Cụ thể: Toàn huyện có 7 xã đạt 19 tiêu chí ; Có 1 xã đạt 18 tiêu chí, có 1 xã đạt 17 tiêu chí, có 1 xã đạt 16 tiêu chí và 03 xã đạt 15 tiêu chí - Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN LONG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Văn Nhạ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Long
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Văn Nhạ là người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND huyện Lương Tài, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lương Tài, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài, Chi cục Thống kê huyện Lương Tài và Uỷ ban nhân dân xã Trừng Xá, xã Bình Định đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Long
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, cơ sở khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 4
2.1.1 Khái quát về nông thôn mới 4
2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 5
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 6
2.1.4 Nguyên tắc, nội dung, tiêu chí xây dựng nông thôn mới 7
2.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới trong sự phát triển kinh tế-xã hội hiện nay 10
2.1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới 12
2.1.7 Căn cứ pháp lý thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bắc Ninh 25
2.2 Cơ sở thực tiễn của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 14
2.2.1 Kinh nghiệp xây dựng nông thôn mới của một số quốc gia trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh trên cả nước 18
2.2.3 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 22
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đối tượng nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lương Tài 28
3.4.2 Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài 28 3.4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại hai xã điểm của huyện Lương Tài 29
3.4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện 30
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Phương pháp chọn điểm 30
3.5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 30
3.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
3.5.4 Phương pháp so sánh 31
3.5.5 Phương pháp tiêu chí đánh giá 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Lương Tài 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện đối với việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 40
4.2 Đánh giá tình hình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về ntm theo 19 tiêu chí trên địa bàn huyện 42
4.2.1 Công tác tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 42
4.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện bộ tiêu chí Quốc Gia về xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài 45
4.2.3 Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 53
4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới hai xã điểm huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 57
4.3.1 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM xã Trừng Xá 58
4.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM xã Bình Định 69
4.3.3 Đánh giá chung về thực hiên quy hoạch xây dựng NTM trên địa huyện Lương Tài 79
Trang 64.4 Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch xây dựng ntm
trên địa bàn huyện lương tài 87
4.4.1 Đề xuất một số giải pháp thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM 87
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng NTM trên địa bàn huyện Lương Tài 89
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Kiến nghị 93
Tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 98
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BKHĐT Bộ Kế hoạch - Đầu tư
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Các nhóm đất chính ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 35
Bảng 4.2 Tình hình dân số huyện Lương Tài năm 2017 38
Bảng 4.3 Kết quả huy động kinh phí cho xây dựng NTM đến hết ngày 31/12/2017 của huyện Lương Tài 45
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện các tiêu chí NTM huyện Lương Tài 54
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 55
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2017 xã Trừng Xá59 Bảng 4.7 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sản xuất xã Trừng Xá 61
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện quy hoạch mạng lưới điểm dân cư xã Trừng Xá 63
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật xã Trừng Xá 64
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống hạ tầng xã hội xã Trừng Xá 67
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2017 của xã Bình Định 70
Bảng 4.12 Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất đến năm 2017 của xã Bình Định 72
Bảng 4.13 Kết quả thực hiện quy hoạch mạng lưới điểm dân cư xã Bình Định 74
Bảng 4.14 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật xã Bình Định 75
Bảng 4.15 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống hạ tầng xã hội xã Bình Định 77
Bảng 4.16 Tổng hợp ý kiến về cách thức tiếp cận thông tin NTM 79
Bảng 4.17 Nội dung tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 80
Bảng 4.18 Nguồn gốc của nguồn vốn xây dựng NTM 81
Bảng 4.19 Kết quả huy động kinh phí cho xây dựng NTM đến ngày 31/12/2017 82
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Vị trí huyện Huyện Lương Tà trong tỉnh Bắc N nh 33
Hình 4.2 Mô hình trồng tía tô xuất khẩu tại xã Lâm Thao 49
Hình 4.3 Một số công trình hạ tầng kỹ thuật xã Trừng Xá 65
Hình 4.4 Một số hạng mục công trình hạ tầng xã hội xã Trừng Xá 68
Hình 4.5 Trục đường giao thông xã xã Bình Định 76
Hình 4.6 Trường tiểu học xã Bình Định 78
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Văn Long
Tên luận văn: “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm: Tìm hiểu tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã đặc thù về thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện (xã Trừng Xá và xã Bình Định) để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về chương trình xây dựng nông thôn mới, để tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã khác trong huyện
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu, bao gồm:
Điều tra thu thập số liệu thứ cấp: Tài liệu, báo cáo tổng hợp, số liệu thống kê về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh, của huyện Lương Tài, của từng xã trong huyện được thu thập tại Ủy ban nhân dân huyện Lương Tài – Bắc Ninh, Ủy ban nhân dân các xã trong huyện
Điều tra thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra (100 phiếu), đối tượng lựa chọn khảo sát là các hộ dân tại 2 xã tiêu biểu cho chương trình quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu: Để xây dựng báo cáo, nhiều tài liệu phục vụ cho phần nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu về địa phương được tham khảo, chọn lọc từ sách báo, tài liệu thư viện nhằm làm rõ cho các nội dung được trình bày trong báo cáo Đồng thời, các tài liệu khác về địa phương như các số liệu thống kê về kinh tế, xã hội, thực trạng phát triển của địa phương cũng được thu thập, sử dụng phục vụ tốt nhất cho đề tài nghiên cứu Để phân tích đưa ra kết luận, đề tài có tiến hành thống kê, so sánh số liệu giữa các năm trước và sau khi thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới, phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện phương án quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trang 11- Phương pháp so sánh: So sánh giữa kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới thực tế tại địa phương với tiêu chí quy hoạch trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Phương pháp đánh g á dựa trên các t êu chí: Đánh g á tình hình thực h ện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Lương Tài thông qua các tiêu chí như: tiêu chí về thời gian, tiêu chí về diện tích,…
