Để góp phầnđào tạo nguồn nhân lực cho công ty VINIC, đáp ứng yêu cầu của phía NhậtBản nhằm tăng số lượng tàu siêu lớn được vận hành bởi toàn bộ thuyền viênViệt Nam thì ngoài các yếu tố n
Trang 1Danh mục các chữ viết tắt
LBP: Length between perpendicular – Chiều dài giữa hai đường thuỷ
trực mũi lái
LOA: Length Over All – Chiều dài lớn nhất
dm: Mean draft – Mớn nước trung bình
df: Forward draft – Mớn nước mũi
VLCC: Very Large Crude Carrier – Tàu chở dầu cỡ lớn
B: Breadth – Chiều rộng tàu
L: Length – Chiều dài tàu
T: Draft – Mớn nước tàu
Fr: Fruts – Hệ số Fruts
ETA: Estimated Time of Arrival – Dự kiến thời gian tàu đến
ISM: International Safety Management Code – Bộ luật quốc tế về quản
lý an toàn
GRT: Gross Registered Tonnage – Dung tải đăng ký
HP: Horse Power – Đơn vị công suất máy
NW: North West – Hướng Tây Bắc
NE: North East – Hướng Đông Bắc
SE: South East – Hướng Đông Nam
HW: High Water – Nước lớn
LW: Low Water – Nước ròng
P<b>: Port bow – Phía bên trái mũi tàu
P<Sh>: Port shoulder – Phía bên trái ngay sau Port bow
P<c>: Midship Port side – Bên trái giữa tàu
P<q>: Port quarter – Phía bên trái phần lái tàu
Trang 2P<St>: Port stern – Phía bên trái phần lái sau Port quarter.
S<b>: Starboard bow – Phía bên phải mũi tàu
S<Sh>: Starboard shoulder – Phía bên phải ngay sau Starboard bow.S<c>: Midship Starboard side – Bên phải giữa tàu
S<q>: Starboard quarter – Phía bên phải phần lái tàu
S<St>: Starboard stern – Phía bên phải phần lái sau Starboard quarter.WTO: World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài
Năm 2006 đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thươngmại thế giới WTO Từ đây nền kinh tế Việt Nam sẽ thực sự hoà nhập với nềnkinh tế thế giới Trước đó, năm 1996, bằng đường lối “đi tắt, đón đầu”, trườngđại học Hàng Hải đã liên doanh với công ty vận tải thép Nhật Bản tiến hànhđào tạo sĩ quan, thuyền viên cung cấp cho các tàu siêu lớn của công ty Mớiđầu, phía Việt Nam chỉ đảm nhận được các chức danh từ phó 2, máy 2 trởxuống Trải qua hơn 10 năm, các sĩ quan, thuyền viên của trường đại họcHàng Hải đã tạo được sự tin tưởng của phía Nhật Bản, việc đảm nhận chứcdanh trên các tàu siêu lớn của công ty đã tăng dần từ phó 2 lên Đại phó (năm2001) và thuyền trưởng (năm 2005) Điều đó đánh dấu sự trưởng thành củatrường đại học Hàng Hải nói riêng và ngành hàng hải Việt Nam nói chung.Đây là một thị trường đầy tiềm năng của trường đại học Hàng Hải nói riêng vàngành hàng hải Việt Nam nói chung Phía Nhật Bản rất mong muốn tăng sốlượng tàu siêu lớn được vận hành bởi toàn bộ thuyền viên Việt Nam song chođến nay chúng ta mới chỉ có một tàu siêu lớn được vận hành bởi toàn bộthuyền viên Việt Nam Lý do là chúng ta thiếu nguồn nhân lực Để góp phầnđào tạo nguồn nhân lực cho công ty VINIC, đáp ứng yêu cầu của phía NhậtBản nhằm tăng số lượng tàu siêu lớn được vận hành bởi toàn bộ thuyền viênViệt Nam thì ngoài các yếu tố như lựa chọn con người, chính sách khuyếnkhích đối với thuyền viên, … thì việc nghiên cứu phương án điều động các tàusiêu lớn (trên 10 vạn tấn) ra vào các cảng chuyên dụng của Nhật Bản là mộtviệc mang tính cấp bách và cần thiết nhằm trang bị kiến thức, kinh nghiệm
Trang 4cho các thuyền trưởng và sĩ quan của trường đại học Hàng hải và công tyVINIC.
2 Mục đích của đề tài
Dựa trên các tính năng điều động tàu siêu lớn, các yếu tố, đặc điểmthời tiết, khí hậu, dòng chảy ở vùng biển Nhật Bản nói chung và các cảngthuộc tập đoàn thép Nhật Bản nói riêng cũng như đặc điểm địa lý riêng củatừng cảng, đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng phương án điều động, dẫn tàuvào khu cảng của từng cảng của tập đoàn thép Nhật Bản, phương pháp dẫn tàu
từ khu neo đậu đến khu vực cầu bến và phương pháp điều động tàu rời, cậpcầu ở các cảng nói trên cũng như các hướng dẫn cụ thể nhằm nâng cao antoàn, đáp ứng được yêu cầu về an toàn của tập đoàn Nippon SteelCorporation
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi vào phân tích, nghiên cứu các tính năng, đặc điểm điều độngcủa các tàu siêu lớn, các đặc điểm về thời tiết, khí hậu, dòng chảy, ở khu vựcbiển Nhật Bản nói chung và các cảng của tập đoàn thép Nhật Bản nói riêng,các đặc điểm địa lý của các cảng trên Đồng thời bằng cách tham khảo các tàiliệu hướng dẫn của công ty, kinh nghiệm của các hoa tiêu có kinh nghiệm ởcác cảng của tập đoàn thép Nhật Bản, của các thuyền trưởng lâu năm của công
ty … Từ kết quả thu được, tổng kết và xây dựng phương pháp điều động tàusiêu lớn ra vào một số cảng trong phạm vi hạn chế của tập đoàn thép NhậtBản
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài hoàn thành và được thông qua, nó sẽ là tài liệu dùng để thamkhảo và huấn luyện riêng cho các thuyền trưởng và sĩ quan ngành boong của
Trang 5công ty VINIC nói riêng và trường đại học Hàng Hải Việt Nam nói chung.Ngoài ra đề tài cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các thuyềntrưởng, sĩ quan ngành boong làm việc trên các tàu hoạt động ở vùng biển NhậtBản Đề tài cũng có thể là cơ sở để đưa ra các tình huống điều động thực tếtrên mô phỏng dùng để huấn luyện cho sĩ quan, thuyền trưởng trong các khoáhọc trên mô phỏng trước khi làm việc trên các tàu siêu trường, siêu trọng.
