LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du và chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thanh Tùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện nông nghiệp Việt Nam; Ban Giám đốc, cán bộ cơ quan BHXH huyện Tiên Du, các doanh nghiệp, người lao động Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn; sự ủng hộ, động viên của gia đình và bè bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã giúp tôi nhận thức, làm sáng
tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thanh Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục…… iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội 5
2.1 Cơ sở lý luận về giải pháp chống thất thu bhxh 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Nội dung nghiên cứu giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội 14
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện các giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Kinh nghiệm chống thất thu bhxh ở một số địa phương trong nước 19
2.2.2 Bài học rút ra cho bhxh huyện tiên du 24
2.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 25
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 27
Trang 53.1.1 Đặc điểm chung của địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh 27
3.1.2 Hoạt động bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu 36
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 37
3.2.3 Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 37
Phần 4 Kết quả và thảo luận 39
4.1 Giải pháp chống thất thu bhxh trên địa bàn huyện tiên du thời gian qua 39
4.1.1 Các giải pháp chống thất thu đã thực hiện trên địa bàn huyện tiên du 39
4.1.2 Kết quả thực hiện các giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội 47
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chống thất thu bhxh trên địa bàn huyện tiên du thời gian qua 69
4.2.1 Các yếu tố thuộc về chính sách của nhà nước 69
4.2.2 Các yếu tố thuộc về cơ quan bhxh 70
4.2.3 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp người sử dụng lao động 74
4.2.4 Các yếu tố thuộc về người lao động 76
4.3 Các giải pháp tăng cường chống thất thu bhxh tại địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh 79
4.3.1 Định hướng chống thất thu bhxh 79
4.3.2 Giải pháp tăng cường chống thất thu bhxh 80
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 90
5.2.1 Đối với nhà nước 90
5.2.2 Đối với bảo hiểm xã hội việt nam 90
5.2.3 Đối với bhxh tỉnh bắc ninh 91
Tài liệu tham khảo 92
Phụ lục 1 95
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình phối hợp giữa BHXH huyện Tiên Du với các cơ quan liên
quan năm 2016 47
Bảng 4.2 Mức độ tuyên truyền về BHXH tại các DN điều tra năm 2016 48
Bảng 4.3 Mức độ tiếp cận thông tin về BHXH của chủ doanh nghiệp tại các DN điều tra năm 2016 49
Bảng 4.4 Tình hình thực hiện trên kế hoạch số lượng đơn vị tham gia BHXH tại huyện Tiên Du (2014 - 2016) 50
Bảng 4.5 Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện năm 2016 51
Bảng 4.6 Tình hình thực hiện kế hoạch số lượng lao động tham gia BHXH BB tại huyện Tiên Du (2014 - 2016) 53
Bảng 4.7 Tỷ lệ lao động tham gia BHXH trên địa bàn huyện năm 2016 54
Bảng 4.8 Tình hình quỹ lương trích nộp BHXH (2014-2016) 57
Bảng 4.9 Tổng hợp mức lương thực tế và mức lương làm căn cứ đóng BHXH 58
Bảng 4.10 Số tiền BHXH thất thu BHXH tại BHXH Tiên Du năm 2014 60
Bảng 4.11 Số tiền thất thu BHXH tại BHXH Tiên Du năm 2015 61
Bảng 4.12 Số tiền thất thu BHXH tại BHXH Tiên Du năm 2016 61
Bảng 4.13 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ các cán bộ BHXH huyện Tiên Du 63
Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra của BHXH tại các đơn vị trên địa bàn huyện Tiên Du ( 2014-2016) 65
Bảng 4.15 Tình hình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật BHXH tại 100 DN điều tra năm 2016 72
Bảng 4.16 Sự hiểu biết của người lao động về BHXH điều tra năm 2016 78
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH huyện Tiên Du 31
Sơ đồ 4.1 Mô hình phối hợp quản lý chống thất thu BHXH tại huyện Tiên Du 40 Biểu đồ 4.1 Số tiền thất thu BHXH của 3 khối ĐV trong 3 năm 62
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Thanh Tùng
Tên đề tài: Giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10
Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về giải pháp chống thất thu BHXH;
2 Đánh giá các giải pháp chống thất thu BHXH và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện các giải pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn huyện Tiên Du thời gian qua;
3 Đề xuất giải pháp tăng cường chống thất thu BHXH tại huyện Tiên Du trong thời gian tới;
Kết quả nghiên cứu chính
BHXH ra đời và phát triển đã ngày càng khẳng định được vai trò của mình trên nhiều phương diện khác nhau trong thực tế cuộc sống, cũng như trong phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước BHXH là thành phần cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội, là cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội khác Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế cho nhân dân lao động, BHXH còn giúp cho người sử dụng lao động
ổn định nguồn chi, ổn định sản xuất kinh doanh Kể từ khi thành lập, BHXH huyện Tiên
Du đã không ngừng nỗ lực cố gắng thực hiện chính sách BHXH, đạt được những kết quả quan trọng như số đơn vị, số lao động tham gia BHXH, số thu BHXH bắt buộc hàng năm đều tăng, góp phần giúp Quỹ BHXH tăng trưởng bền vững, đảm bảo lợi ích của người lao động
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH trên địa bàn huyện đang có chiều hướng gia tăng, số DN ngoài quốc doanh tham gia BHXH cho người lao động vẫn còn thấp, chưa tương xứng so với số doanh nghiệp hiện
có trên địa bàn; tình trạng doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng BHXH ngày càng phổ biến, gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi người lao động, trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước Mặt khác hệ thống cơ sở pháp lý cho chính sách BHXH còn chưa đầy đủ và đồng bộ, các chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội còn chưa mạnh, việc thực thi pháp luật còn chưa nghiêm
Trang 10Luận văn “Giải pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh” đã nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp chống thất thu BHXH trong thời gian qua Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình chống thất thu BHXH; chỉ ra và phân tích những nguyên nhân thất thu BHXH Luận văn đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng thất thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh như: Tổ chức quản lý, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng với sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương, đặc biệt sự phối hợp giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động, Ban Quản lý các khu công nghiệp và ngành BHXH trong việc đôn đốc thu và thực hiện pháp luật về BHXH; phối hợp với cơ quan cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, cơ quan quản lý thuế, để chủ động nắm bắt thông tin về lao động, việc làm, tiền lương của doanh nghiệp, làm cơ sở để thực thi pháp luật về BHXH Tăng cường tuyên truyền để doanh nghiệp và người lao động hiểu và tuân thủ luật bảo hiểm xã hội Tăng cường quản lý đối tượng đóng bảo hiểm xã hội Tăng cường quản lý mức thu nhập đóng bảo hiểm Tăng cường năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ của các cán bộ cơ quan bảo hiểm Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khởi kiện ra toà đối với các đơn vị nợ tiền BHXH, đặc biệt là các DN cố tình vi phạm; ; giải quyết kịp thời chế độ, quyền lợi hợp pháp cho người lao động; Rà soát bổ sung các quy định chế tài xử lý vi phạm thu nộp bảo hiểm xã hội
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Le Thanh Tung
Thesis title: Solutions to prevent loss of social insurance in the area of Tien Du district, Bac Ninh province
Major: Economic Management Code: 60 34 04 10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objective:
1 Contribute to the systematization of theoretical and practical basis on solutions to prevent loss of social insurance
2 Assess to the solutions of the loss social insurance prevention and factors affecting the implementation of solutions to prevent loss of social insurance in the area of Tien Du district in the past
3 Propose solutions to strengthen the prevention of loss of social insurance in the coming time
Main findings and conclusions:
The establishment and development of social insurance has increasingly confirmed its role in various aspects of real life, as well as in the socio-economic development of the country Social insurance is the most fundamental and important component of the social security system, which is the basis for the development of other social security components In addition to ensuring the economic life of the labor force, social insurance also helps the employers to stabilize the source of expenditure, stabilize production and business Since its foundation, social insurance in Tien Du district has made continuous efforts to implement the social insurance policy, achieving important results such as the number of units, the number of employees participating in social insurance, the amount of compulsory social insurance every year have been also increased, which contribute to the social insurance fund sustainable growth, ensuring the interests of workers