Kết quả chính và kết luận
- Lương Tài là một huyện đang phát triển Sau 7 năm triển khai thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, toàn huyện đã đạt được những kết quả nổi bật: bộ mặt nông thôn của huyện đã có nhiều khởi sắc, 13/13 xã đều đã triển khai thực hiện quy hoạch nông thôn mới, số các tiêu chí đã hoàn thành tăng Cụ thể: Toàn huyện có 7 xã đạt 19 tiêu chí ; Có 1 xã đạt 18 tiêu chí, có 1 xã đạt 17 tiêu chí, có 1 xã đạt 16 tiêu chí và 03 xã đạt 15 tiêu chí
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 2 xã tiêu biểu cho chương trình:
Trừng Xá là xã đi đầu trong phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài, đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động người dân đóng góp vốn, ngày công lao động, hiến đất và hình thức tổ chức thực hiện Ngày 27/11/2015, xã Trừng Xá đạt 19/19 tiêu chí và được công nhận là “Xã đạt chuẩn nông thôn mới” Với xã Bình Định: việc triển khai thực hiện quy hoạch còn chậm, khá nhiều nội dung trong các phương án quy hoạch chưa thực hiện đúng theo kế hoạch được duyệt Tính đến 31/12/2017, xã mới đạt được 15/19 tiêu chí;
- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân các xã thì quy hoạch xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế như: Công tác thông tin tuyên truyền mặc dù đã được chú trọng nhưng thực hiện chưa đều; Sự chủ động vào cuộc của người dân trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới chưa cao; Một bộ phận cán bộ quản lý chưa hiểu hết nội dung của chương trình, lại có tư tưởng trông chờ
ỷ lại, nhất là cán bộ một số xã
- Để nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới để nhanh chóng hoàn thành mục tiêu trở thành huyện nông thôn mới thì trong thời gian tới mỗi xã trên địa bàn huyện cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp về: giải pháp về quản
lý và tổ chức thực hiện quy hoạch, công tác tuyên truyền; giải pháp huy động nguồn lực; giải pháp về chỉ đạo điều hành Trong đó nguồn lực là giải pháp quan trọng nhất quyết định trực tiếp tới tiến độ hoàn thành xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Van Long
Thesis title: “Assessment on the implementation of new rural construction planning in
Luong Tai district – Bac Ninh province "
Major: Land Management Code: 8850103
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- To assess the implementation in the new rural construction planning in Luong Tai district, Bac Ninh province
- To propose some solutions to motivate the implementation of the new rural construction planning in Luong Tai district, Bac Ninh province in the coming time
Materials and Methods
- Method of selecting research site: Studying the implementation state of new rural construction planning in two communes which are specific on implementation of new rural construction planning in the district (Trung Xa and Binh Dinh communes) to draw experience lessons about the planning for further implementation in other communes in the district
- Methods of investigation and data collection, including:
Secondary data collection and survey: documents, general reports and statistics on the implementation of new rural construction planning in Bac Ninh province, Luong Tai district and each commune in the district were collected at the People's Committee of Luong Tai district – Bac Ninh province and the People's Committees of other communes in the district
Primary data collection and survey: collecting primary data through questionnaires (100 questionnaires) The survey respondents were households in 2 representative communes for new rural construction planning program of the district
- Methods of data statistics, aggregation and analysis: For the report making, many documents for general and local research were consulted and selected from books and newspaper or libraries‟ materials to clarify the content presented in the report At the same time, other local documents, such as statistics on economic, social and local development states, were also collected and used to best serve for the researched topic Basing on analyzing to give the conclusions, we conducted statistics and compared the data of the previous years and of the year after the planning implementation, then analyzed the factors affecting the planning implementation
Trang 13- Comparative method: Comparing the implementation results of the new rural construction planning in the locality with the planning criteria in the set of national criteria for new rural construction
- Method of assessment basing on the criteria: Assessing the implementation of the new rural construction planning in Luong Tai district through such criteria as: time, area,
Main findings and conclusions
- Luong Tai is a developing district After 7-year implementation of the national target program on building new rural areas, the district has achieved outstanding results: the district rural appearance has prospered, 13 out of 13 communes have been deployed
to implement the new rural planning with increasing completed criteria Specifically, the district has 7 communes with 19 passed criteria; 1 communes with 18 passed criteria, 1 communes with 17 passed criteria, 1 communes with 16 passed criteria, 3 communes with 15 passed criteria
- The implementation state of the new rural construction planning in the 2 typical communes:
Trung Xa is the leading commune in the movement of the new rural construction
in Luong Tai district, especially in the propaganda, people mobilization for capital and labor day contribution, land donation and in the form of implementation Up to 27/11/2015, Trung Xa commune had achieved 19/19 criteria and was recognized as
"standard new rural commune"
İn Binh Dinh commune: the planning implementation has been still slow while many the planning‟s contents haven‟t been finished as approved plan Up to 31/12/2017, the commune had only achieved 15/19 criteria;
- According to survey results and information collection by consulting the communes‟ people, the planning still has many limitations such as: The propaganda work has been paid a lot of attention but it was unevenly implemented all; The active participation of the people in mobilizing resources to build the new rural areas was not high; Some managing staff has not fully understood the planning‟s contents and had the thought of dependency, especially some communes‟ staff