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay tại các nước có ngành hàng hải phát triển, đều có trang bịcác hệ thống mô phỏng hàng hải tại các trung tâm huấn luyện riêng của mình.Tuy nhiên mỗi trung tâm lại có một chương trình huấn luyện riêng của mình.Trên thế giới từ lâu đã thành lập diễn đàn mô phỏng hàng hải quốc tế IMSF(International Maritime Simulation Forum) với sự tham gia của các giáo sư,tiến, sĩ, chuyên gia đầu ngành Cứ 3 năm một lần IMSF lại tổ chức hội thảoquốc tế về khả năng điều động của tàu với các báo cáo khoa học của cácchuyên gia trong lĩnh vực này
Thông thường các trung tâm huấn luyện của các công ty vận tải biểnlớn thường xây dựng hệ thống mô phỏng để huấn luyện cho thuyền viên của
họ về loại tàu và khu vực mà tàu hoạt động (chẳng hạn như công ty NYK –Nhật Bản) Song với các cảng cụ thể của công ty vận tải thép Nhật Bản thìchưa có một công trình cụ thể nghiên cứu để đưa ra phương pháp điều độngtàu vào khu neo cũng như rời, cập cầu các cảng chuyên dụng của công ty.Công ty cũng chỉ đưa ra một tài liệu hướng dẫn cho việc rời cập cầu tại cáccảng của công ty nhưng chưa phân tích các yếu tố điều động, điều kiện khítượng thuỷ văn … tại các cảng nói trên
1.2 Giới hạn đề tài và những vấn đề cần giải quyết
Để xây dựng được phương án điều động các tàu siêu lớn ra vào cáccảng chuyên dụng của công ty vận tải thép Nhật Bản cần thiết phải làm cácviệc sau:
Trang 7- Nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ các tính năng điều động của tàu nói chung
và tàu siêu lớn nói riêng, các đặc điểm địa lý, các yếu tố khí tượng,dòng chảy trong năm, đặc điểm cầu bến, luồng vào cảng và đội tàu củacông ty
- Xây dựng phương án dẫn tàu vào khu cảng (khu neo), điều động tàu từkhu neo đến khu vực cầu bến, điều động tàu rời, cập cầu ở tất cả cáccảng trong phạm vi của công ty thép Nhật Bản
- Sau khi đưa ra phương án rời cập cầu phải rút ra các nhận xét và hướngdẫn nâng cao an toàn
1.3 Nội dung chính của luận văn
Luận văn sẽ bao gồm phần mở đầu và ba chương, phần kết luận và đềxuất ý kiến, cuối cùng là phần phụ lục và tài liệu tham khảo, cụ thể như sau:
- Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích của đề tài
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Chương 1 Tổng quan
1.1 Đánh giá các công trình liên quan đến đề tài
1.2 Giới hạn đề tài và những vấn đề cần giải quyết
1.3 Nội dung chính của luận văn
- Chương 2 Phân tích đặc điểm khi điều động các tàu siêu lớn và đặcđiểm các cảng chuyên dụng của công ty Nippon Steel – Nhật Bản
Trang 8Phần này nêu lý thuyết điều động tàu nói chung và các tàu siêulớn nói riêng; các đặc điểm địa lý, các yếu tố thời tiết, khí tượng, dòngchảy trong năm, đặc điểm cầu bến, đội tàu của công ty.
- Chương 3 Phương pháp điều động các tàu siêu lớn ra vào một số cảngchuyên dụng của công ty Nippon Steel Shipping – Nhật Bản
Đây là phần cốt lõi của đề tài Nó bao gồm dẫn tàu vào khu cảng,điều động tàu rời, cập cầu ở tất cả các cảng; một số hình ảnh minh hoạ cụ thểtrường hợp ra, vào cầu Sau đó rút ra nhận xét trong các lần điều động và đưa
ra hướng dẫn nâng cao an toàn
- Phần kết luận và đề xuất ý kiến
- Phần phụ lục
- Tài liệu tham khảo
Trang 9Chương 2: Phân tích đặc điểm khi điều động các tàu siêu lớn và
đặc điểm các cảng chuyên dụng của công ty
NIPPON STEEL – JPN
2.1 Khái niệm về điều động tàu
Điều động tàu là việc thay đổi hướng đi hay tốc độ dưới tác dụng củabánh lái, chân vịt và các thiết bị khác nhằm tránh va an toàn, tiếp cận mụctiêu, thả neo, cập cầu, trong nhiều hoàn cảnh và các tình huống khác nhau, đặcbiệt là khu vực chật hẹp, nông cạn, khi tầm nhìn xa bị hạn chế Nguyên lý cơbản của kỹ thuật điều động các tàu là như nhau, nhưng đối với từng con tàukhác nhau và loại tàu khác nhau thì có các đặc điểm riêng, không thể áp dụngmột cách máy móc kỹ thuật điều động một con tàu nhỏ với một con tàu lớnhoặc một tàu khách với một tàu hàng Ngoải ra còn phải tính đến các yếu tốthời tiết, khí tượng thuỷ văn
2.2 Các yếu tố trong điều động tàu
S lim v
Trang 10Tốc đọ tàu là một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng trong cácyếu tố điều động Kết quả hoàn thành một điều động phụ thuộc rất nhiều vào
độ chuẩn xác tính toán tốc độ tàu (tức là việc ước lượng tốc độ)
Tốc độ tàu là hình chiếu của véc tơ tốc độ chuyển động của tàu lênhướng song song với mặt phẳng trục dọc của tàu
Con tàu muốn chuyển động được phải nhờ lực đẩy cần thiết của hệđộng lực sinh ra và duy trì để thắng sức cản và chuyển động được với vận tốc
v Công suất này của máy gọi là công suất hiệu dụng (Nhd) và được tính bằngbiểu thức:
Hệ số này phụ thuộc vào kiểu động cơ và chân vịt, trạng thái kỹ thuật
và chế độ làm việc của chúng Các tàu hiện nay có η= 0,65÷0,8 (loại 1 chânvịt) và 0,6÷0,7 (loại 2 chân vịt)
Lực cản chuyển động tổng hợp phụ thuộc kích thước, hình dạng, mớnnước, diện tích thượng tầng kiến trúc, tỉ lệ giữa các kích thước, vận tốc tàu vàsức cản của môi trường bên ngoài như sóng gió, ma sát của nước Lực cảnchuyển động toàn phần khi tàu chuyển động ổn định được xác định bằng côngthức:
Trang 11gio nhora hinhdang
song masat
gL F Re L
V Re
; gL V
Trong đó γ: hệ số nhớt động học của nước (m2/s)
- ρ: tỉ trọng của nước (T/m3)
