phân khoáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Shan Lũng Phìn
Về sinh trưởng: Công thức 3 (bón phân với tỷ lệ 3:1:2 lượng bón 360 kg N : 120
kg P2O5 : 240 kg K2O ) cho các chỉ tiêu sinh trưởng đạt lớn nhất (chiều cao cây 101,34
cm, đường kính gốc 8,85 cm, rộng tán 136,56 cm, dày tán 32,46 cm, mật độ búp đạt 320,71 búp/m2)
Năng suất búp của công thức bón 360 kg N : 120 kg P2O5 : 240 kg K2O đạt cao nhất 14,65 tấn/ha, thấp nhất là công thức đối chứng bón 360 kg N : 120 kg P2O5 : 120
kg K2O chỉ đạt 13,12 tấn/ha
Đánh giá chất lượng công thức bón 360 kg N : 120 kg P2O5 : 240 kg K2Ocó hàm lượng tanin thấp nhất (25,33%), một số chỉ tiêu khác đạt cao nhất Chất lượng chè được đánh giá tốt nhất Thử nếm cảm quan, công thức 360 kg N : 120 kg P2O5 : 240 kg K2O
có điểm thử nếm đạt cao nhất 17,9 điểm) Lợi nhuận kinh tế của công thức 3 đạt 140,204.000đ/ha cao nhất
2 Các công thức hái chè có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Shan Lũng Phìn
Về sinh trưởng: công thức hái 1 tôm 1 lá có các chỉ tiêu sinh trưởng đạt cao nhất (Chiều cao cây đạt 104,96 cm, độ rộng tán đạt 138,67 cm, dày tán đạt 34,67 cm)
Về năng suất: công thức hái 1 tôm 3 lá có năng suất đạt cao nhất 15,93 tấn/ha, công thức hái 1 tôm 1 lá năng suất thấp nhất 5,81 tấn/ha
Về chất lượng: Công thức hái 1 tôm 2 lá và công thức hái 1 tôm 1 lá có các chỉ tiêu về hàm lượng các chất: tanin, chất hòa tan, axit amin cao hơn so với công thức hái 1 tôm 3 lá như vậy sẽ nâng cao được chất lượng chè xanh Công thức 1 có hàm lượng tanin thấp hơn công thức 2 nhưng có chỉ số chất thơm và đường khử cao hơn công thức
2 vì vậy nếu để làm chè xanh sẽ có chất lượng ngon hơn và điểm thử nếm và đánh giá bằng cảm quan cao hơn các công thức còn lại
Tuy nhiên xét về lợi nhuận khi thu búp chè tươi thì công thức 3 cho hiệu quả kinh tế cao nhất đạt 151,600.000 đ/ha Thấp nhất là công thức 2 đạt 116,950.000 đ/ha
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: YEN TRAN THI HAI
Thesis title: Studying the effect of the mineral fertilizer formulas and picking
Lung Phin tea varieties in Phu Ho, Phu Tho
Major: Crop Science Code: 60 62 01 10
Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research objective:
Determining the effect of the fertilizer and picking techniques on growth, the development, the productivity and the quality of Shan Lung Phin variety
Reaserch content:
- Research on influence of the fertilizer on the growth, the development, the
- Research on influence of picking techniques on the growth, the development, the productivity and the quality of Shan Lung Phin variety
Methods:
- Research on influence of the fertilizer formulas on the growth, the development,
formulas, repeated three times The experiment was arranged in randomized complete block design (RCBD) Experiment plot area was 20 m2, the total area for experiment was 240 m2
(RCBD) Experiment plot area was 20m2, the total area for experiment was 180 m2
Experimental formulas:
+ CT1 ĐC : 1 bud 2 leaves
Trang 12+ CT2: 1 bud 1 leaves
+ CT3: 1 bud 3 leaves
Main findings and conclusions
productivity and the quality of Shan Lung Phin variety
P2O5: 240 kg K2O/ha) for the highest growth rates (the height of tea tree is 101.34 cm
and the original diameter is 8.85 cm and the canopy width is 136.56 cm and the
The highest productivity is 14.65 tons/ha of treatment with amount of fertilizer
360 kg N: 120 kg P2O5: 240 kg K2O/ha, but the control’s productivity is lowest with
amount of fertilizer 360 kg N: 120 kg P2O5: 120 kg K2O/ha, is 13.12 tons/ha
About quality: The formula is 360 kg N: 120 kg P2O5: 240 kg K2O has the
compared with the others
2 The picking formulas affect to the growing, the development, the
productivity and the quality of Shan Lung Phin variety
About growth: The formula of picking a bud one leaves has the highest growth
rates (the height of tea tree is 101.96 cm, the canopy width is 138.67 cm, the canopy
thickness is 34.67 cm)
The highest productivity is 15.93 tons/ha of the formula of picking a bud three
leaves, but the formula of picking a bud one leaves is lowest is 5.81 tons/ha
About quality: The formula of picking a bud 1 leaves and the formula of picking a
bud two leaves have higher levels ot tannin, solubilizer and amino acid than formula three,
thus improving the quality of green tea Formula one has a lower tannin content than
formula two but has higher aroma and reducing sugar than formula two so if the green tea is
better quality and taste test and evaluation by high sense than the rest of the formula
compared with the others The lowest is formula 2 (116.950.000 vnd/ha)
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis O, Kuntze, là cây công
nghiệp dài ngày, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm, có nhiệm kỳ kinh doanh từ 30 - 40 năm, nhanh cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và n định Từ lá chè tuỳ theo cách chế biến chè và công nghệ chế biến để cho ra các loại chè khác nhau: chè xanh, chè đen, chè vàng, chè hoà tan …
Chè có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ, có tác dụng giải khát, b dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tiêu hoá các chất mỡ, giảm được bệnh béo phì, chống lão hoá… Do đó nước chè đã trở thành thứ nước uống của nhân loại Ngày nay, hầu hết dân cư trên thế giới dùng nước chè làm nước uống hàng ngày Một số nước uống chè thành tập quán và tạo ra được một nền văn hoá trà Ngoài để uống người ta còn dùng nước chè xanh để rửa các vết thương những ch lở loét, nhiễm trùng trên cơ thể Vì thế chè không những có tên trong danh mục giải khát mà còn có tên trong từ điển y hoc, dược học Người Nhật Bản khẳng định chè cứu người khỏi bị nhiễm xạ và gọi đó là thứ nước uống của thời đại nguyên tử Vùng Tây Nam Trung Quốc thời c đại cùng khung cảnh văn hoá với chúng ta đã dùng lá chè làm vật trao đ i ngang giá
Cây chè được trồng ở Việt Nam từ lâu đời 4000 năm , hiện nay đã được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước Với ưu thế là một cây công nghiệp
dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước Cây chè được coi là cây mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du và miền núi Phùng Văn Chấn, 1999)
Cây chè sống quanh năm và có chu kỳ kinh doanh dài vì vậy đã tạo công
ăn việc làm không những cho lao động chính mà cả cho lao động phụ người già, trẻ em), có tác dụng điều hoà lao động từ vùng đồng bằng lên vùng trung du,
Trang 14miền núi thưa thớt
Hàng năm, hoạt động đốn, hái của con người làm mất đi một lượng đáng
kể các thành phần dinh dưỡng Vì vậy, để có nương chè cho năng suất cao, chất lượng tốt, và có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải b sung một lượng dinh dưỡng để
bù đắp lại lượng dinh dưỡng đã mất đi thông qua hình thức bón phân Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất và chế biến chè, tuy nhiên giá chè của chúng
ta chỉ bằng 60% giá chung trên thế giới Việc sử dụng phân bón cân đối, đầy đủ
là tiền đề duy trì năng suất cao, phát huy được tiềm năng của giống đem lại chất lượng chè thành phẩm có chất lượng cao, tăng giá bán, kéo dài thời kỳ khai thác giúp tăng hiệu quả kinh tế cho các hộ trồng chè Ngoài ra, bón phân cân đối còn hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì của đất
