1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát chất thải tại trang trại lợn hồng thái, xã liên bảo, huyện vụ bản, tỉnh nam định

79 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 22,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó thu thập dòng vật chất, năng lượng sử dụng cho từng công đoạn đầu vào; nguồn phát sinh và tính chất của chất thải đầu ra cũng như các hình thức xử lý chất thải tại trang trại

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ

để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thu Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài là sản phẩm của sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết và kinh nghiệm thực

tế mà tôi đã có trong quá trình học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tổ chức

Trước tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đinh Thị Hải Vân đã dành nhiều thời gian và công sức trực tiếp hướng dẫn tôi suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt hai năm qua

Tôi xin cảm ơn cán bộ, công nhân viên làm việc tại Trang trại lợn Hồng Thái, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu phục vụ cho luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như những góp ý bổ ích để tôi có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng trong luận văn này vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Kính mong quý thầy giáo, cô giáo, bạn bè tiếp tục đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

THESIS ABSTRACT xi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN VIỆT NAM 4

2.1.1 Vai trò của ngành chăn nuôi lợn 4

2.1.2 Thực trạng ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay 4

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂN NUÔI LỢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG 7

2.2.1 Ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi lợn 7

2.2.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi lợn đến môi trường và con người 9

2.2.3 Các giải pháp chung nhằm quản lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi lợn 10

2.3 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN CHẤT THẢI 12

2.3.1 Giới thiệu chung về kiểm toán chất thải 12

2.3.2 Quy trình thực hiện kiểm toán chất thải 14

2.3.3 Tình hình Kiểm toán chất thải trên thế giới và ở Việt Nam 15

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 5

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19

3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 19

3.4.2 Phương pháp điều tra cán bộ chủ chốt 19

3.4.3 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất 20

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu nước 20

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 20

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 GIỚI THIỆU VỀ TRANG TRẠI LỢN HỒNG THÁI 21

4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trang trại 21

4.1.2 Tình hình hoạt động và các hạng mục công trình được đầu tư tại trang trại 21

4.2 QUÁ TRÌNH CHĂN NUÔI CỦA TRANG TRẠI 22

4.2.1 Quy trình chăn nuôi tại trang trại lợn Hồng Thái 22

4.2.2 Nguyên – nhiên liệu sử dụng trong chăn nuôi 23

4.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA TRANG TRẠI 26

4.3.1 Chất lượng nước thải 26

4.3.2 Chất lượng không khí 29

4.3.3 Hiện trạng chất thải rắn 31

4.4 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG ĐOẠN VÀ XÁC ĐỊNH NGUỒN THẢI TẠI TRANG TRẠI LỢN HỒNG THÁI 31

4.4.1 Phân tích quy trình chăn nuôi 31

4.4.2 Cân bằng vật chất trong quy trình chăn nuôi lợn 34

4.4.3 Các nguồn thải chính của trang trại 36

4.4.4 Đánh giá nguồn thải 37

4.4.5 Kiểm toán môi trường tại trang trại 39

4.5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CHẤT THẢI TẠI TRANG TRẠI LỢN HỒNG THÁI 45

4.5.1 Đề xuất các cơ hội giảm thiểu chất thải 45

Trang 6

4.5.2 Đánh giá tính khả thi và lựa chọn giải pháp 46

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 2 HÌNH ẢNH THỰC TẾ TẠI TRANG TRẠI 53

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân bố lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm theo vùng năm 2013 5

Bảng 2.2 Tỷ lệ các kiểu chuồng trại theo hai hình thức chăn nuôi

trang trại và hộ gia đình 7

Bảng 2.3 Thực trạng một số biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi quy mô trang trại (TT) và hộ gia đình tại 54 tỉnh thành trên cả nước 11

Bảng 2.4 Thực trạng sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi 12

Bảng 4.1 Khối lượng thức ăn cung cấp cho lợn 24

Bảng 4.2 Nhu cầu định mức vacxin sử dụng 24

Bảng 4.3 Nhu cầu hóa chất sử dụng trong năm 24

Bảng 4.4 Danh mục thiết bị, máy móc cho chăn nuôi 25

Bảng 4.5 Danh mục máy móc, thiết bị xử lý môi trường 26

Bảng 4.6 Các hạng mục công trình xử lý nước thải của trang trại 26

Bảng 4.7 Lượng nước tiểu của lợn 33

Bảng 4.8 Lượng phân thải của lợn 33

Bảng 4.9 Kết quả phân tích tính chất nước thải sau hệ thống xử lý 36

Bảng 4.10 Trách nhiệm pháp lý của trang trại lợn Hồng Thái đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường 41

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tỷ lệ phân bố trang trại các vùng trên cả nước 6

Hình 2.2 Nước thải chăn nuôi của một hộ dân thôn Quảng Mô, xã Phi Mô (Lạng Giang) tỉnh Bắc Giang đổ trực tiếp ra mương của thôn 8

Hình 4.1 Quy trình chăn nuôi lợn tại trang trại lợn Hồng Thái 22

Hình 4.2 Hệ thống xử lý nước lẫn phân thải 27

Hình 4.3 Hệ thống lọc khí giảm thiểu ô nhiễm không khí 29

Hình 4.4 Quy trình đầu vào – đầu ra theo giai đoạn phát triển của lợn 32

Hình 4.5 Dòng vật chất cho vòng đời của 1 con lợn 35

Hình 4.6 Sơ đồ nguyên nhân phát sinh dòng thải chăn nuôi lợn 37

Hình 4.7 Quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh 47

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Vũ Thị Thu Hà

Tên Luận văn: Kiểm toán chất thải tại trang trại lợn Hồng Thái xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài có sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định và trang trại lợn Hồng Thái nhằm xác định các thông tin chung của khu vực nghiên cứu; quá trình hình thành phát triển và quy trình sản xuất của trang trại Bên cạnh đó thu thập dòng vật chất, năng lượng sử dụng cho từng công đoạn đầu vào; nguồn phát sinh và tính chất của chất thải đầu ra cũng như các hình thức xử lý chất thải tại trang trại được xác định thông qua phương pháp điều tra thực tế tại trạng trại Dựa vào các số liệu trên để tính toán cân bằng vật chất, và đối chiếu với công tác kiểm toán sự thất thoát vật chất và mức độ tuân thủ các thủ tục pháp

lý về bảo vệ môi trường của trang trại

Kết quả chính và kết luận

Kết quả kiểm toán cho thấy trang trại đã sử dụng khoảng 3.245,6 tấn thức ăn/năm nên lượng chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi là rất lớn Bình quân 1 năm, trang trại chăn nuôi thải ra khoảng 1.604,4 tấn phân, 4.964,4 m3 nước tiểu, 24.000

m3 nước tắm – vệ sinh chuồng, 1,4 tấn vỏ bao cám, 1.308 kg vỏ lọ thuốc – vacxin

Theo kết quả quan trắc đợt 2 vào tháng 6/2016, chất lượng môi trường nước thải sau hệ thống xử lý biogas đạt yêu cầu, các thông số pH: 7,62; tổng chất rắn lơ lửng: 108,4 mg/l; BOD5: 69,8 mg/l; COD: 142,4 mg/l; tổng N: 65,5 mg/l; Coliform:

Trang 11

4.700 MPN/100ml đều đảm bảo nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 62:2016/BTNMT (cột B)

Trang trại đã lập báo cáo ĐTM được Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nam Định thẩm định và phê duyệt; lập báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành; đăng ký chủ nguồn thải CTNH với Sở Tài nguyên