- v: vận tốc của tàu (m/s)
- Ω: diện tích bề mặt ngâm nước của tàu (m2)
- L: chiều dài tàu (m)
Chỉ số Frut được coi như đặc trưng của tốc độ tương đối để xác địnhđược mức độ cao tốc của tàu, chỉ số này được xác định như sau:
+ Fr ≤ 0,25: cho các tàu chạy chậm
+ Fr = 0,25÷0,4: cho các tàu chạy trung bình
+ Fr ≥ 0,4: cho các tàu có tốc độ cao
VD: tàu NSS ENDEAVOR chiều dài 290 m, tốc độ 15,5 kts thì chỉ số Frut là:
15 0 290 81 9 3600
25 1852 5
15
2.2.2 Các khái niệm về tốc độ
Trang 12Tốc độ tàu tương ứng với các chế độ hoạt động xác định của máy
Chế độ máy Tốc độ kỹ thuật của tàu theo tốc độ định mức (vđm)Khẩn cấp
Khi chuyển động, con tàu sẽ đạt tốc độ lớn nhất theo yêu cầu sau mộtkhoảng thời gian nhất định tuỳ thuộc vào loại máy Bảng sau sẽ cho ta biếtthời gian tối thiểu để chuyển đổi các nấc tốc độ trong điều động:
Tới hếtđến lùi hết
Lùi hết đếnStop
Lùi hết đếntới hếtMáy tuabin hơi 20 ÷ 30 30 ÷ 60 60 ÷ 100 30 ÷ 60 60 ÷ 100
Bảng trên đây chỉ ra thời gian lý thuyết để chuyển đổi tốc độ máy,thực tế để có thể đổi chiều quay một cách đột ngột từ chế độ máy đang Fullahead sang chế độ Full astern ta bắt buộc phải đưa máy về chế độ Stop rồi mới
có thể chuyển sang chế độ lùi Đặc biệt lưu ý khi tàu đang chạy với tốc độcao, nếu lùi đột ngột có thể gây nên xung lực lớn làm gãy trục chân vịt hoặc
Trang 13làm hỏng máy chính Kinh nghiệm cho thấy chỉ nên chuyển sang chế độ lùikhi tốc độ tới của tàu nhỏ hơn một nửa tốc độ tới hết bình thường của tàu đó.Lưu ý: Khi bắt đầu tiến hành điều động không nên cưỡng ép máy đạt đến tốc
độ cao ngay mà cần tăng từ từ, từng nấc một Các máy hiện đại ngày nay đều
có chế độ bảo vệ được điều khiển bằng hệ thống computer, do vậy người điềukhiển dù muốn đạt ngay được tốc độ cao cũng không được (trừ tàu quân sự)
và trong trường hợp tăng tốc cưỡng bức máy sẽ báo động “IMPERFECTBRIDGE CONTROL” Lúc đó muốn tăng tốc độ cưỡng bức (để tránh mộtnguy cơ nào đó) phải ấn phím “PROGRAM BY-PASS” trên bảng điều khiểngần tay chuông truyền lệnh Đặc biệt khi điều động các tàu siêu lớn và các tàuchở đầy hàng Kinh nghiệm thực tế sau đây cho thấy việc tăng tốc độ của mộttàu Cape Size (NSS ENDEAVOR cỡ 180,000 tấn):
- Từ chế độ tới thật chậm sang chế độ tới chậm cần từ 5÷7 phút
- Từ chế độ tới thật chậm sang chế độ nửa máy cần từ 12÷14 phút
- Từ chế độ tới nửa máy sang chế độ tới hết máy cần ít nhất 10 phút hoặcphải chờ cho tốc độ tàu đã đạt được hơn một nửa tốc độ tới hết bìnhthường, ví dụ ở trường hợp này là khoảng 8 kts
- Từ chế độ tới hết máy sang chế độ “Navigation full” cần ít nhất 1 tiếngthì vòng tua mới đạt được tốc độ định mức
Hiệu suất lùi và tới khác nhau, khi lùi thường kém hơn một nấc máy.Tốc độ xuất xưởng là tốc độ chạy tới trên trường thử nhằm bàn giaotàu sau khi đóng
Tốc độ kỹ thuật là tốc độ của tàu được xác định vào từng chu kỳ khaithác tàu, dựa trên tình trạng vỏ tàu và tình trạng kỹ thuật của máy chính
Trang 14Khái niệm về tốc độ khai thác: Tốc độ khai thác bình thường của mộtcon tàu theo yêu cầu được ghi rõ trong các hợp đồng thuê tàu, theo đó chủ tàuthoả thuận với người thuê tàu sẽ cho phép họ khai thác với tốc độ cao nhất màcon tàu có thể đạt được Tốc độ này được chia thành 2 loại: khi không hàng(ballast) và khi đầy hàng (laden), áp dụng khi gió không quá cấp 4 hay còn gọi
là điều kiện “Calm sea speed”
Tốc độ kinh tế là tốc độ mà lượng tiêu hao nhiên liệu chạy trên mộthướng nào đó là nhỏ nhất, dựa trên tác động thuận lợi của các điều kiện ngoạicảnh như các dòng hải lưu, gió …
Tốc độ nhỏ nhất là tốc độ khi vòng quay chân vịt ở mức thấp nhất cóthể mà tại đó không mất khả năng điều khiển bằng bánh lái, được gọi là tốc độcực tiểu cho phép vmin = (0,1÷0,2)vđm
Cần chú ý tốc độ cực tiểu này còn phụ thuộc điều kiện ngoại cảnh tácđộng như sóng, gió, dòng chảy và tình trạng kỹ thuật của máy
Khi tăng tốc độ bên ngoài thân vỏ tàu sẽ xuất hiện các sóng ngang vàsóng dọc lan truyền phức tạp, ở mũi sẽ xuất hiện sóng ngang, ở lái sóng sẽxuất hiện phân tán Để giảm sức cản của sóng, các tàu ngày nay thường có cấutrúc mũi quả lê cho phép tăng tốc độ khoảng 3÷5 %
Trang 15- Không ảnh hưởng của nông cạn, nghĩa là độ sâu của trường thử phảithoả mãn :
H > 4 B d (áp dụng cho tàu cỡ lớn) và H > 0,35 v2 (áp dụng cho tàu
cỡ vừa và nhỏ)
Trong đó H: độ sâu khu vực thử (m)
B: chiều rộng tàu (m)d: mớn nước của tàu (m)v: tốc độ của tàu (kt)Tốc độ tàu được xác định theo các mức công suất của động cơ máychính như sau:
50% công suất máy chính
74% công suất máy chính
85% công suất máy chính
100% công suất máy chính
Tốc độ tàu có thể xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau như:
- Sử dụng chiều dài thân tàu (ném phao xuống biển để đo)
- Các mục tiêu nhìn thấy theo phương pháp ngắm (ngắm theo chập tựnhiên hoặc thiên nhiên)
- Bằng Radar
- Bằng các hệ thống định vị như GPS, LORAN-C …
Các lần thử xác định tốc độ đều được xác định ít nhất là 2 lần (chạytrên một hướng thuận tiện nào đó, sau đó lại chạy theo hướng ngược lại).Ngoài ra còn phải xác định tốc độ tàu tại các điều kiện tàu đầy hàng và khi tàukhông hàng Khi thử tàu đóng mới, người ta còn xác định tốc độ tại một số
Trang 16nấc công suất máy chính (ví dụ tốc độ tại 40%, 50%, 70%, 85% công suấtmáy chính).