- In order to improve the implementation efficiency of the new rural construction planning as well as to quickly complete the target of becoming a new rural district, each district commune needs to concentrate on synchronously implementing such solutions as: solutions for planning management and implementation, propaganda; solutions for resource mobilization; solutions for operating direction in the coming time And, the resource solution is the most important one that directly determines the completion progress of new rural construction in the communes
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng nông thôn mới là mục tiêu quan trọng trong chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được xác định rõ trong Nghị Quyết số 26/NQ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Để triển khai thực hiện mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020 Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành các văn bản hướng dẫn chỉ đạo thực hiện như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Xác định Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh cũng như của cả nước, ngay từ đầu tỉnh Bắc Ninh đã tập trung chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh xây dựng kế hoạch, thành lập Ban chỉ đạo, tổ giúp việc… Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các ban ngành, tổ chức, đoàn thể và nhân dân chung tay xây dựng nông thôn mới(NTM) Đến nay, công tác quy hoạch xây dựng NTM trên địa bản tỉnh cơ bản hoàn thành với chất lượng tốt, các đồ án quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã đã được phê duyệt Các địa phương nghiêm túc thực hiện
Trang 15việc rà soát quy hoạch, chất lượng các đồ án sau khi điều chỉnh bảo đảm theo quy định, đáp ứng kịp thời cho kế hoạch xây dựng NTM
Huyện Lương Tài đã triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 Đến nay tất các xã trong huyện đã hoàn thành công tác quy hoạch và đang triển khai thực hiện quy hoạch Sau bẩy năm triển khai thực hiện, cơ bản huyện đã đạt được mục đích, yêu cầu của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: Huyện đã có 07 xã đạt 19 tiêu chí, 06 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí Tuy nhiên, còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình triển khai và thực hiện Trong giai đoạn lập quy hoạch chung, nhiều địa phương còn có tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại vào cấp trên; Phần lớn các xã phải điều chỉnh quy hoạch do chưa được phù hợp với địa phương mình Công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến đầu tư dàn trải, kém hiệu quả Việc công
bố đồ án còn mang tính chiếu lệ, chưa kịp thời Nhiều địa phương chỉ thực hiện công bố nhưng chưa công khai, dẫn đến việc thực hiện một số dự án chưa bám sát vào nội dung quy hoạch Công tác cắm mốc quy hoạch thực sự cần thiết trong công tác quy hoạch NTM cũng như trong công tác xây dựng NTM nói chung góp phần hiệu quả cho việc quản lý xây dựng NTM theo quy hoạch dù đã được hướng dẫn và đôn đốc nhiều lần nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện; nguồn lực để xây dựng NTM còn gặp nhiều khó khăn, sự tham gia của nhân dân trong việc thực hiện xây dựng NTM còn hạn chế…
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng chương trình xây dựng nông thôn mới và việc tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài
- Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn tiếp theo
Trang 161.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Bổ sung cơ sở lý luận cho việc tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Ý nghĩa thực tiễn: Chỉ ra những điểm đã đạt được và tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2017, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đến năm 2020
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1.1 Khái quát về nông thôn mới
2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Theo tổ chức Nông lương Liên hợp quốc(FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương pháp: Thứ nhất, thành thị được xác định bởi luật, theo đó, tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng cộng lại được định nghĩa là nông thôn Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được
để xác định vùng thành thị, nông thôn Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã
Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn
ra các hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại đó không phải là đô thị(về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan
hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lấp với đô thị(nhất là
về văn hóa) (Vũ Văn Phúc, 2012)
Như vậy, nông thôn theo quan niệm này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải
là đô thị
Theo truyền thống và phổ biến hiện nay thì nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề do cha ông để lại và phân công lao động xã hội chưa cao, tình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế nông thôn
Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ hàng mật thiết với nhau khá chặt chẽ Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tình thần, điều kiện giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm bền lâu Trong mối quan hệ giữa con người với con người ở nông thôn Việt Nam, các hành vi của mỗi cá nhân được đặt trong các thiết chế xã hội làm cho vai trò của cộng đồng trở nên mạnh mẽ và cá nhân trở nên nhỏ bé Sức mạnh của cộng đồng làng xã thể hiện cả trong quan hệ giữa các thành viên và những thành viên ngoài cộng đồng
Trang 18Nông thôn là nơi lưu trữ và bảo tồn di sản văn hóa quốc gia như lễ hội, các ngành nghề truyền thống, di tích lịch sử - văn hóa Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn đối với mọi người
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 21/8/2009 hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM nêu rõ: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009)
Nông thôn chính là vùng sinh sống tập hợp của dân cư chủ yếu hoạt động sản xuất trên lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào cá hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một tập thể chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác phân biệt với đô thị
2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo chiều sâu, hình thành một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung; nhiều mặt hàng nông sản đạt tiêu chuẩn quốc gia
và quốc tế Kết cấu hạ tầng nông thôn ngày một hoàn thiện, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trường học, trạm y tế… đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Thương mại, dịch vụ vùng nông thôn không ngừng phát triển, góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân vùng nông thôn, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực,
tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp giảm dần, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn được củng cố; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực nông thôn ổn định; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân - nông dân - tri thức
Bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều lĩnh vực thì trong nông nghiệp và nông thôn cũng còn nhiều bất cập như: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm; nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng chưa cao, năng lực cạnh tranh thấp Tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu,