& Môi trường tỉnh Nam Định và ký hợp đồng thuê thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH với Công ty cổ phần đầu tư và kỹ thuật tài nguyên môi trường ETC Trang trại cũng đã đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị, hệ thống xử lý và một số biện pháp nhằm giảm thiểu tối đa khí thải phát sinh từ khu vực chuồng nuôi như hệ thống xử lý bụi, khí bằng giàn nước phun sương và cột lọc than hoạt tính cũng đảm bảo các thông số phân tích đạt ngưỡng quy chuẩn cho phép và từ hệ thống xử lý nước thải

Ngoài ra, đối với các loại chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại được trang trại phân loại, lưu trữ và xử lý theo đúng quy định Trang trại đã thiết kế hệ thống biogas để xử lý nước lẫn phân thải Trong quá trình hoạt động, trang trại không thực hiện giám sát môi trường định kỳ đúng và đủ về tần suất đã được quy định tại Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Kiểm toán đã chỉ ra được các nhược điểm của trang trại như: Không thực hiện thu gom, phân tách phân ngay từ công đoạn dọn vệ sinh chuồng trại; chưa tận dụng được lượng bùn thải sau hệ thống xử lý; không có cán bộ chuyên trách về môi trường

Để trang trại hoạt động hiệu quả hơn, cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo nội dung cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường Ngoài ra, trang trại cần có cán bộ có chuyên môn về kỹ thuật môi trường nhằm có giải pháp hiệu quả trong

hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN hiện hành Đồng thời, chủ trang trại có phương hướng nghiên cứu và sử dụng để tái chế phân thải, bùn thải và chất thải sinh hoạt ủ phân sinh học nhằm tăng lợi ích về kinh tế cũng như bảo vệ môi trường

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Student: Vu Thi Thu Ha

Title of Thesis : Audit of Waste at Hong Thai pig farm, Lien Bao commune, Vu Ban district, Nam Dinh province

Major: Environmental Science Code: 8440301 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Method

This research used the method of secondary data collection from Environmet resource Department of Vu Ban District and Hong Thai Pig Farm to determined the general information of the research area; the process of formed and development of this Farm Next to, collect the material, the energy for each new part, stationary source, and nature of waste as well as waste treatment method through actual investigation Base

on that data to caculate the material balance, compare with audit the material loss, the level of compliance of legal procedure in protecting the farm’s environment

Main Results and Conclusion

The result of the audit showed that the farm used about 3,245.6 tons of feed per year, so the amount of waste generated in the process of breeding is very large On average, the farm produces 1.604,4 tons of manure, 4,964,4 m3 of urine, 24,000 m3 of bath water –cleaning pigsties, 1.4 tons of bran cover, 1,308 kg of vials of medicine – vaccine per year

According to the result of the second monitoring in June 2016, the quality of wastewater through the biogas treatment system met requirement such as the pH parameter: 7.62; Total suspended solid waste: 108.4 mg/l; BOD5: 69.8 mg/l; COD: 142.4 mg/l; total N: 65.5 mg/l; Coliform: 4,700 MPN/100ml that are within the limit of

Trang 13

The farm has prepared the environmental impact assessment (EIA) report appraised and approved by the Department of Natural Resources and Environment of Nam Dinh province, has made report on the result of the implementation of environmental protection works in the operation stage; has registeredthe hazardous waste (HW) generator with the Department of Natural Resources and Environment of Nam Dinh province and has signed the contract on collection, transportation and treatment of HW with Environment Resources Investment and Technical Joint Stock Company (ETC) The farm has invested in machinery, equipment, treatment systems and a number of measures to minimize gas emission from the pigsties and the wastewater treatment system such as the system of dust and gas treatment by water spraying and activated carbon filter also ensures the analysis parameters which reach the allowednorms In addition, ordinary solid waste and hazardous waste are classified, stored and handled in accordance with regulations The farm has designed biogas system to treat waterwaste and solid waste In the course of operation, the farm hasn’t implemented periodical environment monitoring adequately and fully in the frequency prescribed in the approved decision on the EIA report

The audit has shown the disadvantages of the farm such as: Do not collect, split solid waste from cleaning of the pig sties; do not utilize the amount of sludge through the treatment system; do not have officer specialized in environment In order to be in more efficient operation, the farm shall implement environmental protection measures according to the commitments made in the EIA report In addition, the farm needs to attract staffsspecialized in the environmental engineering to have effective solution in the wastewater treatment system in accordance with existing Vietnam standard At the same time, for the amount of waste collected from the cleaning and from separation in the separating tank of solid waste - urine of the biogas system, the farm owners have intention to study and use for recycling ofsolid waste, sludge and biowaste in order to increase economic benefits and environmental protection

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ở Việt Nam, chăn nuôi là hướng đi đúng với việc phát triển kinh tế ở vùng nông thôn Việt Nam với khoảng 60% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Nhà nước hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triển chăn nuôi Những năm qua chăn nuôi có sự tăng trưởng nhanh cả về quy mô và giá trị Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, ngành chăn nuôi lợn năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Theo Cục chăn nuôi (2015), Việt Nam hiện có trên 10 triệu nông hộ chăn nuôi gần 27 triệu con lợn Tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi lợn bình quân đạt 8 – 12% /năm trong 15 năm qua

Trong những năm gần đây, các cơ sở chăn nuôi ở nước ta với quy mô lớn ngày càng được xây dựng và mở rộng Tuy nhiên, hơn 80% tổng số các cơ

sở chăn nuôi này là phát triển tự phát và được xây dựng n gay trong khu dân

cư, trên đất vườn nhà Các cơ sở chăn nuôi phát triển mạnh mẽ kéo theo đó là lượng chất thải chăn nuôi cũng tăng lên không ngừng Trong khi đó các cơ sở chăn nuôi đều chỉ chú trọng đến nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi mà không xử lý chất thải chăn nuôi hoặc có xử lý nhưng không triệt để Nhiều nơi

ở nông thôn, nước thải chăn nuôi không qua xử lý được thải trực tiếp ra ngoài môi trường, nguồn tiếp nhận là hệ thống kênh, mương, ao, hồ xung quanh khu dân cư Điều này không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường xung quanh mà còn tăng nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người

Kiểm toán chất thải được biết đến như một cách tiếp cận giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn thông qua việc sử dụng nguyên nhiên liệu và năng lượng có hiệu quả hơn Việc kiểm toán đã không chỉ giúp cắt giảm chi phí sản xuất, mà còn đóng góp vào việc cải thiện hiện trạng môi trường, qua đó giảm bớt chi phí xử lý môi trường

Trang 15

Trang trại lợn Hồng Thái là một trong những trang trại luôn dẫn đầu trong việc đáp ứng nhu cầu cung cấp lợn thịt siêu nạc ra thị trường tiêu dùng nội địa Tuy nhiên, khi trang trại đi vào hoạt động đã làm nảy sinh các tác động đến môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất Với mục đích kiểm toán chất thải nhằm thấy rõ được những lợi ích mà kiểm toán mang lại như: hạn chế được sự phát sinh chất thải, tổn hao vật chất và năng lượng đem lại hiệu quả kinh

tế cũng như giảm chi phí đầu vào và đầu ra của quy trình sản xuất; đồng thời đánh giá những lợi ích đạt được khi kiểm toán vào quy trình chăn nuôi, tôi tiến hành đề tài: “Kiểm toán chất thải tại trang trại lợn Hồng Thái, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”

1.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trang trại lợn Hồng Thái phát sinh chất thải với khối lượng lớn, thất thoát vật chất cao Hệ thống các công trình xử lý chất thải chưa được chú trọng đầu tư

và không tuân thủ về thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cần được ưu tiên trong kiểm soát dòng vật chất,

xử lý chất thải bảo vệ môi trường

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải, hiện trạng môi trường và công tác thực hiện các biện pháp giảm thiểu chất thải cũng như mức độ tuân thủ trang trại lợn Hồng Thái, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường và tăng hiệu quả về kinh tế

