1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách và phương thức cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa tbr225 tại huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc

95 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa tbr225 tại huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc .... Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến s

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHAN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH VÀ PHƯƠNG THỨC CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TBR225 TẠI HUYỆN VĨNH TƯỜNG,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Thu Hiền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ích Tân và TS Trần Thị Thiêm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác học, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức phòng Nông nghiệp

& PTNT, trạm Khuyến nông huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abtract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới và Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới 4

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước 10

2.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Vĩnh Phúc 13

2.1.4 Tình hình sản xuất lúa tại Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc 15

2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến cây lúa trên thế giới và Việt Nam 16

2.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến cây lúa trên thế giới 16

2.2.2 Kết quả nghiên cứu về khoảng cách cây và hàng cấy ảnh hưởng đến cây lúa tại Việt Nam 19

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Địa điểm nghiên cứu 25

3.2 Thời gian nghiên cứu 25

Trang 5

3.3 Vật liệu nghiên cứu 25

3.4 Nội dung nghiên cứu 25

3.4.1 Đánh giá khoảng cách cây và hàng cấy đang áp dụng cho giống lúa TBR225 tại huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc 25

3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa tbr225 tại huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc 25

3.5 Phương pháp nghiên cứu 26

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 26

3.5.2 Bố trí thí nghiệm 26

3.5.3 Biện pháp kỹ thuật và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4 Kết quả và thảo luận 33

4.1 Hiện trạng canh tác giống lúa TBR225 và phương thức cấy lúa tại huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc 33

4.1.1 Diện tích và cơ cấu giống lúa từ năm 2015-2017 33

4.1.2 Diện tích và tỷ lệ áp dụng các phương thức cấy trên giống lúa TBR225 từ năm 2014-2016 35

4.1.3 Khoảng cách cây và hàng cấy được áp dụng cho giống lúa TBR225 37

4.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh hại và năng suất của giống lúa TBR225 40

4.2.1 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các chỉ tiêu sinh trưởng 40

4.2.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các chỉ tiêu sinh lý 50

4.2.3 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến mức độ gây hại của một số loại sâu bệnh hại chính 58

4.2.4 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 60

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Đề nghị 67

Tài liệu tham khảo 68

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV Bảo vệ thực vật

CCCC Chiều cao cuối cùng

CIAT Chartered Institute of Architectural Technologists

CV% Hệ số biến động

FAO Food and Agriculture

HĐND Hội đồng nhân dân

ICM Integrated Crop Management

IPM Integrated Pest Management

IRRI International Rice Research Institute

LAI Chỉ số diện tích lá

LSD5% Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 0,05

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

TGST Thời gian sinh trưởng

UBND Ủy ban nhân dân

USDA United States Department of Agriculture

Trang 7

Bảng 2.5 Diễn biến tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ 2007-2016 11 Bảng 2.6 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Vĩnh Phúc 2007-2016 13 Bảng 2.7 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 2007-2016 15 Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu giống lúa từ năm 2015-2017 34 Bảng 4.2 Diện tích và tỷ lệ áp dụng các phương thức cấy trên giống lúa

Bảng 4.3 Khoảng cách cây và hàng cấy được áp dụng cho giống lúa TBR225

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến thời gian sinh

trưởng và phát triển của giống lúa TBR225 40 Bảng 4.5 Ảnh hưởng riêng rẽ của của khoảng cách cây và hàng cấy đến động

Bảng 4.6 Ảnh hưởng tương tác của khoảng cách cây và hàng cấy đến động thái

Bảng 4.7 Ảnh hưởng riêng rẽ của khoảng cách hàng và khoảng cách cây đến

Trang 8

Bảng 4.12 Ảnh hưởng tương tác của khoảng cách cây và hàng cấy đến chỉ số

diện tích lá (m2

Bảng 4.13 Ảnh hưởng tương tác của khoảng cách cây và hàng cấy đến khối

lượng chất khô (g chất khô/m2

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến mức độ gây hại của

Bảng 4.15 Ảnh hưởng riêng rẽ của khoảng cách cây và hàng cấy đến các yếu tố

Bảng 4.16 Ảnh hưởng tương tác của khoảng cách cây và hàng cấy đến các yếu tố

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Ảnh hưởng của khoảng cách cây đến chỉ số diện tích lá 51

Hình 4.2 Ảnh hưởng của khoảng cách hàng đến chỉ số diện tích lá 51

Hình 4.3 Ảnh hưởng của khoảng cách cây đến khối lượng chất khô tích lũy 55

Hình 4.4 Ảnh hưởng của khoảng cách hàng đến khối lượng chất khô tích lũy 55

Hình 4.5 Ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến năng suất thực thu 65

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phan Thị Thu Hiền

Tên Luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách và phương thức cấy đến sinh

trưởng, năng suất giống lúa TBR225 tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành ngoài đồng ruộng và bố trí theo kiểu Split-plot với

ba lần nhắc lại Nhân tố ô chính là khoảng cách cây gồm 3 mức: P1 (10 cm), P2 (13 cm) và P3 (16 cm) Nhân tố ô phụ là khoảng cách hàng cấy (R1: hàng cách hàng đều nhau là 25 cm; R2: hàng rộng – hàng hẹp: 35 cm - 15 cm) Thí nghiệm gồm 6 công thức Cấy 2 dảnh/khóm

Diện tích của 1 ô thí nghiệm là 15 m2

Kết quả thí nghiệm cho thấy, khi tăng khoảng cách cây cách cây đã làm tăng chỉ

số diện tích lá và khả năng tích luỹ chất khô dẫn đến năng suất tăng Ngoài ra, cấy hàng rộng-hàng hẹp cho năng suất cao hơn cấy hàng cách hàng đều Hơn nữa, sự tương tác giữa khoảng cách cây cách cây và hàng cấy có ảnh hưởng đến năng suất thực thu ở mức

có ý nghĩa Năng suất thực thu cao nhất khi khoảng cách cây cách cây 16 cm và cấy hàng rộng - hàng hẹp (35 cm - 15 cm) là 80,33 tạ/ha

Trang 11

THESIS ABTRACT Master candidate: Phan Thi Thu Hien

Thesis title: “Study on the effects of spacing and transplanting method on growth, yield

of rice TBR225 in Vinh Tuong district, Vinh Phuc province”

Major: Crop Science Code: 8620110

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objectives

The aim of this study was to evaluate the effect of spacing and transplanting method on the growth and yield of rice TBR225

Materials and Methods

The field experiment was a split-plot design with three replications Plant spacing which served as main factor included: P1 (10 cm), P2 (13 cm) and P3 (16 cm); the sub-factor consisted of two row spacings as R1 (regularly transplanted row spacing: 25 cm) and R2 (unregularly transplanted row spacing: 35 cm - 15 cm)