2.2.4 Chuyển động của tàu trên mặt nước
- M là khối lượng của tàu (Kg)
- Rth là lực cản tổng hợp lên con tàu (N)
- D là lượng giãn nước của tàu (Kg)
- K là hệ số lượng giãn nước của tàu; k = 0 khi tàu đứng yên trên mặtnước, k có giá trị khi tàu chuyển động và giá trị đó được tính bằng thựcnghiệm
- dvdt là gia tốc dài theo hướng trục dọc của tàu (m/s2)
Do đó phương trình chuyển động của tàu có thể biểu thị dưới dạngsau:
Trang 17dv M R
Khi tàu đã chuyển động ổn định thẳng đều thì thành phần quán tính
của lực cản bị triệt tiêu M 0
dt
dv
Khi đó lực phát động của máy (Pe) sẽ cânbằng với lực cản tổng hợp
2.2.4.2 Tính điều khiển được
Là tính năng hàng hải của con tàu, cho phép nó chuyển động với mộtquỹ đạo đã định Những tính năng cơ bản của tính điều khiển là:
- Tính ổn định trên hướng đi
2.2.4.3 Tính ổn định trên hướng đi
Là khả năng con tàu giữ nguyên hướng chuyển động thẳng đã cho khikhông có sự tham gia của người lái hoặc khi chỉ thông qua một góc lái rất nhỏ.Nguyên lý này là bắt buộc đối với con tàu khi chuyển động trong mọi điềukiện thời tiết như khi biển động hoặc biển êm, cũng như trong mọi vùng nướcnông hoặc sâu
Tính ổn định hướng ảnh hưởng đến các đặc tính lái tàu, tuỳ theo mức
độ mà con tàu có thể được chặn mũi lại khi đang quay và sự thay đổi tốc độquay của nó khi đang chạy tới nếu để bánh lái ở số 0 Quan sát thuỷ động học
về tính ổn định hướng đi theo cách khác, thử mức độ ổn định hướng mà con
Trang 18tàu đạt được bằng cách để cho tàu qua một loạt điều động dích dắc (kiểu chữz).
Một con tàu có thể có tính ổn định dương hoặc âm hoặc trung tính.Khi bánh lái để số 0 mà tàu vẫn duy trì thẳng thế thì con tàu đó có tính ổn địnhhướng dương Khi bánh lái để số 0 mà con tàu quay với tốc độ quay trở tănglên thì nó có tính ổn định âm Một con tàu có tính ổn định hướng trung tínhkhi nó tiếp tục quay với vận tốc quay hiện tại hoặc tiếp tục nằm trên hướnghiện thời cho đến khi có các ngoại lực tác dụng vào Nó không có khuynhhướng hoặc là tăng, hoặc là giảm tốc độ quay khi bánh lái ở số 0
Sự thay đổi tính ổn định hướng đáng chú ý khi mớn nước và độ chúithay đổi Do các tàu béo, có hệ số béo thể tích thường bị dìm mũi nên nó có sựthay đổi lớn, điều này đặc biệt quan trọng vì những khả năng này thay đổi nênphải tính toán cẩn thận khi thay đổi độ chúi cho tàu lúc đến cảng
Tính ổn định thể hiện:
1 Tăng lên khi mớn nước dưới ki tàu tăng
2 Trở nên dương nhiều hơn khi chiều dài tăng
3 Trở nên dương nhiều hơn khi lực cản tăng
4 Giảm xuống khi hệ số béo thể tích tăng
5 Giảm xuống khi chiều rộng của tàu tăng lên so với chiều dài (tỉ số L/Bgiảm)
6 Giảm xuống khi diện tích các mặt cắt phía trước tăng lên tương đối sovới diện tích các mặt cắt phía sau (khi tâm quay của tàu chuyển về phíatrước)
Tính ổn định hướng đi được thể hiện qua tính chất cơ bản của nó làtính ổn định phương hướng và được đánh giá qua chỉ số ổn định phương
Trang 19hướng của tàu Đây là mối quan hệ giữa độ dài của đường đi hình sin và chiềudài tàu:
L
S
Trong đó: E: chỉ số ổn định hướng đi
Sm: độ dài đường đi hình sin (m)L: chiều dài tàu (m)
Sm được xác định bằng thực nghiệm trên trường thử và nó được tínhtheo công thức:
và trạng thái của tàu …
Khi chạy trên hướng đi đã định, thường con tàu không thể tự động giữhướng mà lái luôn đảo quanh hướng đi, đây chính là hiện tượng đảo lái, cường
độ đảo lái phụ thuộc vào tác động của các ngoại lực như sóng, gió …
2.3 Tính năng của bánh lái
2.3.1 Lực của bánh lái
Trang 20Bánh lái là thiết bị không thể thiếu trong điều động tàu Bánh lái giữcho tàu chuyển động trên hướng đi đã định hoặc thay đổi hướng của tàu theo ýmuốn của người điều khiển Bánh lái được đặt phía sau chân vịt và nằm trongmặt phẳng trục dọc của tàu.