Trang 19vùng xa Về xây dựng quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn còn mang tính phong trào chưa phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới chưa đủ sức thuyết phục, thu hút nông dân tham gia, dù xu thế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp là một tất yếu khách quan Một số chính sách xã hội được triển khai thực hiện ở nông thôn còn chậm
và chưa đồng bộ Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưa bền vững
An ninh nông thôn nhiều nơi còn diễn biến phức tạp Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa dân cư thành thị với dân cư nông thôn ngày càng giản ra…(Ban chấp hành TW, 2008)
Nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở và nhân dân về chủ trương xây dựng nông thôn mới còn một số vấn đề chưa nhất quán, vẫn còn những nhận thức chưa đầy đủ về việc huy động mọi nguồn lực của từng xã tham gia xây dựng nông thôn mới; xây dựng nông thôn mới thực sự là cuộc cách mạng sâu rộng của
cả hệ thống chính trị và của từng người dân; xây dựng xã nông thôn mới phải đi lên từ chính nội lực, tiềm năng lợi thế, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nguồn ngân sách nhà nước; thiếu tập trung tuyên truyền, vận động thu hút các nguồn vốn đầu tư khác, nhất là nguồn lực xã hội hóa
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
2.1.3.1 Chức năng của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới có các chức năng cơ bản là:
- Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại: Nông thôn là nơi diễn ra phần
lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp
là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống: Để đảm bảo giữ gìn được văn
hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn, việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch
sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng
Trang 20nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn
và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
- Chức năng sinh thái: Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con
người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước
và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường
tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên, phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất, Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
2.1.3.2 Nhiệm vụ của quy hoạch nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân - nông dân - trí thức (Ban chấp hành TW Đảng, 2008)
2.1.4 Nguyên tắc, nội dung, tiêu chí xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13/04/2011 (liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu
tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng NTM như sau:
Trang 21800/QĐ Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư địa phương
là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp
ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM (Bộ NN&PTNT, Bộ KHĐT, Bộ TC, 2011)
2.1.4.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo ra một nông thôn có nền kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ
sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống văn hóa của người dân Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, các lợi thế cũng như năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân mà từ đó xác định nội dung xây dựng nông thôn mới cho phù hợp Xét trên khía cạnh tổng thể thì nội dung chủ yếu trong xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trang 22+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
+ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã; hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn xã; hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao; hệ thống công trình phục vụ chuẩn hóa y tế, giáo dục trên địa bàn xã
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao
+ Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
+ Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
- Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
+ Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã
+ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn
+ Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn: Thực hiện thông tin, truyền thông đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Trang 23+ Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
+ Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
+ Ban hành chính sách khuyến khích thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,
đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2010)
2.1.4.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ
- TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 5 nhóm tiêu chí với
19 tiêu chí cụ thể
Ngày 21/08/2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 54/2009/TT - BNNPTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM,
Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm (phụ lục 1)
Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí)
Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí)
Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
(Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2009)
2.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới trong sự phát triển kinh tế-xã hội hiện nay
2.1.5.1 Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại,
Trang 24tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt
sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị
Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
2.1.5.2 Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
2.1.5.3 Về văn hóa - xã hội
Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
2.1.5.4 Về con người
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có; kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn
Trang 252.1.5.5 Về môi trường
Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
2.1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới
2.1.6.1 Yếu tố bên trong
- Các yếu tố nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
+ Cơ cấu đất đai: Ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách dồn điền đổi thửa, công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng gây ảnh hưởng tới công tác quy
hoạch, gây ảnh hưởng đồng bộ tới việc hoàn thiện các tiêu chí xây dựng NTM
+ Nguồn lao động: Có vai trò lớn trong quá trình thực hiện xây dựng NTM Góp phần đẩy nhanh hoàn thành tiêu chí Địa phương có nguồn lao động dồi dào tham gia vào xây dựng NTM thì sẽ tiết kiệm được nguồn kinh phí do không phải thuê từ bên ngoài, hơn nữa tạo nên sự đoàn kết trong dân, cùng nhau đóng góp xây dựng NTM
+ Nguồn vốn: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự thành công của mô hình Nguồn vốn đáp ứng được cho công tác thực hiện xây dựng góp phần hoàn thiện các tiêu chí do đây là yếu tố tiên quyết Nguồn kinh phí này được đầu tư từ nhiều nguồn như ngân sách của nhà nước, của thành phố, huyện và của xã; sự đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn và đặc biệt là nguồn huy động