Main fiddings and conclusions

The results of the household survey show that: rice TBR225 and unregularly transplanted row spacing (35cm - 15cm) are being selected for other rice varieties and regularly transplanted row spacing At the spacing of plants and rows of farmers are applied, the rice is spaced 1 row wide (35 cm) 1 narrow row (15 cm) and the distance plant is 16 cm (corresponding to the density of 25 plants/m2) yielded the highest yield The obtained results showed that the increase of plant spacing increased the grain yield due to the increased leaf area index and dry matter production In addition, the grain yield was significantly higher at unregularly transplanted row spacing than at regularly transplanted row spacing Futhermore, ignificant two-way interactions between plant spacing and row spacing were also significantly observed for the grain yield The grain yield was the highest in treatment with plant spacing as 16 cm and unregularly transplanted row spacing as 35 cm - 15 cm (P3R2: 80,33 quintal/ha)

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong năm loại lương thực chủ yếu của thế

giới Lúa gạo ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới và là nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu cho con người Ước tính thế giới cần tăng thêm

116 triệu tấn gạo vào năm 2035 so với mức 439 triệu tấn của năm 2010 (Seck, 2012) Hiện nay có hơn 100 quốc gia sản xuất lúa gạo, trong đó châu Á là nơi gắn liền với nền văn minh lúa nước lâu đời, sản xuất lúa gạo chiếm phần lớn về diện tích và sản lượng trên thế giới Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp hiện nay nhu cầu về gạo chất lượng cao của thị trường ngày càng tăng lên

Trong sản xuất trồng trọt, việc xác định đúng khoảng cách, mật độ gieo trồng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo năng suất quần thể (Shirtliffe and Johnston, 2002) Ở quần thể ruộng lúa, mật độ gieo/cấy và số dảnh cấy có liên quan đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất Nếu gieo cấy quá dày hoặc nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu

mà vẫn không làm bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi (Hoàng Kim, 2016)

Hiện nay, phương pháp cấy lúa hàng rộng – hàng hẹp đã phát huy được hiệu ứng hàng biên là tận dụng ánh sáng chiếu trực tiếp vào gốc, thân, lá để kích thích lúa phát triển nhanh, đẻ sớm và đẻ nhánh khỏe, do đó làm tăng số cây/khóm

và tăng số hạt/bông Theo Lệ Chi (2017), phương pháp này được cấp bằng độc quyền sáng chế tháng 9/2015, được trao Giải thưởng Vifotec năm 2015 Tại Hội chợ triển lãm Khoa học và Công nghệ quốc tế được tổ chức ở Hàn Quốc năm

2016, phương pháp cấy lúa hiệu ứng hàng biên đã được Hàn Quốc trao huy chương đồng và Thái Lan trao huy chương vàng Kết quả cho thấy, nhờ phương pháp cấy giúp tận dụng quy luật hiệu ứng hàng biên tối ưu và quy luật sức tạo bông tối ưu/khóm này, nông dân giảm được ít nhất 1/3 chi phí công lao động, giống, thuốc trừ sâu bệnh, phân bón nhưng tăng được 10-20% năng suất do cây lúa sử dụng ánh sáng cho quang hợp triệt để hơn, bộ rễ phát triển tốt hơn, đẻ khỏe, ít sâu bệnh, giảm tiêu tốn nước

Trang 13

Giống lúa TBR225 là giống lúa cải tiển kiểu mới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, tập trung, chịu thâm canh, năng suất cao và ổn định, chất lượng gạo ngon, thời gian sinh trưởng ngắn thuận lợi cho việc bố trí cơ cấu cây trồng ba vụ và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc nên được trồng với diện tích lớn Vì vậy, để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa TBR225 trên đồng đất Vĩnh Tường trong điều kiện vụ xuân, việc xác định khoảng cách cây cách cây và khoảng cách hàng cách hàng cấy thích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc nhân rộng giống lúa này đặc biệt là trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp của đất nước hiện

nay Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

ảnh hưởng của khoảng cách và phương thức cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa TBR225 tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách và phương thức cấy thông qua khoảng cách cây và hàng cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa TBR225 từ đó tìm ra khoảng cách cây và hàng cấy phù hợp cho giống lúa này trong điều kiện vụ Xuân tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: các đặc điểm sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa TBR225 ở các khoảng cách cây và hàng cấy khác nhau tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Địa điểm nghiên cứu: xứ đồng Gia công, thôn Nhật Tân, thị trấn Vĩnh Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 01/2017-4/2018

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo cấy giống lúa TBR225 trên đồng đất Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Bổ sung tài liệu tham khảo kỹ thuật gieo cấy giống lúa TBR225 phục

vụ cho công tác chuyển giao kỹ thuật, mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa TBR225

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo cấy giống lúa TBR225 trên đồng đất Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và các vùng lân cận có điều kiện sinh thái tương tự

- Từng bước mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa TBR225, cải thiện năng suất nâng cao chất lượng lúa gạo, nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa nhằm góp phần đảm bảo các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới

Lúa gạo là một loại lương thực quan trọng đối với khoảng 3,5 tỷ người, chiếm hơn 50% dân số thế giới Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO) năm 2016 sản lượng lúa gạo đạt 741,52 triệu tấn tăng 2,02 triệu tấn so với năm 2015 (739,50 triệu tấn) và có xu thế tăng trong những năm tiếp theo Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới trong vòng 10 năm trở lại đây diễn biến như sau:

Bảng 2.1 Diễn biến tình hình sản xuất lúa trên thế giới 10 năm

gần đây từ 2007-2016

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

Qua bảng 2.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa gạo trên thế giới từ năm 2017

có xu hướng tăng, đạt cao nhất năm 2013 sau đó có xu hướng giảm dần Tuy nhiên sản lượng và năng suất lúa gạo thế giới lại có xu hướng tăng dần Điều này cho thấy cuộc “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến, phù hợp được áp dụng đã góp phần làm cho năng suất và sản lượng lúa tăng lên đáng kể

Trang 16

Hiện nay thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng Theo số liệu của FAO (2017) tình hình sản xuất lúa gạo của các châu lục trên thế giới năm 2016 cụ thể như sau:

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất lúa các châu lục năm 2016

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

Điều kiện gieo trồng ở hầu khắp châu Phi cũng thuận lợi nên sản lượng năm

2016 ước tính tăng 5% lên kỷ lục cao 32,50 triệu tấn Ở khu vực này, Guinea, Mali, Nigeria và Tanzania đều bội thu; sản lượng của Ai Cập hồi phục sau khi giá tăng hấp dẫn nông dân và xu hướng chuyển từ trồng bông sang trồng lúa Sản lượng tăng ở những nước này bù lại cho sự sụt giảm ở Bờ Biển Ngà, Malawi, Mauritania, Mozambique và Zambia (chủ yếu do thiếu mưa) Diện tích lúa gạo ở châu Phi đứng thứ 2 thế giới với 12,5 triệu ha và sản lượng đứng thứ 3 thế giới là