However, in recent years, the violations of social insurance law in the district are tending to increase; the number of non-state enterprises participating in social insurance for workers is still low, not equal to with the number of existing businesses in the area The situation of enterprises in arrears, evasion of social insurance is increasingly popular, affecting the interests of workers, safety and order of society and affect the belief of the people in the policy of the Party and Government On the other hand, the
Trang 12legal basis for social insurance policy is not comprehensive and consistent, sanctions for violations in the field of social insurance is not strong, law enforcement is not serious
The thesis "Solutions to prevent loss of social insurance in the area of Tien Du district, Bac Ninh province" has studied and systematized the basic theoretical issues on solutions to prevent loss of social insurance in the past Analysis and assessment of the situation of loss prevention social insurance has identified and analyzed the causes of loss of social insurance The thesis has proposed solutions and recommendations to limit the loss of compulsory social insurance in the area of Tien Du district Bac Ninh province as: to organize the management, strengthen the coordination between relevant agencies, develop the coordination mechanism between the functional agencies with the close guidance of the local authorities, especially the coordination between the labor sector - Invalids and Social Affairs, the Labor Confederation, the Management Board of industrial zones and the social insurance sector in urging the collection and implementation of the law on social insurance; To coordinate with the agency granting the enterprise establishment permit, the tax administration agency, to take the initiative
in grasping information on labor, employment and wages of enterprises as the basis for the enforcement of social insurance law To strengthen propaganda for enterprises and workers to understand and comply with social insurance law, to strengthen the capacity and responsibility for public servants of insurance agencies, to strengthening the inspection, examination and lawsuit against the units owing social insurance, especially the companies deliberately violated; to promptly resolve the regimes and legitimate interests of the laborers; to review and implement regulations on sanctioning violations
of social insurance payment
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bảo hiểm xã hội là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác BHXH và xác định đây là một trong những chính sách xã hội
cơ bản nhất nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh
tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Bắc Ninh là một tỉnh đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh theo hướng công nghiệp Việc hình thành và mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đã và đang thu hút được số lượng lớn lao động, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn tỉnh và giải quyết các vẫn đề xã hội Trong những năm qua, chính sách BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: số đơn vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng, quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc được đảm bảo
Ở Bắc Ninh hiện nay còn rất nhiều người lao động làm việc nhưng lại không được tham gia BHXH Nhiều doanh nghiệp cố tình né tránh không tham gia BHXH cho người lao động của mình, dẫn đến thiệt thòi quyền lợi của người lao động, không an tâm làm việc và ổn định công tác Bên cạnh đó, tình trạng nợ, trốn, tránh nộp BHXH của các doanh nghiệp ngày một tinh vi là nguyên nhân chính dẫn đến thất thu BHXH, ẩn chứa một nguy cơ bất ổn xã hội trong tương lai khi lực lượng lao động sau này về già không có lương hưu Chống thất thu BHXH cũng chính là tăng số lượng doanh nghiệp tham gia BHXH, tăng số lao động tham gia BHXH để góp phần giúp ngày càng nhiều lao động được hưởng các chế độ BHXH, đảm bảo pháp luật về lao động được thực thi, giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong tương lai
Hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật trốn đóng, nợ đóng BHXH diễn ra
Trang 14khá phức tạp, có nhiều doanh nghiệp đã thành lập và mới thành lập, sử dụng lao động nhưng trốn đóng hoặc khi trích khoản đóng của người lao động lại kéo dài thời gian làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động
Theo số liệu mới nhất bà Nguyễn Thị Minh - Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác nhận, tính đến đầu tháng 3.2015, còn 260.602 đơn vị nợ đọng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) với khoảng 10 triệu lao động bị ảnh hưởng Tổng số nợ là 11.424 tỉ đồng Trong đó, nợ nhiều nhất là khối DN ngoài quốc doanh với số nợ hơn 6.253 tỉ đồng; tiếp đến là DN có vốn đầu tư nước ngoài
nợ 2.059 tỉ đồng và DN nhà nước nợ gần 1.500 tỉ đồng (BHXH, 2016)
Theo báo cáo quyết toán Q2/2016 tính đến hết tháng 6/2016, toàn huyện Tiên
Du có 456 đơn vị với gần 26.054 lao động tham gia BHXH còn nợ tiền BHXH với số tiền nợ là 41 tỷ đồng, bằng 9,76 % kế hoạch giao thu cả năm Đáng chú ý
là số đơn vị nợ BHXH lớn, chiếm tỷ lệ 6,42% trong tổng số đơn vị tham gia BHXH Trong đó, có 9 đơn vị không còn giao dịch với cơ quan BHXH với số nợ lên đến hơn 5 tỷ đồng, số lao động bị ảnh hưởng lên đến hơn 500 lao động (BHXH Tiên Du, 2016)
Qua thời gian công tác tại Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tiếp xúc với nhiều người lao động và chủ sử dụng lao động trên địa bàn huyện, qua những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, qua tìm hiểu điều tra một số doanh nghiệp trên địa bàn huyện, vấn đề thất thu BHXH hiện nay đang là vấn đề bức xúc lớn trong công tác BHXH Với mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và hợp lý là quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý và phát triển nguồn thu BHXH Nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thất thu BHXH, từ
đó đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chống thất thu BHXH nhằm hạn chế thất thu BHXH là việc cần thiết
Từ những vấn đề quan trọng, cấp bách cần giải quyết, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện các giải pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn huyện Tiên Du trong thời gian qua, đề xuất giải pháp tăng
Trang 15cường chống thất thu BHXH trên địa bàn huyện trong thời gian tới
3 Đề xuất giải pháp tăng cường chống thất thu BHXH tại huyện Tiên
Du trong thời gian tới;
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Bảo hiểm xã hội Bắc Ninh và BHXH huyện đã có những giải pháp gì
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về giải pháp chống thất thu BHXH
Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du, cán bộ cơ quan quản lý BHXH huyện Tiên Du
Các giải pháp chống thất thu BHXH tại huyện Tiên Du
Do điều kiện về thời gian và nguồn lực, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
Trang 16về chống thất thu BHXH; không nghiên cứu về BHYT, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp
Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi huyện Tiên
Du bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng số liệu, thông tin liên quan từ năm 2014 đến năm 2016, số liệu điều tra năm 2017 Đề xuất giải pháp chống thất thu BHXH đến năm 2020
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đã hệ thống được những lý luận cơ bản về Bảo hiểm xã hội, thất thu bảo hiểm xã hội, các giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội trên địa bản huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thông qua các khái niệm, vai trò, nguyên nhân, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng
Luận văn cũng đã tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn về các giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội ở một số địa phương trong nước như: TP Hồ Chí Minh,
TP Hải Phòng, Đồng Nai, Phú Thọ và rút ra bài học cho BHXH huyện Tiên Du Luận văn đã phân tích và đánh giá các giải pháp chống thất thu đã và đang thực hiện trên địa bàn huyện Tiên Du Những mặt được và chưa được của những giải pháp này
Luận văn dựa trên cơ sở pháp huy hơn nữa những mặt đạt được của các giải pháp đang được áp dụng
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP CHỐNG
THẤT THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHỐNG THẤT THU BHXH
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi Bảo hiểm xã hội (BHXH) là bộ phận chính cấu thành hệ thống an sinh xã hội (ASXH), là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia Tuy nhiên rất khó có một khái niệm chung về BHXH được các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của Nhà nước, của tập quán và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro…ở từng nước
Theo cách tiếp cận từ thu nhập thì BHXH là sự đảm bảo cho người lao động khi họ gặp khó khăn, bị giảm hoặc mất thu nhập, khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Trên phương diện quốc tế, khái niệm chung của ILO về ASXH cũng được
sử dụng trong lĩnh vực BHXH Theo đó BHXH có thể được hiểu khái quát là "sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con" (Công ước 102, 1952)