Bên cạnh đó, trong sản xuất chè hái chè cũng là một khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Hái chè không chỉ ảnh hưởng đến độ non già của búp mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, mật độ búp, khối lượng búp và năng suất, chất lượng búp chè Vì thế kỹ thuật hái cũng là một thao tác được khẳng định có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất phẩm cấp chè trong sản xuất chè
Giống chè c thụ Shan Lũng Phìn từ lâu đã được mệnh danh là “đệ nhất trà” bởi hương vị độc đáo, khác biệt riêng của nó Chè Shan Lũng Phìn đang được coi là một nguồn gen quý đối với đời sống con người, đồng thời có giá trị
về mặt văn hóa gắn với bản sắc, tinh hoa của cộng đồng dân cư, là báu vật đặc sản trên cao nguyên đá Đồng Văn
Hiện nay chè c thụ Shan Lũng Phìn đang có dấu hiệu già c i và suy giảm
về năng suất do người dân ít quan tâm đến kỹ thuật chăm sóc, bón phân và đốn hái hàng năm Để bảo tồn cũng như phát triển và gìn giữ giống chè quý này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các nhà nghiên cứu Vì vậy Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc đã tiến hành di thực giống chè Shan Lũng Phìn về Phú Thọ nhân giống và chăm sóc theo dõi Trong số các biện pháp kỹ thuật canh tác để phát triển chè Shan Lũng Phìn thì bón phân và hái cũng là hai biện pháp kỹ thuật quan trọng góp phần giúp cây sinh trưởng cân đối, kéo dài nhiệm kỳ kinh tế và tăng thu nhập cho người dân Để đánh giá được rõ hơn ảnh hưởng của phân bón
và kỹ thuật thu hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống
chè Shan Lũng Phìn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
Trang 15một số công thức bón phân khoáng và kỹ thuật hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Shan Lũng Phìn trồng tại Phú Hộ, Phú Thọ” dưới sự hướng dẫn của TS, Nguyễn Đình Vinh
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được công thức bón phân và công thức hái phù hợp nhất cho sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cao của giống chè Shan Lũng Phìn Các kết quả thu được sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cho giống chè Shan Lũng Phìn tại vùng Phú Thọ
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu về các công thức bón phân khoáng và kỹ thuật thu hái ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng chè Shan Lũng Phìn tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè thuộc Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ b sung thêm những tài liệu khoa học về kĩ thuật bón phân, hái cho giống chè Shan Lũng Phìn Xây dựng được quy trình kĩ thuật bón phân và hái hợp lý cho giống chè Shan Lũng Phìn trồng ở Phú Thọ đồng thời là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật trong sản xuất
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài thành công sẽ đưa ra được công thức bón phân, công thức hái hợp lý cho giống chè Shan Lũng Phìn góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè làm nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG CHÈ SHAN LŨNG PHÌN
nguyên núi đá thuộc xã Lũng Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang có độ cao từ 1200-1600m so với mực nước biển Giống chè c thụ Shan Lũng Phìn từ lâu được đánh giá là giống chè đặc sản bởi hương vị độc đáo, khác biệt riêng của nó Tuy nhiên, hiện nay chè c thụ Shan Lũng Phìn đang có dấu hiệu của sự già c i
và suy giảm về năng suất
cây trồng lợi thế của vùng núi phía Bắc Viện Khoa học NLN miền núi phía Bắc
đã tiến hành nghiên cứu chọn lọc giống chè Shan Lũng Phìn từ năm 2001-2004 Năm 2006 đã tiến hành khảo nghiệm cơ bản tại Phú Hộ và tại Sơn La, Yên Bái năm 2013 Hiện nay tại các vùng sản xuất cây sinh trưởng và phát triển tương đối
n định và cho năng suất tốt
Qua quá trình khảo nghiệm tại một số tỉnh miền núi phía Bắc chúng tôi đã đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học như sau:
mâm xôi Lá chè dài khoảng 10,49 cm, chiều rộng đạt 2,97 cm, diện tích lá đạt 29,37 cm2 Hệ số lá dài/rộng là 3,75, lá chè có hình dạng thuôn dài Thế lá hơi đứng, lá màu xanh sáng, bề mặt lá phía trên có gợn sóng nhăn vừa, có răng cưa đều Lá non có dạng hình thuôn, độ dày trung bình Búp chè màu xanh non, đây
là một chỉ tiêu có lợi về mặt sinh hóa và chất lượng sản phẩm khi chế biến Búp chè có rất nhiều lông tuyết, lá thứ 2 có tuyết trắng Chiều dài búp 1 tôm 2,3 lá đạt 6,72 - 9,34 cm Khối lượng búp 1 tôm 2,3 lá đạt 0,78 - 1,05 g
Đặc điểm hình thái thân cành: Dạng cây thân g Vị trí phân cành ở độ cao 6,47 cm Góc phân cành là 45,53o nên cây có dạng nửa đứng Mật độ phân cành dầy, độ dài đốt cành dài 4,06 cm
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BÓN PHÂN CHO CHÈ
2.2.1 Vai trò của phân bón đối với cây chè
Phân bón là nền tảng cơ sở vật chất cơ bản của việc nâng cao năng suất và chất lượng chè Bón phân cho chè là biện pháp kỹ thuật quan trọng không thể thiếu với cây chè Bón phân nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây
Trang 17chè, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành bộ khung tán chè, kích thích bộ rễ cây chè phát triển, tăng khả năng đề kháng của chè đối với các điều kiện bên ngoài không thuận lợi Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như cả đời sống của nó Về mùa đông,cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý
để thúc đẩy quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của chè Cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu
về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn
Phân bón có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và năng suất chè Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50% - 60% t ng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè
Chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng, m i chất có vai trò nhất định đối với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng nhưng chủ yếu là 3 nguyên tố chính N, P, K
Vai trò của các nguyên tố N, P, K đối với cây chè cụ thể như sau:
- Đạm: Cây chè là loại cây thu hoạch lá nên yếu tố N là chất dinh dưỡngquan trọng hàng đầu, N có ảnh hưởng tốt đến năng suất búp chè Bón N có thể làm tăng năng suất chè búp 40- 50%, hoặc có khi còn cao hơn nữa, nhưng khi bón N đơn độc kéo dài đã làm giảm năng suất và ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè Đạm là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nuclêic và prôtêin Đạm giúp tăng chiều cao, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè Nếu thiếu đạm cây sinh trưởng, phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt
- Lân: là yếu tố rất cần thiết trong đời sống cây chè là thành phần của axit nucleic, protein Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tu i thọ của cây Nếu thiếu lân lá có màu xanh đục
mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thụ đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều kém
Bộ rễ chè có tương quan rất chặt chẽ với năng suất Bón kết hợp lân và N đã làm tăng cường sự sinh trưởng của bộ rễ Lân còn có tác dụng tích cực trong việc
Trang 18nâng cao chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè đen