Trang 17

32,5 triệu tấn

Châu Mỹ có diện tích lúa gạo đứng thứ 3 thế giới với 6,12 triệu ha song sản lượng lại đứng thứ 2 thế giới với con số 35,99 triệu tấn, cao hơn châu Phi do khu vực này có năng suất lúa gạo khá cao, bằng 226,15% so với châu Phi

Châu Đại Dương có diện tích và sản lượng lúa gạo thấp nhât thế giới song năng suất lại đứng đầu thế giới bằng 201,94% so với năng suất trung bình trung toàn thế giới

Theo FAO (2017), 10 nước sản xuất lúa gạo đứng đầu thế giới năm 2016 được thể hiện qua bảng 2.3

Bảng 2.3 Top 10 quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới năm 2016

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

Trung Quốc có diện tích trồng lúa đứng thứ 2 thế giới với 30,45 triệu ha, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân năm 2016 đạt 6,93 tấn/ha, sản lượng đạt 211,02 triệu tấn, chiếm 28,46% tổng sản lượng lúa gạo, dẫn đầu về sản lượng lúa trên thế giới Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình

Trang 18

công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ

và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc

Năm 2016, Thái Lan là nước có sản lượng lúa đứng thứ 7 nhưng lại là nước

có sản lượng gạo xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới, nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích là 8,68 triệu ha, năng suất bình quân 2,91 tấn/ha, sản lượng 25,26 triệu tấn Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày, hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất… điều này giải thích tại giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam

Theo số liệu thống kê, hiện nay các nước sản xuất gạo ở Châu Á vẫn là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới bao gồm Thái Lan, Việt Nam,

Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới

Nhìn chung thương mại gạo trên toàn cầu năm 2016 giảm so với những dự đoán ban đầu do nhu cầu của các nước nhập khẩu giảm Trái với dự đoán ban đầu, tiêu thụ của Ấn Độ giảm, tồn trữ lại tăng lên, và nước này vẫn là nhà xuất khẩu gạo số 1 thế giới Trái lại, xuất khẩu của Thái Lan thấp hơn kỳ vọng ban đầu, và bán gạo tồn trữ của nước này rất chậm mặc dù chính phủ cam kết sẽ giải phóng các kho tồn trữ này thông qua các phiên đấu giá Xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng khó khăn bởi phải cạnh tranh với các nước khác, nhất là Thái Lan, nơi

có lượng tồn trữ khổng lồ

Năm 2017, thương mại gạo thế giới dự báo sẽ tăng nhờ nhu cầu tăng từ châu Á

và Trung Đông Xuất khẩu của Ấn Độ dự báo sẽ vẫn đứng đầu thế giới về khối lượng, mặc dù sụt giảm so với năm 2016 Xuất khẩu của Thái Lan dự báo sẽ tăng bởi tiếp tục bán gạo tồn trữ và nguồn cung từ vụ thu hoạch mới cũng sẽ tăng Xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ tăng nhưng vẫn thấp hơn những năm gần đây

Trang 19

Bảng 2.4 Dự báo cung cầu gạo thế giới của Bộ nông nghiệp Mỹ

(USDA) niên vụ 2016/17 trong tháng 1/2017

đầu vụ

Dự trữ cuối vụ

Sản lƣợng

Nhập

Xuất khẩu

Thế giới 116,51 480,02 38,52 477,81 40,83 118,71

Các nước còn lại 115,03 472,9 37,77 473,62 37,28 117,12 Nước XK chủ yếu 28,91 159,54 0,56 132,75 29,7 26,56

là thời tiết xấu có thể sẽ buộc nước này phải nhập khối lượng lớn Nhập khẩu vào

Trang 20

Philippines dự báo sẽ trở lại bình thường bởi lượng dự trữ cạn dần Tuy nhiên đối với Bangladesh, sản xuất đủ và việc tăng thuế nhập khẩu đã khiến nhập khẩu giảm mạnh trong năm 2016, và dự báo sẽ vẫn thấp trong tương lai gần Những thị trường khác như Nigeria, Indonesia và Iran cũng sẽ giảm nhẹ nhập khẩu trong năm 2016

Về nguồn cung, sản lượng của Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thương mại gạo thế giới giảm trong năm 2016 Xuất khẩu gạo Việt Nam ước tính giảm xuống mức thấp nhất trong 7 năm trở lại đây một phần do sản lượng giảm, phần nữa do nhu cầu của những thị trường trọng điểm giảm sút Ở những nơi khác, Australia, Brazil và Ấn Độ xuất khẩu cũng bị giảm Xuất khẩu của Myanmar cũng bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc đang nỗ lực kiểm soát nhập khẩu gạo qua tất cả các đường biên giới Trong khi đó, lượng tồn trữ còn nhiều tạo cơ hội cho Argentina, Pakistan, Paraguay, Thái Lan, Mỹ và Uruguay tăng xuất khẩu trong năm nay Campuchia, Trung Quốc lục địa, Liên minh châu Âu và Liên bang Nga cũng tương tự như vậy

Triển vọng nhập khẩu vào châu Âu và Bắc Mỹ sẽ tăng, nơi có nhu cầu trong nước mạnh và sẽ tiếp tục tăng trong năm 2017 Nhu cầu mua ở Mỹ Latinh

và Caribe có thể giảm nhẹ bởi sản lượng trong nước tăng và giá gạo nội địa giảm Trong số những nước xuất khẩu, sản lượng hồi phục sẽ cho phép Ấn Độ duy trì

vị thế nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm thứ 6 liên tiếp Australia, Trung Quốc lục địa, Pakistan, Mỹ và Việt Nam đều sẽ tăng xuất khẩu trong năm 2017, trái lại Argentina, Brazil, Campuchia, Guyana, Myanmar, Paraguay, Thái Lan và Uruguay sẽ giảm xuất khẩu do cạnh tranh khó hơn trên các thị trường

Mặc dù điều chỉnh giảm 1 triệu tấn, tiêu thụ gạo toàn cầu năm 2016/17 dự báo sẽ vượt 5,2 triệu tấn so với năm 2015/16, lên 500,2 triệu tấn Sử dụng gạo làm lương thực sẽ tăng 1,5% lên 402,5 triệu tấn, mức tăng tập trung ở châu Á do dân số tăng, và nhu cầu ở châu Phi sau khi nguồn cung được cải thiện và giá rẻ Khối lượng gạo trong ngành chăn nuôi và các mục đích/lý do khác (chủ yếu là hạt giống, thất thoát sau thu hoạch và sử dụng trong công nghiệp) sẽ lần lượt ở mức 18 triệu và 79,9 triệu tấn Trên cơ sở đó, tiêu thụ gạo lương thực trung bình người trên toàn cầu năm 2016/17 chắc chắn sẽ vượt mức trung bình 54,1 kg năm 2015/16 lên 54,2 kg năm 2016/17

Trang 21

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước

Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có nền văn minh lúa nước lâu đời và sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất tại châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc,

Ấn Độ, Việt Nam Cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên

Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ nhất định Nhiều thập kỷ qua thương hiệu lúa gạo Việt Nam đã khẳng định được vị thế trên trường quốc tế Việt Nam nhiều năm liền được xếp vào nhóm các nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và quốc tế, sản xuất lúa gạo còn là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước

Theo Tổng cục thống kê (2017) dân số nước ta là hơn 92 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn chiếm 67,9% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm 41,9% lực lượng lao động cả nước Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân

Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương thực Cũng theo Tổng cục thống kê, năm 2016 diện tích lúa cả nước là 7,79 triệu

ha trong tổng số 11,68 triệu ha cây hàng năm Như vậy, bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hút nguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ vị trí của lúa gạo trong nền kinh tế quốc dân

Trước năm 1945, diện tích trồng lúa cả nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn Hiện nay, với những tiến bộ vượt bậc trong sản suất nông nghiệp, người dân đã tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp đầu tư thâm canh cao và hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Năm 1996, nước ta xuất khẩu được 3,2 triệu tấn lương thực Năm 1999, nước ta vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Năm 2002, tổng sản lượng lương thực đạt 36,4 triệu tấn, trong đó lúa chiếm 70% Tuy nhiên con số này bị chững lại vào năm 2003 giảm xuống còn 34,5 triệu tấn Theo FAO, năm 2006 Việt Nam có tổng sản lượng lúa

Trang 22

hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới nhưng lại là nước xuất khẩu đứng thứ hai thế giới Hiện nay với sản lượng lúa gạo xuất khẩu bình quân trên dưới 4 triệu tấn/năm Hạt gạo Việt Nam không những đủ đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần rất quan trọng trong thị trường lúa gạo thế giới (Nguyễn Ngọc Đệ, 2006)

Sản xuất kinh doanh lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây tương đối ổn định cả về diện tích và sản lượng, diện tích đạt cao nhất năm 2013 với 7,9 triệu ha và sản lượng đạt cao nhất năm 2015 với 45,18 triệu tấn Chi tiết thể hiện qua bảng 2.5:

Bảng 2.5 Diễn biến tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ 2007-2016

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các

hộ nông dân nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo Trong gần ba thập kỷ qua nhờ đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà hàng năm còn tham gia xuất khẩu với kim ngạch đáng kể và đóng góp không nhỏ cho ngân sách quốc gia

Như vậy, bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hút nguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ vị trí của lúa gạo trong nền kinh tế quốc dân

Có được thành tựu trên nhờ chúng ta không ngừng cải thiện công tác chọn tạo giống trong sản xuất lúa, đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam

Trang 23

trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 45 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ

5 - 6 triệu tấn Việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa

có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp Quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà nông và Nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới có

hy vọng đạt kết quả như mong muốn

Bên cạnh những biện pháp đổi mới của Chính phủ, công tác cải tiến giống lúa có vai trò quan trọng và sau đó là những thay đổi kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long… Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần cải tiến kiểu mới có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng là yếu tố cơ bản làm tăng năng suất lúa Hiện nay các giống lúa mới chiếm khoảng 65% diện tích gieo trồng của cả nước Những năm gần đây nước ta có chính sách mở cửa nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế IRRI, CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc

Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất và được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối với sản phẩm gạo chất lượng cao Theo các báo cáo tại hội nghị “Giải pháp phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long” năm

2016, các doanh nghiệp xuất khẩu hơn 4,8 triệu tấn gạo, trị giá 2,1 tỷ USD Hạt gạo Việt Nam có mặt tại trên 150 nước, thị trường chính là Trung Quốc (chiếm 38%), Philippines (9%), Malaysia (9%), Bờ Biển Ngà (9%)… Vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 50% sản lượng và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của

Trang 24

nghiệp đã hình thành nhưng còn chậm, chiếm chưa đến 4% tổng sản lượng lúa thu hoạch hàng năm Chính sách đất đai chưa tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích quá trình tích tụ ruộng đất, tăng quy mô sản xuất

2.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Vĩnh Phúc

Cùng với sự phát triển của nghề trồng lúa trong cả nước, tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất lúa và đã thu được nhiều kết quả nhất định nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nên diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên địa bàn toàn tỉnh tăng nhanh trong những năm gần đây Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2007-2016 thể hiện qua bảng 2.6:

Bảng 2.6 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Vĩnh Phúc 2007-2016

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Giai đoạn 2001 - 2005, tỉnh đề ra 10 chương trình phát triển kinh tế - xã

Trang 25

hội trọng điểm, trong đó tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa với 18 dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và 15 dự án xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được triển khai thực hiện Thông qua việc thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như gieo cấy lúa theo lịch thời vụ, gieo mạ tập trung có che phủ nilon, cấy mạ non, bón phân cân đối,

áp dụng IPM, thực hiện 3 giảm, 3 tăng, thử nghiệm, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất… Vĩnh Phúc đã thành công trong việc mở rộng hơn 75% diện tích trà lúa xuân muộn, hơn 85% diện tích mùa sớm (bỏ hẳn trà lúa xuân chính vụ, mùa cực sớm) với bộ giống lúa chủ lực Khang dân 18, Q5, lúa lai bội tạp sơn thanh; là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất các giống lúa có chất lượng góp phần tạo sự bứt phá với năng suất lúa vượt 50 tạ/ha vào năm 2005

Sau khi Nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân được ban hành đã tạo nên cuộc cách mạng

về chuyển đổi cơ cấu giống lúa chất lượng trên địa bàn tỉnh, làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của của người dân theo tư duy sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường Nhiều giống lúa mới có đặc tính chất lượng gạo ngon, năng suất cao như TBR225, RVT, QR1, Thiên ưu 8, lúa lai: GS9, TH3-3, TH3-5 nhanh chóng được nông dân đưa vào sản xuất, hình thành các vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao ở các huyện: Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương; các mô hình cấy lúa theo hiệu ứng hàng biên; mô hình cánh đồng mẫu lớn… nhờ vậy năng suất lúa liên tục tăng

Hiện thực hóa chủ trương Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Năm 2016, tỉnh đã hỗ trợ gần

300 tấn lúa giống lúa mới: TBR225, Thiên ưu 8, RVT, Hương thơm số 1 cho bà con nông dân Thực tế cho thấy, đây là những giống lúa có năng suất cao, khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận của thời tiết, có khả năng thay thế diện tích giống lúa Khang dân 18 (đã tồn tại trên đồng đất của tỉnh khoảng 18 năm, đến nay đã có biểu hiện thoái hóa và giá trị sản xuất thấp) tạo ra vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao

Để đạt mục đến năm 2020, toàn tỉnh có 100% giống lúa mới chất lượng được đưa vào sản xuất; 50% diện tích đất lúa được đưa vào sản xuất theo quy trình VietGAP Trong thời gian tới bên cạnh quy hoạch lại, chuyển đổi diện tích lúa sản xuất kém hiệu quả sang trồng các loại cây rau màu, tỉnh hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất giống liên kết với hộ nông dân để sản xuất giống lúa; hỗ

