1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh bắc ninh

127 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DN : Doanh nghiệp DPRR : Dự phòng rủi ro HĐV : Huy động vốn NHNN : Ngân hàng nhà nước NHTM : Ngâ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––

HOÀNG THÙY VÂN

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––

HOÀNG THÙY VÂN

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi; số liệu sử dụng và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất cứ một học vị nào

Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc nghiên cứu, các nguồn thông tin đã được xử lý và trích dẫn rõ nguồn tài liệu tham khảo theo quy định Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài đã được cảm ơn./

Thái Nguyên, tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Thùy Vân

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn hai năm học tập tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên tôi đã được các thầy, cô truyền đạt kiến thức và hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học đào tạo thạc sĩ Trong quá trình học tập và nghiên cứu ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình các môn học và luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy, cô trong và ngoài trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, các thầy cô trực

tiếp giảng dạy trong suốt hơn hai năm qua, đặc biệt là thầy giáo TS Vũ Bá Thể đã

dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sĩ này

Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn của mình bằng cả kiến thức đã được trang bị và vốn kinh nghiệm sẵn có Tuy nhiên, do thời gian và trình

độ chuyên môn còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của quý thầy cô, cùng toàn thể các bạn

Một lần nữa tôi xin được trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Thùy Vân

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Đóng góp của đề tài 3

5 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 15

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 22

1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng 22

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng 24

1.2.3 Nội dung hoạt động quản lý rủi ro tín dụng 24

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản lý rủi ro tín dụng 34

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý rủi ro tín dụng 36

1.3 Kinh nghịêm quản lý rủi ro tín dụng của một số ngân hàng thương mại nước ngoài và bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam 41

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số NHTM nước ngoài 41

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số NHTM trong nước 44

1.3.3 Một vài kinh nghiệm liên hệ cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh 49

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 51

2.2 Phương pháp nghiên cứu 51

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin: Đề tài sử dụng thông tin thứ cấp làm tài liệu nghiên cứu 51

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 52

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 52

2.2.4 Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody’s và Standard & Poor’s 53

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 55

2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng tại Chi nhánh: 55

2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá về quy trình nghiệp vụ 55

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH 56

3.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh (BIDV Bắc Ninh) 56

3.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của BIDV Bắc Ninh 56

3.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Bắc Ninh 62

3.2 Phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Ninh 66

3.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Ninh 66

3.2.2 Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Ninh 77

3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh 88

3.3 Đánh giá công tác quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Ninh 92

3.3.1 Kết quả đạt được 92

3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 94

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH 96

4.1 Phương hướng hoạt động của BIDV Bắc Ninh trong thời gian tới 96

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

4.1.1 Định hướng tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 96

4.1.2 Mục tiêu chung của chi nhánh 96

4.1.3 Kế hoạch tín dụng 96

4.2 Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Ninh 98

4.2.1 Xây dựng và hoàn thiện mục tiêu, chiến lược, chính sách quản lý rủi ro tín dụng 98

4.2.2 Xây dựng hệ thống kiểm soát các nguồn rủi ro phù hợp 100

4.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định và kiểm tra sử dụng vốn sau khi cho vay 103

4.2.4 Kiên quyết xử lý nợ tồn đọng, nợ xấu xuống mức thấp nhất có thể 108

4.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ 102

4.2.6 Nâng cao khả năng thu thập và xử lý thông tin 100

4.2.7 Hoàn thiện hoạt động tài trợ rủi ro tín dụng 103

4.2.8 Nâng cao chất lượng tuyển chọn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên tín dụng đặc biệt là đội ngũ làm công tác quản lý rủi ro tín dụng 109

4.3 Một số kiến nghị 110

4.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 110

4.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam 111

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 115

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DN : Doanh nghiệp DPRR : Dự phòng rủi ro HĐV : Huy động vốn

NHNN : Ngân hàng nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại RRTD : Rủi ro tín dụng

TCKT : Tổ chức kinh tế TCTD : Tổ chức tín dụng TMCP : Thương mại cổ phần TSĐB : Tài sản đảm bảo

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Cơ cấu nguồn vốn 62

Bảng 3.2 Tình hình dư nợ của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Ninh 64

Bảng 3.3 Cơ cấu tín dụng 65

Bảng 3.4 Tổng hợp phân loại nợ 67

Bảng 3.5 Thực trạng nợ xấu qua các năm 68

Bảng 3.6 Tình hình dư nợ và nợ xấu của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Ninh phân theo kỳ hạn 69

Bảng 3.7 Tình hình dư nợ và nợ xấu của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Ninh phân theo tiền tệ 71

Bảng 3.8 Nợ xấu phân theo hình thức bảo đảm tiền vay 72

Bảng 3.9 Tình hình dư nợ và nợ xấu của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Ninh phân theo thành phần kinh tế 74

Bảng 3.10 Tình hình dư nợ và nợ xấu của ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Ninh phân theo ngành kinh tế 76

Bảng 3.11 Bảng hướng dẫn xác định nguy cơ rủi ro khách hàng 79

Bảng 3.12 Bảng xếp loại khách hàng doanh nghiệp theo điểm số của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh 81

Bảng 3.13 Kết quả xếp loại khách hàng theo điểm số tại Chi nhánh 82

Bảng 3.14 Phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế, cơ cấu ngành nghề 83

Bảng 3.15 Rủi ro do tác động của môi trường bên ngoài 88

Bảng 3.16 Đánh giá rủi ro tín dụng từ phía khách hàng 89

Bảng 3.17 Rủi ro trong thẩm định hồ sơ của ngân hàng 90

Bảng 3.18 Rủi ro do cán bộ tín dụng của ngân hàng 91

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh 59 Biểu đồ 3.2 Xác định nguy cơ rủi ro khách hàng tại Chi nhánh 80