- Kali: Kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành và các
bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đ i chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè Hàm lượng K2O trong đất phụ thuộc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá và hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân
Việc tiến hành bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố N,P,K là cần thiết, song
tỉ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết và khí hậu của từng vùng
2.2.2 Thành phần hóa học trong búp chè tươi
Thành phần sinh hóa của chè biến động rất phức tạp nó phụ thuộc vào giống, tu i chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch Trên cơ sở nắm được những đặc điểm chủ yếu về mặt sinh hóa của nguyên liệu
sẽ đặt cơ sở cho một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao sản lượng đồng thời giữ vững và nâng cao chất lượng của chè
- Nước: Nước là môi trường xảy ra tương tác giữa các chất, nước tham gia trực tiếp vào nhiều phản ứng thủy phân, oxi hóa khử Ở các giai đoạn và các thời
kỳ khác nhau của cây chè, hàm lượng nước trong các đọt chè tươi cũng khác nhau, thường chiếm khoảng 75-82%
- Hợp chất phenol Tanin : Tanin chè là một h n hợp phức tạp của các hợp chất phenol thực vật bao gồm các chất polyhydroxylphenol đơn giản và các chất polyphenol đa phân tử, thường chiếm khoảng 27-34% chất khô trong chè
Hợp chất tanin giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị của chè, đặc biệt là chè đen Tanin có đặc tính dễ bị oxi hóa dưới tác dụng của enzym và được cung cấp oxi đầy đủ Vì vậy, chè nguyên liệu chứa càng nhiều tanin, đặc biệt là tanin hòa tan thì sản phẩm chè đen có chất lượng càng cao
- Cafein: Trong các hợp chất alcaloit trong chè thì chỉ có cafein được chú
ý nhất sau đó là teobromin và teofelin, xantin, adenin, cholin, tetrametyluric Hàm lượng cafein trong đọt chè non một tôm 2 - 3 lá non chiếm khoảng 2 - 4% lượng chất khô Caffein có khả năng liên kết với tanin và các sản phẩm oxi hóa của tanin để tạo nên các muối Tanat caffein Các muối này tan trong nước nóng, không tan trong nước lạnh và tạo nên hương thơm và sắc nước chè xanh, giảm vị
Trang 19đắng và nâng cao chất lượng chè thành phẩm Ngoài ra caffein có tác dụng dược
lý, tạo cảm giác hưng phấn cho người uống
- Protein và acid amin:Protein trong búp chè phân bố không đồng đều, chiếm khoảng 15% t ng lượng chất khô của lá chè tươi Ngày nay, người ta đã tìm thấy 17 acid amin có trong chè Trong đó 10 acid amin cơ bản là: Theanine, phenylalanine, leucine, isoleucine, valine, Tyrosine, glutamine, serine, glutamic, aspartic Các acid amin này có thể kết hợp với đường, tanin tạo ra các hợp chất aldehyde, alcol có mùi thơm cho chè đen, và chúng cũng góp phần điều vị cho chè xanh
- Carbohydrates: Trong thành phần Carbohydrate của chè, đáng quan tâm nhất là là loại đường tan Dưới tác dụng của nhiệt và các yếu tố khác, các loại đường sẽ biến đ i tạo nên hương vị đặc trưng cho thành phẩm Ngoài ra, các loại đường còn tác dụng với Protein, acid amin tạo nên hương thơm cho chè
- Dầu thơm: Dầu thơm ở trong chè rất ít, hàm lượng của chúng trong lá chè tươi: 0,007% - 0,009% và trong chè bán thành phẩm: 0,024 - 0,025% Hàm lượng dầu thơm trong lá chè được tăng dần ở những địa hình cao, tu i lá quá non chứa ít hương thơm
Thành phần hóa học trong búp chè chịu ảnh hưởng rất lớn của kỹ thuật bón phân Vì vậy sử dụng phân bón hợp lý sẽ điều chỉnh được thành phần hóa học trong búp và làm tăng chất lượng búp chè theo hướng có lợi cho chế biến các sản phẩm chè khác nhau
2.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ BÓN PHÂN CHO CHÈ
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các nguyên
tố dinh dưỡng cho cây chè và kỹ thuật bón phân
Theo tác giả Zhang et al (2000), phân bón là nền tảng vật chất cơ bản của
việc nâng cao năng suất và chất lượng chè Phân bón có tác dụng quan trọng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Mặt khác, bón phân có tương quan mật thiết với sản lượng và chất lượng chè, phân đạm nâng cao sản lượng, có hiệu quả nâng cao hàm lượng caffeine và hàm lượng axit amin Trong khi phối hợp lân, kali, đã nâng cao hàm lượng tea polyphenol, caffeine và protein, vừa có khả năng thúc đẩy nâng cao chất lượng lá chè, cải thiện chất lượng chè
Cũng theo Zhang et al (2000), cho rằng bón phân hữu cơ kết hợp với phân
Trang 20vô cơ có thể thúc đẩy cây chè sinh trưởng nhanh, tăng khả năng sản xuất và chất lượng Tỷ lệ bón kết hợp tốt nhất là 3N: 1P: 3K: 3 phân hữu cơ hoặc 2N: 2P: 2K:
3 phân hữu cơ Hiệu quả của N, P, K và phân hữu cơ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây chè là khác nhau trong đó K là nguyên tố chủ yếu làm tăng đường kính của cây chè con N giữ vai trò quan trọng nhất đến năng suất của cây chè kinh doanh, sau đó đến K
Theo tác giả Bonheure and Winllson (1992), nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha cần phải cung cấp N: 375 kg, P2O5: 75kg và K2O: 112 - 150 kg Nghiên cứu vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng tham gia vào quá trình sinh trưởng búp chè đã được tác giả công bố 5 nguyên tố chiếm tỷ lệ lớn: đạm (N) từ 1,69 – 5,95%; lân (P) từ 0,09 – 0,61%; kali (K) từ 0,02 – 2,64%; canxi (Ca) từ 0,06 – 2,42%; magie (Mg) từ 0,07 – 1,40%; các nguyên tố khác chiếm số lượng ít từ 8 – 3.700 ppm và sắp xếp theo thứ tự giảm dần là lưu huỳnh (S), clo (Cl), nhôm (Al), mangan (Mn), natri (Na), kẽm Zn , đồng (Cu), Bo (B) và sắt (Fe)
Tác giả Xu and Li (2006), cho rằng khi sử dụng phân bón chuyên dùng và phân hữu cơ sinh học có hiệu quả thúc đẩy tăng số lượng chồi nảy mầm của cây chè, số lá non mới và khối lượng 100g/búp, nâng cao sản lượng chè So với sử dụng 45% phân bón phức hợp vô cơ, sử dụng phân gà, phân bón chuyên dùng cây chè sản lượng đã tăng lần lượt là 8,4% và 20,3%; còn sử dụng phân hữu cơ sinh học sản lượng đã tăng lần lượt là 1,7% và 12,8%, đặc biệt hàm lượng nội chất trong lá chè nhiều và chất lượng chè chế biến tốt hơn
Theo Lin et al (1991), bón phân thúc đẩy sự sinh trưởng, tăng năng suất
và cải thiện chất lượng nguyên liệu chè búp tươi Hàm lượng axit amin, polyphenol, catechin, đường t ng số có trong nguyên liệu chè búp tươi thích hợp, chất lượng chè Olong thành phẩm tốt nhất đạt được khi cung cấp các loại phân đạm, lân, kali,…với liều lượng và tỷ lệ hợp lý Hiệu quả của việc bón kali đến chất lượng sản phẩm chè Olong rõ hơn so với bón đạm và lân Do vậy, việc bón tăng tỷ lệ phân kali trong h n hợp phân bón đạm - lân - kali cho vườn chè sản xuất nguyên liệu chế biến chè Olong là việc làm quan trọng
Kết quả nghiên cứu của Degeus (1982), cho thấy chè được bón đủ N, P, K
đã làm tăng phẩm chất chè Bón N đơn độc nhất là bón N dạng Urê làm giảm phẩm chất chè, bón P làm tăng hương vị của chè đen Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón N đến năng suất chè, đã cho thấy: trong 3 lượng bón 300 kg N, 500 kg N
và 700 kg N trên nền bón P, K, trong 3 năm đầu năng suất tăng 10,16% ở công
Trang 21thức bón 500 kg N và 700 kg N Từ năm thứ 4 thứ 5 công thức bón 500 kg N năng suất giảm đi 6 - 7%, với lượng bón 700 kg N hầu như năng suất không tăng (so với công thức bón 300 kg N)