Trang 16

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại trang trại lợn Hồng Thái, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định để đánh giá sự thất thoát của dòng vật chất trong quy trình chăn nuôi cũng như các biện pháp quản lý môi trường và mức độ tuân thủ các pháp luật về bảo vệ môi trường với thời gian nghiên cứu từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2018

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Nghiên cứu này góp phần ước lượng sự thất thoát của dòng vật chất trong quy trình chăn nuôi lợn Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ việc lập kế hoạch ưu tiên cho công tác quản lý môi trường, góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tối đa lượng phát thải của quy trình chăn nuôi lợn

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN VIỆT NAM

2.1.1 Vai trò của ngành chăn nuôi lợn

Chăn nuôi lợn có vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp Nói chung, chăn nuôi lợn có một số vai trò như sau:

- Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, là nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp chế biến Harris et al (1956) cho biết cứ 100g thịt lợn nạc có 367 Kcal, 22% protein

- Chăn nuôi lợn cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể tái tạo và nâng độ phì của đất, đặc biết là đất nông nghiệp Theo Nguyễn Quang Linh (2005), một con lợn thịt có thể thải 2,5 – 4 kg phân/ngày đêm, ngoài ra nước tiểu của lợn cũng chứa hàm lượng Nito

và Photpho cao Tuy nhiên, tính toán theo hệ số phát thải của Cục Chăn nuôi thì bình quân mỗi ngày một con lợn thải ra 2 kg phân/ngày đêm

- Chăn nuôi lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người Trong các nghiên cứu về môi trường nông nghiệp, lợn

là vật nuôi quan trọng và là một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nông nghiệp

- Chăn nuôi lợn làm tăng tính an ninh cho các hộ gia đình nông dân trong các hoạt động xã hội và chỉ tiêu trong gia đình

2.1.2 Thực trạng ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay

Xu thế phát triển ngành chăn nuôi lợn ở nước ta:

Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta Phát triển chăn nuôi lợn theo hướng tập trung và chuyên môn hóa cao là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời kỳ phát triển mới Hình thức chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại dần được hình thành và có xu hướng phát triển mạnh, nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về phát triển kinh

tế trang trại Tính đến năm 2001, nước ta mới chỉ có 1.761 trang trại chăn nuôi thì đến năm 2010 đã tăng lên là 23.558 trang trại, trong đó khu vực đồng bằng

Trang 18

sông Hồng có tổng số 10.277 trang trại chiếm 42,67% tổng số trang trại trên cả nước (Cục Chăn nuôi, 2011)

Trong các loại hình chăn nuôi, trang trại chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất với tổng số 7.475 trang trại, chiếm 42,2% tổng số trang trại chăn nuôi (Cục Chăn nuôi, 2007) Trong đó, miền Bắc có 3.069 trang trại, chiếm 41,1%, miền Nam có 4.406 trang trại, chiếm 58,9% (Cục Chăn nuôi, 2008) Trong những năm gần đây, quy mô chăn nuôi lợn trong các trang trại có xu hướng tăng nhanh do có tương quan giữa tỷ lệ lợi nhuận và số lượng đầu con chăn nuôi Theo Đào Lệ Hằng (2008); Phùng Đức Tiến và cs (2009), quy mô chăn nuôi lợn nái phổ biến

từ 20 – 50 con/trang trại, chiếm 71,3% trang trại chăn nuôi lợn nái và quy mô lợn nái và quy mô lợn thịt phổ biến từ 100 – 200 con/trang trại chiếm 75,5% trang trại chăn nuôi lợn thịt Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2012,

số lượng lợn lê tới 26.494 nghìn con trong tổng số 34.624 nghìn vật nuôi

Các trang trại chăn nuôi ngày càng được mở rộng về quy mô và số lượng, tăng từ 6.267 trang trại năm 2011 lên 8.133 trang trại năm 2012, tập trung nhiều

ở khu vực ĐBSH (Tổng cục Thống kê, 2013) Hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh, toàn diện ở khu vực phía Bắc, trong khi đó tại các tỉnh thuộc ĐBSCL phát triển chăn nuôi bò và gia cầm

Bảng 2.1 Phân bố lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm theo vùng năm 2013

Trang 19

chăn nuôi bò sữa tiếp tục tăng nhanh ở vùng Đông Nam Bộ (chiếm 75%) và các tỉnh thành phía Bắc (chiếm 20%) Cả nước có hơn 25 nghìn trang trại, tuy nhiên

sự phân bố trang trại đối với từng loại vật nuôi có sự phân biệt lớn Trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ, ĐBSH; trong khi đó trang trại chăn nuôi bò thịt phân phối phần lớn ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trang trại bò sữa phần lớn tập trung ở Đông Nam Bộ

Hình 2.1 Tỷ lệ phân bố trang trại các vùng trên cả nước

Nguồn: Cục Chăn nuôi (2012)

Hình thức chăn nuôi:

Hiện nay ở nước ta có hai hình thức chăn nuôi chính là chăn nuôi truyền thống hộ gia đình và chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại (Cục Chăn nuôi, 2006) Đây là xu hướng phát triển phổ biến trên thế giới và là hướng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nước ta Hình thức chăn nuôi quy mô hộ gia đình đã có từ lâu đời và vẫn còn phổ biến tại nước ta Hiện nay cứ trung bình 5 hộ dân sống ở nông thôn thì có tới 3 hộ chăn nuôi lợn và gia cầm chiếm tỷ lệ gần 60% (Cục Chăn nuôi, 2008) Nhìn chung, hình thức chăn nuôi hộ gia đình có khả năng kết hợp với trồng trọt để tận dụng các sản phẩm dư thừa của mùa vụ, quy mô nhỏ, ít gây ô nhiễm môi trường nhưng hiệu quả kinh tế không cao Hình thức chăn nuôi trạng trại tập trung là hình thức mới được hình thành và phát triển mạnh trong những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Năm 2001, cả nước có khoảng 1.761 trang trại

Trang 20

chăn nuôi đến năm 2014 đã tăng lên tới 12.642 trang trại (Tổng cục Thống kê,

2014) Hình thức chăn nuôi theo trang trại có số lượng vật nuôi lớn, đem lại hiệu

quả kinh tế cao nhưng lại gây ra những vấn đề môi trường do các loại chất thải

phát sinh quá lớn

Đặc điểm chuồng trại:

Theo nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2009), tại Việt Nam có 3

kiểu chuồng trại chính: Kiên cố, bán kiên cố và đơn giản

Bảng 2.2 Tỷ lệ các kiểu chuồng trại theo hai hình thức chăn nuôi

trang trại và hộ gia đình

Đơn vị: % Kiểu

Từ bảng trên cho thấy chuồng trại kiên cố theo hình thức chăn nuôi trang

trại cao hơn so với hình thức chăn nuôi quy mô hộ gia đình Tỷ lệ chuồng trại

kiên cố cao nhất đối với chăn nuôi lợn, sau đó đến chăn nuôi bò và thấp nhất là

chăn nuôi gia cầm

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂN NUÔI LỢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG

2.2.1 Ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi lợn

Việc hình thành và phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta

đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất lao động và thu nhập của người

nông dân Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm thời gian qua tăng

trưởng liên tục với các trang trại ngày càng được mở rộng về quy mô và diện

tích Số lượng gia súc, gia cầm đã tăng cao trở lại sau một vài năm chững lại vì

dịch bệnh

Trang 21

Hoạt động chăn nuôi tồn tại theo hai loại hình quy mô: Trang trại và hộ gia đình Tuy nhiên, loại hình chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình đang là nguồn gây ô nhiễm khó kiểm soát đối với môi trường không khí, nước tại các khu vực nông thôn