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “ bảo hiểm là một chế độ pháp định bảo
vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của người
sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” (Từ điển Bách khoa, trang 18, 2011)
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014:
Trang 18“bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Quốc Hội, 2014)
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức
mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung cả hai khái niệm trên đều thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH Cụ thể đã nêu rõ được:
Bảo hiểm xã hội là những quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động
Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết
Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho chính họ
Như vậy, có thể hiểu rằng bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước; nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ; qua đó góp phần thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, phát triển đất nước
2.1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan; nền kinh tế hàng hoá càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động giữa các bên cùng tham gia và được hưởng bảo hiểm xã hội Nhà nước ban hành các chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ
có đủ điều kiện theo chính sách BHXH quy định, đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH
Trang 19Từ mối quan hệ về BHXH, cho ta thấy nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, bảo hiểm xã hội là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình
tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH
- Thứ hai, bảo hiểm xã hội là một loại hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộcdo Nhà nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao động, do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ (có một số nước trên thế giới do khu vực tư nhân quản lý và cung cấp dịch vụ) Hiện nay, ở nước ta việc tham gia BHXH bắt buộc do Nhà nước quản lý và cung cấp
- Thứ ba, cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế ba bên: Cơ quan Bảo hiểm Xã hội - Người sử dụng lao động - Người lao động, cộng thêm cơ chế quản
lý của Nhà nước BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra thực hiện do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền, đó là: Cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc cầu và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ còn kém
- Thứ tư, thực hiện thống nhất việc quản lý Nhà nước về BHXH, thực hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối tượng và đúng thời hạn Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng, độc lập với ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất và được sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu - chi theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển
- Thứ năm, người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng
và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động
Tóm lại, BHXH là những chế độ, chính sách do Nhà nước quy định để đảm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường BHXH là một hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do Nhà nước quản lý và cung cấp; hoạt động trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít,
Trang 20chia sẻ rủi ro; quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước và được quản lý tập trung, thống nhất
2.1.1.3 Vai trò của bảo hiểm xã hội
a Đối với Nhà nước
* Góp phần vào đảm bảo an sinh xã hội
- Kể từ khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại gương mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
- Hệ thống an sinh xã hội là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp, bao gồm toàn bộ dân cư của một quốc gia Hệ thống này có mục tiêu bảo vệ mọi thành viên trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt Tuy nhiên, trong
hệ thống an sinh xã hội thì hệ thống Bảo hiểm Xã hội giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất Phát triển bảo hiểm xã hội sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
* Góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân
Bảo hiểm xã hội là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh
xã hội bền vững
* Góp phần tăng nguồn vốn cho phát triển đất nước
Quỹ BHXH càng phát triển lớn mạnh thì phần quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại nền kinh tế, như vậy sẽ tăng được nguồn vốn cho phát triển đất nước, tạo việc làm cho người lao động và nguồn thu cho đất nước…
b Đối với xã hội
* Góp phần ổn định cuộc sống của người lao động
Trang 21- Thực hiện tốt chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người lao động, cụ thể:
- Đối với người lao động khi sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc và hưởng trợ cấp thai sản như vậy cuộc sống của người lao động và gia đình ổn định hơn, có điều kiện chăm sóc gia đình tốt hơn
- Đối với người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu tham gia BHXH thì được hưởng các chế độ BHXH tương ứng
do cơ quan Bảo hiểm Xã hội chi trả, như vậy giúp người lao động giảm được gánh nặng trong cuộc sống và yên tâm công tác
- Đối với người lao động hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động, nếu đã tham gia BHXH thì được hưởng các chế độ BHXH như hưu trí, chế
độ khám, chữa bệnh BHYT
* Góp phần ổn định tình hình trật tự, an ninh xã hội và phát triển kinh tế Thực hiện tốt chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
c Góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội
Quỹ BHXH là do các bên tham gia quan hệ lao động đóng góp trong quá trình lao động, việc chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia BHXH được trích từ quỹ BHXH như vậy nhà nước cũng bớt gánh nặng trong thực hiện các chính sách xã hội
2.1.1.4 Phân loại bảo hiểm xã hội
Căn cứ vào Luật bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành, có thể phân bảo hiểm xã hội thành hai loại:
Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia với mức đóng góp tối thiểu theo quy định của pháp luật
Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm mà người lao động
tự nguyện tham gia với mức đóng góp, phương thức đóng góp do người lao động đăng ký phù hợp với thu nhập của họ
Trang 222.1.1.5 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội
Thu BHXH là nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được
tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH
Vai trò thu bảo hiểm xã hội
* Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Hoạt động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoạt động khác đó là: Đối tượng thu BHXH rất đa dạng và phức tạp do đối tượng tham gia BHXH bao gồm ở tất cả các ngành nghề với nhiều độ tuổi khác nhau, mức thu nhập khác nhau thêm nữa họ lại rất khác về địa lý, vùng miền cho nên nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu BHXH sẽ không đạt được kết quả cao
Chính nhờ có yếu tố quản lý tạo sự thống nhất ý chí trong hệ thống BHXH bao gồm các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH Sự thống nhất trong những người bị quản lý với nhau và trong những người bị quản lý và người quản lý Chỉ có tạo nên sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý mới có kết quả và mới giảm chi phí tiền của và công sức
Việc thu BHXH thông qua công tác lập kế hoạch cũng đã quy định rõ sự phân công trách nhiệm thu BHXH cho các cấp trong hệ thống BHXH, tuy nhiên,
để hoạt động thu được thống nhất, rất cần có sự hợp tác trong các bộ phận tài chính, bộ phận tuyên truyền, hệ thống ngân hàng Như vậy, chính thông qua hoạt động quản lý thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH đó là: thống nhất về đối tượng, thống nhất về biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH
* Đảm bảo hoạt động thu bảo hiểm xã hội bền vững, hiệu quả
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là những mục tiêu mà bất kỳ một hệ thống BHXH của bất cứ quốc gia nào cũng mong muốn đạt được Bởi vì, khi mục tiêu này đạt được cũng có nghĩa hệ thống an sinh xã hội được đảm bảo đây là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế Song những mục tiêu này chỉ đạt được khi:
Hoạt động thu BHXH được định hướng đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ
Trang 23 Thông qua quá trình quản lý đã định hướng thu BHXH là cơ sở xác định mục tiêu chung ở hoạt động thu BHXH là thu đúng, thu đủ, không để thất thu, từ đó hướng mọi nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó
Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng
Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức
* Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Thu BHXH là một nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường bất kỳ hoạt động nào liên quan đến tài chính đều rất dễ mắc phải tình trạng gây thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai Vì vậy, với nhiệm vụ mà người quản lý phải đảo bảo đó là: kiểm tra, đánh giá hoạt động thu BHXH một cách kịp thời và toàn diện Nhờ có hoạt động quản lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau khi
có sự đánh giá
2.1.1.6 Khái niệm thất thu bảo hiểm xã hội