từ trong dân Nguồn vốn tự lực của địa phương thường là nguồn thu từ các hoạt động đấu giá đất, cho thuê đất trên địa bàn hay bán đất giãn dân Để xây dựng NTM có hiệu quả và đúng tiến độ thì cần các cơ chế đặc thù đẩy mạnh sự tham gia, đóng góp của nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp, tăng cường nguồn vốn ngân sách, giải ngân hợp lý
- Sự tham gia của các tác nhân trong thực hiện xây dựng nông thôn mới + Sự tham gia của quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành
tố chính của sự phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây Sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức
và tận dụng năng lực, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển
Nó giúp xác định nhu cầu của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Hơn nữa, quần chúng là đối tượng hưởng lợi chính, trực tiếp của mô hình NTM
Trang 26+ Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng, đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác thực hiện xây dựng NTM “Cán bộ là gốc của mọi việc”, do đó năng lực quản lý, điều hành thực hiện xây dựng NTM cũng như năng lực chuyên môn của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện các tiêu chí Cán bộ có năng lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện các tiêu chí
và ngược lại sẽ làm mất lòng tin của nhân dân
+ Trình độ học vấn, chuyên môn của hộ, sự phát triển của kinh tế hộ, sự
nhận thức về vai trò, ý nghĩa của chương trình đối với địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến các hình thức tham gia và mức độ tham gia xây dựng NTM của địa phương Các hình thức tham gia là: có quyền được biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liên quan mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ Được tham
dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề trong xây dựng NTM Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề ưu tiên; cùng đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn Người dân cùng được lập kế hoạch dự án và quản
lý điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng Mức độ tham gia vào xây dựng NTM còn ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện các tiêu chí Xây dựng NTM là quá trình phát triển, xây dựng nông thôn hiện đại có dựa vào năng lực của cộng đồng, do vậy, năng lực của người dân, sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của mô hình do người dân là đối tượng hưởng lợi trực tiếp
2.1.6.2 Yếu tố bên ngoài
* Chính sách của Đảng và Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới
Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quyết tâm trong xây dựng NTM thông qua các mục tiêu phấn đấu trong quá trình xây dựng NTM là xây dựng nông thôn
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để xây dựng NTM, Đảng
và Nhà nước đã ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoàn thiện xây dựng Các cơ chế, chính sách này có ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện trong xây dựng NTM của các địa phương Nó đem lại các tác động về kinh tế, xã hội
và môi trường ở nơi thực hiện xây dựng NTM Quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình Cách thức tiến hành đúng
Trang 27tiến độ, thời điểm tạo động lực đẩy mạnh hoàn thiện, tuy nhiên nếu chủ quan, nóng vội sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của mô hình
* Bộ tiêu chí về NTM do Bộ NN & PTNT ban hành
Để xây dựng NTM, địa phương cần hoàn thiện Bộ 19 tiêu chí xây dựng NTM theo quyết định số 491/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ Các tiêu chí này là hiện thực hóa nội dung của xây dựng NTM Mức độ hoàn thiện các tiêu chí thể hiện bộ mặt NTM của địa phương Nếu chỉ tiêu trong các tiêu chí là quá cao ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, tạo áp lực đối với địa phương Nếu chỉ tiêu thấp, không phù hợp thì địa phương dễ dàng đạt được nhưng hiệu quả xây dựng NTM không phản ánh được thực tế nông thôn nơi tiến hành xây dựng NTM
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.2.1 Kinh nghiệp xây dựng nông thôn mới của một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Sau khi cuộc nội chiến kết thúc vào năm 1953, kinh tế Hàn Quốc bị suy thoái nghiêm trọng, hơn một triệu người bị thương vong, kết cấu hạ tầng bị hóa hoại nặng nề, ước tính trị giá dần 3 tỷ USD theo tỷ giá năm 1950 Đến những năm đầu của thập kỷ 60, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
Với mục tiêu đẩy nhanh CNH, Hàn Quốc dốc lực đầu tư phát triển các ngành nghề công nghiệp mũi nhọn Cuối thập kỷ 60, sự tăng trưởng mất cân đối giữa ngành công nghiệp và ngành nông nghiệp trong nền kinh tế lên tới đỉnh điểm, đe dọa sự ổn định của quá trình CNH
Từ năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đã phát động “Phong trào đổi mới nông thôn” Đây là phong trào được khởi xướng bởi Tổng thống Park Chung
Hy Ban đầu, phong trào đổi mới nông thôn Hàn Quốc đưa ra 10 nội dung sau:
mở rộng, làm mới đường vào thôn xóm; mở rộng, làm mới đường trong thôn; làm vệ sinh thôn xóm; xây dựng khu giặt giũ chung; đào giếng nước chung; cải tạo mái nhà từ lợp rạ thành mái ngói, xi măng; cải tạo hàng rào quanh nhà từ tường đất thành tường xây gạch, xi măng; sửa cầu; sửa hệ thống đập sông ngòi và xây dựng điểm gom phân bắc (Khánh Phương, 2017)
Các nội dung để xây dựng dự án rất thiết thực, tương đối đơn giản, dễ triển khai, có kết quả nhanh Điều này rất quan trọng để khích lệ tinh thần người
Trang 28dân tin vào hiệu quả công việc, tin vào phong trào, tạo đà để làm những dự án dài hơi hơn Phong trào được thực hiện trên tinh thần cần cù, nỗ lực, hợp tác
Những năm sau, phong trào Làng mới với mục tiêu là công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn Mô hình này thực hiện 16 dự án mà mục tiêu chính là cải thiện môi trường sống cho người dân nông thôn: mở rộng đường giao thông, hoàn thiện hệ thống nước thải sinh hoạt, xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng, trồng thêm cây xanh và xây dựng sân chơi cho trẻ em… Cải thiện môi trường sống cho người dân nông thôn đuợc coi là nền tảng để bắt đầu cho quá trình phát triển nông thôn
Trong năm đầu tiên phát động phong trào, chính phủ cấp miễn phí đồng loạt cho 33.000 làng (mỗi làng có 150 - 200 hộ), mỗi làng 355 bao xi măng (loại
40 kg), giao cho người đứng đầu của làng bàn với dân tự quyết định phương án
sử dụng, việc nào cần thiết sẽ ưu tiên làm trước Người dân đóng góp ngày công, hiến đất làm đường để mở rộng, nâng cấp đường giao thông làng, xã Kết quả sau một năm, hơn một nửa tổng số làng có sự cải thiện đời sống, nên năm 1972, chính phủ chọn ra 16.600 xã có thành tích tốt được tôn vinh khen thưởng, tiếp tục được chính phủ hỗ trợ 500 bao xi măng và 1 tấn thép cho mỗi xã làm tốt để đầu
tư, theo phương châm hỗ trợ những làng biết vượt lên khó khăn, cán bộ tâm huyết, nhân dân hưởng ứng tốt (Khánh Phương, 2017)
Đến năm 1973, các dự án làng mới đã lan ra khắp cả nước với 34.665 làng tham gia, trung bình mỗi làng/xã được cấp miễn phí 355 bao xi măng Toàn
bộ kế hoạch đều do chính ủy ban làng/xã đó quản lý Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc, phần lớn dựa vào quỹ của xã và lực lượng lao động sẵn có