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập với khu vực và thế giới Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, sự cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng gay gắt, hoạt động sản xuất và đầu tư diễn ra ngày càng sôi động, nhu cầu về vốn đầu tư cho các dự án, đầu tư để mở rộng sản xuất, cũng như nhu cầu vốn cho tín dụng cá nhân cũng ngày càng tăng Do đó, Ngân hàng và hoạt động tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Xét tổng thể, tín dụng ngân hàng là một khâu cơ bản của hệ thống tài chính quốc gia, bảo đảm cung cấp vốn dài hạn, trung hạn, và ngắn hạn, cả nội tệ và ngoại

tệ đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế quốc dân Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu, mang lại nguồn lợi lớn nhất cho mỗi ngân hàng Tuy nhiên, rủi ro tín dụng cũng là loại rủi

ro lớn nhất trong các loại rủi ro, gây thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh, thậm chí có thể làm phá sản ngân hàng Hiện nay, nợ xấu đang là vấn đề nóng bỏng, là một vấn nạn đối với các ngân hàng Đứng trước những thời cơ

và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng đã trở nên cấp thiết và là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại Đây là vấn đề vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng Bên cạnh đó tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp và nguy cơ khủng hoảng tín dụng tăng cao, Việt Nam là một nước có nền kinh tế mở nên không thể tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro

Trong bối cảnh chung đó, hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nhánh Bắc Ninh nói riêng ý thức được rằng, việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh phải đi đôi với quản lý rủi ro, đặc biệt là quản lý rủi ro tín dụng

Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh, trong những năm qua, rủi ro tín dụng đã xảy ra trên diện rộng, nợ quá hạn, nợ xấu nhiều đặt hoạt động tín dụng của chi nhánh vào tình trạng hết sức khó khăn Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng đang được chi nhánh đưa lên mục tiêu hàng đầu Xuất phát

từ thực tiễn này, là một cán bộ công tác tại chi nhánh, nhận thức được tầm quan

trọng của việc quản lý rủi ro tín dụng tôi đã lựa chọn để tài “Giải pháp quản lý rủi

ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

- Xác định một số các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam - Chi nhánh Bắc Ninh

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về rủi ro tín dụng và các hoạt

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu trong thời gian bốn năm (từ năm 2011 đến hết năm 2014)

- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiên nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh

- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh từ đó đưa

ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng tại đơn vị này

4 Đóng góp của đề tài

Tổng hợp và hệ thống hóa vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro tín dụng, vai trò của nó đối với hoạt động Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi trong ngân hàng, tổng kết những bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng

Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng, đồng thời tìm ra các giải pháp góp phần làm tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển - Chi nhánh Bắc Ninh

Nhận biết, hạn chế, phòng ngừa và giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động tín dụng

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín

dụng của ngân hàng thương mại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP

Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh

Chương 4: Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại

1.1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động chủ yếu

a Khái niệm ngân hàng

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền

tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan

Ngân hàng thương mại là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác, cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính

Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:

Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”

 Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là

tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Một cách phổ biến và thận trọng nhất để định nghĩa về ngân hàng đó là xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Theo

cách này, Ngân hàng được định nghĩa là “một loại hình tổ chức tài chính cung cấp

một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một

tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

Ngân hàng cũng có thể được định nghĩa là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân

b Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng như các trung gian tài chính khác đóng vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, là trung gian giữa người cho vay và người đi vay NHTM có hai hoạt động cơ bản là huy động vốn và sử dụng vốn, ngoài ra còn có một số hoạt động khác cũng là nguồn mang lại thu nhập cho ngân hàng Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là chuyển tài chính thành đầu tư

Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính tín dụng Phạm vi hoạt động của ngân hàng rất rộng, ngân hàng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế với vai trò là trung gian tài chính, đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh…Sau đây là một số hoạt động cơ bản của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm như sau:

- Hoạt động Huy động vốn

- Hoạt động Cho vay bao gồm hoạt động tín dụng và kinh doanh

- Hoạt động thanh toán

- Hoạt động khác như: bảo lãnh, uỷ thác, quản lý ngân quỹ, bảo quản tài sản

hộ, thuê mua như thuê hoạt động và thuê tài chính, môi giới đầu tư chúng khoán, dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý như: thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ tiền gửi…

Hoạt động huy động vốn: ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới

các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Hoạt động cho vay: ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức,

cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất

Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:

- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

- Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

Hoạt động thanh toán:

Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi

dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được

mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ

sở của chi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:

- Cung cấp các phương tiện thanh toán

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng

- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước

- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

Các hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền

gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác bao gồm:

- Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại

- Ủy thác và nhận uỷ thác: Ngân hàng thương mại được uỷ thác, nhận uỷ thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng

uỷ thác, đại lý

- Bảo quản tài sản hộ: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản, khách hàng phải trả phí bảo quản

- Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức

và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

- Môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nên bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán Ngoài ra, ngân hàng còn bán bảo hiểm cho khách hàng,

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng chết hay bị tàn phế, rủi

ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

a Khái niệm tín dụng ngân hàng

Để hiểu về tín dụng ngân hàng, trước hết ta phải hiểu khái niệm về tín dụng

Có rất nhiều cách hiểu về tín dụng Theo các nhà kinh tế học Mac-xít quan niệm thì tín dụng là: “Đem tiền cho vay với tư cách là một việc có đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên thêm trong quá trình hoạt động” Có nghĩa là “Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người

sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển sở hữu từ người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà chỉ đem cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát một kỳ hạn nhất định” Như vậy, tín dụng theo nghĩa này không chỉ rõ cụ thể ai là người có vốn, ai là người cần vốn

mà chỉ nêu bản chất quan hệ vay mượn vốn Có nhiều quan điểm cho rằng tiền cũng

là một loại hàng hóa, bản chất của tín dụng cũng chính là hoạt động buôn bán tiền

tệ Tuy nhiên, quan hệ tín dụng khác với quan hệ mua bán hàng hóa ở hai điểm sau:

Thứ nhất, quan hệ tín dụng khác với quan hệ mua bán hàng hóa thông

thường ở chỗ hàng hóa thì được đem bán quyền sở hữu để nhận lấy một khoản tiền thanh toán còn trong quan hệ tín dụng thì vốn với tư cách là một loại hàng hóa đặc biệt cũng được đem bán nhưng chỉ bán quyền sử dụng trong một khoảng thời gian

cụ thể

Thứ hai, giá cả trong quan hệ tín dụng không tách rời rõ rệt, không trực tiếp

phản ảnh giá trị, không lên xuống xoay quanh giá trị như trong quan hệ thương mại

mà ở đây giá cả chính là phần tiền tăng thêm so với giá trị ban đầu của số tiền được đem cho vay Cụ thể lãi suất của món vay chính là biểu hiện của giá cả trong quan