Thất thu BHXH được hiểu như là việc các đơn vị, doanh nghiệp không tham gia (trốn tham gia) BHXH cho người lao động, người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng không muốn tham gia; có tham gia nhưng không tham gia đủ số lao động; đóng BHXH với mức thấp hơn mức lương thực tế của người lao động; chậm đóng, nợ đọng, chây ỳ (trốn đóng BHXH)… gây thất thu quỹ BHXH (Quốc Hội, 2014)
2.1.1.7 Nguyên nhân thất thu bảo hiểm xã hội
Thất thu do cơ chế chính sách
Nguyên nhân trốn đóng BHXH còn xuất phát từ phía môi trường cho hoạt động tuân thủ của các đối tượng tham gia BHXH Đây là những nguyên nhân mang tính khách quan, tạo thêm cơ chế thuận lợi để các đối tượng dễ dàng không tuân thủ pháp luật gồm:
- Quy định chính sách BHXH chưa thật rõ ràng, chưa ổn định và không tạo được sự hấp dẫn nên làm cho người sử dụng lao động và người lao động nhận thức không đầy đủ, thậm trí là hiểu sai về BHXH
- Khung pháp lý về BHXH chưa hoàn chỉnh Ví dụ pháp luật BHXH không quy định rõ về quyền hạn của Thanh tra BHXH Quy định về xử phạt vi phạm về BHXH không đủ mức làm công cụ ngăn chặn vi phạm của người sử
Trang 24 Thất thu do từ phía cơ quan bảo hiểm xã hội
Các nguyên nhân đưa đến thất thu BHXH bắt buộc từ phía cơ quan bảo hiểm chủ yếu là:
- Thiết kế các quy trình nghiệp vụ chưa tốt, quy trình và thủ tục đăng ký, quy trình thu BHXH, quy trình xét hưởng chi trả BHXH còn rườm rà
- Thanh kiểm tra BHXH còn hạn chế và chưa phát huy hết chức năng, chưa kiểm soát hết lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Một mặt có thể
do lực lượng thanh tra quá mỏng so với số lượng đối tượng tham gia nên không thể thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên Mặt khác, có thể là do
tư cách đạo đức của thanh tra viên, bị mua chuộc và thông đồng với người SDLĐ để vi phạm pháp luật
- Mối quan hệ phối hợp với các bên có liên quan trong quản lý đối tượng tham gia như Công đoàn, cơ quan quản lý lao động, các cơ quan liên quan đến việc cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp… chưa chặt chẽ cũng làm cho mức độ tuân thủ đóng góp BHXH sẽ bị giảm đi
- Một nguyên nhân sâu xa dẫn đến trốn đóng BHXH của đối tượng tham gia
là hoạt động tuyên truyền giáo dục BHXH còn hạn chế
Thất thu do chủ doanh nghiệp người sử dụng lao động
Để trốn đóng BHXH, các chủ sử dụng lao động có nhiều hình thức với mức
độ tinh vi khác nhau Các hình thức thất thu thường là:
- Hình thức trốn đóng BHXH rõ ràng nhất là không đăng ký cho các đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc Có trường hợp chủ sử dụng lao động đăng ký BHXH rồi nhưng lại không chuyển tiền đóng BHXH
- Chỉ thực hiện tham gia đóng một phần và trốn đóng một phần Tức là các
Trang 25đối tượng tham gia BHXH vẫn đăng ký đóng BHXH theo quy định, nhưng tìm mọi cách để chỉ đóng một phần so với toàn bộ số tiền phải đóng BHXH theo nghĩa vụ Đây là hình thức trốn đóng tinh vi, thể hiện cụ thể:
+ Không khai báo đầy đủ thu nhập của NLĐ để chỉ đóng một số tiền đóng BHXH nhỏ hơn số tiền BHXH phải đóng tính theo số thu nhập thực tế
mà NLĐ nhận được Hình thức trốn đóng này thường có sự cấu kết giữa NLĐ
và người SDLĐ
+ Không khai báo đúng số đối tượng phải tham gia đóng BHXH bắt buộc Theo hình thức này người sử dụng lao động không đóng cho toàn bộ số lao động của mình bằng cách khai giảm số lượng lao động; hoặc khai báo số lượng lao động ít hơn số phải tham gia theo quy định phải đóng góp BHXH bắt buộc
- Chậm đóng bằng cách trì hoãn việc kết chuyển tiền đóng BHXH cho cơ quan quản lý thu BHXH cũng được coi là một hình thức trốn đóng (Bailey, C và Turner, J., 1997; World Bank, 1994) Trong các trường hợp chậm đóng, tệ hại nhất là người sử dụng lao động đã trừ phần đóng góp BHXH của người lao động nhưng vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho Tổ chức Bảo hiểm xã hội Như vậy có nghĩa là người sử dụng lao động lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của người lao động Và mặc dù người lao động đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị tước đoạt do hành vi vi phạm của người sử dụng lao động
Trốn đóng BHXH từ phía người sử dụng lao động có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do người sử dụng lao động chưa có nhận thức đầy đủ về nghĩa
vụ, trách nhiệm, cụ thể:
- Nhận thức không đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH Đối tượng chính không tuân thủ pháp luật đóng góp BHXH là người sử dụng lao động Họ chỉ mới nghĩ đến lợi nhuận hiện tại mà không nhìn thấy vai trò của việc tham gia BHXH cho người lao động trong chính sách nhân sự, có ảnh hưởng tới lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp
-Ý thức tuân thủ pháp luật BHXH không tốt Có những người sử dụng lao động có nhận thức về BHXH nhưng vẫn cố tình trốn đóng BHXH hoặc chây ỳ Phần lớn do người sử dụng lao động là các DN không có chiến lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật”, chỉ muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt
Trang 26- Tình trạng khó khăn về tài chính Một số người sử dụng lao động khởi sự kinh doanh, vốn ít và còn nhiều khó khăn nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa
vụ BHXH cho người lao động Khá hơn một chút là họ có đăng ký tham gia BHXH nhưng không đầy đủ, chỉ tập trung cho một số ít người lao động cần thiết Một số khác lại đang ở trong tình trạng làm ăn suy yếu, có xu hướng thua lỗ, do
đó sẽ chây ỳ đóng BHXH hoặc chiếm dụng tiền đóng BHXH để tăng vốn làm ăn
- Chế tài xử phạt vi phạm Luật lao động về BHXH có nhưng chưa hợp lý, quy định về nộp phạt còn quá thấp, tính cưỡng chế chưa cao Có doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nên số tiền nộp BHXH rất lớn so với số tiền bị phạt nên họ sẵn sàng trốn đóng, chậm nộp BHXH
- Vai trò của tổ chức công đoàn tại các đơn vị sử dụng lao động (đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhỏ) hoặc không có hoặc chưa thực sự phát huy và thậm chí không bảo vệ được quyền lợi BHXH của người lao động
Thất thu do người lao động
Đối với người lao động, có không ít trường hợp thực sự không biết mình có quyền được hưởng BHXH và tham gia BHXH Mặt khác, lại cũng có bộ phận biết quyền và nghĩa vụ BHXH nhưng lại hiểu không thấu đáo Tiền đóng BHXH
là một khoản chiết khấu từ lương nên họ cho rằng số tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại, và không muốn đóng BHXH
Mặc dù nhận thấy lợi ích hiển hiện của BHXH đối với bản thân và gia đình nhưng vẫn có một bộ phận người lao động không đóng BHXH Lý do chung
là mất niềm tin vào hệ thống BHXH Họ cho rằng tổ chức Bảo hiểm Xã hội quản
lý không hiệu quả khoản tiền mà họ đã đóng góp BHXH Một số ít các trường hợp người lao động trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền hưu Một vấn đề đáng nói nữa là có những trường hợp, người lao động hay người sử dụng lao động trốn đóng BHXH, đơn giản chỉ
vì họ không thích đóng
2.1.2 Nội dung nghiên cứu giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội
2.1.2.1 Tổ chức quản lý, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan bảo hiểm xã hội với các cơ quan có liên quan
Chính sách BHXH chịu sự tác động, đan xen của nhiều chính sách khác như tiền lương, tiền công … Vì vậy, để thực hiện tốt chính sách BHXH rất cần
sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan trong đó có các cơ quan như Chi Cục
Trang 27Thuế, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Nhà nước, Phòng Kế hoạch và Đầu tư, Công an huyện … Bởi khi DN thành lập phải đăng ký chế độ tiền lương và số lao động mà DN sẽ áp dụng, thang bảng lương đối với từng chức
vụ, cấp bậc trong doanh nghiệp đến phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Từ phòng LĐTBXH sẽ giới thiệu Doanh nghiệp qua đăng ký hồ sơ nộp Bảo hiểm cho tất cả các đối tượng thuộc Doanh nghiệp Việc thông tin chéo giữa
cơ quan Thuế và cơ quan BHXH cũng rất quan trọng trong việc trốn tránh nghĩa
vụ nộp BHXH và việc gian lận Thuế phải nộp ngân sách nhà nước
2.1.2.2 Tăng cường tuyên truyền để doanh nghiệp và người lao động hiểu và tuân thủ luật bảo hiểm xã hội
Chủ doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ những thủ tục hành chính, những quy định của pháp luật về các vấn đề có liên quan tới việc thành lập doanh nghiệp để đi vào sản xuất Vì vậy, cần phải tập trung tuyên truyền tới các đối tượng chủ doanh nghiệp, để họ hiểu việc thực hiện luật bảo hiểm xã hội trong đó bao gồm quyền lợi và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp và người lao động, để họ không có ý định trốn, tránh đóng và tuân thủ luật bảo hiểm
xã hội Bên cạnh đó là bộ phận người lao động trong doanh nghiệp, cần thường xuyên tổ chức các buổi tiếp xúc trực tiếp với đối tượng này vì những đối tượng này trực tiếp gắn với quyền lợi và nghĩa vụ khi thực hiện tuân thủ luật BHXH 2.1.2.3 Tăng cường quản lý đối tượng đóng bảo hiểm xã hội
Hiện nay, việc quản lý đối tượng đóng bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế, chỉ khi doanh nghiệp tới kê khai nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động cơ quan mới quản lý được những đối tượng này Còn những đối tượng không kê khai trong hồ sơ nộp bảo hiểm cơ quan bảo hiểm chưa có hướng xử lý vấn đề này Từ đó gây nên việc thất thu bảo hiểm xã hội hàng năm ngày càng tăng Đây
là một điều đáng báo động trong việc đưa ra các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ hơn nhóm đối tượng bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội
2.1.2.4 Tăng cường quản lý mức thu nhập đóng bảo hiểm xã hội