Hình 2.2 Nước thải chăn nuôi của một hộ dân thôn Quảng Mô, xã Phi Mô

(Lạng Giang) tỉnh Bắc Giang đổ trực tiếp ra mương của thôn

Theo Cục Chăn nuôi – Bộ NN&PTNT, trung bình mỗi năm NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN thải ra 85 – 90 triệu tấn phân, nhưng chỉ khoảng 40% được

xử lý, phần còn lại bị xả thải trực tiếp ra môi trường Đây là một trong những nguồn chất thải lớn có nguy cơ gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm, gây mùi khó chịu và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân

Theo báo cáo quy hoạch bảo vệ môi trường đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nam Định: Năm 2015, chất thải rắn chăn nuôi là 1.147.925 tấn/năm, tăng 8,04%

Trang 22

so với năm 2010, khối lượng nước thải chăn nuôi là 10.312.345 m3/năm, tăng 7,73% so với năm 2010 Dự tính đến năm 2020, chất thải rắn trong chăn nuôi là 1.211.800 tấn/năm, tăng 14,05% so với năm 2010; khối lượng nước thải chăn nuôi là 10.953.285 m3/năm, tăng 14,42% so với năm 2010 Như vậy, trong giai đoạn 2010 – 2020, chất thải chăn nuôi tăng nhanh với khối lượng lớn, nhất là chất thải trong chăn nuôi lợn

Căn cứ số lượng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Nam Định, lượng chất thải rắn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2010 là 2.911 tấn/ngày đêm Trong đó, chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi lợn chiếm 75,5%, từ chăn nuôi bò là 13,14% Theo đánh giá của Văn phòng dự án khí sinh học tỉnh Nam Định và Chi cục Bảo vệ môi trường thì tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn tỉnh năm 2010 chỉ đạt khoảng 65%

Theo ước tính, hiện cả nước có 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô hộ gia đình, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung, nhưng chỉ có 8,7% số hộ xây dựng công trình khí sinh học (hầm biogas) Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp

vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% và chỉ có 0,6% số hộ có cam kết bảo vệ môi trường Vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng bất kỳ phương pháp nào mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài gây ô nhiễm môi trường

2.2.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi lợn đến môi trường và con người Các nghiên cứu cho thấy, mỗi năm ngành chăn nuôi lợn thải ra khoảng 75 –

85 triệu tấn khí thải, trong đó khí CO2 chiếm 9%, khí CH4 chiếm 37%, khí NOx

chiếm 55% còn lại là các khí khác như: H2S, NH3 Theo báo cáo của Viện Chăn nuôi, nồng độ khí H2S và NH3 trong chất thải chăn nuôi cao hơn khoảng 30 – 40 lần mức cho phép Khí CO2 trong chăn nuôi chủ yếu phát sinh từ việc đốt nhiên liệu chạy máy móc dùng cho thức ăn gia súc, gia cầm Khí CH4 phát sinh chủ yếu

từ quá trình lên men thức ăn ở dạ cỏ của động vật nhai lại và phân của gia súc Tỉnh Thái Bình có khoảng 700 trang trại, 16.000 gia trại nằm phân tán tại các vùng nông thôn nên rất khó quản lý và kiểm soát nguồn thải Theo niên giám thống kê huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định năm 2016, có tổng số 47.677 đầu lợn, trong đó gồm 8.554 con lợn nái và 39.058 con lợn thịt; 10.005 tấn thịt lợn hơi xuất chuồng Khí thải, mùi hôi từ hoạt động này gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới các khu vực dân cư lân cận

Trang 23

Chất thải từ hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tại một số trang trại chăn nuôi nhỏ không được xử lý đúng kỹ thuật là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước Ngoài ra, mùi cũng là vấn đề nổi cộm do ảnh hưởng

từ các chất thải chăn nuôi chưa được xử lý tốt

Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của người dân, làm xáo trộn đời sống thường ngày, gia tăng gánh nặng chi phí Ô nhiễm không khí tác động trực tiếp đến sinh hoạt thường ngày của người dân Tại không ít vùng nông thôn, mùi hôi thối phát sinh do nước thải, chất thải từ các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm len lỏi khắp các đường làng, ngõ xóm khiến cuộc sống sinh hoạt của người dân bị đảo lộn Nguồn nước bị nhiễm ký sinh trùng do việc quản lý không tốt các loại chất thải, phân gia súc, gia cầm đều là những tác nhân làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh ngoài da, bệnh phụ khoa

Tại Thanh Hóa, tỷ lệ các trang trại, gia trại áp dụng công nghệ hầm biogas

xử lý chất thải chăn nuôi chiếm 34,4% Tuy nhiên, số lượng hầm đạt yêu cầu chỉ chiếm gần 50% Thêm vào đó là tác động từ các trang trại, gia trại chưa được đầu

tư hệ thống xử lý chất thải làm cho môi trường khu vực tiếp tục suy giảm, không khí xung quanh khu vực sản xuất bị ô nhiễm các khí NH3 và H2S (Tổng cục môi trường, 2014)

Kết quả phân tích mẫu nước suối Bến Cao và suối Ngòi Mà cho thấy các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ, vi sinh sau khi tiếp nhận cao hơn điểm trước khi tiếp nhận nguồn thải từ 2,6 đến 72,9 lần, trong đó chỉ tiêu Amoni vượt 29 lần so với QCVN 08:2008/BTN-MT cột B1 Nguyên nhân là do các suối này là nơi tiếp nhận nhiều nguồn thải, đặc biệt là nước thải từ các trại chăn nuôi lợn tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên (Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, 2014)

2.2.3 Các giải pháp chung nhằm quản lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi lợn

Đối với chất thải từ chăn nuôi, việc xử lý và quản lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn Ba biện pháp chủ yếu được người nông dân nông thôn áp dụng

đó là xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas); ủ làm phân bón cây trồng; thải trực tiếp ra kênh, mương, ao, hồ

Ngoài ra còn một số phương pháp khác cũng đang bước đầu được áp dụng như dùng đệm lót sinh học, xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (lục bình, cây muỗi nước )

Trang 24

Bảng 2.3 Thực trạng một số biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi quy mô

trang trại (TT) và hộ gia đình tại 54 tỉnh thành trên cả nước

Chưa áp dụng

TDMNPB 46,2 2,38 45,34 2,62 11,26 10,52 82,22 7,09 8,31 1,47 0,78 29,29 Bắc

Nguồn: Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2013)

Việc xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ biogas là hình thức phổ biến nhất hiện nay với tổng số cơ sở chăn nuôi áp dụng biện pháp này chiếm tỷ lệ 31,79% trên toàn quốc Hiện toàn quốc đã có 235.000 công trình được ứng dụng thành công, góp phần giảm đáng kể ô nhiễm do chất thải từ chăn nuôi Tuy nhiên, so với hơn 4 triệu hộ chăn nuôi lợn trên cả nước thì tỷ lệ các công trình xử

lý vẫn còn rất thấp Việc xả thẳng chất thải ra môi trường xung quanh mà không qua xử lý tồn tại chủ yếu tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Đây là tồn tại lớn, gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ môi trường nói chung và môi trường chăn nuôi nói riêng

Đối với chăn nuôi quy mô hộ gia đình, có 61.429 hộ trên tổng số 5.671.287 hộ chăn nuôi được điều tra áp dụng đệm lót sinh học, chiếm tỷ lệ 1,08% Đối với quy mô trang trại tỷ lệ này là 6,37%

Trang 25

Bảng 2.4 Thực trạng sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi

Đệm lót sinh học Trang

Tổng diện tích

Nguồn: Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2013)