Trang 26

trợ một số giống lúa chất lượng để thay thế dần giống lúa kém chất lượng; xây dựng mô hình sản xuất theo quy trình lúa sạch VietGAP; cải thiện hệ thống thủy lợi, nhất là hệ thống tiêu úng; tổ chức các hình thức hợp tác của nông dân nhằm quản lý sản xuất theo đúng quy trình; có cơ chế khuyến khích các công ty chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân

2.1.4 Tình hình sản xuất lúa tại Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

Vĩnh Tường với 29 xã, thị trấn có tổng diện tích đất tự nhiên là 14.400 ha, trong đó có 8.445 ha là đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, Vĩnh Tường được xác định là huyện nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Vĩnh Phúc Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Tường giai đoạn 1995-2016 được thể hiện qua bảng số liệu 2.7 như sau:

Bảng 2.7 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc

2007-2016

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc (2007-2017)

Nhiều cơ chế, chính sách, hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất như: Quyết định số 07/2016/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định thực hiện một số cơ chế, chính sách hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020 theo Nghị Quyết số 201/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 của HĐND tỉnh…đã góp phần thúc đẩy nông dân tích cực tham gia sản xuất, là động lực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp trong thời gian tiếp theo

Trang 27

Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống cây trồng, phân bón, thuốc BVTV… được ứng dụng vào sản xuất Hàng năm, UBND huyện liên tục chỉ đạo đưa các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất bằng cách xây dựng các mô hình trình diễn, đưa bà con nông dân đi thăm quan học tập các mô hình có hiệu quả… Từ

vụ Xuân 2014, nông dân tại một số xã, thị trấn đã thí điểm mô hình cấy lúa theo phương thức cấy 1 hàng rộng 1 hàng hẹp thay cho phương thức cấy khoảng cách hàng cách hàng đều nhau, điển hình ở xã Vĩnh Sơn, Vũ Di, Vân Xuân, thị trấn Vĩnh Tường… Theo kết quả điều tra nông hộ về các biện pháp kỹ thuật và tình hình đầu tư trong sản xuất lúa từ 2014 -2016 tại xã Vĩnh Sơn và thị trấn Vĩnh Tường cho thấy: nông dân Vĩnh Tường có kinh nghiệm lâu năm trong việc trồng lúa, liên tục cập nhật những kiến thức trồng lúa mới áp dụng vào sản xuất Trước đây hầu hết các hộ nông dân đều cấy lúa theo kỹ thuật canh tác lúa cải tiến SRI

và áp dụng quy trình quản lý cây trồng tổng hợp ICM Đến năm 2015, một số bà con bắt đầu áp dụng theo phương thức canh tác cấy 1 hàng rộng 1 hàng hẹp song song với các quy trình thâm canh sẵn có Kết quả đa số các hộ áp dụng phương pháp mới này cho năng suất thu hoạch cao hơn cấy theo phương pháp cấy hàng cách hang đều nhau Bên cạnh đó vẫn còn một số hộ thu hoạch được năng suất tương đương thậm trí thấp hơn so với phương pháp cũ Nguyên nhân được xác định là do khoảng cách cây và hàng cấy lúa thưa quá hoặc dày quá đồng thời các biện pháp kỹ thuật không được áp dụng đúng, các giống lúa khác nhau…

2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH CÂY VÀ HÀNG CẤY ĐẾN CÂY LÚA TRÊN THẾ GIỚI

Trong sản xuất lúa, mật độ cấy là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất (Gorgy, 2010) Theo Shirtliffe and Johnston (2002), mật độ tối ưu cho mỗi cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả đặc điểm cây, thời vụ và phương pháp gieo trồng, kích thước cây, dinh dưỡng đất, độ ẩm đất, ánh sáng và

Trang 28

tình hình cỏ dại Khoảng cách cây không hợp lý có thể làm giảm năng suất từ 25

- 30% Nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng, cây lúa có khả năng thích ứng rộng với mật độ cấy bằng cách tự điều chỉnh số hạt/bông, số bông và tỷ lệ hạt chắc, dẫn đến có sự tương quan giữa năng suất với mật độ cấy

Mobasser et al (2007) cây trồng phát triển phụ thuộc phần lớn vào nhiệt

độ, bức xạ mặt trời, độ ẩm và độ màu mỡ của đất đối với sự phát triển và nhu cầu dinh dưỡng của chúng Mật độ, khoảng cách cây và hàng cấy không phù hợp có thể có giới hạn về khả năng sẵn có của các yếu tố này Do đó, cần xác định mật

độ tối ưu của quần thể cây trồng trên một đơn vị diện tích để đạt được sản lượng tối đa Cũng theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này thì mật độ, khoảng cách trồng cây có ảnh hưởng đáng kể đến chiều cao cây, tổng số bông, tổng số hạt và năng suất thu hoạch Chiều cao cây giảm khi mật độ tăng, khoảng cách giảm; số bông/m2

tăng khi mật độ giảm, khoảng cách tăng dần Năng suất thực thu thu được cao nhất ở công thức có mật độ 60 cây/m2, mật độ thưa quá hoặc dày quá đều cho năng suất thấp hơn Khi làm thí nghiệm với mật độ cấy là 15x15

cm, 20x20 cm và 25x25cm Bozorgi et al (2011) đã công bố kết quả năng suất

hạt, năng suất sinh vật học cao nhất khi cấy với mật độ 20x20cm, năng suất hạt thấp nhất khi cấy với mật độ 15x15 cm Khối lượng chất khô, chiều cao cây và tỷ

lệ hạt lép cao nhất với mật độ 15x15 cm Tỷ lệ hạt lép thấp nhất ở mật độ 20x20

cm Tổng số hạt/bông và số bông/m2 lớn nhất với mật độ 25x25cm, giá trị này nhỏ nhất ở mật độ 15x15 m2

Theo Mohapatra et al ( 1989) mật độ 20x20 cm thích hợp hơn so với mật

độ 15 x 15 cm hoặc 15 x 20 cm Các chỉ tiêu như chiều cao cây, diện tích lá, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lúa cấy ở mật độ 15x 10 cm cao hơn so với

khi cấy ở mật độ 15x15 cm hoặc 15 x 20 cm (Maske et al., 1997) Patel (1999) có

đưa ra nhận xét, khi so sánh mật độ 20 x 20 cm với mật độ 20 x 15 cm và 20 x 10

cm nhận thấy sự tăng lên của số nhánh/m2, năng suất và khối lượng khô Ngoài ra,

số hạt/bông và khối lượng 100 hạt không bị ảnh hưởng bởi mật độ

Theo Ysoida (1985) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và khả năng đẻ nhánh của lúa đã khẳng định, với lúa cấy khoảng cách thích hợp cho lúa

đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ 20x20 cm lên 30x30 cm, việc đẻ nhánh chỉ xảy

ra với mật độ 300cây/m2 Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng từ 182-242 dảnh/m2, số bông/đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt/bông Khi đã tiến hành thí nghiệm với nhiều giống lúa qua nhiều năm ông