Việc các doanh nghiệp hay thậm chí chính bản thân người lao động không mặn mà trong việc đóng bảo hiểm xã hội dẫn tới việc quản lý chính xác mức thu nhập mà người lao động thực nhận làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là rất khó khăn Doanh nghiệp với mức đóng 21,5 % đang gánh trên mình một mức chi phí rất lớn trên tổng doanh thu của mình, nên điều này là rất dễ hiểu vì sao mức đóng
Trang 28bảo hiểm mà doanh nghiệp đăng ký đóng luôn ở mức sàn mà không phải theo thu nhập thực tế của người lao động Người lao động giờ đây với áp lực từ cuộc sống khó khăn, cũng không mấy mặn mà tham gia đóng bảo hiểm xã hội, vì thời gian
để hưởng lương hưu là phải đóng đủ 25 năm đối với nữ và 30 năm đối với nam Trong khi đó đại đa số người lao động không thể gắn bó với doanh nghiệp thời gian dài , vì vậy họ bắt tay với doanh nghiệp để giảm mức đóng bảo hiểm xã hội
là việc đương nhiên
2.1.2.5 Tăng cường năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ của các cán bộ
cơ quan bảo hiểm xã hội
Việc Tăng cường năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Trải qua 20 năm thành lập bảo hiểm xã hội Việt Nam đã từng bước trưởng thành qua nhiều thời kỳ, tuy còn nhiều những khó khăn đặt ra nhưng bảo hiểm xã hội Việt Nam luôn cố gắng hoàn thành mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội Việc từng cán bộ ngành bảo hiểm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là yếu tố cốt lõi để đảm bảo trách nhiệm thực thi công vụ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 2.1.2.6 Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật bảo hiểm xã hội Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được chú trọng Nội dung kiểm tra tập trung vào công tác thu bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn, công tác quản lý và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế tại đơn vị
sử dụng lao động đối với người lao động, công tác quản lý tài chính và chi quản
lý bộ máy; công tác quản lý đối tượng và chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội Các cơ quan đã thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định; các doanh nghiệp đã cụ thể hóa các quy định pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành thành các văn bản của doanh nghiệp như thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế tiền lương, hợp đồng lao động…
2.1.2.7 Rà soát bổ sung các quy định chế tài xử lý vi phạm thu nộp bảo hiểm
xã hội
Trước đây, việc xử lý vi phạm thu nộp BHXH khi cơ quan BHXH đi thanh tra, kiểm tra chỉ dừng ở mức độ lập biên bản vi phạm và truy thu số tiền bảo hiểm trốn đóng, chậm đóng mà không được giao quyền xử phạt vi phạm về luật
Trang 29BHXH Vì vây, BHXH Việt Nam mong muốn giao quyền cho tổ chức BHXH được xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH và hoàn thiện các quy định có liên quan nhằm tạo thuận lợi cho cơ quan BHXH trong quá trình tham gia khởi kiện các cơ quan, tổ chức vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT; đồng thời nghiên cứu bổ sung một số tội danh về BHXH, BHYT trong Bộ luật hình sự để tránh bỏ lọt tội phạm như tội trốn đóng BHXH, BHYT, tội không đóng BHXH, BHYT đúng mức quy định, tội không đóng BHXH, BHYT cho đủ số người lao động, tội gian lận BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp
Bên cạnh đó, cần rà soát các quy định hiện nay về các hành vi vi phạm pháp luật để tiến hành sửa đổi, bổ sung cho phù hợp cũng như tăng mức xử phạt và cần quy định lãi chậm nộp bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm đóng không đúng mức hoặc không đúng thời hạn từ 30 ngày trở lên
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện các giải pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội
2.1.3.1 Yếu tố thuộc về chính sách của Nhà nước
Hành lang pháp lý chặt chẽ và đủ mạnh sẽ là công cụ hữu hiệu trong việc chế tài các trường hợp vi phạm về nộp và quản lý thu BHXH Trước đây việc trốn đóng, nợ đóng bảo hiểm xã hội gây thất thu bảo hiểm dẫn tới Quỹ BHXH ngày càng bị thâm hụt, ảnh hưởng tới việc thực hiện an sinh xã hội theo đúng vai trò của Quỹ Tuy nhiên, Nhà nước ta chưa có chế tài xử phạt mạnh tay nên việc các Doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động vẫn ngang nhiên vi phạm Luật BHXH Việc khởi kiện và thi hành án đối với những Doanh nghiệp này vẫn đang gặp phải một số khó khăn do nhiều chủ DN bỏ trốn, DN chuyển nhượng lại DN cùng số nợ, DN nợ BHXH khi bị khởi kiện ra tòa thì không có nguồn tài sản hoặc tài sản chủ yếu là đi thuê, dẫn đến kéo dài thời gian thi hành án Tình trạng truy thu cũng gặp khó khăn, phức tạp do người lao động đã nghỉ việc, hoặc chuyển công
Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Chính sách tiền lương là tiền đề và là cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH, nhất là đối với khu vực Nhà nước có quy định cụ thể về thang bảng lương, mức lương và hệ số lương Nâng lương tối thiểu chung đồng nghĩa với việc tăng mức đóng BHXH và đương
Trang 30nhiên tăng số thu BHXH Như vậy, mức lương tối thiểu chung đã tác động gián tiếp tới mức thu BHXH Ngoài ra, nhà nước còn quy định mức lương tối thiểu vùng cho từng khu vực cũng như trong các khối ngành kinh tế khác nhau sẽ là căn cứ chung để quản lý và kiểm soát thu BHXH
Tuy nhiên, hệ thống tiền lương, tiền công chưa hợp lý; hiện tượng tiền lương, tiền công của người lao động thấp hơn tiền thưởng và các khoản thu nhập phụ khác; các quy định chính sách BHXH chưa thật rõ ràng, chưa ổn định và không tạo được sự hấp dẫn nên cũng là nguyên nhân gây khó khăn đối với công tác quản lý thu BHXH hiện nay
2.1.3.2 Yếu tố thuộc về cơ quan bảo hiểm xã hội
Thất thu BHXH bắt buộc từ phía cơ quan BHXH được thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau:
- Do trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thu BHXH Nếu trình độ của đội ngũ quản lý thu bảo hiểm xã hội cao, chuyên nghiệp
sẽ là yếu tố quan trọng trong việc tuyên truyền, kiêm soát tình hình đóng, quản lý thu quỹ BHXH và ngược lại
- Công tác thanh kiểm tra và xử lý vi phạm
Công tác thanh kiểm tra là vô cùng quan trọng, nó giúp củng cố và nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH Khi công tác thanh kiểm tra BHXH còn hạn chế và chưa phát huy hết chức năng, chưa kiểm soát hết đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh cũng là nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý thu BHXH không được triệt để và nghiêm túc
- Do khung pháp lý về BHXH
Các quy định quản lý BHXH chưa hoàn chỉnh, không quy định rõ về quyền hạn của thanh tra BHXH, quy định về xử phạt vi phạm không đủ mức làm công
cụ ngăn chặn vi phạm của người sử dụng lao động
2.1.3.3 Yếu tố thuộc về doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động
Nếu người SDLĐ có nhận thức tốt về BHXH điều đó có nghĩa là tình trạng
nợ, trốn, tránh nộp quỹ BHXH được giảm thiểu Ngoài ra nhận thức tốt của người sử dụng lao động sẽ làm cho việc quản lý thu BHXH đỡ tốn nhiều công sức và tiền bạc trong việc kiểm soát
Thực tế ở nước ta thời gian qua do ý thức chấp hành luật BHXH của một
Trang 31số chủ sử dụng lao động chưa tốt nên vẫn cố tình trốn đóng BHXH cho người lao động
Cũng có thể do doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh bền vững, chủ yếu là hoạt động theo kiểu ”chộp giật”, muốn thu được nhiều lợi nhuận nên muốn trốn đóng BHXH cho người lao động Cũng có thể do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, vốn ít nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động, hoặc có đóng nhưng không đủ
2.1.3.4 Yếu tố thuộc về người lao động
Người lao động là đối tượng tham gia BHXH, đang trong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội Việc nhận thức không đầy đủ về quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của bản thân trong việc trích nộp BHXH, suy nghĩ không thấu đáo về tiền đóng nên họ cho rằng số tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại và không muốn đóng BHXH Có những trường hợp người lao động trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền lương hưu Chính vì vậy nên mặc dù biết phải đóng BHXH bắt buộc nhưng lại bắt tay với chủ sử dụng lao động để trốn đóng BHXH gây thiệt hại cho chính mình
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHỐNG THẤT THU BHXH
2.2.1 Kinh nghiệm chống thất thu BHXH ở một số địa phương trong nước 2.2.1.1 Bài học kinh nghiệm của BHXH tỉnh Đồng Nai
Thiết lập hệ thống thông tin người lao động và người sử dụng lao động bằng cách phối hợp với Cục thống kê, Cục thuế, Sở Lao động Thương binh và
Xã hội, Sở kế hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu chính xác về số lượng doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các cơ sở kinh doanh cá thể, hợp tác xã, các đơn vị hành chính
sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập Đồng thời xây dựng hệ thống thông tin người lao động trong các thành phần kinh tế một cách đầy đủ, chính xác, có phân nhóm nhằm tạo nền tảng cho việc tăng cường quản lý các đối tượng tham gia BHXH
Phối hợp với Đài Truyền hình Đồng Nai tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về BHXH
Xây dựng hệ thống đo lường, dự báo nhằm tạo nền tảng cho việc lập kế hoạch thu BHXH của các năm sau
Trang 32 Tiến hành phân loại và xếp hạng doanh nghiệp, công bố danh sách các doanh nghiệp nợ BHXH hoặc vi phạm Luật BHXH lên các phương tiện truyền thông (Trương Thanh Phong, 2006).