Theo Willson and Lifford (1992), tác dụng đầy đủ của đạm được thể hiện chỉ trên nền đảm bảo các yếu tố khác Willson đã xác định rằng cây chè ở giai đoạn đầu sau trồng (1 - 3 tu i sang giai đoạn cho thu búp (4 - 6 tu i lượng đạm được bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không vượt quá 100kg N/ha Hiệu lực của lượng đạm 100kg N/ha đạt cao nhất ở độ tu i 7 - 8 đến
10 - 12 tu i Thời kỳ 10 - 12 tu i lượng đạm bón có hiệu lực cao nhất từ 200 -
300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của 1 kg N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất 5 - 8 tấn đọt tươi/ha, còn những nương chè
có năng suất trên 10 tấn/ha đầu tưđến 300kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao Tất cả các liều lượng bón trên 300kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm Các nương chè trên 20 tu i hiệu lực phân đạm tốt nhất với liều lượng không quá 200kg N/ha
Theo tác giả Ruan et al (1997), khi bón b sung kali và magie, năng suất
chè búp tươi tăng đáng kể, tỷ lệ tăng đạt 9 - 38% sau 2 năm thử nghiệm Hàm lượng axit amin tự do và cafein trong nguyên liệu chè tươi cũng tăng Hàm lượng polyphenol trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón kali tăng nhưng trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón magie giảm rõ ràng Tỷ lệ polyphenol/axit amin tự do trong nguyên liệu lấy từ vườn chè bón cả kali và magie đều giảm, điều này có lợi cho chất lượng chè thành phẩm Một số hợp chất thơm quan trọng nerolidol… đều tăng Điều này cho thấy, việc bón b sung kali và magie có tác dụng cải thiện đặc tính hương thơm của sản phẩm chè Chất lượng sản phẩm chè thương phẩm có mối tương quan chặt chẽ với hàm lượng magie trong nguyên liệu búp Bón b sung kali và magie sẽ là một biện pháp nông học có hiệu quả, thúc đẩy khả năng sinh trưởng trong kiện đất thiếu kali và magie dễ tiêu
Tác giả Huang and He (2005), cho rằng công thức khi bón b sung phân magie sulphat và kali sulphat có hiệu quả tốt nhất đối với sinh trưởng của cây chè
so với công thức chỉ sử dụng phân nitơ, phôt pho, vì vậy đã thúc đẩy sinh trưởng cây chè, tăng số lượng lá, tỷ lệ này tăng lần lượt là 6,23% và 11,1%; tỷ lệ diện tích lá chè tăng 11,17%; mật độ búp, khối lượng búp 100g tăng lần lượt là 28,88% và 21,43%; năng suất búp chè tươi tăng 14,27%
Tác giả Qamar et al (2011), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến
Trang 22sinh trưởng và phát triển của cây chè trưởng thành đã cắt tỉa tán bằng và tán mâm xôi, cho thấy công thức đối chứng (không bón phân), NPK: 125-125-75, 187.5-125-75, 225-125-75, 312.5-125-75 và 375-125-75 kg/ha Tất cả P và K đã được
áp dụng cùng một mức bón, trong khi N ở dưới dạng của amoni sulfat Kết quả cho thấy cắt tỉa tán bằng là có ý nghĩa và tốt nhất Phân đạm ở mức 375 kg đã làm năng suất lá tươi tăng đáng kể (từ 6.796 đến 8.797 kg/ha , năng suất chè (từ 1.352 đến 1.760 kg/ha) và chiều dài búp (từ 35 đến 71 cm cao hơn so với đối chứng Trong trường hợp kết hợp 375 kg N với cắt tỉa tán bằng thì năng suất lá tươi là cao nhất 9.286,66 kg/ha và năng suất chè đen 1.875 kg/ha với chiều búp dài 70.33 cm so với cắt tỉa tán mâm xôi (giá trị lần lượt là 8.307,33 kg lá tươi, 1.661,33 kg chè đen và chiều dài búp là 72,33 cm)
Tác giả Zheng et al (2012), nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến
chỉ tiêu sinh hóa chất lượng búp chè cho rằng sự thiếu hụt P đã làm giảm chất lượng điểm thử nếm và hóa sinh của chè xanh Khi phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô cũ cho thấy: Ở cây chè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá
là 0,27 - 0,28%, trong búp là 0,5 - 0,75% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82 - 0,86% Nếu trong đất hàm lượng P2O5 là 30 -
32 mg/100g thì đất thiếu nhiều lân
Theo Napaporn et al (2012), cho rằng Se và Al đã thúc đẩy các acid
ascorbic, chlorophylls, carotenoids, phenolic t ng số và hàm lượng axit béo trong
lá chè Hàm lượng phenolic và chất lượng hóa học cao nhất được tìm thấy ở trong lá chè khi nhận được 50ppm của Se Các dẫn xuất của catechin cao nhất, cụ thể là (+)-galloca-techin (GC), (-)-epigallocatechingallate (EGCG), (+)-gallocatechingallate (GCG), (-)-epicatechingallate (ECG) and (+)-catechingallate (CG) ở trong cây chè được xử lý với Al lớn hơn so với cây chè được xử lý với
Se Hàm lượng phenolic t ng số tăng với sự tăng dần của chất diệp lục t ng số, catechin t ng số và các dẫnxuất của nó
Từ các kết quả nghiên cứu về phân bón cho chè của một số tác giả cho thấy: lượng phân bón cho chè là rất khác nhau Có thể căn cứ vào hàm lượng và thành phần các chất dinh dưỡng có trong đất, có thể căn cứ vào sản lượng búp chè thu hoạch hàng năm, có thể căn cứ vào điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu ở vùng cao, vùng thấp mà có chế độ bón phân theo vùng, ngoài ra còn có thể căn
cứ vào giống chè mà có những cách phối hợp tỷ lệ phân bón N, P, K và phương thức bón sao cho hợp lý
Trang 232.3.2 Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè tại Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân bón cho chè còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn đất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, địa hình đa dạng và phức tạp, khả năng đầu tư phân bón thâm canh cho chè rất hạn chế, kết quả nghiên cứu chưa nhiều Theo tác giả Vũ Cao Thái 1996 , việc sử dụng phân bón cân đối là tiền đề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn tới thoái hóa đất và suy giảm sức sản xuất của đất Mục tiêu của sử dụng phân bón cân đối là tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì nhiêu của đất
Theo Đ Ngọc Quỹ (1979); Phạm Kiến Nghiệp (1984), vấn đề sử dụng phân khoáng đãđược quan tâm rất nhiều Một số kết quả nghiên cứu mới đề cập đến vấn đề bón N đơn độc cho chè đã cho năng suất tăng rõ rệt, nhưng cho đến năm thứ 7, thứ 8 năng suất giảm dần, tăng tỷ lệ chè bị chết Bón đạm liều lượng cao đã có ảnh hưởng đến chất lượng chè
Tác giả Đ Ngọc Quỹ và cs (1979), cho biết: bón N và nhất là bón Kali
có tác dụng rất rõ đến việc làm tăng năng suất chè Bón lân năng suất ít chênh lệch so với đối chứng Bón kali pHKCL của đất được tăng lên Phân bón còn ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu chế biến (búp chè) Việc bón phân đạm đơn độc với lượng cao 100 kg N đến 200 kg N cho chè đã cho thấy, với lượng bón
100 kg N- làm giảm hàm lượng tanin t ng số 1,4% và 2,8% với lượng 200 kg N Làm giảm lượng chất hòa tan t ng số là 0,6% với lượng bón 100 kg N và 1% với lượng bón 200 kg N Bón đạm đơn thuần năng suất tăng đến năm thứ 7 và từ năm thứ 8 thì giảm dần
Phạm Kiến Nghiệp (1984), khi nghiên cứu mức bón phân đạm trên 2 giống chè Shan TB11 và TB14 ở vùng chè Bảo Lộc - Lâm Đồng đã kết luận với lượng bón đạm đơn độc từ 100 - 400 kg N/ha thì năng suất tăng theo lượng bón nhưng hiệu quả sử dụng 1 kg N lại giảm và mức bón 400 kg N/ha hiệu quả giảm 33% so mức bón 100 kg N/ha
Tác giả Hồ Quang Đức (1994), nghiên cứu bón kali cho chè trưởng thành (27 tu i) với 4 liều lượng kali (80 kg K2O, 120 kg K2O, 160 kg K2O và 240 kg