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

hệ tín dụng (Lê Trung Thành, 2002)

Đối với hoạt động của ngân hàng, tín dụng là một nghiệp vụ kinh doanh cơ bản và quan trọng nhất, nó mang lại nguồn thu nhập chính, quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng trên thị trường Dưới góc độ của ngân hàng thì tín dụng ngân hàng có thể được hiểu là: “Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế, được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân và cho vay lại đối với các tổ chức và cá nhân” (Trần Hoàng Ngân, 2006) Cũng có thể hiểu “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc vật chất) giữa ngân hàng và người đi vay trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán” (Nguyễn Văn Tiến, 2009)

Trong quan hệ giao dịch tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay thể hiện các nội dung sau:

- Ngân hàng chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc thiết bị, bất động sản,…

- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho ngân hàng

- Giá trị hoàn hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác người vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc đã mượn của ngân hàng trước đó

- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả tiền vay vô điều kiện khi đến hạn trả nợ Về mặt pháp lý thì cơ sở của việc hoàn trả vô điều kiện này chính là các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ, các giấy

tờ có giá khác,…(Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng, 2009)

Có thể thấy qua các cách hiểu trên thì tín dụng ngân hàng đơn thuần chỉ là cho vay Tuy nhiên, trên thực tế tín dụng có nghĩa rộng hơn cho vay bởi cho vay chỉ

là một hoạt động lớn trong nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng Điều 20 Luật các

Tổ chức tín dụng Việt Nam quy định “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

thuận với khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp

vụ khác”

b Phân loại tín dụng ngân hàng

Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng được thực hiện với nhiều đối tượng khác nhau, với nhiều hình thức khác nhau, với nhiều thời hạn khác nhau Nhưng về

cơ bản, tín dụng ngân hàng thường được phân loại theo các tiêu thức sau:

Phân theo thời hạn tín dụng:

Theo thời hạn, tín dụng ngân hàng được chia thành 3 loại: tín dụng ngắn hạn (hình thức cấp tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng), tín dụng trung hạn (hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng theo quy định của NHNN Việt Nam, còn đối với một số nước trên thế giới là từ trên 1 năm đến 7 năm) và tín dụng dài hạn (hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng theo quy định của NHNN Việt Nam, hoặc trên 7 năm đối với một số nước trên thế giới)

+ Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng

(1 năm) Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và nhu cầu chi

tiêu ngắn hạn của cá nhân, hộ gia đình …

+ Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng

đến 60 tháng (5 năm) Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản

cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ, thời hạn thu hồi vốn nhanh

+ Tín dụng dài hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở

lên Mục đích sử dụng là để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây nhà, đầu tư các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, nhà máy mới thời hạn thu hồi vốn lâu

Tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp thiếu hụt nguồn vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn khác, còn tín dụng trung, dài hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định và các nhu cầu chi tiêu dài hạn

Phân theo hình thức bảo đảm:

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Theo hình thức bảo đảm, tín dụng ngân hàng được chia thành tín dụng có bảo đảm bằng tài sản và tín dụng tín chấp Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cấp tín dụng mà người đi vay phải sử dụng tài sản của mình thế chấp cho ngân hàng để được sử dụng vốn, còn tín dụng tín chấp là hình thức cấp tín dụng mà người đi vay được bảo đảm bằng sự tín nhiệm mà không cần tài sản thế chấp

+ Tín dụng có tài sản thế chấp: là loại hình tín dụng dựa trên cơ sở các bảo

đảm như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn trả nợ thứ hai trong trường hợp rủi ro khách hàng không trả được nợ từ nguồn trả nợ thứ nhất; đồng thời đây cũng là một biện pháp để khách hàng nâng cao trách nhiệm sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích và trả nợ vay đúng thời hạn Tín dụng có tài sản thế chấp bao gồm tín dụng cầm cố và tín dụng thế chấp

Tín dụng cầm cố là tín dụng mà trong đó, ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng mang đến cầm cố tại ngân hàng để cho vay Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản, trong suốt thời gian cầm cố khách hàng không được sử dụng nhượng bán, cho thuê

Tín dụng thế chấp là tín dụng mà trong đó, ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng để cho vay Số tài sản này không thực hiện chuyển giao tài sản cho ngân hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán và cho thuê

+ Tín dụng không có tài sản thế chấp (tín chấp): là việc ngân hàng cấp tín

dụng trên cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng Thông thường ngân hàng chỉ cung cấp loại hình tín dụng này đối với những khách hàng truyền thống, có khả năng tài chính mạnh, hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt Ngoài ra còn có hình thức cấp tín dụng thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn như Hội nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam

Phân theo mục đích sử dụng:

Theo mục đích sử dụng, tín dụng ngân hàng được chia thành tín dụng sản xuất - kinh doanh và tín dụng tiêu dùng Tín dụng sản xuất kinh doanh là hình thức cấp tín dụng phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, còn tín dụng tiêu dùng

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

là hình thức cấp tín dụng phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, đời sống như: xây mới, sửa chữa nhà ở, mua sắm phương tiện,…

Phân theo lĩnh vực đầu tƣ:

Theo lĩnh vực đầu tư, tín dụng ngân hàng được chia thành 4 loại:

- Tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: là hình thức cấp tín dụng phục vụ cho các mục đích thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn nông nghiệp, nông thôn như: cho vay trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy, hải sản,…

- Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: là hình thức cấp tín dụng phục vụ cho các mục đích thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng như: ngành dệt, may, công nghiệp nặng, xây dựng, bất động sản,…

- Tín dụng đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: là hình thức cấp tín dụng phục

vụ cho các mục đích thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ như: kinh doanh khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ vui chơi, giải trí, bán buôn, bán lẻ các loại mặt hàng,…