2.2.1.2 Bài học kinh nghiệm của BHXH TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, diện tích 2.095 km2 với dân số gần 10 triệu người Điều đó đã tạo ra tiềm năng và những điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn Tuy nhiên, vấn đề vi phạm BHXH đã và đang trở thành mối quan tâm, bức xúc của dư luận xã hội nếu không có biện pháp kiên quyết, vi phạm này sẽ cản trở lớn cho việc thực hiện chính sách BHXH Tính đến cuối năm 2013, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 05 triệu người tham gia BHXH, tổng số tiền nợ BHXH gần 01 nghìn tỷ đồng Hiện nay cơ quan BHXH thành phố
Hồ Chí Minh không xác định được chính xác số lượng đơn vị, DN có SDLĐ cũng như số lượng NLĐ thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc
Để góp phần giải quyết thực trạng này, bên cạnh việc tập trung nâng cao chất lượng công tác kiểm tra chấn chỉnh, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung thực hiện một số biện pháp chủ yếu như sau:
- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng quy chế phối hợp:
+ Phối hợp với Sở LĐ - TB&XH xây dựng chương trình hành động liên tịch, thường xuyên trao đổi các thông tin về tình hình thực hiện BHXH của các doanh nghiệp Sau khi cơ quan BHXH Thành phố kiểm tra, nếu các đơn vị vẫn không tích cực khắc phục vi phạm thì sẽ lập danh sách chuyển Sở LĐ - TB&XH để xem xét xử phạt theo quy định Căn cứ vào danh sách này, Đoàn kiểm tra liên ngành sẽ tiến hành kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật Thông qua việc phối hợp, đã kịp thời xử lý các vi phạm pháp luật lao động phát sinh, chủ yếu là vi phạm về BHXH, để giảm thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ
+ Xây dựng mối quan hệ với Tòa án nhân dân các cấp để xử lý các vụ kiện của cơ quan BHXH đòi nợ các đơn vị SDLĐ Nhờ đó, đã kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình tố tụng, đảm bảo thụ lý đúng trình tự và thời gian, xét xử theo quy định của Pháp luật
+ Phối hợp với Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo quá trình thi hành án được kịp thời Tập huấn kiến thức về Luật thi hành án
Trang 33cho BHXH quận, huyện nhằm trang bị và hướng dẫn những kiến thức cần thiết, những công việc phải làm sau khi có quyết định, bản án của tòa án Các mối quan hệ này góp phần tạo ra bước chuyển biến lớn trong công tác xử lý vi phạm nói chung
- Hợp tác tốt với báo chí: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự phê phán thông qua báo chí có tác dụng tích cực, đây là một biện pháp có hiệu quả để các DN thực hiện trách nhiệm nộp BHXH BHXH Thành phố đã thường xuyên công bố thông tin về vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Các báo cũng có nhiều bài điều tra, phản ánh các doanh nghiệp né tránh nhiệm vụ nộp BHXH
- Khởi kiện tại tòa án: Với biện pháp xử lý nêu trên, vẫn còn đơn vị chiếm dụng hoặc nợ đọng BHXH kéo dài Do vậy, năm 2013, BHXH Thành phố đã tiến hành nộp đơn khởi kiện ra tòa 1.228 đơn vị sử dụng lao động cố tình vi phạm nghiêm trọng (nợ BHXH nhiều, kéo dài trên 06 tháng) Từ kinh nghiệm của việc khởi kiện các đơn vị sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH năm 2013 và trước tình hình vi phạm chế độ thu nộp BHXH của một số DN ngày một diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp khắc phục Tác động tích cực của biện pháp này là ngăn chặn có hiệu quả ý định không nộp BHXH của các DN còn lại Có thể kết luận biện pháp khởi kiện góp phần quan trọng đến việc hạn chế việc chiếm dụng quỹ BHXH, giữ vững sự ổn định chính trị trên địa bàn Thành phố Mặt khác, thông qua khởi kiện đã góp phần vào việc xây dựng và hình thành các chủ trương chỉ đạo về việc xử lý vi phạm của các đơn vị SDLĐ của BHXH Việt Nam, tham mưu với UBND Thành phố đề xuất các biện pháp giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thành phố và đề xuất với Nhà nước những nội dung cần xem xét điều chỉnh, sửa đổi cụ thể các văn bản pháp luật về chính sách ASXH nhằm bảo vệ tốt hơn về quyền lợi của NLĐ Tuy vậy, việc khởi kiện các DN trốn, nợ đóng BHXH kéo dài chỉ là biện pháp giải quyết cuối cùng, tốn nhiều thời gian, công sức và tuân thủ một quy trình phức tạp BHXH thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị, các hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm khắc ngay từ đầu, tăng nặng mức xử phạt theo tỷ lệ % luỹ tiến số tiền phạt theo số nợ mà không xử phạt theo các mức cố định như hiện nay (Nguyễn Thị Kim Nga, 2007)
2.2.1.3 Kinh nghiệm của BHXH tỉnh Phú Thọ
Đứng trước thực trạng các doanh nghiệp nợ BHXH, việc hoàn thành kế hoạch thu rất khó khăn nên BHXH tỉnh Phú Thọ đã có những giải pháp quyết liệt
Trang 34và đồng bộ Bảo hiểm Xã hội tỉnh chỉ đạo BHXH các huyện xây dựng kế hoạch công tác cụ thể, khảo sát và nắm chắc số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn; đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động tích cực; đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tập trung khảo sát, thống
kê, tổng hợp số đơn vị doanh nghiệp mới để khai thác thêm đối tượng tham gia BHXH kịp thời theo quy định, nhằm đảm bảo các chính sách BHXH đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế, giảm tình trạng trốn đóng BHXH
Trước tình trạng nợ đọng BHXH diễn biến ngày một phức tạp, BHXH tỉnh đã thành lập tổ Thu nợ do một đồng chí Phó Giám đốc BHXH tỉnh làm tổ trưởng, với sự tham gia của hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ chuyên quản thu Hằng tháng, rà soát, thống kê danh sách đơn vị nợ, số tiền nợ, thời gian
nợ, xây dựng lịch đốc thu trực tiếp Việc huy động cán bộ quản lý ở tất cả các bộ phận tham gia tổ Thu nợ không chỉ đạt mục đích phát huy tổng lực cho công tác đốc thu mà còn tạo sự chia sẻ khó khăn, cộng đồng trách nhiệm giữa các bộ phận nghiệp vụ trong mảng công tác trọng yếu của Ngành
Để đảm bảo tiến độ thu, BHXH tỉnh chỉ đạo BHXH các huyện xây dựng
kế hoạch thu theo từng tháng Nắm chắc diễn biến thu, phân tích nguyên nhân, những khó khăn, thuận lợi, đề ra biện pháp phù hợp để đôn đốc thu nợ hiệu quả Thông báo danh sách các đơn vị có dấu hiệu chây ỳ, nợ BHXH kéo dài, khó đòi trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời báo cáo UBND tỉnh để có biện pháp chỉ đạo
Cùng với việc phát huy nội lực, Bảo hiểm xã hội tỉnh tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị sử dụng lao động thực hiện tốt chính sách BHXH Phối hợp với các ngành chức năng trong việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn, dặc biệt là trong công tác thu nộp BHXH, làm cơ
sở tiền đề để giải quyết các chế độ BHXH khi có phát sinh, đảm bảo quyền lợi cho người lao động
Bên cạnh việc tăng cường đốc thu trực tiếp, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ
đã chuẩn bị tích cực cho việc phải áp dụng biện pháp mạnh là khởi kiện một số doanh nghiệp nợ đọng BHXH kéo dài Như vậy sẽ thực hiện đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và giảm nợ đọng, chống thất thu BHXH trên địa bàn tỉnh (Lê Mạnh Hùng, 2012)
Trang 352.2.1.4 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một Thành phố cảng biển lớn, là đầu mối giao thông trong nước và quốc tế với nhiều DN kinh doanh trong các ngành công nghiệp và dịch
vụ có mối quan hệ đối tác không chỉ trong nước mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Việc quản lý công tác thu BHXH trên địa bàn có thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, bởi các DN tuy lớn nhưng lại có mối quan hệ kinh tế quốc tế rất chặt chẽ, quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của đối tác nước ngoài, bên cạnh đó do nhiều DN bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2009 làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của NLĐ Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng khá nhiều DN trên địa bàn phải nợ đọng BHXH của NLĐ trong thời gian vừa qua Vì vậy, để hoàn thành công tác thu BHXH mà BHXH Việt Nam giao, cán bộ phòng thu nói riêng và tập thể CB, CC, VC BHXH Thành phố Hải Phòng nói chung phải rất nỗ lực, cố gắng
Kết quả năm 2016, tổng số tiền nợ đọng BHXH trên địa bàn Thành phố là
166 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số phải thu theo kế hoạch BHXH Việt Nam giao,
so với năm 2015 giảm 35.742 triệu đồng và giảm 2,48% về kế hoạch
Bí quyết thành công của thành phố Hải Phòng là sự thấu hiểu và thông cảm giữa chủ nợ và con nợ Hải Phòng luôn lắng nghe DN, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ với thái độ tôn trọng, chia sẻ Lãnh đạo ngành BHXH thành phố đã trực tiếp đến nhiều DN để tiếp xúc với đơn vị, vừa tìm hiểu nguyên nhân, vừa tìm cách tháo gỡ với DN với mục tiêu trước hết là đảm bảo quyền lợi cho người lao động
Để giải quyết vấn đề này, BHXH thành phố Hải Phòng đã chủ động đề nghị với chủ DN việc đóng tiền nợ BHXH chia làm nhiều đợt, tùy vào tình hình tài chính của DN cùng với bản cam kết sẽ đóng nốt các khoản còn lại trong thời gian nhất định Việc đóng một phần tiền nợ đọng này được phía cơ quan BHXH ghi nhận và làm thủ tục giải quyết các chế độ tồn đọng của người lao động do DN thiếu nợ trước đây Việc làm này đã được hầu hết các DN tích cực hưởng ứng Nhiều DN ngay lập tức đã trích một phần tài chính để đóng BHXH, thậm chí còn nhiều DN sẵn sàng đi vay ngân hàng để nộp số nợ BHXH
Bên cạnh đó những biện pháp tuyên truyền, vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện triệt để Đối với các DN cố tình chây ì sẽ được lập danh sách để gửi lên UBND Thành phố, đưa vào đánh giá thi đua, khen
Trang 36thưởng dịp cuối năm Đồng thời đưa những đơn vị nợ đọng chây ì lên truyền hình để mọi người dân được biết thông tin
Thoát khỏi tâm lý ngại ngần khi tiếp xúc với các đơn vị nợ đọng, thấu hiểu nỗi khó khăn của DN và quan trọng hơn là để giải quyết chế độ hợp pháp cho NLĐ, cùng với thái độ kiên quyết của lãnh đạo BHXH Thành phố Hải Phòng đã giúp cho việc thu nợ đọng BHXH ở Hải Phòng đạt những kết quả đáng khích lệ (Phạm Thị Vân Anh, 2016)
2.2.2 Bài học rút ra cho BHXH huyện Tiên Du
Qua nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động thu BHXH bắt buộc, giải quyết chống thất thu BHXH bắt buộc ở tỉnh, thành phố ở nước ta, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
- Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động BHXH, trong đó có công tác thu thông qua việc định hướng, xây dựng pháp luật, chính sách; khi cần thiết mới hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho các quỹ đồng thời thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm tra Bên cạnh đó cần phải xây dựng, thiết lập
hệ thống giám sát chủ SDLĐ trong việc tuân thủ pháp luật lao động, Luật BHXH
- Áp dụng các chế tài mạnh và xử kiên quyết đối với các đơn vị, DN cố tình
nợ đọng, trốn đóng BHXH bắt buộc, như truy vấn tài sản của DN trên toàn quốc, phạt tiền rất nặng hoặc chuyển hồ sơ sang truy tố theo luật hình sự đối với đơn vị
cố tình vi phạm luật
- Sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc quản lý thu BHXH bắt buộc rất chặt chẽ, hiệu quả và thường xuyên; cơ chế phối hợp của họ được đặt trên cơ sở thể chế hoá bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
- Xây dựng chính sách BHXH phải dựa vào khả năng kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi tỉnh
- Công tác thu BHXH bắt buộc, ứng với mỗi đối tượng là một loại quy trình
cụ thể và bằng phương pháp quản lý hiện đại, kết hợp chặt chẽ nhiều khâu theo một quy trình nhất định bắt đầu từ việc đăng ký tham gia BHXH, kết thúc bằng việc xác định chính xác kết quả đóng góp của từng người, để những người tham gia được hưởng chế độ BHXH khi họ đủ điều kiện
- Cần đẩy mạnh cải cách hành chính để có quy trình thu thuận lợi nhất cho NLĐ và đơn vị SDLĐ Cán bộ làm công tác quản lý thu BHXH phải được đào tạo một cách bài bản, chuyên nghiệp, từ đó nâng cao được chất lượng, hiệu quả
Trang 37công việc, xử lý công việc một cách linh hoạt Tăng cường công tác tuyên truyền, chú ý khu vực kinh tế ngoài Nhà nước để NLĐ hiểu và tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
2.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1 Nguyễn Văn Châu (1996) “Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bảo hiểm xã hội Bắc Ninh
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Nguyễn Văn Châu (1996) về “ thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu” đã giúp cho BHXH Tỉnh Bắc Ninh có cái nhìn rõ nét về thực trạng Thu BHXH trên địa bàn Tỉnh năm 1996, qua đó hoàn thiện nâng cao công tác quản lý thu BHXH Năm 1996 chuyển dịch kinh tế còn chậm, chưa có nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh, địa bàn rộng nên việc quản lý thu bảo hiểm xã hội còn gặp nhiều khó khăn, việc tổng hợp và lập danh sách thu tại các đơn vị còn rất sơ sài và hạn chế, chỉ dựa vào sổ sách kẻ tay Nhà nước còn có quy định Doanh nghiệp phải có trên 10 lao động thì mới được tham gia BHXH nên DN chỉ kể khai số lao động dưới mức quy định để tránh việc đóng BHXH Đề tài cũng chỉ ra được việc kết hợp quản lý đối tượng đóng bảo hiểm xã hội thông Sở lao động thương binh xã hội Tỉnh, khi tiền hành thành lập Doanh nghiệp, điều này giúp ích khá nhiều trong việc quản lý thu triệt để những đối tượng tham gia BHXH trong giai đoạn này
2 Nguyễn Văn Tám (2004) “ Hoàn thiện quản lý bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, luận văn thạc sỹ kinh tế
Luận văn đã đánh giá thực trạng quản lý thu bảo hiểm và chỉ ra được những giải pháp hoàn thiện quản lý bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh hóa như: tổ chức tuyên truyền, giáo dục, mở rộng phát triển đối tượng tham gia, tăng cường biện pháp để phát triển và quản lý nguồn thu, khắc phục nợ đọng, cải tiến phương thức quản lý, tăng cường công tác thanh kiểm tra