Khi tàu chạy tới hoặc lùi thì dòng nước chảy từ mũi về lái hoặc từ lái
về mũi sẽ tác dụng vào mặt trước hoặc mặt sau của bánh lái một áp lực P Áplực đó được tính dựa trên công thức thực nghiệm sau:
2
sin 305 , 0 195 , 0
sin K
- k1: Hệ số của bánh lái phụ thuộc vào số chân vịt và được lấy như sau:
k1 = 38÷42 (Kg/m2) đối với tàu 1 chân vịt
k1 = 20÷22,5 (Kg/m2) đối với tàu 2 chân vịtLực cản phụ thuộc vào phần chìm của tàu, muốn có tác dụng tốt thìbánh lái phải có tỉ lệ thích đáng với phần chìm của tàu, do đó diện tích mặtbánh lái phải được chọn theo tỉ lệ phù hợp với con tàu Người ta có thể tínhdiện tích mặt bánh lái dựa trên công thức:
2
K
T L
Trong đó:
- L: Chiều dài của tàu (m)
- T: Mớn nước của tàu (m)
- k2: phụ thuộc loại tàu, thường k2 = 50÷70
Trang 212.3.2 Tác dụng của bánh lái khi tàu chạy tới
Khi tàu chuyển động thăng đều thì nó chịu sự tác động của lực đẩy vàlực cản Khi bẻ bánh lái đi một góc α nào đó, giả sử như hình vẽ 2.1 (bẻ sangphải), lúc này do tác dụng của dòng chảy bao và dòng do chân vịt tạo ra trênmặt của bánh lái làm nảy sinh sự phân bố lại áp lực, mặt bánh lái hướng tớidòng chảy bao thì áp lực tăng, mặt kia giảm Điểm đặt của tổng áp lực P nàygần phía sống lái và vuông góc với mặt bánh lái
y
x P P
Dòng nước chảy từ mũi về lái
PyP
Trang 22Để hiểu rõ ảnh hưởng của lực sinh ra khi bẻ lái đi một góc, giả sử tạitrọng tâm tàu được đặt một cặp lực '
Tóm lại, quỹ đạo chuyển động của tàu do bẻ lái là một đường cong dotrọng tâm tàu gây ra
2.3.3 Tác dụng của bánh lái khi tàu chạy lùi
Giả sử khi tàu chạy lùi đã có trớn lùi, ta bẻ lái đi một góc α nào đó(hình 2.2 bẻ lái sang phải) Lúc này do tác dụng của dòng chảy bao và dòng
do chân vịt tạo ra, trên mặt của bánh lái nảy sinh sự phân bố lại áp lực, mặtbánh lái hướng tới dòng chảy bao thì áp lực tăng, mặt kia giảm Điểm đặt củatổng các lực P này gần về phía sống lái và vuông góc với mặt bánh lái
y
x P P
1
P làm cho mũi tàu quay ngược về phía bẻ lái, lực '
2
P làm tàu dạt ra ngoàivòng quay trở còn Px làm giảm chuyển động lùi của tàu
Dòng nước chảy từ mũi về lái
Trang 23Do điểm đặt của áp lực P và các lực thuỷ động không cùng nằm trênmột mặt phẳng nằm ngang nên khi quay trở, con tàu ngoài việc dịch ngangcòn bị nghiêng và chúi Quỹ đạo chuyển động của tàu khi chạy lùi và bẻ lái làmột đường cong do trọng tâm tàu vạch ra.
2.4 Chuyển động quay trở của tàu
2.4.1 Định nghĩa và quá trình quay trở của tàu
Khi tàu đang chuyển động, nếu bẻ lái về một bên mạn một góc nào đó
so với vị trí số 0, con tàu sẽ chuyển động và vẽ lên một quỹ đạo cong, đóchính là vòng quay trở với bán kính xác định Giá trị bán kính này phụ thuộcvào tốc độ tàu và góc bẻ lái
Trang 24Định nghĩa: vòng quay trở của tàu là quỹ đạo chuyển động của trọngtâm G của tàu khi ta bẻ lái sang một bên mạn với một góc lái δ nhất định nàođó.
Khi chân vịt quay trong nước sinh ra một lực đẩy làm tàu chuyểnđộng Nếu bẻ lái cho tàu quay trở thì lực này vẫn tồn tại và giá trị của nó đượcxác định theo công thức:
V 9
N
Trong đó: Uđcv: Lực đẩy chân vịt
N: Công suất hiệu dụng của máyV: Tốc độ tàu
Khi bẻ lái sang một bên thì dòng nước chảy bao xung quanh vỏ tàu vàdòng nước do chân vịt tạo ra sẽ tác dụng vào mặt bánh lái, gây nên áp lực Plàm tàu quay trở và giảm chuyển động thẳng của tàu Mỗi góc lái khác nhau
Sy
δ=10 o δ=17 o 5
δ=35 o
Sx
Hình 2.3 Các góc lái khác nhau và quĩ đạo quay trở tương
ứng
Trang 25thì trọng tâm tàu vạch lên những quỹ đạo khác nhau Góc lái δ càng lớn thìquỹ đạo vạch ra càng hẹp Vận tốc nhỏ thì đường kính vòng quay trở nhỏnhưng thời gian quay trở tăng lên (hình 2.3).
2.4.2 Các yếu tố của vòng quay trở
2.4.2.1 Đường kính vòng quay trở và đường kính lớn nhất của vòng quay trở
Có thể xác định đường kính vòng quay trở theo chiều dài tàu, hoặcdựa vào hệ số kinh nghiệm cho từng loại tàu và thực tế Nó biểu thị tính năngquay trở của tàu
- Đường kính lớn nhất của vòng quay trở (ký hiệu Dmax):
Là khoảng cách di chuyển theo chiều ngang tính từ trọng tâm tàu lúc
bẻ lái đến khi con tàu đã quay được 180o Thực nghiệm cho thấy Dmax > Dn
Nó biểu thị khả năng tránh va về phía mạn quay trở theo chiều ngang
Trang 26Theo quy định của IMO “IMOA751(18)”, tàu đóng sau 01/07/1994thì Dmax ≤ 5L.