Trang 29

đưa ra kết luận trong phạm vi khoảng cách cây và hàng cấy 10x10 cm - 50x50

cm thì khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Mật độ cấy thực tế là vấn

đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: Các giống khác nhau phản ứng với các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng còn tăng quá năng suất giảm xuống

Mật độ ảnh hưởng đến sự đẻ nhánh, hấp thụ bức xạ mặt trời, hấp thụ chất dinh dưỡng, khả năng quang hợp và các hiện tượng sinh lý khác cuối cùng làm

ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất cây lúa (Bozorgi et al., 2011).Khi cấy

ở khoảng cách dày thì khả năng quang hợp càng lớn vào những thời kỳ sinh trưởng từ đầu đến giữa Mặt khác, cường độ quang hợp tăng lên tỷ lệ thuận với

sự tăng diện tích lá Vì vậy, sự dự trữ những chất đồng hóa trong cây bị hiếu hụt,

tỷ lệ đậu bị giảm nên vấn đề đổ và bệnh dễ xảy ra

Theo Jennings et al., (1979), năng suất hạt tùy thuộc vào khả năng cho năng

suất, tính kháng sâu bệnh, khả năng thích nghi đối với điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác và nhiều yếu tố khác Đối với mật độ, khoảng cách chuẩn giữa các hàng lúa sạ là 30 cm Ở khoảng cách hàng rộng hơn cỏ dại sẽ mọc nhiều, khó phân biệt giữa cây có dạng tốt và dạng xấu Đa số các thí nghiệm cho thấy những dòng cho năng suất cao nhất chắc chắn sẽ cho năng suất cao hơn khi khoảng cách hàng gia tăng đến 30 cm

Sultana et al., (2012) tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của

khoảng cách hàng 20 và 25 cm, khoảng cách cây là 2,5; 5; 10; 15 và 20 cm đến cây lúa ông đã kết luận, sản lượng lúa gạo đạt cao nhất khi cấy ở khoảng cách 25

x 15 cm trong hệ thống nuôi dưỡng hiếu khí Do quần thể ruộng lúa có thêm chất dinh dưỡng, không khí và ánh sáng khi cấy ở khoảng cách rộng hơn dẫn đến việc sản lượng ngũ cốc nhiều hơn

Moradrour et al (2013) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ngày trồng và

mật độ gieo trồng đến năng suất và sinh trưởng của giống Fajr cho rằng với mật

độ trồng tăng, tổng lượng chất khô, tốc độ tăng trưởng của cây trồng, chỉ số diện tích lá, năng suất hạt sẽ được tăng lên

Moro et al (2016) khi nghiên cứu về hiêu Các khoảng cách được tiến hành

làm thí nghiệm là 20 x 20 cm, 20 x 25 cm, 25 x 15 cm, 15 x 15 cm và 30 x 10 cm

Trang 30

với 2 dảnh/khóm Kết quả cho thấy, khoảng cách cây và hàng ảnh hưởng đáng kể đến số bông/m2, tổng sinh khối và năng suất thực thu Năng suất cao nhất thu được ở khoảng cách 20 x 25 cm (11,4 tạ/ha) tương đương với khoảng cách 20 x

số diện tích lá của lúa lai và lúa thuần khác nhau Lúa lai có chỉ số diện tích đạt cực đại sớm hơn và giảm chậm, còn lúa thuần thì ngược lại đạt cực đại muộn hơn

và giảm nhanh chóng Lúa thuần với mật độ cấy dày (70 khóm/m2) có tốc độ tích lũy chất khô cao hơn so với mật độ cấy thưa, tuy nhiên giai đoạn trỗ và chín sáp tốc độ tích lũy chất khô khi cấy mật độ 50 khóm/m2 lại cao nhất

Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của các ruộng lúa năng suất cao tác giả Đào Thế Tuấn (1977) cho biết: Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa một cách mạnh mẽ nhất Dựa vào sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Đinh Văn Lữ (1978) đã đưa ra lập luận là các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau Theo ông, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu

tố cấu thành năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt thì

2 yếu tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc của quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động Vì vậy năng suất sẽ tăng khi tăng mật độ cấy trong một phạm vi nhất định Phạm vi này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết

Theo Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng: Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về

Trang 31

số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông Khối lượng 1000 hạt ở các mật độ từ cấy thưa đến cấy dày không thay đổi nhiều

Ở điều kiện bình thường, ánh sáng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Mật độ và khoảng cách gieo cấy có ảnh hưởng đến sự hấp thụ ánh sáng, chế độ dinh dưỡng và nước của cây lúa Cấy quá dày, lá nhiều nên số lá bị che khuất ánh sáng nhiều, lóng cây vươn cao dễ bị đổ ngã, sâu bệnh phát triển

Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả và đều chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dầy sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các

lá bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi đi nhiều Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieo cấy quá dầy sẽ tạo điều kiện cho bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn và rầy nâu phát triển mạnh

Theo Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng khoảng cách tối ưu là khoảng cách đủ rộng để hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen lẫn nhau Cách

bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng sông (hàng cách hàng), hàng con (cây cách cây) trong đó hàng sông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo hình chữ nhật là cách bố trí hợp lý nhất Tổng kết kinh nghiệm đạt năng suất cao trong gieo cấy ở cả vụ mùa cũng như vụ xuân thì khoảng cách giữa các hàng lúa nên bố trí là 20cm, 25cm hoặc 30cm

Nguyễn Văn Luật, (2001) nhận xét: trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy thưa với khoảng cách 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có xu hướng cấy dày 20 x 20 cm; 20 x 25cm; 15 x 20cm; 10 x 15cm Theo Nguyễn Thị Trâm (2002) thì mật độ cấy ngày càng cao thì số bông càng nhiều Tuy nhiên, cấy quá thưa đối với giống lúa ngắn ngày thì khó đạt được số bông/ đơn vị diện tích, các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình

có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2

Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cấy dày 40 – 45 khóm/m2

Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng đất xấu nên cấy dày Để xác định mật độ

Trang 32

cấy hợp lý có thể căn cứ vào 2 thông sô là: Số bông cần đạt/ m2 và số bông hữu hiệu/ khóm

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003) cho thấy mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số

lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số

đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy

Theo Nguyễn Văn Hoan (2003) Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích Với lúa cấy, mật độ được tính bằng số khóm/m2còn với lúa gieo thẳng được tính bằng số hạt mọc/m2 Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông nhưng nếu vượt quá giới hạn đó thì số hạt/bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc

độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thuần Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định Tùy từng giống để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thông thoáng, các khóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn

Nghiên cứu về ảnh hưởng giữa các mức phân bón vi sinh và mật độ cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa nếp cẩm giống ĐH6, Nguyễn Thị Hảo và cs (2015) cho rằng sự tương tác giữa lượng phân bón hữu cơ vi sinh và mật độ cấy có ảnh hường rõ rệt đến chỉ số diện tích lá (LAI) và chất khô tích lũy qua các thời kỳ sinh trưởng Trong vụ Xuân công thức bón phân hữu cơ vi sinh

từ 700 - 900 kg/ha và vụ Mùa công thức bón 900 kg/ha, với mật độ cấy 40 khóm/m2, năng suất thực thu cao nhất