K2O trên nền 5 tấn phân chuồng + 160 kg N + 50 kg P2O5 Kết quả cho thấy công thức bón 240 kg K2O cho năng suất cao nhất 110,6% so đối chứng hàm lượng tanin và chất hòa tan trong búp chè cũng cao hơn các công thức khác Sang năm
Trang 24sau công thức đối chứng bón tăng lượng đạm (5 tấn phân chuồng + 240 kg N +
50 kg P2O5/năm còn lượng kali không thay đ i Kết quả năng suất ở hai mức bón 160 kg K2O và 240 kg K2O đựơc tăng lên đạt 120,0% và 113,3% ở mức tương ứng) còn các công thức bón 80 kg K2O và 120 kg K2O năng suất tăng, ở mức như năm 1992 Hàm lượng tanin, chất hòa tan ở các công thức có bón kali đều cao hơn công thức đối chứng Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, khi bón tăng lượng kali cây chè đòi hỏi phải bón tăng N thì hiệu quả sử dụng phân kali của cây chè mới cao Việc bón tăng kali không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguyên liệu chè
Tác giả Đinh Thị Ngọ (1996), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng chè giống PH1, TH3, TRI-777 cho thấy: các nguyên tố NPK có tác dụng tăng sinh khối có thể xếp thứ tự như sau: N>P>K Tỷ lệ phối hợp N:P:K = 2:2:1 chè cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế nhất Cũng theo Đinh Thị Ngọ (2009) cho rằng khi bón phân NPK phối hợp cho chè Shan vùng thấp với tỷ lệ 3:1:2 và 3:1:1 cho năng suất cao Nguyên liệu chế biến chè đen tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:2:1 cho chất lượng cao Nguyên liệu chế biến chè xanh tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:1:2
Theo Đ Văn Ngọc (2006), cây chè là cây thu hoạch búp lá do đó trong sản xuất hiện nay vẫn áp dụng cách tính lượng bón N cho chè theo tấn búp thu hoạch Khi bón lượng đạm tăng dần từ 20 kg N đến 40 kg N/tấn sản phẩm, năng suất chè tăng ở mức có ý nghĩa; khi bón ở mức 35 kg N đến 40 kg N/tấn sản phẩm, lượng đạm càng tăng, tốc độ tăng năng suất giảm dần Bón 35 kg N/tấn sản phẩm với tỷ lệ N: P: K = 3:1:1 trên chè (SXKD) ở mức trên 10 tấn/ha là thích hợp Khi thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ cho chất lượng chè chế biến cao nhất, điểm thử nếm cảm quan đạt 16,37 điểm, nhất là hương thơm và vị của chè được cải thiện Bón N: P: K: Mg tỷ lệ 3:1:1:0,3 trên nền phân ủ, tăng mật độ búp, giảm tỷ lệ búp mù xòe và năng suất chè tăng 15,93% so với đối chứng Đ/C Như vậy, bón phân NPK tỷ lệ 3:1:1 (35N/tấn sản phẩm), kết hợp với Mg
và thay thế một phần đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ, có ảnh hưởng tốt đến năng suất và chất lượng chè
Theo tác giả Nguyễn Văn Tạo 2006 , bón đầy đủ 3 loại phân khoáng N300
P100 K100 kg/ha, lân được bón 2 lần/năm có tác dụng tốt đến sự hình thành bộ lá chè, các chỉ tiêu sinh trưởng búp, năng suất và phát huy tốt hiệu lực của lân trong đất chè kinh doanh Đặc biệt tác động của phân khoáng ở tỷ lệ 3:1:1 có hiệu quả
Trang 25tốt đến sinh trưởng và cho năng suất cao, có thể thay thế tỷ lệ 2:1:1 cho những đối tượng chè cấp năng suất trên 10 tấn búp/ha
Theo Đ Văn Ngọc và Trịnh Văn Loan 2008 , những công trình nghiên cứu của Liên Xô cũ cho thấy liều lượng bón đạm dưới 300 kg/ha thì hàm lượng tanin, caffeine và chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho chất lượng, song nếu vượt quá giới hạn trên thì chất lượng chè giảm Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợp với tanin tạo thành các hợp chất không tan vì thế hàm lựợng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác, khi bón nhiều đạm hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng
Tác giả Đ Văn Ngọc (2010), khi nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên khi bón 30 tấn phân hữu cơ + 1000 kg đậu tương + 75 kg MgSO4/ha chè để sản xuất nguyên liệu chè Ôlong, với lượng bón NPK (3:1:2) với 30 kg N/tấn sản phẩm đều làm tăng năng suất và chất lượng chè
Nguyễn Xuân Cường (2010), nghiên cứu lượng bón N + P2O5 + K2O =
300 kg, được phối hợp NPK theo 4 tỷ lệ: 2:1:1; 3:1:1; 3:1:2; 3:2:1, cho hai giống chè Shan Chất Tiền và Phúc Vân Tiên 4 tu i cho thấy: Tỷ lệ phối hợp 3:1:2 cho
số búp trên cây, năng suất cao nhất và sản phẩm chè xanh cho chất lượng chè xanh ngon hơn giống Shan Chất Tiền đạt 15,55 điểm, giống Phúc Vân Tiên đạt 17,74 điểm) Với sản phẩm chè đen bón phân theo tỷ lệ 3:2:1 cho chất lượng chè ngon hơn đều đạt điểm cao, 17,55 điểm trên giống Shan Chất Tiền, 16,82 điểm trên giống Phúc Vân Tiên , trong đó điểm về hương và vị cao hơn các tỷ lệ phối hợp khác Các tỷ lệ phối hợp NPK khác nhau không làm ảnh hưởng đến độ chua của đất và có tác dụng làm tăng hàm lượng chất hữu cơ và hàm lượng các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali trong đất ở cả hai dạng t ng số và dễ tiêu tuy nhiên mức tăng không nhiều Đất trồng chè tại địa điểm nghiên cứu vẫn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng Về sâu hại: trên cả hai giống Phúc Vân Tiên và Shan Chất Tiền đều không có sự sai khác giữa các công thức
Theo Nguyễn Thị Minh Phương (2012), khi nghiên cứu bón phân cho giống PH8 theo hướng thâm canh nâng cao năng suất chất lượng thì bón tăng 1,3 lần so với quy trình (N:P:K = 240: 130:155) + 10 tấn phân gà/ha cho năng suất cao nhất đạt 11,25 tấn/ha, tăng 16% so với đối chứng và điểm thử nếm chè xanh
đã tăng lên đáng kể đạt 17,8 - 17,9 điểm, mức độ nhiễm sâu hại thấp nhất
Hoàng Thị Lệ Thu và cs (2013), cho rằng bón phân và đốn có ảnh hưởng
Trang 26rõ rệt đến năng suất và chất lượng nguyên liệu chế biến chè Ô long Bón 15 tấn phân chuồng + 5 tấn phân gà/ha/năm, đốn cao cách mặt đất 55 cm, cho chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chè Ô long đạt cao nhất
Theo Trần Xuân Hoàng (2016), khi nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật bón phân cho chè nguyên liệu chế biến chè Ôlong đối với giống PH8, PH10 thì bón ở mức 30 tấn phân chuồng hoai mục + NPK (3:1:2) (N = 40 kg/tấn sản phẩm) +
1000 kgđậu tương ngâm + 75 kg MgSO4/ha chè thì khối lượng búp, mật độ búp, năng suất, và chất lượng chè cao hơn hẳn, mức độ nhiễm sâu hại thấp nhất
Theo Vũ Văn Tĩnh 2015 , khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và tỷ
lệ bón N,P,K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng nguyên liệu giống chè Kim Tuyên thì bón 40kg N/tấn sản phẩm với tỷ lệ 3:1:2 làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng thân cành (chiều cao cây: 83,03 cm, chiều rộng tán: 127,27
cm, đường kính gốc: 3,75 cm cao hơn so với công thức đối chứng, năng suất búp đạt cao nhất 9,10 tấn/ha Một số chỉ tiêu sinh hóa, hàm lượng tanin thấp nhất 28,37 % , hàm lượng chất hòa tan, axit amin, đương khử và chỉ số chất thơm cao nhất do đó có lợi cho chất chè xanh thành phẩm Kết quả thử nếm cảm quan, công thức 5 có điểm thử nếm đạt cao nhất 16,8 điểm có hương thơm đặc trưng,
vị chát dịu, có hậu, mức độ nhiễm sâu hại thấp nhất
Theo Đào Thanh Hằng (2016), khi nghiêncứuảnh hưởng của một số t hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ thì rút ra kết luận bón 40kg N/tấn sản phẩm với tỷ
lệ 3:1:2 cho hiệu quả cao nhất
Như vậy, bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện
ph biến, mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp Nhu cầu phân bón đối với cây chè phụ thuộc nhiều vào độ tu i cây và năng suất thu hái hàng năm Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Bón phân hợp lý góp phần tăng thu