Hình 2.4 Con tàu khi quay trởPivot Point Track
9 KTS
12 KTS
8 KTS
DRIFT ANGLE
Trang 27Hình 2.5 Vòng quay trở của tàu
2.4.2.2 Nghiêng ngang khi quay trở
Giả sử tàu được bẻ lái quay phải như hình (2.6), tàu chuyển động quayvới vận tốc góc ω Gọi Flt là lực li tâm, lực này được đặt vào trọng tâm G củatàu và đẩy con tàu ra xa vòng quay, R là lực cản tác dụng vào phần chìm củatàu, P là áp lực nước tác động lên mặt bánh lái Giá trị góc nghiêng ngang θphụ thuộc vào góc bẻ lái δ và tốc độ tàu v
Ta biết lúc đầu góc θ = 2÷3o về phía bẻ lái khi quán tính còn nhỏ Giátrị này có xu hướng tăng, sau đó theo sự tăng lên của lực quán tính đặt vàotrọng tâm tàu làm cho tàu cân bằng, điều này sẽ làm cho tàu nghiêng ngang vềphía ngoài vòng quay trở Lực quán tính gây nên nghiêng ngang khi quay trởgọi là lực nghiêng ngang động, góc nghiêng ngang khi quay trở gọi là gócnghiêng ngang động Thực tế góc nghiêng ngang động có thể đạt giá trị khálớn Tàu sẽ tiếp tục chuyển động trên vòng quay trở, lúc vòng quay trở ổn
Trang 28định thì θ giảm và đạt một giá trị ổn định nào đó Giá trị góc nghiêng ngangnày là hàm số của tốc độ quay trở (θ = f(ω)) Lực li tâm Flt làm cho tàu có xuhướng bị đẩy trọng tâm tàu ra xa vòng quay trở.
Từ công thức tính lực li tâm:
Flt =
r
V
Gọi mô men hồi phục của tàu là Mn, Mn được tính theo công thức:
Mn = D.h.sinθHay Mn= D.h.sinθ = )
2
d Z ( r g
V g m
V g m
Trang 29h r
b V 54 , 1
0 max
m: Khối lượng cả con tàu
D: Lượng rẽ nước của tàu
h: Chiều cao thế vững ban đầu
d: Mớn nước trung bình của tàu
zG: Cao độ trọng tâm tàu
b: Khoảng cách giữa trọng tâm G và tâm nổi B của tàu
Theo quy định thì tàu hàng khô có góc nghiêng ngang ban đầu doquay trở θ ≤ 12o, tàu khách và tàu quân sự θ ≤ 17o
2.4.2.3 Khoảng dịch chuyển theo chiều ngang – Transfer (T r )
Là khoảng cách từ trọng tâm tàu khi nó đã quay được 90o đến hướngban đầu theo chiều ngang Thực nghiệm cho thấy rằng Tr = (0,25÷0,5)Dn Tr
biểu thị khả năng tránh va theo chiều ngang, khả năng chuyển hướng sanghướng mới, giúp ta tránh va với chướng ngại theo phía trước hoặc tính quãngđường để chuyển sang hướng mới
2.4.2.4 Khoảng dịch chuyển theo chiều dọc – Advance (A d ):
Trang 30Là khoảng cách tính từ trọng tâm tàu tại vị trí khi bắt đầu bẻ lái đếnkhi quay được 90o theo chiều dọc tính trên hướng chuyển dịch, gọi là khoảngchuyển dịch dọc Bằng thực nghiệm cho thấy giá trị Ad = (0,6÷1,2)Dn.
Khoảng dịch chuyển theo chiều dọc cho ta khả năng tránh va theochiều dọc, ngoài ra còn cho phép tính khoảng cách và góc quay cần thiết để đivào hướng mới khi quay trở ở đoạn cong, khúc ngoặt, kênh luồng … Theoquy định của IMO “IMOA751(18)”, tàu đóng sau 01/07/1994 thì Ad ≤ 4,5L
2.4.2.5 Khoảng dịch chuyển ngược
Đoạn dịch chuyển tính từ trọng tâm tàu theo chiều ngang ngược vớihướng bẻ lái gọi là đoạn dịch chuyển ngược Bằng thực nghiệm cho thấy
khoảng dịch chuyển ngược bằng (0,05÷0,1)Dn hay ≤
2
B, nó biểu thị khả năngtránh va ngược với phía quay trở
2.4.2.6 Góc dạt và tính năng quay trở
Góc dạt β là góc giữa mặt phẳng trục dọc tàu và đường thẳng tiếptuyến với vòng quay trở đi qua trọng tâm tàu Thường β = 10÷15o, β càng lớnthể hiện tính năng quay trở của con tàu càng cao Góc β xuất hiện khi bẻ láixong và luôn ở mạn phía ngoài vòng quay trở
2.4.2.7 Tốc độ và thời gian quay trở
Vận tốc dài trên vòng quay trở coi như vận tốc dài của trọng tâm tàu.Vận tốc dài ở các điểm khác nhau thì khác nhau Thời gian một chu kỳ quaytrở là Tq.trở Quãng đường của một chu kỳ quay được tính như sau:
quaytro quaytro
360 quaytro T v
Trang 312.4.3 Tâm quay và vị trí của nó
2.4.3.1 Khái niệm về tâm quay
Khi con tàu quay trở, nó sẽ quay xung quanh một điểm nằm trên trụcdọc của tàu, điểm đó được gọi là tâm quay (Pivot point) Khi tàu chuyển độngtới, tâm quay nằm ở khoảng ¼ chiều dài tàu tính từ mũi, còn khi lùi tâm quaynằm ở ¼ chiều dài tàu tính từ lái
2.4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm quay và lưu ý khi điều động
- Tốc độ chuyển động của tàu: Khi tàu bắt đầu chuyển động tâm quay ở vàokhoảng 1/3 chiều dài của tàu tính từ mũi hoặc lái (tới hoặc lùi) Khi tốc độ đã
ổn định, tâm quay sẽ ở vào khoảng ¼ chiều dài của tàu tính từ mũi hoặc lái
- Khi tàu chúi lái: Tâm quay có xu hướng dịch chuyển về phía giữa tàu
- Khi chúi mũi: Tâm quay dịch chuyển về phía trước
2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quay trở
Các yếu tố ảnh hưởng đến quay trở:
- Ảnh hưởng của nông cạn
Gọi H là độ sâu nơi quay trở và T là mớn nước của tàu lúc quay trở,khi tỉ số H/T < 2,5 bắt đầu có ảnh hưởng của nông cạn Qua thực nghiệm chothấy bán kính vòng quay trở tăng lên, tàu quay nhanh hơn ở vùng nước sâutrong lúc quay tốc độ tàu không giảm nhanh như ở vùng nước sâu (hình 2.6)
- Ảnh hưởng của chiều quay chân vịt
Với tàu chân vịt chiều phải, bán kính vòng quay trở khi quay sang trái
sẽ nhỏ hơn khi quay sang phải do tác động của thành phần lực đẩy ngang Tuynhiên độ lệch này nhỏ
- Ảnh hưởng của mớn nước
Trang 32Khi tàu xếp đầy hàng thì đường kính vòng quay trở sẽ lớn hơn so vớikhông hàng khi cùng tốc độ và cùng điều kiện ngoại cảnh.