Đây là phương pháp mới, có tác dụng giảm dịch bệnh trên đàn vật nuôi, xử lý chất thải và không khí môi trường chuồng nuôi Việc triển khai giải pháp này đang được thí điểm nhiều ở các tỉnh TDMNPB (tổng số 46,20% trang trại và 2,38% hộ gia đình) và bắt đầu thí điểm ở khu vực ĐBSH và ĐBSCL Tại một số địa phương, công nghệ này đã cho kết quả tích cực như tại Hà Nam, Bắc Giang và một số tỉnh ĐBSCL Phát triển đệm lót sinh học, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để xử lý môi trường chăn nuôi lợn với chi phí thấp là phương pháp mới đối với người chăn nuôi được Nhà nước và các địa phương định hướng phát triển

2.3 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN CHẤT THẢI

2.3.1 Giới thiệu chung về kiểm toán chất thải

Nội dung của kiểm toán môi trường tập trung vào kiểm tra các vấn đề môi trường như xem xét các hoạt động có liên quan đến vấn đề môi trường hay sự tuân thủ của các cơ sở công nghiệp đối với hệ thống quản lý môi trường, phần lớn dựa trên việc thu thập thông tin từ thực tế sản xuất

Năm 1998, Viện thương mại Quốc tế ICC đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lý bao gồm ghi chép một cách khách quan công khai công tác tổ chức môi trường, sự vận hành của các thiết bị, cơ sở vật chất với mục đích quản lý môi trường bằng cách trợ giúp quản lý, kiểm soát các

Trang 26

hoạt động và đánh giá sự tuân thủ các chính sách của công ty, bao gồm sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn môi trường”

Tổ chức ISO đưa ra định nghĩa về kiểm toán môi trường (trong tiêu chuẩn ISO 14010 năm 1996) như sau: “Kiểm toán môi trường là quá trình kiểm tra có

hệ thống và được ghi thành văn bản; Tiến hành một cách khách quan; Thu thập

và đánh giá các bằng chứng kiểm toán; Xác định vấn đề xem xét có phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán hay không; Thông tin các kết quả của quá trình này cho khách hàng”

Theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BCT ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc ban hành quy chế tạm thời về bảo vệ môi trường ngành Công thương, trong đó có nêu khái niệm kiểm toán chất thải: “Kiểm toán chất thải: Là một công cụ hữu ích được sản xuất để xác định loại và khối lượng chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, giúp doanh nghiệp đưa ra giải pháp giảm lượng thải hoặc tái sinh, tái chế, tái sử dụng chất thải nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và cải thiện, nâng cao hiệu quả sản xuất, ngăn ngừa, giảm ô nhiễm và bảo vệ môi trường”

Như vậy, kiểm toán môi trường là tổng hợp các hoạt động điều tra, theo dõi có hệ thống theo chu kỳ và đánh giá một cách khách quan đối với công tác tổ chức quản lý môi trường, quá trình vận hành công nghệ sản xuất, hiện trạng vận hành của trang thiết bị với mục đích kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ của các đơn vị, các nguồn tạo ra chất thải đối với những chính sách Nhà nước về môi trường

Cùng với sản xuất sạch hơn, kiểm toán chất thải là công cụ quản lý môi trường nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm ngay từ quá trình sản xuất tại cơ

sở công nghiệp Kiểm toán chất thải bao gồm việc rà soát, kiểm tra các quá trình sản xuất, xác định nguồn thải và khối lượng chất thải, tính toán cân bằng vật chất, xác định các vấn đề trong vận hành sản xuất Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải ra môi trường

Phạm vi thực hiện kiểm toán môi trường: Phụ thuộc vào các mục tiêu đề

ra Mục đích chung của kiểm toán môi trường nhằm giảm thiểu những rủi ro, tai biến về môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh tế cho các cơ sở sản xuất

Mục đích của kiểm toán chất thải: Nhằm cung cấp thông tin về công nghệ sản xuất, nguyên liệu sử dụng và các dạng chất thải; xác định nguồn thải,

Trang 27

loại chất thải phát sinh; xác định bộ phận kém hiệu quả như quản lý kém, hiệu suất sử dụng nguyên liệu, năng lượng thấp, thất thoát vật chất, thải nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường thông qua tính toán cân bằng vật chất để từ đó đề ra chiến lược quản lý và giải pháp giảm thiểu chất thải

Lợi ích của kiểm toán môi trường: Giúp đảm bảo sự tuân thủ các điều luật về môi trường; nâng cao trình độ quản lý và nhận thức của công nhân về vấn

đề môi trường, nâng cao ý thức về môi trường cũng như trách nhiệm của công nhân trong lĩnh vực này; có được thông tin đầy đủ về hiện trạng môi trường của nhà máy; tạo điều kiện cho một cuộc thẩm tra độc lập xem các hoạt động kinh tế hay các chính sách hiện tại có tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường và những chính sách, quy định có khả năng tuân thủ trong tương lai hay không?; chỉ ra các thiếu sót, bộ phận quản lý yếu kém,từ đó đề ra các biện pháp chấn chỉnh có hiệu quả để đảm bảo hiệu suất công nghệ và giảm thiểu chất thải đồng thời ngăn ngừa và tránh các nguy cơ sự cố về môi trường ngắn hạn cũng như dài hạn

Một số yếu tố chính để xác định hiệu quả của kiểm toán chất thải:

- Xác định các nguồn, số liệu và loại chất phát sinh

- Thu thập thông tin về các quá trình cơ bản, các nguyên liệu thô, các sản phẩm, việc sử dụng điện nước và các nhiên liệu, các thông tin về chất thải

- Nễu rõ tính kém hiệu quả của quá trình công nghệ sản xuất và các lĩnh vực quản lý yếu kém gây thất thoát vật chất

- Giúp xây dựng các mục tiêu giảm thiểu lượng chất thải

- Cho phép xây dựng chiến lược quản lý chất thải có hiệu quả về kinh tế

- Nâng cao nhận thức cho lực lượng lao động về lợi ích của việc giảm lượng chất thải

- Tăng cường kiến thức về quá trình công nghệ sản xuất

- Góp phần làm tăng hiệu suất của quá trình công nghệ sản xuất

2.3.2 Quy trình thực hiện kiểm toán chất thải

Nội dung kiểm toán chất thải:

- Tính toán đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất

- Xác định các đặc tính cơ bản của chất thải (nguồn, loại, lượng, tính chất của chất thải)

Trang 28

- Đánh giá mức độ ô nhiễm của các loại chất thải, nguồn thải

- Đánh giá hiện trạng giảm thiểu ô nhiễm chất thải và lựa chọn các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm bổ sung mang tính khả thi

Quy trình thực hiện kiểm toán chất thải:

- Khảo sát quá trình, thu thập số liệu về đầu vào, đầu ra của các công đoạn sản xuất (nguyên liệu, năng lượng, nước, sản phẩm)

- Xác định các nguyên nhân gia tăng chất thải

- Nghiên cứu, đề xuất và xác định hiệu quả kinh tế của các giải pháp giảm thiểu chất thải

- Thực hiện các giải pháp giảm thiểu phát sinh chất thải

Kiểm toán chất thải có thể do một nhóm độc lập, hoặc cũng có thể do chính bản thân doanh nghiệp thực hiện, với sự tham gia của một đơn vị quan trắc, phân tích môi trường

Các yếu tố cần thiết cho việc thực hiện thành công kiểm toán chất thải tại cơ sở công nghiệp bao gồm:

- Sự cam kết hợp tác, quyết tâm cải thiện ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp

- Xác định quy mô, trọng tâm của kiểm toán

- Đề xuất các giải pháp khả thi, đảm bảo tính kinh tế khi thực hiện

Nếu thực hiện kiểm toán chất thải thì không chỉ giảm thiểu việc phát sinh chất thải ra môi trường, giảm thiểu ô nhiễm mà còn tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, nước, giảm sự lãng phí tài nguyên, đem lại giá trị kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Đặc biệt, thực hiện kiểm toán chất thải còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế biến đổi khí hậu hiện đang là vấn đề nóng trên thế giới