nhập cho nông dân, tạo điều kiện cải thiện đời sống và làm giàu cho nông dân
2.4 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HÁI CHÈ
2.4.1 Quan hệ giữa hái chè và sinh trưởng, phát triển củacây chè
a Mối quan hệ của hái búp với sinh trưởng của cây chè
+ Trong điều kiện tự nhiên, sự sinh trưởng của búp hàng năm thường có 3 – 4 đợt sinh trưởng do chỉ có mầm đỉnh và một hoặc hai mầm nách trên cùng là
Trang 27có ưu thế sinh trưởng đỉnh, những mầm phía dưới ở trạng thái ngủ nghỉ và bị mầm đỉnh lấn át Hái búp tức là phá vỡ ưu thế sinh trưởng ngọn để tăng khả năng phân cành, phân nhánh Với cây chè, năng suất có tương quan chặt với số lượng búp trên cây và khối lượng búp Nếu chiều dày tán chè bị hạn chế bởi khoảng cách trồng cây trong hàng thì việc hái búp sẽ tăng khả năng sinh trưởng của các cành chè phía dưới Do vậy, hái búp sẽ làm tăng chiều rộng tán, tăng diện tích mặt tán, tăng số lượng búp là cơ sở cho việc tăng năng suất chè Ngoài ra, hái chè còn phá vỡ cân bằng giữa bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất tạo điều kiện cho bộ phận trên mặt đất luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng khỏe tạo
ra các búp non Vì vậy, cần căn cứ vào tu i cây và tình trạng sinh trưởng để có chế độ hái hợp lý
+ Búp chè trong quá trình sinh trưởng cần có một lượng lớn vật chất dinh dưỡng mà lá non giữ một vai trò quan trọng trong việc quang hợp, tạo thành chất hữu cơ Khi hái, nếu để lưu số lá non lại càng nhiều thì càng có lợi cho quang hợp tạo thành vật chất dinh dưỡng cho cây Song, đối với nương chè thu hoạch búp là chính, cho nên giữa hái và sinh trưởng của cây tồn tại một mâu thuẫn nhất định Nếu hái không hợp lý, không chừa lại một số lá thích hợp thì quá trình quang hợp không thể tiến hành thuận lợi, cây sinh trưởng kém, giảm sản lượng
Số lá trên cây càng ít thì mức độ hái càng nhẹ, thường phải áp dụng cho các đồi chè suy yếu, sâu bệnh gây hại nặng Thực tế chứng minh rằng các phương pháp hái khác nhau (chủ yếu là để chừa lại số lá nhiều hay ít khác nhau) có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chiều cao của cây, chiều rộng của tán và sức sinh trưởng của cây
b Mối quan hệ giữa kỹ thuật hái búp với năng suất búp
Năng suất búp chè phụ thuộc vào số lượng búp và khối lượng búp Số lượng búp phụ thuộc vào mật độ búp trên tán và số lần hái Cùng một kỹ thuật thu hái như nhau, nếu số lứa hái càng nhiều sẽ cho năng suất càng cao Tiêu chuẩn hái khác nhau sản lượng thu được sẽ khác nhau Hái già do số lượng lá trên búp nhiều, khối lượng búp lớn nên năng suất thu được sẽ cao
c Quan hệ giữa kỹ thuật hái và phẩm cấp, chất lượng chè
Chất lượng của chè phụ thuộc vào thành phần hoá học trong búp chè như: chất hoà tan, catechin, cafein, đường khử… Những chất này thường tập trung chủ yếu vào bộ phận non của búp chè Vì vậy, hái búp càng non phẩm chất càng tốt Hái già có khối lượng búp lớn, sản lượng tăng song tỷ lệ xơ g cao sẽ ảnh
Trang 28hưởng không tốt đến chất lượng sản phẩm Độ non già của búp phụ thuộc vào số
lá hái đi và thời gian sinh trưởng của búp Thời gian giữa hai lứa hái càng dài thì
số lượng búp già nhiều làm cho chất lượng nguyên liệu càng kém
2.4.2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thê giới
Hàng năm thu hái búp chè chiếm từ 60 – 70% lao động của người trồng chè Năng suất, chất lượng chè phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giống, khí hậu, đất đai, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến; Trong đó, kỹ thuật hái chè có tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè thành phẩm
Kết quả thí nghiệm của Eden 1958 , đã chỉ rõ khi hái đau chỉ để lại lá
cá đã làm giảm kích thước búp chè ước lượng 30% nhưng được bù đắp bởi số lượng búp tăng lên Kết quả thí nghiệm 4 năm về cách hái chè để lại lá cá làm giảm 2/3 khối lượng của lá thật, 1/2 khối lượng g mà cây chè hình thành và 1/3 sinh khối cây chè so với hái nhẹ (chừa lá cá + 1 lá thật) Nếu hái để chừa lá cá +
2 lá thật thì ảnh hưởng hái chè rất nhỏ nhưng phải đốn nhiều lần trong sản xuất
Do lá chè non có khả năng quang hợp kém hơn lá chè trưởng thành nên hái chừa như nhau và hái 1 tôm + 2 lá ảnh hưởng đến cây hơn hái 1 tôm + 3 – 4 lá
Theo Awasthi and Sarkar (1983) cho thấy rằng: chi phí thu hoạch chiếm
tới 60% t ng chi phí lao động trong sản xuất búp chè Các nước sản xuất chè tiên tiến phần lớn áp dụng thu hái chè bằng máy, nhưng ph biến hơn cả là Nhật Bản, Trung Quốc, Grudia, Ấn Độ và Srilanka, trong khi đó các nước Châu Phi chủ yếu hái chè bằng tay Việc hái chè bằng máy năng suất hái cao hơn có thể từ 100- 120 kg/giờ tuỳ thuộc loại máy Chẳng hạn, máy hái Xakartvelo 4 CH-1,6 ở Grudia, năng suất hái từ 0,15- 0,2 ha/giờ với khối lượng chè thu hái là 2400kg, chè nguyên liệu loại 1 có thể đạt đến 77%, còn máy hái 4A- 900/650 do Koctava chế tạo dựa trên nguyên tắc chỉ hái những búp non, năng suất hái 0,16ha/giờ với sản lượng hái 1290kg chè tươi và cho tỷ lệ chè loại 1 đạt 58,6% Máy hái Ochiai của Nhật bản gồm loại máy đơn AM100V với năng suất hái 900 -1200kg/ca (1 ca là
8 giờ và máy hái đôi V8NEWZ2 1200 với năng suất hái 4000 -5000 kg/ca Nhưng máy hái chỉ hoạt động được ở địa hình độ dốc < 10-150
, nếu những nương chè có độ dốc cao hơn có thể hái bằng máy cầm tay, hoặc hái bằng tay Hái chè bằng máy có những điểm chưa đạt yêu cầu mong muốn, như tỷ lệ lá già, và lá bánh tẻ cao, cộng thêm lẫn cành chè với tỷ lệ nhất định do đó ảnh hưởng đến chất lượng chè
Trang 29M i loại sản phẩm chè khác nhau thì yêu cầu kỹ thuật hái khác nhau, thông thường tiêu chuẩn nguyên liệu chế biến chè xanh là hái chè 1 tôm 1 lá hoặc
1 tôm 2 lá, hái trước, sau tiết thanh minh cho chất lượng là tốt nhất Thời gian hái chè phải chú ý là “4 không hái”: không hái khi trên lá có nước mưa, không hái lá
có sâu bệnh, không hái lá có màu tím, không hái búp lá mỏng yếu Sử dụng phương pháp hái bằng tay, tránh dùng ngón tay bấm dưới búp, để tránh khỏi cành cuống màu đỏ Sau khi hái tiến hành phân loại búp lớn, nhỏ, trung bình, đồng thời rải mỏng ở một nơi thông thoáng trong 4 – 6 h, sau đó chế biến; Búp chè tươi nhất thiết phải hoàn thành chế biến trong ngày
2.4.3 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè tại Việt Nam
Ở Việt Nam, văn hóa uống chè đã có từ thời xa xưa nhưng do phong tục uống chè của m i vùng miền khác nhau nên đã hình thành các phương pháp hái chè Tại trại nghiên cứu chè Phú Hộ năm 1957 đã nghiên cứu ảnh hưởng của số
lá lấy đi khi hái chè đến sản lượng và chất lượng búp chè Kết quả nghiên cứu cho thấy hái chè càng già sản lượng búp chè càng cao, chất lượng càng giảm Ngược lại, hái chè càng non, sản lượng thấp nhưng chất lượng cao hơn Trại cũng đã nghiên cứu diện tích lá chừa trên tán cây hợp lý để đảm bảo sản lượng cao, n định và duy trì tu i thọ cho cây Kết quả cho thấy với giống chè Trung du xanh hệ số lá bằng 6 là tương đối thích hợp Chừa hại nhiều lá, hái đi ít lá là kỹ thuật cần thiết cho cây chè sinh trưởng yếu sau khi đốn đau, đốn trẻ lại Chừa ít
lá, hái nhiều lá thích hợp với cây chè sinh trưởng tốt hoặc hái chè cuối vụ Hái chè có thể điều tiết được diện tích lá ở từng loại hình năng suất khác nhau