Phong trào Làng mới là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho
cả cộng đồng, chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau Mục tiêu của phong trào Làng mới là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung của cả quốc gia
Phong trào Làng mới áp dụng biện pháp tiếp cận từ trên xuống dưới, đứng đầu bởi chính phủ Tuy nhiên, đây cũng là biện pháp tiếp cận từ cấp cơ sở lên khi
dự án được đưa vào thực hiện Phong trào Làng mới đã thể hiện sự dân chủ bằng
sự tham gia tự nguyện của người dân nông thôn ở cấp làng Người dân trong làng đóng góp một phần lớn nguồn vốn và sức lao động để đạt được mục đích của
Trang 29phong trào Làng mới Trong khi đó, Chính Phủ chỉ cung cấp một số nguyên vật liệu như xi măng, sắt thép cần thiết để xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn Tất cả các làng nông thôn trên toàn đất nước đều tham gia vào phong trào Làng mới, nó
đã trở thành chương trình quốc gia thông qua các hoạt động như nâng cao thu nhập, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và nâng cao tinh thần người dân
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm
1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế (Khánh Phương, 2017)
Đến đầu những năm 1980, bộ mặt của nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi to lớn và toàn diện Quá trình hiện đại hoá nông thôn đã được hoàn thành Chính phủ điều chỉnh chiến lược phát triển sang một giai đoạn mới
Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn đó là: Phát huy nội lực của nhân dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân; đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn; phát huy tính dân chủ của nhân dân trong phong trào đổi mới nông thôn; phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân (Khánh Phương, 2017)
2.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi
Trang 30và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Thái Lan cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên
cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Khánh Phương, 2017)
2.2.1.3 Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy, trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hóa học; hoàn thiện công tác quản lý
và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển,
Trang 31Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Đến nay, Nhật bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu,… giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương (Khánh Phương, 2017)
2.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh trên cả nước
2.2.2.1 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh phía Nam của đồng bằng Bắc Bộ, có đặc điểm tự nhiên
đa dạng, vừa có vùng đồng bằng trồng lúa nước, vừa có vùng biển để nuôi trồng thủy hải sản Ngoài ra, thiên nhiên còn ưu đãi cho Thái Bình nhiều danh lam thắng cảnh gắn với các di tích lịch sử nổi tiếng tạo tiềm năng cho sự phát triển ngành dịch vụ du lịch, là những điều kiện thuận lợn cho xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình đã ban hànhQuyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 03/06/2011 Phê duyệt “Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020”
Qua 5 năm triển khai thực hiện, chương trình xây dựng nông thôn mới các địa phương trong tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng Tính đến hết năm
2015, toàn tỉnh có 164 xã (62,36%) đạt chuẩn nông thôn mới, 18 xã đạt 15- 18 tiêu chí, chiếm 6, 84%; 75 xã đạt 10- 14 tiêu chí, chiếm 28,52%; 6 xã đạt 9 tiêu chí, chiếm 2, 28%; bình quân toàn tỉnh năm 2015 đạt 16,53 tiêu chí, tăng trên 11 tiêu chí so với năm 2010 100% các xã đã hoàn thành lập quy hoạch chung, đề án xây dựng nông thôn mới, quy hoạch chi tiết giao thông thuỷ lợi nội đồng, quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã; 99,6% số xã hoàn thành dồn điền, đổi thửa (Bùi Quang Thọ, 2016)
Tháng 02-2016, huyện Hưng Hà đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới
Trang 32Bộ mặt nông thôn thay đổi nhanh chóng, các công trình hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục…được quan tâm đầu tư, nâng cấp, xây dựng Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt Bình quân thu nhập đầu người đạt 26,1 triệu đồng/người; số hộ nghèo giảm nhanh từ 8,5% (năm 2010) xuống còn 2,9% (năm 2015) (Bùi Quang Thọ, 2016)
2.2.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Nội
Sau hơn 10 năm (2006 - 2016) quán triệt nghiêm túc, tập trung chỉ đạo thực hiện tích cực, quyết liệt Chương trình số 02 của Thành ủy Hà Nội khóa XV và XVI về phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, nâng cao đời sống nông dân, công tác phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM đã có bước phát triển toàn diện
và đạt được những thành tựu nổi bật Diện mạo nông thôn ngoại thành ngày càng khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần nông dân được cải thiện rõ rệt, nhiều vùng được nâng cao
Trong đó, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, giá trị, hiệu quả kinh tế ngày càng cao Năm năm gần đây (2011-2015), giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp đạt 2,46%/năm, giá trị sản xuất hiện đã đạt từ 239 triệu đồng/ha, tăng 108 triệu đồng/ha so với 5 năm trước Cơ cấu ngành chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi, chế biến và dịch vụ nông nghiệp (trồng trọt, lâm nghiệp hiện chiếm 40,28%; chăn nuôi, thủy sản 56,71%; dịch vụ 3,01%) Đặc biệt, công tác xây dựng NTM có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Hà Nội là địa phương đi đầu và là một trong những tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thành tích xây dựng NTM, khi kết quả thực hiện các nhóm tiêu chí tổng hợp và các tiêu chí cụ thể đều đạt và vượt kế hoạch (Lê Hân - Trần Quang, 2017)
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao, 100% số trạm y tế xã đã có bác sĩ; các thiết chế văn hóa, cơ sở giáo dục, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, chất lượng và hiệu quả hoạt động được nâng cao Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm mạnh, từ 11,3% (năm 2011), giảm xuống còn 3,65% (đầu năm 2016) Hệ thống điện, đường, trường, trạm, các hoạt động lễ hội, văn hóa, thể dục, thể thao tiếp tục phát triển; nếp sống văn hóa ở các làng, xã có tiến bộ rõ rệt (Lê Hân và Trần Quang, 2017)
Trang 33Năm 2016, Hà Nội đã có 2 huyện là Đan Phượng, Đông Anh được Thủ tướng Chính phủ công nhận là huyện NTM Toàn thành phố đã có tổng số 255/386 xã đạt chuẩn NTM (Lê Hân và Trần Quang, 2017)
Những thành tựu về phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng NTM đã tạo nên sự thay đổi sâu sắc, cơ bản và toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, chất lượng cuộc sống và môi trường ở khu vực nông thôn Đời sống vật chất và tinh thần nông dân Thủ đô nhìn chung được cải thiện rõ rệt, nhiều vùng được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng gần 2,6 lần, từ 14 triệu đồng (năm 2011), lên 36 triệu đồng (năm 2016), vượt 11 triệu đồng/người/năm so với mục tiêu (Lê Hân và Trần Quang, 2017)
2.2.2.3 Kinh nghiệp xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Hải Dương