2.3.3 Tình hình Kiểm toán chất thải trên thế giới và ở Việt Nam

Tình hình kiểm toán chất thải trên thế giới:

Từ năm 1980, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về kiểm toán chất thải Quy trình kiểm toán chất thải đối với từng ngành đã được lập, nhiều tài liệu, sách về kiểm toán chất thải đã được xuất bản

Tại các nước phát triển như Anh, Bỉ, Canada, Đức, New Zealand, đã và đang áp dụng KTCT là công cụ chính để kiểm tra các quá trình sản xuất, xác định

Trang 29

nguồn thải, tính toán cân bằng vật chất, các vấn đề vận hành sản xuất có thể được cải thiện từ đó xác định các giải pháp để giảm thiểu chất thải

Vương quốc Anh, Chính phủ Anh đã ban hành các văn bản luật, quy định quốc gia liên quan tới quản lý chất thải, trong đó có các quy định về KTCT Ngoài ra, là nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU), Anh cũng phải tuân thủ các quy định về quản lý chất thải của Ủy ban Châu Âu, trong đó văn bản khung về quản lý chất thải là Chỉ thị khung của EU về chất thải 2008/98/EC (The EU Waste Framework Directive) Ở hạt South Gloucestershire, ở tây nam nước Anh, chính quyền đã yêu cầu và hướng dẫn thực hiện kiểm tra thông tin KTCT đối với hoạt động xây dựng (South Gloucestershire Council, July, 2002) Hướng dẫn này, cần phải xem xét kỹ càng và hiểu đầy đủ về hiện trạng chất thải của hoạt động xây dựng một cách chi tiết: Có bao nhiêu chất thải đc tạo ra, loại chất thải loại ra là gì, chi phí xử lý như thế nào, vật liệu nào có thể tái chế,… Theo nghiên cứu của R Hillary năm 1999, ở nước Anh có khoảng 17% doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thực hiện áp dụng hệ thống quản lý môi trường (EMS) và khoảng 25-56% áp dụng ISO 14001 và số lượng này ngày càng tăng lên

Bỉ là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (EU) nên phải tuân theo những quy định về môi trường do EU ban hành, trong đó có Quy trình kiểm toán quản

lý sinh thải (EMAS) được ban hành năm 1993 (European Commission, LIFE III programme, 2000-2004) Đến năm 2004, đã có 150 doanh nghiệp ở các tỉnh thuộc vùng Flanders của Bỉ tham gia thực hiện EMAS và sau đó là 22 doanh nghiệp khác Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp tự nguyện áp dụng các quy trình này không chỉ với mục đích nhằm đạt được các chứng chỉ môi trường Một trong những công ty đầu tiên thực hiện kiểm toán chất thải là Công ty Shred it Belgium Năm 2007, Công ty này đã tái chế 1.650 tấn chất thải và thực hiện tính toán “Dấu chân cacbon”, làm giảm lượng cacbon từ hoạt động vận tải, trở thành công ty đầu tiên của Bỉ đạt CO2 trung tính

Ở Ấn Độ, khái niệm kiểm toán môi trường trong ngành công nghiệp chính thức được giới thiệu từ tháng 3/1992 với mục đích chung là giảm sự lãng phí tài nguyên và thúc đẩy sử dụng công nghệ sạch nhằm giảm thiểu phát thải Bộ Môi trường và Rừng đã ban hành Thông tư số GSR 329(E) vào tháng 3/1992, đưa ra yêu cầu bắt buộc nộp báo cáo kiểm toán môi trường hàng năm đối với các cơ sở công nghiệp, trong đó phải thể hiện các thông tin về quản lý từng nguồn thải Để thúc đẩy hoạt động kiểm toán môi trường, Ban Kiểm soát ô nhiễm Quốc gia

Trang 30

(CPCB) đã tổ chức tập huấn, đào tạo, thực hiện các mô hình trình diễn và xây dựng hướng dẫn kiểm toán môi trường cho các ngành công nghiệp ô nhiễm cao như thuốc bảo vệ thực vật, giấy và bột giấy, đồ uống, dệt nhuộm (Mahwar, 1997)

Tại Singapo, kiểm toán chất thải được cụ thể hóa như là một chiến lược tối thiểu hóa phát sinh chất thải, bao gồm 8 bước: Cam kết của lãnh đạo; Lựa chọn nhóm/bộ phận làm việc về tối thiểu hóa phát sinh chất thải; Thực hiện kiểm toán chất thải; Xác định chi phí của việc giảm phát sinh chất thải; Phát triển, xây dựng các phương án giảm thiểu chất thải; Đánh giá khả năng tiết kiệm và sắp xếp ưu tiên các lựa chọn/giải pháp; Xây dựng kế hoạch giảm thiểu chất thải; Thực thi và cải tiến kế hoạch Singapore, năm 1992, Bộ Môi trường đã đưa ra Chương trình KTCT để giúp các công ty xác định những cơ hội giảm thiểu và tái chế chất thải Tới nay Bộ Môi trường đã thực hiện kiểm toán chất thải ở 75 khu liên hợp các cửa hàng, 33 xưởng đóng tàu, 117 nhà máy trong khu công nghiệp và khoảng 95 văn phòng thương mại Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện chiến lược tối thiểu hóa chất thải, trong đó có KTCT, ví dụ như Baxter Healthcare Pte Ltd, Chevron Oronite Pte Ltd, IMM Singapore Pte Ltd, Kyoei Engineering Singapore Pte Ltd, Sony Display Device (Singapore) Pte Ltd, Tetra Pak Jurong, Pte Ltd,…

Ở Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác, các hoạt động kiểm toán chất thải được lồng ghép trong các công cụ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm như sản xuất sạch hơn, kiểm toán môi trường, đánh giá vòng đời sản phẩm Mục tiêu chính của các công cụ này là nhằm hướng đến việc giảm thiểu phát sinh, kiểm soát ô nhiễm do chất thải gây ra

Tình hình nghiên cứu và áp dụng kiểm toán chất thải tại Việt Nam:

Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán môi trường vẫn còn là một khái niệm mới, các nội dung kiểm toán môi trường được thực hiện chưa nhiều

Trong những năm gần đây, kiểm toán môi trường được thực hiện dưới hình thức đánh giá tác động môi trường đã tiến hành ở một số nhà máy, cơ sở sản xuất hoạt động Các báo cáo đánh giá tác động môi trường của một số cơ sở công nghiệp có quy mô phải kể đến như: Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà máy Nhiệt điện Phả Lại Các báo cáo đã cho thấy bức tranh tổng quát về hiện trạng môi trường của nhà máy, các tác động tích cực cũng như tiêu cực đến nhà máy hiện tại, dự báo trong tương lai và kiến nghị một

số biện pháp nhằm cải thiện môi trường (Mahwar, 1997)

Trang 31

Kiểm toán chất thải mới chỉ dừng lại ở một số đề tài, dự án thí điểm cho một số ngành công nghiệp Cụ thể:

- Đề tài: “Điều tra, đánh giá việc kiểm toán chất thải công nghiệp tại 05 khu công nghiệp, khu chế xuất của Cục Bảo vệ Môi trường năm 2005;

- Đề tài “Nghiên cứu và áp dụng thí điểm về kiểm toán chất thải cho nhà máy giầy Thượng Đình, Hà Nội và Công ty TNHH thuộc da Đông Hải” do Tổng cục Môi trường thực hiện năm 2008

- Đề tài “Kiểm toán chất thải tại các làng nghề tái chế kim loại và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm” của Viện Khoa học Công nghệ Môi trường – Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2005