Theo Hoàng Kim (2016), trong quần thể ruộng lúa, mật độ gieo, cấy và số

Trang 33

dảnh cấy có liên quan đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất Nếu gieo cấy quá dày hoặc nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu

mà vẫn không làm bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Căn cứ vào tiềm năng năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng thâm canh của người sản xuất và vụ gieo trồng để định ra số bông cần đạt một cách hợp lý

Vũ Huy Hoàng và Vũ Đức Thắng (2017) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thời gian cấy và mật độ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa cảm quang bao thai lùn trong điều kiện vụ Mùa ở Đồng bằng sông Hồng đã kết luận tăng mật độ cấy làm tăng số nhánh/m2

và chất khô tích lũy nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến chiều cao cây và chỉ số diện tích lá (LAI) Đồng thời mật độ cấy trong thí nghiệm ảnh hưởng rõ rệt đến số bông/m2

nhưng ít ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất khác và năng suất thực thu

Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật

độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn đó thì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ của ruộng lúa là số dảnh cấy/khóm Số dảnh cấy phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2

trên cơ sở mật độ cấy đã xác định Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là dù ở mật độ nào, tuổi

mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo yêu cầu, độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định

Qua các kết quả nghiên cứu trên, mật độ và số dảnh cơ bản cấy/khóm là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng của đất, đặc điểm của giống và khả năng thâm canh của từng vùng, từng vụ gieo cấy… Cần bố trí mật độ và số dảnh cấy/khóm một cách hợp lý để có được diện tích lá cao thích hợp, phân bố đều trên diện tích đất sẽ tận dụng được tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, đó là biện pháp nâng cao năng suất lúa có hiệu quả cao nhất Đồng thời khi bố trí được số dảnh cấy trên đơn vị diện tích hợp lý (đặc biệt là đối với lúa lai) còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa hiện nay

Trang 34

Như vậy, mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định về độ thông thoáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật

độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa và mục đích cuối cùng là cho năng suất cao trên một đơn vị diện tích Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh lai rai, hạn chế được thời gian đẻ nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dầy các cây còn cạnh tranh nhau về dinh dưỡng, ánh sáng sẽ vươn cao lá nhiều, rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh trong quá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hạt lúa

Khi gieo cấy theo phương pháp mới, phương pháp SRI: cấy mạ non 2 - 2,5 lá; trường hợp đất phèn, mặn, cáy mạ 4 lá; Cấy thưa mật độ 25-35 khóm/m2; 2-3 dảnh/khóm vụ xuân, 1-2 dảnh/khóm vụ mùa, cấy nông tay; Rút nước xen kẽ 3-4 lần/vụ nhất là sau khi bón phân lần đầu, luôn giữ ẩm đất; Làm cỏ sục bùn; Bón theo nhu cầu từng giống đảm bảo cân đối N, P, K; khuyến khích bón phân hữu

cơ, phân chuồng hoai mục Phương pháp này giúp giảm thóc giống, giảm lượng phân bón, cây lúa cứng, khỏe hơn nên ít bị đổ ngả trong điều kiện mưa bão, tăng khả năng chống chịu đối với sâu bệnh mới xuất hiện và giảm khoảng 30% nhu cầu nước tưới cho ruộng so với canh tác truyền thống; đồng thời việc không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên hạn chế khí phát thải khí nhà kính; tăng năng suất, lợi nhuận tăng

Phương pháp cấy theo hiệu ứng hàng rộng hàng hẹp: Mật độ cấy phụ thuộc vào khả năng đẻ nhánh của từng giống lúa Với lúa lai cấy 12,6 khóm/m2, lúa thuần 17,5 khóm/m2 áp dụng cho cả hai vụ trong năm; Cấy lúa theo hàng, nên theo hướng Đông - Tây, khoảng cách giữa các khóm trong hàng cách nhau 20-

25 cm; các hàng lúa thành những hàng sông hẹp cách nhau khoảng 17 – 20 cm và hàng sông lớn cách nhanh 38 – 45 cm Khi cấy đảm bảo cấy nông tay, 2 – 3 rảnh/khóm, các khóm lúa giữa các hàng so le nhau; Bón thúc chỉ bón phân dọc hàng sông nhỏ, không bón ra hàng sông lớn để tránh lãng phí, tăng hiệu quả sử dụng phân

Trang 35

So với phương thức cấy thông thường, cấy lúa theo hàng rộng hàng hẹp

có số hạt/bông lúa tăng; số bông/khóm tăng và số bông/m2 bằng hoặc cao hơn; Năng suất tăng Bên cạnh đó, lúa ít sâu bệnh, tiện chăm sóc, giảm lượng giống; giảm công cấy; giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật; tiết kiệm được phân bón, lợi nhuận tăng

Theo Bích Ngọc (2016), cấy thưa giúp tận dụng ánh sáng chiếu vào gốc, thân, lá, kích thích các chồi mắt phát triển nên lúa đẻ sớm, đẻ khoẻ, ít sâu bệnh Việc chỉ ra được quy luật hiệu ứng hàng biên tối ưu và quy luật sức tạo bông tối ưu/khóm này giúp nông dân giảm 1/3 chi phí công lao động, thuốc trừ sâu, phân bón nhưng năng suất lại tăng 10-20% Chi phí làm ra một cân thóc giảm 500-1.000 đồng so với các cách cấy khác Thực tế nhiều tỉnh thành đã có các hộ nông dân làm theo và khẳng định rõ ràng năng suất tăng từ 15-20% tùy giống Công nghệ cấy lúa theo hiệu ứng hàng biên có rất nhiều ưu điểm, nếu đưa vào ứng dụng rộng thì không chỉ người nông dân được hưởng lợi mà ngành nông nghiệp cũng có chuyển biến lớn về mặt năng suất

Đối với giống lúa Việt Lai 20, Đỗ Thị Hải (2002) cũng triền khai thí nghiệm về mật độ cấy tại Vính Bảo – Hải Phòng vào vụ Xuân 2002 và đi đến kết luận: Phương thức cấy cải tiến (40cm+15cm)*12cm ứng với 30 khóm/m2

, 3 dảnh/khóm cho năng suất hiệu quả kinh tế cao nhất

Tóm lại, khoảng cách cây và hàng cấy là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Vì vậy, việc xác định khoảng cách và mật độ cấy hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại, tạo tiền đề cho năng suất cao Ngoài ra, việc bố trí khoảng cách, phưởng thức cấy hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về khoảng cách cây và hàng cấy chưa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này Thực tế đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong kỹ thuật thâm canh lúa Với mỗi giống lúa, việc xác định khoảng cách cây và hàng cấy trên các chân đất khác nhau thì cần phải có các nghiên cứu khác nhau để có kết luận phù hợp