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương đã có những bước tiến bộ vượt bậc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Hải Dương đang phấn đấu hướng tới mục tiêu xây dựng: làng, xã văn minh, sạch đẹp; hạ tầng cơ sở được cải thiện đồng bộ; cộng đồng dân cư phát triển hài hòa; giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống; chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được nâng cao
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, tháng 12/2015, đã lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới ở 100% số xã Kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông ở khu vực nông thôn được chú trọng đầu tư, làm cho diện mạo nông thôn thay đổi rõ rệt Xây dựng, cải tạo, nâng cấp 2.350 km đường giao thông nông thôn; Đến nay 92,5% đường
xã và liên xã, 91,7% đường thôn, 88,6% đường xóm đạt chuẩn nông thôn mới (Trần Cảnh, 2016)
Cơ sở vật chất trường, lớp học được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hết năm 2015 toàn tỉnh có 477 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 51,3%, tăng 140 trường so với năm 2010; Đã chuyển đổi 100% các trường trung học phổ thông và trường mầm non bán công sang công lập
Công tác chăm sóc sức khỏe được đẩy mạnh, các chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện tốt, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 99%; Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 16,6% năm 2010 xuống còn 12,2% năm 2015; Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế tăng từ 58,0%
Trang 34năm 2010 lên 75,1% vào năm 2015; Số bác sĩ/vạn dân từ 6,0 năm 2010 tăng lên 7,9 năm 2015, tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ làm việc từ 64,2% năm 2010 tăng lên 80% vào năm 2015; Số giường bệnh trên 1 vạn dân năm 2015 đạt 30,4 giường bệnh (tính cả giường trạm y tế xã) (Trần Cảnh, 2016)
Các thiết chế văn hoá, thể dục thể thao ở cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng: toàn tỉnh có 94,2% số xã và 97% số thôn có nhà văn hóa; Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và có bước phát triển xã hội hoá hoạt động văn hóa, thể thao đạt kết quả tích cực
Ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn được quan tâm xử lý, nhiều cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp đã thực hiện các biện pháp xử lý môi trường; Tỷ
lệ thu gom, xử lý rác thải khu vực nông thôn đạt hơn 60%; Hỗ trợ kinh phí từ ngân sách xây dựng 124 bãi chôn lấp rác cho 104 xã, xây dựng 1.160 bể chứa rác thải bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại 58 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn I Tăng cường công tác xã hội hóa, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư cho xử lý và bảo vệ môi trường; Mô hình khu dân cư tự quản về bảo vệ môi trường được nhân rộng và phát huy hiệu quả (Trần Cảnh, 2016)
Mạng lưới cấp nước sạch được cung cấp tới 100% các xã; Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đến năm 2015 đạt 85%
Công tác dồn điền, đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung được quan tâm thực hiện Các loại hình tổ chức sản xuất phát triển tương đối đa dạng, hiệu quả ngày càng cao
Sau một thời gian thực hiện, mặc dù đã đạt được một số kết quả tích cực, song xây dựng NTM ở Hải Dương còn gặp nhiều khó khăn như công tác quy hoạch xây dựng còn chậm, chất lượng quy hoạch thấp, chưa phối hợp với các ngành, chức năng, địa phương, nguồn kinh phí đầu tư cho chương trình xây dựng NTM còn hạn chế
Mục tiêu đến năm 2020, sẽ xây dựng nông thôn Hải Dương có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; có cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt 19 chỉ tiêu trong bộ tiêu chí quốc gia về NTM, đến năm 2015 có
Trang 3520% số xã được công nhận NTM, năm 2020 là 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM(Trần Cảnh, 2016)
2.2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các tỉnh trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh cho thấy việc thực hiện tiêu chí quy hoạch trong việc thực hiện xây dựng NTM tại các địa phương
là rất quan trọng
Việc phát triển nông nghiệp nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội Một thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy mạnh mẽ nhưng lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng chiếm tỷ số rất lớn Bởi vậy, xây dựng nông thôn mới không phải là một quy hoạch kinh tế ngắn hạn mà là một quy hoạch mang tính hệ thống và lâu dài
Phong trào xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, sự tham gia tích cực của mỗi người dân, cộng đồng dân cư, phát huy cao nhất nội lực và cần sự trợ giúp,
hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước và chính quyền các cấp Vì vậy, để xây dựng mô hình thành công tại Bắc Ninh cần phát huy được tinh thần trách nhiệm của chính quyền các cấp với đoàn thể địa phương và sự đồng thuận hợp tác, ý thức của nhân dân địa phương
2.2.3 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020, ngày 14/4/2011 Tỉnh ủy Bắc Ninh ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về xây dựng NTM Ngày 24/4/2014 Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Ninh thông qua Nghị quyết số 127/2014/NQ-HĐND17 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2020 Toàn tỉnh có 97 xã thực hiện chương trình xây dựng NTM Theo đó, toàn tỉnh đặt mục tiêu: giai đoạn 2011 - 2015, trong năm 2011 phấn đấu có 8 xã thí điểm đạt chuẩn NTM, đến năm 2015 có 50% xã đạt chuẩn NTM; giai đoạn
2016 - 2020, phấn đấu toàn tỉnh có 80% số xã đạt chuẩn NTM
Với sự nỗ lực, quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh, đến hết năm 2016, toàn tỉnh có 58 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, chiếm 59,8% tổng số xã; 1 xã đạt 19 tiêu chí nhưng chưa được công nhận đạt
Trang 36chuẩn NTM; 19 xã đạt từ 15 đến18 tiêu chí; 19 xã đạt từ 12 đến 14 tiêu chí; 2 đơn vị cấp huyện là huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn huyện NTM và thị xã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM vào năm 2016 (Nguyễn Tuấn, 2017)
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh” nhiều doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đã tích cực ủng hộ nguyên vật liệu xây dựng, tiền mặt để hỗ trợ trực tiếp cho các địa phương xây dựng NTM Toàn thể nhân dân tại các địa phương đã chung tay đóng góp kinh phí, ngày công lao động, hiến đất làm đường,… để có được mặt đường rộng theo đúng quy hoạch Nhân dân đã bàn bạc, thống nhất chặt bỏ cây ăn cối, phá cổng, tường rào và nhiều công trình trên đất tạo điều kiện thuận lợi cho chủ chương xây dựng NTM
Đi đầu trong các địa phương về đích sớm, xã Việt Thống (huyện Quế Võ) là xã hoàn thành tất cả 19 tiêu chí NTM từ cuối năm 2015 Một trong những yếu tố quyết định tới thành công chính là sự đồng lòng từ phía người dân Đến nay có hơn 400 hộ dân tình nguyện hiến 85.900 m2
đất làm đường Nhờ vậy, toàn bộ đường giao thông của xã đã được kiên cố hóa
Với phong trào thi đua “Bắc Ninh chung sức xây dựng NTM”, trong 5 năm thực hiện (2011-2015) có tổng số 5.288 tỷ đồng được hỗ trợ cho chương trình xây dựng NTM, trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ trực tiếp cho chương trình 244,6 tỷ đồng, ngân sách tỉnh là 2.888,6 tỷ đồng (chiếm 52,6%), còn lại từ các nguồn vốn khác như các doanh nghiệp ủng hộ, nhân dân đóng góp Nhờ có