- Tín dụng đối với lĩnh vực tiêu dùng, đời sống: là hình thức cấp tín dụng phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, đời sống như: xây mới, sửa chữa nhà ở, mua sắm phương tiện,…

Phân theo kỹ thuật cấp tín dụng:

Theo kỹ thuật cấp tín dụng, tín dụng ngân hàng được chia thành 8 loại:

- Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán hay có thể hiểu theo cách khác là hình thức ngân hàng mua lại giấy tờ có giá chưa đến hạn của khách hàng sau khi trừ đi tiền lãi chiết khấu, hoa hồng, phí Thực chất đây là hình thức cho vay gián tiếp

- Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh (là ngân hàng) cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

- Cho thuê tài chính: là hình thức cấp tín dụng tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận (Nguyễn Minh Kiều, 2010)

c Vai trò của tín dụng ngân hàng

- Tín dụng ngân hàng là một kênh tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân, nó có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm nó thể hiện như sau:

+ Là một kênh cung ứng vốn nhanh nhất đối với khách hàng, những người

có nhu cầu hợp pháp, tạo điều kiện cung ứng vốn cho khách hàng khi họ có cơ hội kinh doanh

+ Tín dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nó là cầu nối giữa tiết kiệm

và tiêu dùng, là động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển các thành phần kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng cung ứng vốn cho các thành phần kinh tế

để các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa ngành nghề Thông qua hoạt động tín dụng có thể khuyến khích cấp tín dụng cho lĩnh vực này và hạn chế lĩnh vực khác, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, các ngành

+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật: Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp muốn tồn tại luôn phải đổi mới công nghệ, thiết bị Các doanh nghiệp thường không có đủ vốn để thực hiện được việc đó, họ thường thông qua kênh tín dụng để thực hiện việc đổi mới kỹ thuật công nghệ, sau khi tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật các doanh nghiệp có điều kiện vươn lên và phát triển

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

+ Thúc đẩy mở rộng sản xuất: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thực hiện tái sản xuất mở rộng để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp doanh nghiệp có thể đứng vững và tồn tại

Thông qua kênh tín dụng của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát hoạt động của nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách lãi suất, nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương cho vay tái cấp vốn Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại đề ra mục tiêu cụ thể và các chính sách biện pháp điều chỉnh, phù hợp trong từng thời kỳ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng của Nhà nước, bảo đảm ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát

+ Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước

ngoài: Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với

kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối

liền kinh tế các nước với nhau

Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá Đồng thời, các quốc gia nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá kinh tế trong nước

Căn cứ vào rủi ro, tín dụng được chia thành:

Tùy theo mức độ rủi ro, tín dụng ngân hàng chia thành:

+ Nợ tiêu chuẩn (Nhóm 1): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là

có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

+ Nợ cần chú ý (Nhóm 2): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là

có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

+ Nợ dưới tiêu chuẩn (Nhóm 3): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được

tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

+ Nợ nghi ngờ (Nhóm 4): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là

khả năng tổn thất cao

+ Nợ có khả năng mất vốn (Nhóm 5): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng (Peter S.Rose (2001)

1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại

a Khái niệm và đặc điểm rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng

Cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng

Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Rủi ro trong hoạt động của NHTM có thể hiểu đơn giản là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng dẫn đến giảm sút thu nhập

Rủi ro gắn liền với hoạt động NHTM, phản ánh các tình huống bất thường xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng Khi tổn thất xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng giảm sút Trong trường hợp tổn thất thấp, ngân hàng sẽ phải giảm vốn, giảm quĩ dự phòng, có thể là giảm tiền lương, lao động, ảnh hưởng không tốt về các hoạt động của ngân hàng

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay vốn hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết

Rủi ro được hiểu một cách đúng nhất là rủi ro không thu hồi được nợ khi các khoản nợ này đến kỳ hạn thanh toán

Đặc điểm rủi ro tín dụng được phản ánh:

- Về mặt định lƣợng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá

hạn, nợ đọng của mỗi ngân hàng như: số lượng nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu

- Về mặt định tính: rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín

dụng Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ cả vốn và lãi Đối với mỗi khoản vay được thực hiện với mỗi khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất Tuy nhiên, rủi ro luôn tiềm

ẩn trong đó Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỉ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung Do vậy, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý khi có tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến

b Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD

có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và

cả mô hình tổ chức quản lý và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng, giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu hiệu không bình thường Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản lý RRTD có hiệu quả Căn cứ vào tính chất của rủi ro có thể chia RRTD thành những loại sau:

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Rủi ro giao dịch là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là

do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro liên quan tới quá trình phân tích và đánh giá tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm liên quan đến phương án đảm bảo khoản vay (các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề)

Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của khách hàng Được phân thành rủi ro nội tại (Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế); và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao)

1.1.2.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

a Khái niệm rủi ro tín dụng

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro Theo Frank Knight: “Rủi ro là

sự bất trắc không thể lường được”; Irving Preffer thì cho rằng “ rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thế đo lường được bằng xác suất”; còn theo Allan Wilett thì

“rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” Nói chung đối với hầu hết mọi người thì rủi ro ám chỉ một kết cục không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định

Rủi ro là khả năng tổn thất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Tổn thất trực tiếp là những tỏn thất về lợi nhuận hoặc về vốn Tổn thất gián tiếp là những áp lực hạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu kinh doanh của một ngân hàng Những hạn chế gây ra rủi ro thông việc hạn chế khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc khai thác các cơ hội kinh doanh

Rủi ro tín dụng được rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm

về rủi ro tín dụng

- Rủi ro tín dụng là những tốn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay

- Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ

nợ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn

- Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà khách hàng vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng

- Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do bên đối tác không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Cũng có thể bao gồm cả sự mất đu giá trị thị trường do sự suy yếu vị thế tài chính của đối tác

- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không

có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết Đây là khái niệm được nêu tại Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được chấp nhận và áp dụng một cách phổ biến trong hoạt động tín dụng hiện nay

Vậy, rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NH phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện các điều khoản trong hợp đồng tín dụng