Do vậy, có thể thấy việc phát triển và ứng dụng kiểm toán chất thải hiện nay thông thường được xây dựng để áp dụng cho các quy trình sản xuất công nghiệp Nhờ những hiệu quả thiết thực của các dự án nghiên cứu về áp dụng kiểm toán chất thải nói trên mà kiểm toán chất thải hiện được các cơ quan quản

lý Nhà nước về môi trường đặc biệt quan tâm và khuyến khích thực hiện Điều

đó được quy định tại Khoản 7, Điều 6 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp áp dụng kiểm toán chất thải còn chưa sâu rộng là

do Nhà nước chưa có những chính sách cụ thể để trực tiếp hoặc gián tiếp các Doanh nghiệp phải thực hiện Ngoài ra, nhận thức và hiểu biết về kiểm toán chất thải cũng như những lợi ích mà nó đem lại cũng chưa cao

Đối với loại hình sản xuất nông nghiệp đặc biệt là hoạt động chăn nuôi mang tính đặc thù riêng nên để áp dụng kiểm toán chất thải trong sản xuất, chăn nuôi nông nghiệp một cách hiệu quả cần có các đề tài, dự án nghiên cứu nhằm đưa ra một quy trình phù hợp Một số đề tài có tính định hướng về kiểm toán chất thải chăn nuôi:

Đề tài: “Đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các hệ thống trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Cao Trường Sơn, Nguyễn Thị Hương Giang, Hồ Thị Lam Trà năm 2014

Đề tài: “Kiểm toán chất thải chăn nuôi bò thịt tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Mỵ năm 2017

Trang 32

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Dòng vật chất trong quy trình chăn nuôi và các biện pháp quản lý môi trường 3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi không gian: Trang trại lợn Hồng Thái, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

- Phạm vi thời gian: 12 tháng (từ tháng 4/2017 – 4/2018)

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Hiện trạng quy trình chăn nuôi, dòng vật chất đầu vào và đầu ra của quy trình chăn nuôi

- Hiện trạng môi trường tại trang trại, xác định nguồn thải, loại chất thải phát sinh

- Đánh giá công tác quản lý môi trường và mức độ tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường

- Đề xuất giải pháp quản lý chất thải hướng tới chăn nuôi lợn bền vững 3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Các số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ các tài liệu như Báo cáo hiện trạng môi trường của trang trại, phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định về:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

- Quá trình hình thành phát triển và quy trình sản xuất của trang trại

- Báo cáo đánh giá tác động môi trường của trang trại

3.4.2 Phương pháp điều tra cán bộ chủ chốt

Phương pháp này nhằm điều tra, khảo sát khu vực đang nghiên cứu và thu thấp các số liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu

Sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi và tiến hành phỏng vấn cán bộ tại trang trại nhằm thu thập thông tin liên quan đến tình hình sản xuất, đặc điểm sản xuất, các dạng vật chất và năng lượng sử dụng cho từng công đoạn đầu vào và

Trang 33

đầu ra của quy trình, nguồn phát sinh chất thải và các hình thức xử lý chất thải tại trang trại Số lượng phiếu điều tra: 1 phiếu

3.4.3 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất

- Kiểm kê các dòng nguyên liệu đầu vào, đầu ra cho từng công đoạn của quy trình chăn nuôi nhằm xác định các thành phần, tính chất của các chất ô nhiễm đầu ra được thực hiện ghi chép tại trang trại trong thời gian từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2018 Dòng nguyên liệu được thu thập bằng phương pháp ghi sổ, cân đo dòng vật chất đại diện cho từng giai đoạn sinh trưởng của lợn trong vòng khoảng 4

- 5 tháng, từ khi con giống được nhập về trang trại cho đến khi xuất bán

- Dựa vào các yếu tố đầu vào, đầu ra để tính toán cân bằng vật chất và sơ

đồ dòng cho từng công đoạn và cho cả quy trình sản xuất để xác định các khâu lãng phí và kém hiệu quả trong quy trình chăn nuôi

- Nguyên tắc tính toán cân bằng vật chất: Tổng vật chất đầu vào = Tổng lượng sản phẩm + tổng vật chất thất thoát

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu nước

Để xác định chất lượng nước thải đầu ra của trang trại, tiến hành thu thập thông tin, số liệu liên quan đến các thông số của mẫu nước thải dựa trên các kết quả quan trắc, giám sát đối với nước thải theo định kỳ của trang trại Theo đó, các thông số cần thu thập được là: pH, Tổng chất rắn lơ lửng, COD, BOD5, Tổng

P, Amoni (theo N), Sunfua, Tổng N, Coliform

Số liệu thu được sẽ được so sánh với QCVN 62:2016/BTNMT (cột B) – quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải chăn nuôi

Căn cứ các đặc tính đầu vào, đầu ra, vật chất thất thoát làm cơ sở cho việc

đề xuất các biện pháp giảm thiểu khối lượng cũng như mức độ nguy hại cho từng dòng thải

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu điều tra, thu thập từ quy trình chăn nuôi lợn được tính toán dựa vào cân bằng vật chất, các thông số môi trường được so sánh với QCVN 62:2016/BTNMT (cột B) – quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chăn nuôi và các biện pháp quản lý môi trường được so sánh với các quy định trong báo cáo ĐTM

Trang 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 GIỚI THIỆU VỀ TRANG TRẠI LỢN HỒNG THÁI

4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trang trại

Để đáp ứng nhu cầu cung cấp lợn thịt siêu nạc ra thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài, Công ty TNHH thủy sản Ngũ Hải được UBND tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận đầu tư số 73/GCN-UBND ngày 29/01/2013,

mã số 07121000127 để đầu tư xây dựng “Trại lợn Hồng Thái – Nam Định”

Trang trại chăn nuôi gia công lợn hậu bị với quy mô 6.000 con/lứa nuôi (1 năm xuất 2 lứa) đảm bảo cung cấp cho thị trường 12.000 con lợn thịt thương phẩm/năm Dự án đầu tư trang trại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất của xã Liên Bảo và của huyện Vụ Bản

4.1.2 Tình hình hoạt động và các hạng mục công trình được đầu tư tại trang trại

Trang trại lợn Hồng Thái được UBND tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 910557 năm 2010 tại thửa đất số 99, tờ bản đồ số

26 thuộc xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tổng diện tích là 23.899

m2 với mục đích sử dụng đất là đất cơ sở sản xuất kinh doanh và đất nông nghiệp Với mục tiêu phát triển vùng chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, tạo ra sản phẩm hàng hóa chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội và tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, trang trại đã xây dựng một số hạng mục công trình như nhà điều hành, chuồng nuôi, nhà kho để phục vụ cho hoạt động chăn nuôi

Chuồng trại chăn nuôi đảm bảo ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa

hè, có hệ thống thoát nước tạo điều kiện tốt về khí hậu chuồng nuôi Trang trại thiết kế 05 chuồng nuôi với diện tích 1.400 m2/chuồng, mỗi chuồng ngăn thành 28 ô nuôi trong đó có 24 ô nuôi lợn và 04 ô nuôi lợn cách ly để theo dõi phát triển chậm lớn hoặc bị ốm Trong chuồng nuôi có hệ thống thông gió cưỡng bức bằng quạt tại đầu và cuối các chuồng nuôi, cửa gỗ pano có hệ thống nốc gió, bố trí hệ thống chiếu sáng bằng ánh sáng tự nhiên và bằng bóng đèn vào mùa đông, nối đường ống cấp nước xuống các vòi chuyên dùng