- Ảnh hưởng do chúi
Nếu chúi mũi, đường kính quay trở nhỏ hơn so với chúi lái nhưngquay trở chậm hơn so với chúi lái
- Ảnh hưởng do tàu nghiêng
Tàu dễ quay về phía mạn cao và vòng quay trở về phía mạn cao sẽnhỏ hơn khi quay trở về phía mạn thấp
- Đánh giá tính năng điều động tàu từ độ lớn vòng quay trở
Tính năng quay trở là một trong những tính năng điều động tàu quantrọng mà người điều khiển cần nắm được Vòng quay trở của một con tàucàng nhỏ thể hiện khả năng quay trở càng tốt
Trang 332.5 Chân vịt và tác dụng của nó trong điều động tàu
2.5.1 Lực đẩy phát sinh khi chân vịt quay
2.5.1.1 Khái niệm
Chân vịt là bộ phận cuối cùng truyền công suất của máy chính thànhlực đẩy cho tàu chuyển động tới hoặc lùi Mặt khác chân vịt còn ảnh hưởngđến tính năng quay trở của tàu Vấn đề này, người điều khiển tàu cần nắmvững để lợi dụng các ưu nhược điểm của nó trong quá trình điều động
Chân vịt của tàu có 3, 4 hay nhiều cánh Số lượng cánh nhiều hay ítkhông ảnh hưởng đến tính năng quay trở, chân vịt nhiều cánh khi hoạt động sẽgiảm độ rung của tàu so với chân vịt ít cánh
Với tàu 1 chân vịt thì nó được đặt trước bánh lái, trong mặt phẳng trụcdọc của tàu
Pha hay bước của chân vịt là khoảng cách một điểm trên đầu của cánhchân vịt tịnh tiến được khi chân vịt đó quay được một vòng trong thể đặc
Giá trị thực dụng của bước chân vịt được tính theo công thức sau:
h
c c c
N 75
V S
Trong đó: Sc: Áp lực của chân vịt
vc: Tốc độ chuyển động của chân vịt
Nh: Công suất hữu ích của máyKhi tàu chạy tới nếu đứng từ lái tàu nhìn về phía mũi mà thấy cánhchân vịt quay theo chiều thuận chiều kim đồng hồ thì được gọi là chân vịtchiều phải, ngược lại là chân vịt chiều trái
Tàu chạy tới-Chân vịt chiều phải Tàu chạy tới-Chân vịt chiều trái
Hình 2.7 Chân vịt chiều phải và chân vịt chiều trái
Trang 342.5.1.2 Lực đẩy phát sinh khi chân vịt quay
Khi chân vịt quay trong nước, dòng nước sinh ra do thành phần lựcngang luôn bao quanh bánh lái ngay cả khi bánh lái nằm trong mặt phẳng trụcdọc của tàu, nghĩa là khi bánh lái để số 0
- Thành phần lực ngang C:
Để thấy rõ ảnh hưởng của chiều quay chân vịt tới tính năng quay trở
ta xét một chân vịt chiều phải 4 cánh, vị trí các cánh được kí hiệu là I, II, III,
Trang 35IV; các phân lực ngang do các cánh sinh ra được kí hiệu là C1, C2, C3, C4
tương ứng khi tàu chạy tới (hình 2.8)
Cánh I đẩy luồng nước phía trên quay sang ngang và xuống dưới tạo
ra phân lực ngang C1 có chiều từ trên xuống dưới theo chiều thẳng đứng nênkhông gây ảnh hưởng đến quay trở của tàu, phản lực của nước D1 có chiềungược lại, có tác dụng nâng lái tàu lên
Cánh II nằm ở bên phải quay từ trên xuống và sang ngang quạt mộtluồng nước từ phải qua trái, phân lực ngang C2 tác dụng trực tiếp vào phầndưới mặt bên phải của bánh lái, làm cho bánh lái dịch chuyển sang trái Phảnlực D2 có tác dụng làm cho lái tàu dịch về phía bên phải
Cánh III nằm ở phía bên dưới, quay từ dưới lên trên tạo ra phân lựcngang C3 có chiều sang ngang và lên trên Phân lực ngang C3 không ảnhhưởng gì đến quay trở của tàu Phản lực của nước D3 có tác dụng dìm lái tàuxuống
Cánh IV nằm ở bên trái quạt một khối nước từ dưới lên trên với phânlực ngang C4 đập trực tiếp vào mặt trên bên trái của bánh lái Phân lực ngang
C4 có tác dụng làm phần lái tàu ngả sang phải, phản lực nước D4 tương ứng cótác dụng đẩy lái tàu sang phía bên trái
Qua phân tích ta thấy rằng C1 và C3 không gây ảnh hưởng gì đến quaytrở mà chỉ có C2 và C4 mới có tác dụng Hai lực này ngược chiều nhau và cóphương vuông góc với mặt phẳng trục dọc của tàu Ta thấy cánh II làm việc ở
độ sâu lớn hơn cánh IV nên C2 > C4 Nếu lực tổng hợp của chúng là C thì ta cóthể viết C = C2 – C4 Như vậy lực tổng hợp C có chiều cùng với C2 làm cho láitàu dịch chuyển về phía bên trái
Trang 36Cũng qua phân tích trên ta thấy phản lực D1, D3 không gây ảnh hưởng
gì đến quay trở mà chỉ có D2 và D4 mới có tác dụng Hai lực này ngược chiềunhau và có độ lớn khác nhau Cánh II làm việc ở độ sâu lớn hơn cánh IV nên
D2 > D4 Nếu gọi phản lực tổng hợp là D ta có thể viết D = D2 – D4 Như vậyphản lực D cùng chiều với D2 làm cho lái tàu dịch chuyển về bên phải
2.5.2 Các dòng nước sinh ra khi chân vịt quay
Khi chân vịt quay sẽ sinh ra 3 dòng nước:
- Dòng nước chảy từ mũi về lái: khi chân vịt quay đẩy tàu chuyển độngtới thì xuất hiện dòng nước chảy từ mũi về lái, nếu để bánh lái ở vị trí
số 0 thì áp lực nước có tác dụng cân bằng lên hai mặt bánh lái, vì vậykhông gây ảnh hưởng gì đến quay trở của tàu mà làm cho tàu luônchuyển động thẳng Nếu bẻ lái về một bên mạn nào đó thì dòng này kếthợp với thành phần phản lực dọc của dòng nước xoáy tròn do chân vịttạo ra sẽ tạo nên áp lực nước trên mặt bánh lái làm cho tàu ngả mũi vềbên mạn bẻ lái