- Chu kỳ hái ở Lâm Đồng một tuần vào tháng mưa nhưng có biến động theo khí hậu, đất đai Chu kỳ hái quá dài, sinh ra nhiều lá quá cần loại bớt, phẩm chất lại kém, cây cao nhanh quá tầm hái Chu kỳ hái quá ngắn gây ra lá chè màu vàng và có nhiều búp mù
- Nghiên cứu thành phần cơ giới búp chè cho thấy sản lượng chè cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào vị trí và số lá hái đi
Trang 30Chất lượng búp chè phụ thuộc rất lớn vào vị trí lá, số lá hái đi và vụ chè Tỷ lệ tanin và chất hòa tan là hai chỉ tiêu sinh hóa chủ yếu để đánh giá chất lượng búp
Bảng 2.2 Tỷ lệ tanin và chất hòa tan trong búp chè Trung Du
Loại lá
Tháng 3 – 4 Tháng 7 – 9 Tháng 10 – 11 Tanin
(%)
Chất hòa tan (%)
Tanin (%)
Chất hòa tan (%)
Tanin (%)
Chất hòa tan (%)
Theo kết quả nghiên cứu của Đ Văn Ngọc và Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) về kỹ thuật hái chè PH1 năng suất cao ở Phú Hộ với các công thức hái:
Hái chè theo quy trình tháng 2/1980
Hái chè A (tỷ lệ bánh tẻ < 12%)
Hái chè B (tỷ lệ bánh tẻ 10 – 20%)
Hái chè C (tỷ lệ bánh tẻ 20 – 30%)
Kết quả cho thấy:
+ Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến sinh trưởng của cây chè:
Hái chè A mặt tán bằng hơn, bề rộng tán lớn hơn, chiều cao cây nhỏ nhất Hái chè B, C mặt tán nhấp nhô, không bằng
Hái chè C chiều cao cây lớn nhất, bề rộng tán nhỏ nhất
Diện tích lá chừa của công thức A nhỏ nhất, công thức hái C lớn nhất Khối lượng búp và tỷ lệ mù xòe của công thức hái A tốt nhất, công thức hái C là cao nhất
Trang 31+Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất:
Năng suất của công thức hái A bằng 98,96% so với đối chứng
+Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chất lượng chè:
Công thức hái A có t ng thu hồi thành phẩm cao nhất đạt 98,5%, chè cấp cao đạt tỷ lệ 87,3% Công thức hái C có chỉ tiêu tương ứng là 96,8% và 70,4%
+ Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế cho thấy, công thức hái A có hiệu quả cao nhất Hái B tuy năng suất hái cao nhưng không đạt hiệu quả cao nhất Phối hợp giữa hái A và hái B sẽ đạt kết quả cao trong từng mùa vụ và giải quyết được vấn
+ Hái chè kiến thiết cơ bản:
Chè tu i 1: trong năm không hái, từ tháng 11 – 12 hái những búp cao trên 60cm so với mặt đất
Chè tu i 2: từ tháng 6 trở đi hái nhẹ các búp cao trên 65cm so với mặt đất Chè tu i 3: chỉ hái các búp cao trên 65cm so với mặt đất, hái 1 tôm + 2, 3
lá non Các cành thấp hơn 65cm không hái búp Không hái các đọt khi chưa đủ
số lá quy định Các lần hái sau chừa như chè sản xuất kinh doanh
Chè tu i 4: lần hái đầu cách mặt đất 50 - 55cm, hái 1 tôm + 2, 3 lá non, chừa 2 – 4 lá Các lần tiếp theo chừa như chè sản xuất kinh doanh
+ Hái chè tạo hình sau đốn:
Đối với chè đốn lần 1: đợt hái đầu cách mặt đất 40 – 45cm, tạo thành mặt phẳng nghiêng theo sườn dốc Đợt 2 hái chừa 1 lá cá và 2 lá thật
Đối với chè đốn lần 2: đợt đầu hái chè cao hơn đốn lần 1 từ 25 – 30cm, các lần hái sau chừa bình thường như chè đốn lần 1
+ Hái chè kinh doanh:
Hái tôm + 2, 3 lá non khi trên tán có 30% số búp đủ tiêu chuẩn thì hái, tận thu các búp mù xòe
Trang 32Vụ xuân (tháng 3 – 4): hái chừa lá cá và 2 lá thật, tạo tán bằng, những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá
Vụ hè thu (tháng 5 – 10): hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng, những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá
Vụ thu đông tháng 11 – 12): tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái sát
lá cá
Với những giống chè có dạng hình thân bụi, sinh trưởng búp đều nhau có thể hái bằng kéo hay hái máy để nâng cao năng suất lao động
+ Hái chừa theo vết đốn chè:
Đốn từ 60 – 65cm: hái chừa đầu vụ cách vết đốn 15cm
Đốn từ 65 – 75cm: hái chừa đầu vụ cách vết đốn 10cm
Đốn trên 75cm: hái chừa đầu vụ cách vết đốn 7 – 10cm
Đốn đau, đốn trẻ lại: hái chè đốn đau, đốn trẻ lại nuôi chè như chè kiến thiết cơ bản
+ Chè bị nhện đỏ hại nặng lứa đầu hái già chừa lại 2 lá cá Chè bị bọ xít
mu i, rầy xanh hại nặng tiến hành hái chạy non Sau m i lứa hái phải tiến hành sửa bằng mặt tán tạo tán phẳng
+ Quy trình hái theo khung cố định của công ty chè Phú Bền đã áp dụng phương pháp hái chè theo độ cao cố định trên mặt tán để khống chế độ cao mặt tán chè và tạo mặt tán bằng Phương pháp này giới hạn một độ cao hái nhất định
so với măt đất, dựa trên khung cố định với thời gian 7 ngày/lứa Người ta sẽ hái tất cả những búp vượt quá độ cao mặt tán cho phép Quy trình hái được kiểm soát chặt chẽ bởi các cán bộ kỹ thuật và được nông dân chấp nhận và đánh giá là dễ thao tác và năng suất hái cao
+ Khoảng thời gian giữa hai lứa hái: với mục đích sản xuất các loại chè đặc sản theo quy trình chế biến chè Ôlong, chè xanh đặc sản và thuận lợi cho việc áp dụng kỹ thuật hái máy một số công ty chè ở Lâm Đồng, Thái Nguyên đã áp dụng
kỹ thuật hái chè theo lứa, khoảng thời gian giữa hai lứa hái biến động từ 28 – 45 ngày Kỹ thuật hái này đã làm giảm số công lao động hái đồng thời tăng chất lượng của nguyên liệu chè búp dùng chế biến chè xanh và chè Ôlong Hiện nay
kỹ thuật hái theo lứa đang được nghiên cứu và hoàn thiện ở Việt Nam
+ Nghiên cứu của Đ Văn Ngọc và Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) cho thấy:
Trang 33hái chè có tạo tán bằng, hái chừa cách vết đốn 10 – 15cm trên hai giống chè PH1
và Trung du xanh sẽ làm tăng diện tích lá, tăng số lượng búp trên một đơn vị diện tích do đó có tác dụng làm tăng năng suất Ngoài ra chất lượng chè nguyên liệu
và chè thành phẩm cũng tăng lên đáng kể, hàm lượng axitamin cao, hàm lượng đạm t ng số cao nhưng hàm lượng đường khử thấp hơn hái già
+ Các nghiên cứu của Đường Hồng Dật (2004), khi so sánh hái chè bằng máy và hái chè bằng tay đã có kết luận: hái chè bằng tay năng suất lao động thấp song không ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng cây chè Hái chè bằng máy
có năng suất hái cao hơn song chất lượng nguyên liệu không đảm bảo do lẫn
lá và cành già
+ Theo tài liệu hướng dẫn của nông dân tham gia dự án phát triển chè và cây
ăn quả (Dự án phát triển chè và cây ăn quả (2005), S tay kỹ thuật trồng, chăm sóc và chế biến chè miền Bắc), hái chè phải theo hai nguyên tắc là: phần ngọn hái đi và số lá chừa lại cần cân đối, đảm bảo tăng số lứa, năng suất và đảm bảo hệ
số diện tích lá thích hợp cho cây sinh trưởng và khi hái phải căn cứ vào giống, năng suất và phẩm chất nguyên liệu (không hái già quá hay non quá)
Về kỹ thuật hái, tài liệu cũng khuyến cáo các kỹ thuật hái cụ thể là:
Kỹ thuật chừa: có các hình thức chừa như sau:
Hái chừa theo vụ chè
Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá vào vụ xuân
Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá vào vụ hè thu Tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá vào
vụ đông
Chừa theo tình trạng sinh trưởng của nương chè: lô chè sinh trưởng tốt chừa ít, sinh trưởng xấu chừa nhiều Lô chè đốn thấp chừa nhiều hơn chè đốn cao Những vùng có độ ẩm cao, nương chè sinh trưởng tốt có khả năng chủ động nước tưới có thể áp dụng chừa ngay từ đầu vụ với độ cao cách vết đốn từ 10 – 15cm tùy theo khung đốn sau đó hái liên tục không chừa
Kỹ thuật thu búp: căn cứ vào yêu cầu chế biến mà có các hình thức thu búp như sau:
Hái tôm chè: được áp dụng ở một số nước chế biến chè đặc sản
Hái 1 tôm + 1 lá
Trang 34 Hái 1 tôm + 1, 2 lá
Hái 1 tôm + 2 lá
Hái 1 tôm + 2, 3 lá
Hái 1 tôm + 3 lá
Hái chè già thường tận thu lá trắng, chè cuối vụ ít dùng)
Nghiên cứu và ứng dụng các quy trình kỹ thuật hái theo tu i cây, theo mùa vụ, theo kỹ thuật đốn hái khác nhau là những tiến bộ mới trong sản xuất chè
ở Việt Nam Các tiến bộ này đã góp phần làm tăng sản lượng, phẩm chất búp chè đồng thời tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt kéo dài nhiệm kỳ sản xuất kinh doanh
Trang 35PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè - Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2017 – 12/2017
3.3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Giống chè Shan Lũng Phìn, 12 tu i, cây chè sinh
trưởng và phát triển tốt Năng suất hiện tại 12-13 tấn
- Vật liệu nghiên cứu: Các loại phân bón sử dụng: Đạm Ure 46%N, Supe
lân Lâm Thao 16% P2O5, Kali clorua 60% K2O, phân chuồng hoai mục
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
Thí nghiệm gồm 4 công thức (CT) x 3 lần nhắc lại Các công thức được
bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB)
Diện tích m i ô thí nghiệm là 20 m2, t ng diện tích thí nghiệm là 240 m2
không tính dải bảo vệ
Nền bón thí nghiệm là 30 tấn phân chuồng/ha
Các công thức thí nghiệm:
CT1 Đ/C : 360 kg N: 120 kg P2O5: 120 kg K2O/ha
Trang 36Dải bảo vệ Tất cả các yếu tố phi thí nghiệm: làm cỏ, đốn, hái, biện pháp phòng trừ sâu hại đối với thí nghiệm bón phân … đều áp dụng giống nhau với các công thức Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất chè suốt thời gian làm thí nghiệm, theo các lứa hái
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức hái đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Shan Lũng Phìn
Thí nghiệm gồm 3 công thức (CT) x 3 lần nhắc lại Các công thức được
bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB)
Diện tích m i ô thí nghiệm là 20 m2 , t ng diện tích thí nghiệm là 180 m2
không tính dải bảo vệ Các công thức thí nghiệm:
+ CT1 ĐC : Hái nguyên liệu búp gồm 1 tôm 2 lá
+ CT2: Hái nguyên liệu búp gồm 1 tôm 1 lá
+ CT3: Hái nguyên liệu búp gồm 1 tôm 3 lá
Trang 37Sơ đồ thí nghiệm
Dải bảo vệ Dải
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu theo quy phạm QCVN 01 – 124: 2013/BNNPTNT
a, Các chỉ tiêu dinh dưỡng đất:
Lấy mẫu phân tích đất trước khi làm thí nghiệm (3/2017) và sau khi kết thúc thí nghiệm (10/2017) Phương pháp: Lấy mẫu h n hợp, m i lần nhắc lại lấy mẫu ở 5 điểm theo đường chéo ở độ sâu 0 – 20cm rồi đ chộn vào nhau được một mẫu phân tích của một lần nhắc lại
b Chỉ tiêu sinh trưởng thân cành chè:
M i ô thí nghiệm chọn 5 điểm theo phương pháp đường chéo, m i điểm chọn 2 cây có đánh dấu cây) với 3 lần nhắc lại là 30 cây Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
- Chiều cao cây (cm):
Thời gian đo: Theo dõi 2 lần/năm, trước khi tiến hành thí nghiệm và khi kết thúc thí nghiệm
Phương pháp đo: Dùng một khung vuông có kích thước bằng diện tích tán chè đặt lên mặt tán thăng bằng song song với mặt đất, chiều cao cây đo từ mặt đất đến khung vuông Chiều cao cây là số liệu trung bình của m i lần đo
- Đường kính gốc (cm):
Đối với cây chè kinh doanh, đo đường kính thân cách c rễ 5-6 cm Những cây chè thân bụi phân cành ngay từ c rễ, đo đường kính ở cành chè to nhất, cách c rễ 5-6 cm Dùng thước kẹp pamme đo hai chiều vuông góc với
Trang 38nhau Đường kính thân là trị số trung bình của hai lần đo
- Chiều rộng tán chè (cm/cây):
Độ rộng của tán chè được đo ở vị trí rộng nhất của tán Dựng hai thước song song ở hai bên rìa tán cây chè, vuông góc với bề mặt phẳng của tán, tiến hành đo khoảng cách giữa hai thước
- Độ dày tán: đo từ mặt vết đốn đến điểm cao nhất của tán
- Diện tích tán (m 2 /cây):
Tính theo độ rộng tán và khoảng cách cây trong hàng chè
Diện tích tán = Khoảng cách cây x Độ rộng tán x 0,70
c ác chỉ tiêu sinh trưởng lá và búp chè
- Chiều dài lá (cm): M i ô thí nghiệm lấy 5 cây, m i cây lấy 5 lá trưởng
thành để đo chiều dài Không lấy lá cá, lá dị hình để đo Đo từ đỉnh lá đến cuống
lá theo chiều dọc của gân chính Chiều dài lá là giá trị trung bình của các lá
- Chiều rộng lá (cm): đo phần rộng nhất của phiến lá
M i ô lấy 5 cây, m i cây lấy 5 lá trưởng thành để đo chiều dài và chiều rộng
lá Không lấy lá cá, lá dị hình để đo Chiều rộng lá là giá trị trung bình của các lá
- Diện tích lá (cm 2 /lá):
Diện tích lá (cm2) = Chiều dài x Chiều rộng x K (0,7 )
Diện tích lá trung bình của 1 ô thí nghiệm là số trung bình của 100 lá Các chỉ tiêu về chiều cao cây, độ rộng tán được theo dõi 3 lần/ năm m i lần cách nhau 4 tháng; các chỉ tiêu về số lứa hái, thời gian trung bình của một lứa hái được theo dõi theo từng lứa hái trong năm
- Chỉ tiêu sinh trưởng búp
+ Tốc độ sinh trưởng búp(cm/5ngày):
Thời điểm theo dõi: Vào các đợt búp, từ khi cây bắt đầu bật mầm đến khi hái, định kỳ 5 ngày theo dõi một lần
Cách theo dõi: Đánh dấu cố định búp theo dõi, đo từ gốc búp tới đỉnh sinh trưởng của búp
+ Chiều dài búp (cm):
Chiều dài búp 1 tôm 1 lá: là chiều dài từ điểm giữa lá 1 và lá 2 đến đỉnh
Trang 39d Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất búp
- Mật độ búp (búp/m 2 tán): theo dõi theo phương pháp đường chéo 5 điểm,
m i điểm theo dõi cố định ở 3 vị trí khác nhau Sử dụng khung vuông chia ô 25x25 cm làm công cụ theo dõi
- Khối lượng búp (g/búp): theo dõi theo phương pháp đường chéo 5 điểm,
m i điểm hái 30 búp Chỉ hái những búp theo yêu cầu thí nghiệm Toàn bộ lượng búp ở các điểm chộn đều với nhau, đem cân Khối lượng búp được tính bằng khối lượng chung của 5 điểm/ 150 búp
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Cân khối lượng búp thu được trong ô thí
nghiệm Rồi tính ra đơn vị ha
e Chỉ tiêu về sâu bệnh
Theo dõi một số sâu hại chính trên diện tích thí nghiệm theo TCN 745:2006
- Mức độ gây hại của rầy xanh (con/khay):
Dùng khay có kích thước 35x25x5cm đáy khay có tráng một lớp dầu hoả đặt nghiêng khay dưới tán chè dùng tay đập mạnh 3 đập phía trên đếm số rầy xanh rơi vào khay
T ng số dầy điều tra
Cách tính : Mật độ rầy =
T ng số khay điều tra
Phân cấp : Cấp 0: búp không bị hại
Cấp 1: vết hại rải rác chuyển mầu phớt hồng
Cấp 2: lá hơi cong, biến dạng, khô từ 1/2 mép lá
Cấp 3: lá biến dạng, cong, khô chóp lá và mép lá
Trang 40- Mức độ gây hại của bọ xít muỗi (% búp bị hại): Hái 5 điểm theo
đường chéo góc m i điểm điều tra 40 búp, tính tỷ lệ (%) búp bị hại và phân cấp búp bị hại
Số búp bị hại
Cách tính : Búp bị hại(%) =
T ng số búp điều tra
Phân cấp: Cấp 0: búp không có vết bị hại
Cấp 1: vết hại riêng rẽ, rải rác
Cấp 2: lá biến dạng
Cấp 3: lá khô nhăn nheo co dúm lại
- Mức độ gây hại của bọ cánh tơ (con/búp): Hái 5 điểm theo đường chéo
góc m i điểm điều tra 20 búp đem về đếm số bọ cánh tơ trên từng búp, tính mật
độ bọ cánh tơ và phân cấp búp bị hại
T ng số bọ cánh tơ Cách tính : Mật độ bọ cánh tơ =
Phân cấp: Cấp 0: búp không có vết bị hại
Cấp 1: vết hại riêng rẽ, rải rác
Cấp 2: búp có 2 vết song song với gân chính
Cấp 3: búp dày, giòn, chùn lại và biến dạng
- Mức độ gây hại của nhện đỏ (con/lá): Hái 5 điểm m i điểm điều tra 20
lá về đếm số nhện có trong lá, tính mật độ nhện đỏ và phân cấp tỷ lệ bị hại