Trang 35

xây dựng nhà sát trùng, thiết kế gồm 1 phòng khử trùng và 1 phòng thay trang phục Khi công nhân viên mở cửa phòng khử trùng, nước khử trùng tự động

xả cho đến khi công nhân đi qua theo hành lang để sang phòng thay trang phục bảo hộ trước khi vào chuồng nuôi Để bảo quản tốt nguồn thức ăn và thuốc, vacxin cho lợn, thiết kế kho chứa thức ăn có diện tích khoảng 100 m2, thiết kế mái lợp tôn lạnh bảo đảm độ thông thoáng Hệ thống cung cấp điện được lấy từ nguồn điện lưới của địa phương, sau đó cấp cho các khu vực có nhu cầu sử dụng của trang trại Hệ thống cấp nước phục vụ cho chăn nuôi bao gồm nước sạch từ nhà máy nước xã Liên Bảo và nước ngầm Nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt của công nhân viên được sử dụng nước sạch từ nhà máy nước xã Liên Bảo Nguồn nước sử dụng cho gia súc uống, tắm rửa, vệ sinh chuồng trại là nước ngầm, được lấy từ giếng khoan đã qua xử lý bằng bể lắng, lọc cát và châm chlorin

4.2 QUÁ TRÌNH CHĂN NUÔI CỦA TRANG TRẠI

4.2.1 Quy trình chăn nuôi tại trang trại lợn Hồng Thái

Hình 4.1 Quy trình chăn nuôi lợn tại trang trại lợn Hồng Thái

Trước khi nhập con giống về, trang trại thực hiện sát trùng chuồng trại, các dụng cụ và thiết bị chăn nuôi lợn trước khi nhập nuôi Thời gian để trống chuồng sau mỗi đợt nuôi ít nhất là 7 ngày Con giống được nhập từ Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam, chi nhánh Hải Dương II sau khi đã được chứng nhận kiểm dịch động vật, tiêm phòng các loại vacxin theo yêu cầu của ngành thú y Khi lợn vận chuyển về cơ sở sẽ được chuyển xuống chuồng cách ly nuôi thích nghi ít nhất 2 tuần và theo dõi Công nhân sẽ theo dõi sức khỏe cũng như biểu hiện bệnh của lợn Lợn nhập về phải được lên kế hoạch tiêm phòng, quan tâm đến một số bệnh như lở mồm, long móng, dịch tả, hội chứng rối loạn hô hấp Cử người

Đường dòng thải

Trang 36

thường trực để kịp thời cách ly lợn bị bệnh hoặc khi nghi có bệnh Thức ăn của lợn đã được trộn sẵn và được cung cấp bởi Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam chi nhánh Hải Dương II cung cấp Thức ăn cho lợn đảm bảo đúng theo quy chuẩn QCVN 01-12:2009/BNN&PTNT do Cục chăn nuôi biên soạn; thức ăn cho lợn đảm bảo đủ hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép Ngoài ra, thức ăn cho lợn phải đảm bảo kỹ thuật, không được ôi thiu,

ẩm mốc, mối mọt Thức ăn đầy đủ dinh dưỡng cho từng loại lợn theo tiêu chuẩn quy định Đối với lợn có trọng lượng dưới 30 kg thì cho ăn 3 bữa/ngày, lợn lớn hơn

30 kg thì cho ăn 2 bữa/ngày Cung cấp đầy đủ nước sạch cho lợn bằng vòi uống tự động Thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp nước gồm bồn chứa, ống dẫn, máng uống, núm uống đảm bảo không bị rò rỉ, không hở, đảm bảo không bị ô nhiễm bởi bụi, chất bẩn Khi lợn đạt trọng lượng từ 90 – 120 kg sẽ được Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam chi nhánh Hải Dương II về thu mua và tiêu thụ

4.2.2 Nguyên – nhiên liệu sử dụng trong chăn nuôi

Trang trại ký hợp đồng hợp tác chăn nuôi với Công ty chăn nuôi C.P Việt Nam chi nhánh Hải Dương II nên toàn bộ thuốc thú y, thức ăn đều do Công ty cung cấp Số lượng, chủng loại phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển, tình hình bệnh của lợn, thực tế sử dụng như sau:

- Thức ăn: Các loại thức ăn sử dụng cho lợn gồm nhiều loại khác nhau như nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm thức ăn giàu đạm, nhóm thức ăn giàu khoáng chất, nhóm thức ăn giàu vitamin Để sử dụng tổng hợp các nhóm thức ăn cho từng giai đoạn phát triển khác nhau của lợn, trang trại chủ yếu dùng loại sau:

+ Cám con cò C14 dùng cho lợn mới tập ăn

+ Cám con cò C15 dùng cho lợn con có trọng lượng từ 15 đến 40 kg + Cám con cò C16 dùng cho lợn có trọng lượng từ 41 kg trở lên

Theo định mức thức ăn của Công ty, lợn mới tập ăn sử dụng định mức lượng thức ăn khoảng 0,8 kg/con/ngày; lợn có trọng lượng từ 15 đến 40 kg sẽ sử dụng lượng thức ăn ước tính là 1 kg/con/ngày; lợn có trọng lượng từ 41 đến 120

kg sẽ sử dụng lượng thức ăn là 1,83 kg/con/ngày Trong đó, tỷ lệ lợn nuôi dự kiến là: Lợn mới tập ăn chiếm 8%, lợn từ 15 – 40 kg chiếm 32% và lợn từ 41 -

120 kg chiếm khoảng 60% tổng số đàn

Khối lượng thức ăn được định mức như sau:

Trang 37

Bảng 4.1 Khối lượng thức ăn cung cấp cho lợn

động

Quy mô (con)

Định mức sử dụng (kg/con/ngày)

Lượng sử dụng (kg/ngày)

+ Thuốc kháng sinh: Penicilin, Streptomycine, Colistin

+ Vacxin: Mycoplasma, BPM, vacxin dịch tả, vacxin lở mồm long móng, Ecoli, FMM, Farowsure

Bảng 4.2 Nhu cầu định mức vacxin sử dụng

Bảng 4.3 Nhu cầu hóa chất sử dụng trong năm

- Nhu cầu sử dụng điện:

Trang 38

Tổng lượng điện tiêu thụ trong quá trình hoạt động của trang trại ước tính khoảng 7.000 Kw/tháng Trong đó:

Tổng điện phục vụ cho chăn nuôi gia súc: 6.000 Kw/tháng

Điện phục vụ cho hoạt động khác: 1.000 Kw/tháng

- Nhu cầu sử dụng nước: Lượng nước cấp cho hoạt động của trang trại được tính như sau:

Tổng lượng nước sử dụng trong hoạt động vệ sinh chuồng trại ước tính khoảng 100 m3/ng.đêm

Tổng lượng nước cấp cho lợn uống, ước tính khoảng 30 m3/ng.đêm

Lượng nước sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của cán bộ công nhân viên ước tính khoảng 2 m3/ng.đêm

Do đó, tổng khối lượng nước sử dụng của trang trại là 132 m3/ng/đêm 4.2.3 Trang thiết bị sử dụng trong chăn nuôi

Chủ trang trại đầu tư mua mới toàn bộ trang thiết bị, máy móc phục vụ cho quá trình chăn nuôi, cụ thể như sau:

Bảng 4.4 Danh mục thiết bị, máy móc cho chăn nuôi

bằng tay

12 Thiết bị văn phòng

Trang 39

4.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA TRANG TRẠI

Để phục vụ cho quá trình vệ sinh môi trường quanh khu vực trang trại, chủ trang trại đầu tư sử dụng hệ thống máy móc, thiết bị xử lý môi trường sau:

Bảng 4.5 Danh mục máy móc, thiết bị xử lý môi trường

4.3.1 Chất lượng nước thải

Theo kết quả phỏng vấn thực tế cho thấy trang trại không phân tách phân

và nước thải trong công đoạn dọn vệ sinh trước khi xả vào hệ thống thu gom nước thải đến hầm biogas Việc phân tách phân và nước tiểu trước xử lý biogas

có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn hình thức xử lý cũng như hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải của trang trại Tại trang trại chỉ sử dụng một hình thức xử lý duy nhất đó là sử dụng hệ thống biogas

Bảng 4.6 Các hạng mục công trình xử lý nước thải của trang trại

Ngày đăng: 23/03/2021, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w