đã ký tức là nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi không hoàn trả đầy đủ cho NH do nguyên nhân khách quan và chủ quan Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NH đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ và nguy cơ phá sản

Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của doanh nghiêp, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó, không được né tránh nó Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạn tranh các doanh nghiệp không còn con đường nào khác phải đương đầu với rủi ro có thể xẩy ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xẩy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra

Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng cơ bản của NHTM Đối với hầu hết các NHTM, dư nợ tín dụng thường chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản Có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ 1/3 đến 1/2 tổng thu nhập Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi

ro với những tổn thất nặng nề cho các NHTM Khoản tín dụng có rủi ro mang các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

- Giá trị tài sản bảo đảm không đủ trang trải nợ gốc và lãi

- Thông thường, các khoản nợ này quá hạn từ 90 ngày trở lên

Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng

b Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro tín dụng, nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại:

Về phía ngân hàng, RRTD trước hết phát sinh do ngân hàng chưa thiết lập được một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ đến khâu thanh

lý tín dụng Giữa các giai đoạn có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau, việc phân đoạn này tạo điều kiện cho việc xác định rõ ràng các thao tác nghiệp vụ ở mỗi giai đoạn và phân định trách nhiệm cho nhân viên thực hiện

Ngân hàng thiếu một chính sách tín dụng rõ ràng, không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Chính sách tín dụng được hiểu là các định hướng chung trong việc cho vay, bao gồm: chế độ cho vay, quy định về bảo đảm tiền vay, quy trình tín dụng, chính sách khách hàng, lĩnh vực ngành nghề được ưu tiên…

Nếu chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn, thống nhất sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng và sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng

Nguyên nhân do cán bộ ngân hàng: Do trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về lĩnh vực mà ngân hàng định đầu tư, không am hiểu luật pháp

Do đạo đức nghề nghiệp: Có những cán bộ yếu kém về phẩm chất, tư cách

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

đạo đức đã lợi dụng vị trí của mình để tham ô, trục lợi nên đã gây ra tổn thất tín dụng cho ngân hàng

Chấp hành quy trình nghiệp vụ không nghiêm túc, phân tích tín dụng không chuẩn xác, thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác về khách hàng, từ đó dẫn đến những quyết định cấp tín dụng sai đối tượng

+ Nguyên nhân từ phía khách hàng:

Do khách hàng có năng lực tài chính hạn chế, tài sản để bảo đảm tiền vay giá trị thấp hoặc không có tính thanh khoản; không đủ khả năng tổ chức dây chuyền sản xuất kinh doanh khép kín; quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, khả năng cạnh tranh thấp; không có khả năng áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, các công nghệ cao, các biện pháp phòng ngừa rủi ro chủ động tích cực; luôn bị ép giá khi bán sản phẩm,…Vì vậy dễ xảy ra rủi ro, và khi gặp rủi ro thì cũng rất khó khăn trong việc khắc phục hậu quả

Trình độ tổ chức sản xuất, quản lý yếu kém, hiểu biết thông tin về thị trường thiếu hoặc chắp vá; đầu tư theo phong trào, theo thói quen, không tính toán chọn lọc các phương án đầu tư hiệu quả, thời điểm thích hợp…dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, rất dễ bị lỗ

Điều kiện sản xuất, địa bàn sản xuất khó khăn, thiếu các cơ sở hỗ trợ cả về thị trường vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm…

Do khách hàng sử dụng sai mục đích Khách hàng vay vốn sản xuất đem về tiêu dùng, vay để sản xuất mặt hàng này nhưng lại dùng vốn vay đem đi sản xuất mặt hàng khác, vay hộ người khác, vay ngắn hạn nhưng lại sử dụng vào mục đích đầu tư dài hạn…đa phần những trường hợp như vậy sẽ làm mất vốn, ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ ngân hàng

Do tình trạng một khách hàng vay nhiều tổ chức tín dụng, vay ở tổ chức tín dụng này để trả cho tổ chức tín dụng khác, vay đảo nợ…

Ngoài ra còn có yếu tố chủ quan khác của khách hàng do không hiểu biết về pháp luật, do sử dụng tùy tiện lãng phí vốn vay, chây ì, có hành vi lừa đảo khai tăng giá trị tài sản bảo đảm để được vay vốn nhiều hơn hoặc cố tình lừa đảo không chịu trả nợ ngân hàng, do mắc các tệ nạn xã hội như cờ bạc…

Nguyên nhân thuộc về khách hàng luôn là nguyên nhân chính gây ra những

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tổn thất lớn nhất cho tín dụng NHTM Vì vậy cán bộ ngân hàng cần tăng cường tiếp cận khách hàng, tìm các biện pháp tích cực hiệu quả để hạn chế các rủi ro cho khách hàng, tăng cường công tác đôn đốc để ngăn chặn các nguyên nhân chủ quan của khách hàng, từ đó không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro cho NHTM

+ Các nguyên nhân khác:

Do thiên tai, bão lụt và những tai họa từ điều kiện tự nhiên khác

Do những biến động trong nền kinh tế Hoàn cảnh của nền kinh tế chung, sản xuất chưa ổn định, khả năng cạnh tranh chưa cao, sự chưa hoàn chỉnh của thị trường tài chính - tiền tệ trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất tiêu thụ của khách hàng Những biến động bất thường trong chu kỳ kinh tế cũng có thể gây bất lợi đối với sản xuất, kinh doanh của hộ sản xuất, do đó có thể làm tăng rủi ro tín dụng

Do môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, ý thức tôn trọng pháp luật còn hạn chế như việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, việc xử án thi hành án thường chậm trễ không nhất quán… gây khó khăn cho việc thu hồi vốn vay của NHTM

Do chính sách cơ chế quản lý của nhà nước như thay đổi về chính trị, pháp luật, địa giới hành chính hay thay đổi về chính sách quản lý đất đai, thay đổi quy hoạch… điều đó có tác động trực tiếp, gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế và rủi ro của NHTM cả ở hai chiều…

c Sự tác động của rủi ro tín dụng

+ Đối với ngân hàng:

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả Khi gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, bị cấp trên khiển trách Đối với cấp dưới, do gặp phải rủi ro tín dụng nên không có tiền trả lương cho nhân viên vì thế những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, gây khó khăn cho ngân hàng

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng

+ Đối với khách hàng:

Lãi vay ngân hàng được hạch toán vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì khách hàng vay vốn của ngân hàng sẽ phải chịu lãi phạt rất cao, lãi suất nợ quá hạn lớn hơn lãi suất nợ trong hạn sẽ làm chi phí của doanh nghiệp tăng lên, hiệu quả sử dụng vốn giảm, lợi nhuận giảm, doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Tình hình tài chính ngày càng khó khăn hơn, nguy cơ không trả đủ nợ cho ngân hàng là không tránh khỏi, còn có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp

Khi ngân hàng không thu được nợ của khách hàng đầy đủ và đúng hạn, dấu hiệu này nói lên hoạt động kém hiệu quả của khách hàng, làm giảm uy tín của doanh nghiệp với ngân hàng Mất đi sự tin tưởng của ngân hàng thì vay vốn trên thị trường tài chính của khách hàng cũng bị giảm sút

+ Đối với nền kinh tế:

Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền

ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất

ổn định Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Quản lý rủi ro là quá trình nhận biết, phân tích, đánh giá, đo lường, qua đó đưa ra quyết định chấp nhận hoặc hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn trong các quyết định đầu tư của các chủ thể Quản lý rủi ro là vô cùng cần thiết bất cứ khi nào nhà đầu tư hoặc người quản lý quỹ phân tích và cố gắng định lượng nguy cơ bị lỗ trong một quyết định đầu tư từ đó có những hành động phù hợp, điều chỉnh lại mục tiêu đầu tư và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được Nói một cách đơn giản quản lý rủi

ro gồm có hai bước chính: xác định rõ các rủi ro tiềm ẩn trong một quyết định đầu

tư và từ đó kiểm soát những rủi ro này theo cách phù hợp nhất với mục tiêu đầu tư

Việc quản lý rủi ro cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc phân bổ nguồn lực Đây chính là biểu hiện của lý thuyết chi phí cơ hội Dù quản lý rủi ro làm giảm thiểu nguy cơ gặp rủi ro song các nguồn lực được sử dụng để quản lý rủi ro lại có thể được sử dụng cho các hoạt động khác có khả năng sinh lợi cao hơn Do đó, hiệu quả công tác quản lý RRTD là vấn đề được đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung trong việc cân đối thu nhập và chi phí, với mục tiêu cao nhất là lợi nhuận kinh doanh và sự phát triển bền vững

Quản lý rủi ro tín dụng: Xét trong phạm vi hoạt động tín dụng của các NHTM, quản lý rủi ro tín dụng là quá trình trong đó các NHTM tiến hành xác định, phân tích đánh giá các nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động cho vay vốn của mình, qua

đó chấp nhận hoặc ngăn ngừa, hạn chế sự phát sinh của nó, dựa trên một hệ thống các hoạt động có tổ chức và chuyên biệt Hiện nay tất cả các NHTM đều thực hiện thiết lập và vận hàng hệ thống quản lý rủi ro, ở các mức độ khác nhau và tuân thủ thông lệ hoạt động chung trong phạm vi nền kinh tế nước đó và quốc tế

Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng: Hiệu quả quản lý RRTD là khái niệm để chỉ mức độ thỏa mãn các chuẩn mực yêu cầu trong việc so sánh những kết quả đạt được của công tác quản lý RRTD đối với sự phát triển của hoạt động tín dụng nói riêng

và tổng thể hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung với những chi phí mà NHTM đã chi trả cho công tác đó Các chuẩn mực đo lường là những chỉ tiêu của bản thân các NHTM, hệ thống NHTM của một quốc gia và các quy định của các định chế kinh tế quốc tế, tiêu biểu như các quy định về trích lập dự phòng rủi ro tín

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

dụng, quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong cho vay, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng…

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Đối với ngân hàng thương mại

Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ dẫn đến phát sinh các khoản nợ khó thu hồi, gây ảnh hưởng làm ứ đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốn ngân hàng Các khoản vay không được thanh toán đầy đủ, đúng hạn dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền vào và ra trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng Các khoản tiền gửi của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng hạn, trong khi các khoản tiền vay của khách hàng lại không được hoàn trả đúng thời hạn Nếu như ngân hàng không có biện pháp phù hợp thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán

Tiếp nữa, RRTD làm phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, việc tăng lãi suất của các khoản nợ quá hạn sẽ làm cho những khoản chi phí trên lớn hơn thu nhập Mặt khác, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho khoản tiền huy động được…điều đó, làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm sút

Theo những phân tích ở trên, khi năng lực quản lý rủi ro tín dụng yếu kém nếu mở rộng tín dụng thì ngân hàng ngày càng thua lỗ và có thể dẫn đến kết cục ngân hàng có thể bị thua lỗ và cũng có nguy cơ phá sản Do vậy, nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng là tiền đề cho việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng

1.2.2.2 Đối với khách hàng

Khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Ngân hàng không thu được nợ của khách hàng là biểu hiện hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, khách hàng muốn vay ngân hàng những lần sau đó sẽ gặp khó khăn Đồng thời bạn hàng của khách hàng cũng do dự khi thiết lập quan hệ với họ Các chủ nợ cũng dồn dập tới đòi nợ khách hàng Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường bị giảm sút

Với một phương án kinh doanh được thẩm định kỹ lưỡng và chuyên nghiệp khách hàng là người được lợi do tránh được những rủi ro tiềm tàng trong kinh doanh Qua đó gián tiếp giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng

1.2.3 Nội dung hoạt động quản lý rủi ro tín dụng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.2.3.1 Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng nhằm đạt được rất nhiều mục tiêu trong đó mục tiêu quan trọng nhất là hạn chế tối đa tổn thất cho ngân hàng Nó được biểu hiện qua các chỉ tiêu liên quan đến nhiều đối tượng: mục tiêu chung của ngân hàng, mục tiêu của quản lý RRTD, chất lượng tín dụng, xây dựng và quản lý quỹ dự phòng rủi ro…các chỉ tiêu đó có thể là định lượng hay định tính và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau,

có thể bổ sung cho nhau nhưng cũng có thể mâu thuẫn với nhau Do đó, để có thể đánh giá một cách chính xác hiệu quả quản lý RRTD thì phải đánh giá toàn bộ các chỉ tiêu đó trong một hệ thống các chỉ tiêu cả định tính lẫn định lượng Đồng thời, cũng căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để có sự ưu tiên cho chỉ tiêu này hay chỉ tiêu khác, cho đối tượng này hay đối tượng khác

Bên cạnh đó quản lý rủi ro tín dụng cũng nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh cho ngân hàng Bởi vì ngân hàng muốn mở rộng thị trường tăng trưởng nhanh chóng và hiệu quả thì ngoài các yếu tố kinh doanh khác việc có một hệ thông quản lý rủi ro có hiệu quả là một phần không thể thiếu

1.2.3.2 Xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng

Trong sự biến động mạnh mẽ của nền kinh tế và thị trường thì việc xây dựng một chiến lược quản lý rõ ràng, chính xác là tất yếu Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng khi có RRTD xẩy ra và có chính sách phù hợp để hạn chế RRTD ở mức thấp nhất có thể

Nội dung bao trùm của toàn bộ quá trình quản lý rủi ro tín dụng là xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng

Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục đích và mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế của NHTM nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đặt ra trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng của ngân hàng

Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng dựa trên các cơ sở và xem xét nhiều khía cạnh khác nhau

Thứ nhất, môi trường hoạt động kinh doanh của ngân hàng với các yếu tố sau: tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn hoạt động của ngân hàng, tính chất lĩnh

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

vực mà ngân hàng cấp tín dụng, khả năng của đối thủ cạnh tranh với ngân hàng Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những khu vực thị trường nhất định

Thứ hai, căn cứ vào các quy định của cơ quan quản lý: Việc xây dựng chiến lược quản lý RRTD của ngân hàng luôn phải dựa trên những quy định của cơ quan

có thẩm quyền về quản lý ngân hàng mà trước hết là của ngân hàng nhà nước

Thứ ba, căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc quản lý RRTD Chiến lược quản

lý RRTD phải phù hợp với chiến lược phát triển và chính sách tín dụng của ngân hàng tuân thủ các quy tắc tín dụng đề ra

Thứ tư, căn cứ vào mô hình tổ chức hoạt động tín dụng hiện tại Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chiến lược quản lý RRTD Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phải đảm bảo độc lập giữa 3 chức năng: bán hàng (tư vấn, tiếp thị, đàm phán …), quản lý rủi

ro (phân tích thẩm định, đánh giá định kỳ…), tác nghiệp (xử lý hồ sơ, theo dõi tài sản đảm bảo…)

Thứ năm, căn cứ vào công tác phân tích lợi nhuận rủi ro của ngân hàng Trong hoạt động của mình, ngân hàng luôn phải đối mặt với các loại rủi ro Giữa rủi

ro và lợi nhuận luôn có sự quan hệ mật thiết với nhau, lợi nhuận luôn phải đi liền với các biện pháp giảm thiểu rủi ro Thông qua hoạt động phân tích báo cáo tài chính và báo cáo RRTD có thể rút ra những thông tin hữu ích để xác định phạm vi RRTD có thể chấp nhận được của ngân hàng cho thời kỳ tiếp theo Căn cứ vào những phân tích, những dự báo rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng

Thứ sáu, căn cứ vào kinh nghiệm của chính ngân hàng trong quản lý danh mục cho vay, trình độ khoa học của hệ thống đánh giá, xếp loại RRTD, trình độ

nhân lực, báo cáo RRTD kỳ trước…

1.2.3.3 Nhận dạng và phân tích rủi ro tín dụng

a Nhận dạng rủi ro tín dụng

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Nhận dạng RRTD là quá trình xác định liên tục và hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng Hoạt động nhận dạng RRTD chủ yếu

là nhằm phát triển các thông tin tiềm ẩn về nguồn rủi ro trong hoạt động tín dụng, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất có thể xẩy ra Nhận dạng rủi ro trong hoạt động tín dụng bao gồm những công việc theo dõi, xem xét nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro trong hoạt động, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xẩy ra, mà còn dự báo được những rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó

đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp

Để nhận dạng rủi ro tín dụng các nhà quản lý rủi ro có thể sử dụng các phương pháp sau đây:

Sử dụng bảng liệt kê trong nhận dạng RRTD: Thông thường, bảng liệt kê hình thành từ một bảng câu hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin về nhận dạng rủi ro

Phân tích các báo cáo tài chính: Thông qua qua phân tích các yếu tố của hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp kết hợp với rủi ro trong kinh doanh được nhận dạng, phục vụ cho quản lý rủi ro trong kinh doanh Bằng cách phân tích bảng cân đối tài khoản, báo cáo kết quả họat động sản xuất kinh doanh và các tài liệu liên quan, các nhà quản lý có thể xác định mọi đối tượng rủi ro của tổ chức về tài sản, pháp lý, nguồn nhân lực bằng cách kết hợp các báo cáo này với các dự báo về tài chính và dự toán ngân sách, ta cũng có thể phát hiện các rủi ro trong tương lai

Phương pháp thanh tra hiện trường: Đây là phương pháp trực quan rất quan trọng đối với nhà quản lý rủi ro, việc thanh tra thực tế các hoạt động kinh doanh của khách hàng giúp nhà quản lý rủi ro có cái nhìn sát thực nhất về rủi ro trong kinh doanh và kết cấu của nó

b Phân tích rủi ro tín dụng

Thực hiện phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đánh giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách hàng vay Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trước, trong và sau khi cấp tín dụng là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản tín dụng nhằm đảm bảo tính chính xác, nhằm đánh

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

giá mức sinh lời của tín dụng, đảm bảo được mục đích kinh doanh của ngân hàng, đồng thời đánh giá khả năng xử lý rủi ro của ngân hàng, dự kiến những biện pháp phòng ngừa hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra Quá trình này này chỉ chấm dứt khi khoản tín dụng được hoàn trả đúng thời hạn và đầy đủ