- Thành phần xoáy tròn do chân vịt tạo ra: Khi chân vịt quay đạp luồngnước về phía sau đẩy tàu chuyển động về phía trước, luồng nước nàytạo thành một dòng nước cuộn tròn theo chiều ngang của chân vịt Cácphần tử của dòng bị đẩy lui, đồng thời tham gia 2 chuyển động, vừachuyển động quay vừa chuyển động thẳng Khi đó dòng bị đẩy lùi cóthể chia thành 2 thành phần: Thành phần phân lực ngang kí hiệu là C,thành phần phân lực dọc kí hiệu là b
- Dòng nước hút theo tàu: Khi tàu đứng yên thì thân tàu sẽ chiếm mộtlượng dãn nước bẳng thể tích phần chìm của nó Khi chân vịt đạp nươcđẩy tàu tiến về phía trước thì phần chìm đó sẽ để lại phía sau một vùng
Trang 37trống Do sự chênh lệch áp suất nên nước ở xung quanh tràn vào lấpchỗ trống đó và khi tàu tiếp tục chạy tới thì các khoảng trống được hìnhthành nối tiếp nhau Nước tiếp tục tràn vào lấp những chỗ trống trên.Khi đó sẽ hình thành một dòng nước đuổi theo sự chuyển động của tàu
để lấp chỗ trống do phần chìm để lại Người ta gọi đó là dòng nước húttheo tàu Tốc độ dòng nước theo mạnh nhất ở gần mặt nước, giảm dẫn
và đạt giá trị gần bằng không ở dưới ki tàu
Nếu tàu có chân vịt chiều phải khi chạy tới, dòng nước tràn vào này sẽsinh ra một lực có tác dụng đẩy lái tàu qua trái Lực này kí hiệu là b.Mặt khác dòng này vì có chuyển động theo tàu nên một phần nào đó đãsinh ra lực cản dòng nước chảy từ mũi về lái, làm giảm áp lực tác dụnglên mặt bánh lái khi bẻ lái qua một mạn nào đó
Khi tàu đứng yên, dòng nước này không tồn tại, nó chỉ xuất hiện khi tàubắt đầu chuyển động và tăng theo vận tốc tàu Tàu có hình hộp thì dòngtheo mạnh, vì vậy các tàu có phần lái vuông, đáy bằng thường khó nghelái hơn tàu có đáy và đuôi thon
2.5.3 Hiệu ứng chân vịt tới đặc tính điều động tàu
2.5.3.1 Khi tàu chạy tới, bánh lái để số 0
- Thành phần lực ngang C: cùng chiều với chiều tác dụng của C2;
C = C2 – C4, có tác dụng đẩy lái tàu sang trái, mũi tàu sang phải (vớichân vịt chiều phải, hình 2.19), còn chân vịt chiều trái sẽ ngược lại,tổng hợp lực C sẽ đẩy lái tàu sang phải, mũi sang trái
D 3
C 1
I
D 4
Trang 38- Thành phần phản lực của nước D: cùng chiều với chiều tác dụng của
D3, D = D3 – D1, thành phần này có tác dụng đẩy lái tàu sang phải, mũisang trái (với chân vịt chiều phải), còn với chân vịt chiều trái thì ngượclại, D sẽ đẩy lái tàu qua trái, mũi qua phải
- Thành phần dòng nước hút theo tàu b: có tác dụng đưa mũi sang phải,lái sang trái (với chân vịt chiều phải), với chân vịt chiều trái thì ngượclại, dòng hút theo có tác dụng đẩy lái tàu qua phải, mũi qua trái
Người ta nhận thấy rằng khi chân vịt chiều phải quay, tàu có trớn tớithì tổng hợp thành phần lực ngang C và thành phần do dòng nước hút theo tàu
b sẽ lớn hơn phản lực D hay C + b > D tức là làm cho lái tàu sang trái, mũisang phải Nếu chân vịt chiều trái thì ngược lại, C + b > D nhưng lái tàu ngảphải, mũi ngả trái
Lưu ý: hiện tượng này xảy ra khi tàu có trớn còn khi tàu chưa có trớn thì bchưa xuất hiện và mũi ngả trái Tức là ban đầu ngả trái sau đó có trớn thì mũi
có xu hướng ngả phải, hiện tượng này gọi là hiệu ứng chân vịt và ta cần đặcbiệt lưu ý khi tàu chạy ballast, khi tàu chúi lái lớn Các lực khác nhau về độlớn do đó hiệu ứng sẽ khác nhau
2.5.3.2 Tàu chạy lùi, bánh lái để số 0
IV III
II
Hình 2.9 Hiệu ứng chân vịt tới đặc tính điều động tàu
(chân vịt chiều phải, tàu chạy tới, bánh lái để số không)
Trang 39Khi tàu chạy lùi, dòng nước do chân vịt sinh ra đập vào lái tàu khôngđều tại mọi điểm, dòng này chủ yếu không cuộn quanh bánh lái mà đập trựctiếp vào các bên mạn hông tàu phía dưới đường nước.
C có tác dụng làm đuôi tàu sang trái, mũi tàu sang phải
Cánh III quạt khối nước từ dưới lên tạo ra '
C ’ 2
C ’ 4
C ’ 3
I IV III
D ’ 3
D ’ 2
D ’ 1
D ’ 4
Hình 2.10 Chân vịt chiều phải, tàu chạy lùi, bánh lái để số không
Trang 40Qua phân tích ta thấy C 4 > C 2 vì cánh II quay khối nước hoàn toànđập vào hông tàu mạn phải phía trên còn cánh IV thì một phần khối nước luồnqua ki tàu sang bên phải, phần còn lại đập vào hông tàu mạn trái Do vậy tácdụng tổng hợp của lực ngang C’ làm mũi tàu sang phải.
- Thành phần dòng nước chảy từ mũi về lái:
Dòng này không có tác dụng quay trở
Như vậy tổng hợp các lực C, D đều cùng chiều và có tác dụng làmcho mũi tàu ngả phải, lái tàu sang trái (với chân vịt chiều phải), với chân vịtchiều trái thì ngược lại, khi lùi thì mũi ngả trái Tóm lại khi chạy lùi thì mũi có
xu hướng ngả phải hoặc trái mạnh hơn rất nhiều so với khi tới
2.5.4 Mối tương quan của chân vịt đối với sự thay đổi chế độ hoạt động của máy tàu
Điều kiện xét ở đây là: chân vịt chiều phải, thân vỏ tàu không chịuảnh hưởng của sóng, gió, dòng chảy