3 Trần Quốc Túy (2006) “Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Bắc Ninh”, luận văn thạc sỹ
Đề tài nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 1995 đến năm 2000; làm rõ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn về quản lý thu BHXH khu vực này; thực trạng và giải pháp hoàn
Trang 38thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam
4 Bùi Thị Thanh Thanh (2011) “Quản lý thu bảo hiểm xã hội từ các doanh nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sỹ
Trên cơ sở lý luận chung về BHXH nói chung, luận văn đã tổng quát hóa
cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH Đồng thời cũng đã phân tích và đưa ra được những kinh nghiệm của một số nước về công tác quản lý thu BHXH Qua đó là những cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Tác giả đưa ra một vài giải pháp thức thời với giai đoạn thu BHXH lúc này như đưa công tác quản lý vào công nghệ thông tin để quản lý
5 Hà Mạnh Cường (2012) “ Giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương “, luận văn thạc sĩ
Luận văn của tác giả cũng tập trung vào nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp chống thất thu trên địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Luận văn đề cập tới 3 nhóm giải pháp: quản lý nhóm đối tượng thu, tổ chức thu BHXH, giải pháp đối với Doanh nghiệp Việc đề ra các giải pháp với cách chia nhóm giải pháp như trong luận văn đã góp phần tốt hơn trong việc thực hiện những giải pháp này trong tương lại
6 Lê Văn Lưu ( 2014 ) “ Giải pháp chống thất thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Hưng Yên “, luận văn thạc sĩ
Chống thất thu là một khái niệm khá mới mẻ trong công tác Bảo hiểm xã hội của ngành Bảo hiểm hiện nay, luận văn của tác giả tập trung vào việc nghiên cứu khái niệm, thực trạng và các giải pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn Tỉnh Hưng Yên Luận văn đã đưa ra rất nhiều giải pháp mang tính tích cực trong việc thực hiện mang tính triệt để việc chống thất thu BHXH tại Hưng Yên, đây cũng là một trong những giải pháp làm bài học để nhân rộng ra không chỉ tại Tỉnh Hưng Yên mà trong cả nước
Trang 39PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm chung của địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Tiên Du là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 5km
về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Bắc Tọa độ địa lý của huyện nằm trong khoảng từ 20005’30’’ đến 21011’00’’ độ vĩ Bắc và từ 105058’15’’ đến 106006’30’’ độ kinh Đông Diện tích tự nhiên của huyện khi chưa điều chỉnh địa giới là 10.838,94 ha, với 14 đơn vị hành chính gồm: 01 thị trấn(thị trấn Lim) và 13 xã (xã Liên Bão, xã Đại Đồng, xã Phật Tích, xã Hiên Vân, xã Lạc Vệ,
xã Nội Duệ, xã Tri Phương, xã Hoàn Sơn, xã Tân Chi, xã Minh Đạo, xã Cảnh Hưng, xã Việt Đoàn, xã Phú Lâm) Huyện Tiên Du có giáp ranh với các địa phương sau:
- Phía Bắc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong
- Phía Nam giáp huyện Thuận Thành
- Phía Đông giáp huyện Quế Võ
- Phía Tây giáp thị xã Từ Sơn
Sau khi có điều chỉnh theo địa giới hành chính mới theo Nghị định 60/2007/NĐ-CP tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Tiên Du là: 9.568,65 ha, với 14 đơn vị hành chính (2 xã Khắc Niệm và Hạp Lĩnh chuyển về thành phố Bắc Ninh), gồm 01 thị trấn(thị trấn Lim) và 13 xã (xã Liên Bão, xã Đại Đồng, xã Phật Tích, xã Hiên Vân, xã Lạc Vệ, xã Nội Duệ, xã Tri Phương, xã Hoàn Sơn, xã Tân Chi, xã Minh Đạo, xã Cảnh Hưng, xã Việt Đoàn, xã Phú Lâm) Vị trí của huyện cơ bản vẫn giáp ranh với các huyện và thành phố lúc trước khi điều chỉnh địa giới
3.1.1.2 Tình hình dân số, lao động
Đến hết năm 2016, tổng vốn đầu tư vào Khu công nghiệp Tiên Sơn đã lên tới 72 triệu USD Một số khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện tiếp tục được UBND tỉnh phê duyệt như: Khu công nghiệp Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Lạc Vệ, Phú Lâm, cụm công nghiệp Tân Chi đã được phép khảo sát quy hoạch mới Trong năm 2016, có 6 doanh nghiệp đầu tư vào cụm công nghiệp Phú Lâm, Khắc Niệm,
Trang 40Hạp Lĩnh, trong đó có một doanh nghiệp Hàn Quốc
Công nghiệp phát triển đất nông nghiệp sẽ càng thu hẹp lại, số lao động nông thôn thiếu việc làm ngày càng tăng, giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn là nhu cầu cần thiết thực tế số lao động thiếu việc làm trên địa bàn huyện tiếp tục tăng vì lý do trình độ của người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Vấn đề đào tạo nghề, chương trình hướng nghiệp cho thanh niên đã được huyện mở 14 lớp trong năm 2016 với gần 1.000 học viên tham gia Hiện nay, huyện Tiên Du có 1.780 lao động và người dân địa phương vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp Trong số lao động dôi dư khi bị thu hồi đất có một số lượng khá lớn đối tượng có độ tuổi từ 30 trở lên Đây là đối tượng, không còn cơ hội đào tạo nghề để vào làm việc tại các khu công nghiệp Để giải quyết việc làm cho họ, huyện đã tích cực triển khai chương trình giải quyết vốn vay, tạo việc làm tại chỗ trên cơ sở phối hợp với ngân hàng chính sách và chương trình khuyến công của Sở Công nghiệp
Trong năm 2016, đã có 24 dự án vay vốn tạo việc làm tại chỗ với dư nợ cho vay đạt 1,3 tỷ đồng Bằng nguồn vốn vay hỗ trợ của huyện, nhiều mô hình kinh
tế hộ được tiếp sức như: Mô hình VAC, HTX tiểu, thủ công sản xuất mây tre đan, thêu ren xuất khẩu bước đầu làm ăn có hiệu quả Năm 2016, huyện Tiên Du chú trọng đến lĩnh vực xuất khẩu lao động Đây là lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo nhanh nhất, hiệu quả nhất, đồng thời tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, sau khi hết hợp đồng lao động ở nước ngoài Năm 2016, bằng việc phối hợp với Công ty INTRACÔ, công nghiệp Quốc Phòng, Công ty vận tải miền Bắc đã đưa hơn 700 lao động của huyện đi làm việc tại Malaixia, ả Rập, một số nước khu vực Trung Đông v.v Tạo việc làm tại chỗ bằng việc hỗ trợ vốn cũng như đào tạo nghề, tích cực xúc tiến xuất khẩu lao động là những giải pháp thiết thực với một quy trình ngày một hợp lý và hiệu quả hơn đã làm giảm đi những bức xúc về nhu cầu việc làm
Một động thái có ý nghĩa thiết thực như: Hoạt động thương mại-dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển Huyện có một hệ thống chợ nông thôn như: chợ Và, chợ Sơn, chợ Ve là những điểm giao lưu hàng hóa truyền thống Hiện nay, 3 chợ này được UBND huyện quy hoạch để đầu tư nâng cấp, mở rộng thành trung tâm thương mại xứng tầm với mỗi khu vực dân cư tạo điều kiện để nhân dân tham gia hoạt động buôn bán phát triển kinh tế Tiềm năng sinh thái-văn hóa với những danh lam như Phật Tích, Hiên Vân Phát huy tốt những lợi thế và sáng tạo chủ động vươn lên, Tiên