Để phân tích RRTD có thể dùng các phương pháp định tính và định lượng hoặc kết hợp cả hai

1.2.3.4 Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường RRTD là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro, giúp nhà điều hành xác định được rủi ro cần được ưu tiên theo rõi và kiểm soát

Hiện nay, NHTM các nước áp dụng nhiều phương pháp đo lường rủi ro tín dụng, sau đây là một số phương pháp và mô hình đo lường RRTD

Phương pháp RAROC (Risk Adiusted Return on Capital)

Đo lường RRTD theo phương pháp RAROC (Risk Adiusted Return on Capital): tỷ số sinh lời có điều chỉnh theo rủi ro Hệ thống RAROC phân bổ dự trên hai nguyên tắc cơ bản: quản lý rủi ro và đánh giá hoạt động Đây là phương pháp đo lường mức độ rủi ro trong danh mục tín dụng của ngân hàng cũng như lượng vốn cần thiết để hạn chế mức độ rủi ro của người gửi tiền với một xác suất rủi ro xác định

RAROC = Thu nhập - Tổn thất

Tổn thất ngoài dự kiến Trong đó:

Thu nhập bao gồm: Thu từ tài chính (thu từ chênh lệch lãi suất và các khoản phí thu trước + các phí thu định kỳ)

Tổn thất dự kiến = Xác suất xảy ra tính toán thông qua xếp hạng x Giá trị/Dư

nợ khi xảy ra rủi ro x Giá trị tổn thất trong trường hợp rủi ro (tính thông qua tỷ lệ thu hồi)

Tổn thất ngoài dự kiến = Độ lệch chuẩn trong phân bổ tổn thất

RAROC là một loại rủi ro dựa trên cơ sở đánh giá khả năng sinh lời để phân tích hiệu quả tài chính có tính đến rủi ro và đưa ra kết luận về khả năng sinh lời của các hoạt động kinh doanh

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hệ thống RAROC phân bổ vốn dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản: Quản lý rủi ro

và đánh giá hoạt động Về mục đích quản lý rủi ro, mục tiêu chính của việc phân bổ vốn cho mỗi đơn vị doanh nghiệp riêng lẻ là để xác định cấu trúc vốn tối ưu của ngân hàng RAROC cho phép các ngân hàng cấp vốn cho các đơn vị doanh nghiệp dựa trên giá trị thương mại gia tăng trên mỗi đơn vị đó

Thu nhập càng lớn thường đi đôi với rủi ro cao Ngược lại rủi ro thấp thì thu nhập cũng rất thấp Nhà quản lý NHTM lại muốn có thu nhập cao, nhưng rủi ro thấp nhất, vì vậy các NHTM mong muốn kết quả kinh doanh cao với độ rủi ro có thể giám sát và chấp nhận được

Rủi ro ở mức thấp nhất không phải lúc nào cũng tốt nhất, tùy thuộc vào từng ngân

hàng mà xác định mức rủi ro cho phù hợp với quy mô của ngân hàng

Mô hình điểm số Z (Z - Credit scoring model)

Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào:

Trị số của các chỉ số tài chính của người vay;

Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5 Trong đó:

X1 = tỷ số “vốn lưu động ròng/ tổng tài sản” X2 = tỷ số “lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản”

X3 = tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản”

X4 = tỷ số “thị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của nợ dài hạn” X5 = tỷ số “doanh thu/ tổng tài sản”

Trị số Z càng cao người có xác suất vỡ nợ càng thấp Vậy khi trị số Z thấp hay đạt giá trị âm thì khách hàng sẽ có nguy cơ vỡ nợ cao Mô hình cho điểm của Alman như sau:

Z>2,675 Mức độ rủi ro tín dụng thấp

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1,8<Z<2,675 Mức độ rủi ro tín dụng trung bình

Z<1,8 Mức độ rủi ro tín dụng cao

Mô hình này giúp ngân hàng nhanh chóng định lượng rủi ro tín dụng cho khách hàng, từ đó ra quyết định rất nhanh, tiết kiệm thời gian Tuy nhiên mô hình này cũng còn nhiều hạn chế như sau: Thứ nhất, đó là việc chỉ chia khách hàng làm 2 loại vỡ nợ hay không có rủi ro vỡ nợ, trong khi đó rủi ro tín dụng có nhiều loại, như chậm trễ trả lãi, không trả lãi, hay chậm trả gốc; Thứ hai, công thức không tính tới nhiều nhân tố quan trọng và ảnh hưởng đáng kể tới rủi ro của món vay như độ tín nhiệm và quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng; Thứ ba, không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến về tầm quan trọng của các biến số theo thời gian

1.2.3.5 Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát RRTD là việc thực hiện những biện pháp nhằm duy trì rủi ro tín dụng ở mức độ kỳ vọng, giảm thiều tổn thất RRTD và không để ngân hàng rơi vào tình trạng đổ vỡ

Kiểm soát RRTD giúp đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng đã cấp của ngân hàng, đồng thời theo dõi được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng Đây là cơ

sở giúp ngân hàng thành lập công tác kiểm soát nội bộ trong ngân hàng, nâng cao công tác quản lý RRTD của ngân hàng Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm RRTD ngân hàng cần làm tốt các nhiệm vụ sau:

Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng: Cán bộ tín dụng phải theo sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích không và để kiểm tra việc bảo quản vật tư hàng hóa hình thành từ vốn vay, tình hình tài sản đảm bảo, tiến độ thực hiện dự án…có thực hiện đúng theo hợp đồng hay không, giúp cho ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ có vấn đề, qua đó có thể hạn chế được những rủi ro không cần thiết

Theo Basel, để đánh giá RRTD thì phải thỏa mãn các điều kiện:

Định kỳ, cơ quan giám sát phải đánh giá tính hiệu quả của chính sách rủi ro tín dụng và đánh giá thực tế chất lượng khoản cho vay;

Ngày đăng: 23/03/2021, 22:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w