Trang 36

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Tại xứ đồng Gia công, thôn Nhật Tân, thị trấn Vĩnh Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 01/2017-4/2018

3.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Giống lúa TBR225 là giống lúa thuần bản quyền của Công ty cổ phần tổng Công ty giống cây trồng Thái Bình Được chọn tạo từ tổ hợp lai K2/TBR27 vụ mùa 2006

Giống lúa TBR225 đã được Bộ Nông nghiệp &PTNT công nhận chính thức theo Quyết định số 202/QĐ-TT- CLT ngày 9 tháng 6 năm 2015

TBR225 là giống lúa cảm ôn, có thời gian sinh trưởng ngắn: Ở miền Bắc vụ Xuân từ 125 - 135 ngày, vụ Mùa từ 100 - 105 ngày

TBR225 đẻ nhánh khá, lá đứng, cứng cây, trỗ bông tập trung, bông to dài,

có tính thích ứng rộng, chịu thâm canh, chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận và sâu bệnh hại khá tốt

TBR225 có tiềm năng năng suất cao Năng suất vụ xuân trung bình đạt 60 -

75 tạ/ha, vụ mùa 58 - 64 tạ/ha, vượt so với Khang dân 18 khoảng 10% Trong điều kiện thâm canh cao, TBR225 có khả năng cho năng suất 80 - 90 tạ/ha TBR225 có hạt gạo trong, cơm mềm, dẻo, thơm ngon

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đánh giá khoảng cách cây và hàng cấy đang áp dụng cho giống lúa TBR225 tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến sinh trưởng, năng suất giống lúa TBR225 tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các chỉ tiêu sinh trưởng

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các chỉ tiêu chỉ tiêu sinh lý

Trang 37

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cây và hàng cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.5.1.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập số liệu đã được công bố qua sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, internet, báo cáo tổng kết của huyện Vĩnh Tường và của tỉnh Vĩnh Phúc về các vấn đề sau:

+ Diện tích, năng suất, sản lượng cây lúa một số năm trên địa bàn huyện Vĩnh Tường từ năm 2007 - 2017

+ Diện tích và cơ cấu giống lúa trên địa bàn huyện năm 2014-2017

3.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Để thu thập số liệu mới, chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá nông

thôn có sự tham gia của nông dân (PRA- Participatory-Rural-Appraisal) và điều tra hộ nông dân thông qua điều tra trực tiếp

- Điều tra hộ nông dân:

Điều tra phỏng vấn 60 nông hộ qua theo mẫu phiếu điều tra có sẵn (phụ lục

1) trên địa bàn 2 xã của huyện Vĩnh Tường

- Địa điểm tiến hành điều tra: Điều tra tại 2 xã đại diện cho 2 tiểu vùng khác

nhau của huyện Vĩnh Tường :

+ Xã Vĩnh Sơn (tiểu vùng 1 điều tra 30 hộ) là xã đại diện cho vùng phía Bắc của huyện

+ Thị trấn Vĩnh Tường (tiểu vùng 2 điều tra 30 hộ) là xã đại diện cho vùng phía Nam của huyện

- Thời gian điều tra: Từ ngày 10/01/2017 đến ngày 15/01/2017

Trang 38

R2: khoảng cách hàng cách hàng không đều nhau (hàng rộng 35 cm, hàng hẹp 15 cm)

+ Nhân tố chính (ô nhỏ): Khoảng cách cây cách cây (P), gồm 3 mức:

R2P2: hàng rộng 35 cm, hàng hẹp 15 cm; (35cm+15cm)*13cm (30 khóm/m2)

R2P3: hàng rộng 35 cm, hàng hẹp 15 cm; (35cm+15cm)*16cm (25 khóm/m2)

- Các công thức trên đều được cấy 2 dảnh/khóm

- Diện tích của 1 ô thí nghiệm là 15 m2 (3*5 m)

Như vậy, thí nghiệm gồm 18 ô, diện tích thí nghiệm là 270 m2 không kể diện tích dải bảo vệ, dải phân cách giữa các ô thí nghiệm

- Dải bảo vệ có bề rộng 2 m

- Chiều rộng dải ngăn cách giữa các ô lớn trong 1 lần nhắc lại và giữa các lần nhắc lại: 0,5 m

- Nền phân bón giữa các ô thí nghiệm là như nhau

Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau:

Trang 39

3.5.3 Biện pháp kỹ thuật và các chỉ tiêu theo dõi

3.5.3.1 Các biện pháp kỹ thuật khác được áp dụng trong mô hình

+ Thúc lần 3 (Khi lúa trỗ hoàn toàn): 20% K2O

3.5.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

a Theo dõi thời gian sinh trưởng

- Thời gian sinh trưởng: tính số ngày từ khi gieo đến khi có 85% số hạt chín trên bông

- Theo dõi ngày để tính thời gian từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa + Ngày gieo

+ Ngày trỗ tập trung: khi có 50% số cây theo dõi trỗ bông

+ Ngày trỗ hoàn toàn: khi có 80% số cây theo dõi trỗ bông

+ Ngày chín sữa

Trang 40

+ Ngày chín sáp

+ Ngày chín hoàn toàn: khi có 85% số bông chín (hạt chắc, cứng, vỏ hạt chuyển sang màu vàng nhạt, khô dần)

b.Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

Định cây theo dõi: trên mỗi ô thí nghiệm đánh dấu 10 khóm theo 2 đường chéo góc, theo dõi 10 khóm/ô thí nghiệm

* Theo dõi động thái sinh trưởng ở các giai đoạn từ khi gieo đến khi thu hoạch, 10 ngày theo dõi 1 lần

- Động thái tăng chiều cao: Đo từ mặt đất đến đỉnh lá cao nhất

- Động thái đẻ nhánh: Đếm tất cả nhánh của các khóm đã đánh dấu trước + Hệ số đẻ nhánh:

Hệ số đẻ nhánh = Số nhánh tối đa

Số dảnh cấy + Hệ số đẻ nhánh hữu hiệu:

Số dảnh cấy

- Động thái ra lá trên thân chính: đánh dấu các lá mới xuất hiện theo số lá

lẻ, đếm số lá trên thân chính

Khi mạ được 3 lá (bắt đầu cấy) thì bắt đầu đánh dấu số lá:lá thứ 3 đánh dấu

1 chấm sơn trắng; lá thứ 5 đánh dấu 2 chấm; lá thứ 7 đánh dấu 3 chấm; lá thứ 9 lại quay về đánh 1 chấm, cứ theo dõi như vậy đến khi ra lá đòng ghi số liệu số lá/thân chính

* Các chỉ tiêu sinh lý được xác định tại 3 thời kỳ: thời kỳ đẻ nhánh tối đa, thời kỳ trỗ và thời kỳ chín sáp

Mỗi ô thí nghiệm lấy 3 khóm theo dõi các chỉ tiêu sau:

Ngày đăng: 23/03/2021, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w