sự đóng góp, đầu tư đồng bộ, bài bản, diện mạo làng quê có sự đổi mới rõ rệt; đời sống người dân được nâng lên; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn được bảo đảm; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường; các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hóa được cải thiện; vai trò người dân là chủ thể trong chương trình xây dựng NTM ngày càng rõ nét; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền được nâng cao (Phan Thái Sơn, 2017)
Tuy vậy, công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Bắc Ninh vẫn còn rất dài và
có nhiều nhiệm vụ rất nặng nề Một số mặt tồn tại có thể kể đến như:
- Nhận thức của một số cán bộ và nhân dân về xây dựng NTM còn chưa đúng, chưa đầy đủ; tư tưởng trông chờ, không chủ động tích cực thực hiện, vai trò chủ thể của người dân tham gia xây dựng NTM chưa được phát huy triệt để Việc nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của các cấp, các ngành, ở một bộ phận
Trang 37cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở còn hạn chế, dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ, lúng túng trong cách làm Chỉ đạo chọn nội dung, tiêu chí cụ thể, xác định việc làm trước, việc làm sau, nhất là nội dung cần thực hiện ngay sau khi đề án được duyệt cũng chưa được xác định rõ Thực tế cho thấy, phần lớn các xã không xây dựng được kế hoạch, chi tiết thực hiện các nội dung công việc, nên việc huy động nguồn lực thực hiện tiêu chí đăng ký hoàn thành gặp nhiều khó khăn Chủ yếu các xã lựa chọn tiêu chí hoàn thành trong năm theo đề án không sát với khả năng, điều kiện thực tế của địa phương
Một thực tế khác là do cùng một thời điểm thực hiện, các xã tập trung thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí, nhất là các tiêu chí về xây dựng cơ sở hạ tầng nên nợ đọng xây dựng của các xã rất cao (Nguyễn Văn, 2016) Cùng với đó, việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chưa đồng đều dẫn đến thu nhập bình quân đầu người ở một số xã còn thấp hơn so với mức bình quân của tỉnh Ðịa phương chưa có chính sách đột phá thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; thiếu chính sách cụ thể hỗ trợ đổi mới phát triển các hình thức tổ chức kinh tế HTX nông nghiệp và trang trại Vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ cao Các địa phương mới tập trung vào việc thu gom rác thải sinh hoạt, việc xử lý còn hạn chế, nhiều địa phương chưa thật sự quan tâm đẩy mạnh triển khai các biện pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh cần phải làm tốt hơn nữa công tác vận động nhân dân trong xây dựng nông thôn mới với một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới, đặc biệt chú ý hoàn thành và thực hiện chỉ tiêu chí số 1 “Quy hoạch và thực hiện quy hoạch”; huy động sự tham gia đồng loạt của cả hệ thống chính trị, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nhân dân Phân công công việc cụ thể của từng tổ chức, đồng thời có lộ trình, thời gian hoàn thành trong công việc chung tay xây dựng NTM; nâng cao vai trò, trách nhiệm của ban chỉ đạo Các ngành các cấp, đoàn thể nhân dân thực hiện việc xây dựng kế hoạch hành động, coi đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của đơn vị, địa phương gắn với bình xét thi đua hàng năm (Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2014)
Trang 38Thứ hai, các địa phương tiếp tục ra soát lại thực trạng nông thôn theo Bộ
tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM Đối với những xã đạt dưới 15 tiêu chí thì phải tổ chức lập đề án xây dựng NTM của xã Trong đề án thể hiện cụ thể các giải pháp giữ vững tiêu chí đã đạt, tiếp tục tăng các tiêu chí chưa đạt và xây dựng
kế hoạch hoàn thành các tiều chí đối với từng xã theo từng năm gắn với bố trí nguồn thực hiện (Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2014)
Thứ ba, Trên cơ sở quy hoạch sản xuất, các xã tăng cường hướng dẫn và chỉ
đạo tổ chức, cá nhân thực hiện các dự án, các mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn (Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2014)
Thứ tư, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “ Toàn dân đoàn kết,
xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, trọng tâm là xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn hóa Thực hiện tốt các quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các thiết chế văn hóa, quy ước làng văn hóa Bảo
vệ an ninh thôn xóm, phòng chống tệ nạn xã hội (Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2014)
Chương trình xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng lớn của toàn dân, trên toàn diện và phải kiên trì thực hiện lâu dài, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Để hoàn thành được bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ, đồng tình của đông đảo quần chúng nhân dân Vì vậy, nâng cao hiệu quả công tác vận động nhân dân trong phong trào xây dựng nông thôn mới là rất quan trọng và cần thiết
2.3 Cơ sở pháp lý thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bắc Ninh
- Nghị quyết số 26/NQ/TW ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
Trang 39- Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020;
- Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương chình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
- Các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan:
+ Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ nông nghiệp & PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
+ Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ nông nghiệp & PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
+ Văn bản số 2543/BNN - KTHT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030;
+ Văn bản số 6867/BKH-KTNN ngày 08/9/2009 của Bộ Kế hoạch & Đầu
tư hướng dẫn cơ chế đặc thù quản lý đầu tư và xây dựng tại các xã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới;
+ Văn bản số 7598/BTC-NSNN ngày 28/5/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn nguồn vốn, đối tượng và mức hỗ trợ các dự án, nhiệm vụ trong việc xây dựng đề án nông thôn mới cấp xã;
+ Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 08/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã thực hiện Đề án
“Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa”;
+ Văn bản số 292/BXD-KTXD ngày 03/3/2009 của Bộ Xây dựng công
bố suất đầu tư xây dựng công trình;
+ Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
+ Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xã nông thôn mới;
Trang 40+ Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
+ Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của liên Bộ Nông nghiệp và PTNT - Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTG ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
- Nghị quyết số 127/2014/NQ-HĐND17 ngày 24/04/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2020
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 367/QĐ-UBND ngày 26/7/2017 về việc ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2017-2020