1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đào tạo của trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim thái nguyên trong thời kỳ hội nhập

106 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội hiện đại đã có tác động rất lớn đến toàn bộ nền giáo dục, trong đó phát triển đào tạo nghề là vấn đề cấp thiết được sự quan tâm đặc biệt không chỉ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

CƠ ĐIỆN - LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam được đánh giá là một nền kinh tế nhiều tiềm năng với dân số trẻ đang là điểm thu hút các nhà đầu tư từ nhiều nước trên thế giới Có nhiều nhà đầu tư lớn vào các ngành công nghiệp như: khai thác, sản xuất, chế biến, Số lượng các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tăng lên không ngừng trên khắp các tỉnh, yêu cầu thay đổi nhanh chóng về cơ cấu lao động trong xã hội: số việc làm cho lực lượng lao động giản đơn giảm, việc làm cho lao động kỹ thuật tăng nhanh Hàng năm, các doanh nghiệp cần tuyển dụng trên 1 triệu lao động, trong khi hệ thống trường nghề nước ta mới chỉ đáp ứng trên 35% lao động được học nghề

Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội hiện đại đã có tác động rất lớn đến toàn bộ nền giáo dục, trong đó phát triển đào tạo nghề là vấn đề cấp thiết được

sự quan tâm đặc biệt không chỉ của Chính phủ mà còn được các trường dạy nghề và các doanh nghiệp cũng như đông đảo người lao động hưởng ứng Tuy nhiên đào tạo nghề hiện nay chưa bắt kịp sự phát triển của khoa học–công nghệ

cả về số lượng và chất lượng, tay nghề của học sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp tuyển dụng, hầu hết phải đào tạo bổ sung và nâng cao cho phù hợp với yêu cầu công nghệ của doanh nghiệp

Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên là một trong số trường hàng đầu trong đào tạo nghề phục vụ ngành Thép Việt Nam, hàng năm được giao đào tạo nghề cho 2000 người Việc nghiên cứu tìm nhiều hướng, nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp tuyển dụng là vấn đề hết sức cấp thiết đối với nhà trường Do đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập” nhằm góp

Trang 3

phần cải thiện chất lượng đào tạo của nhà trường từ đó giúp tăng thêm độ tin cậy của doanh nghiệp và người học nghề đối với nhà trường

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề

Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập và góp phần thực hiện thành công đề án "Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020" của Bộ Lao Động - TB & XH với dự kiến đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55%

- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi phù hợp với điều kiện nhà trường để nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời kỳ hội nhập

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường trong thời kỳ hội nhập

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện thông qua số liệu từ năm

2008 – 2010 tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của một luận văn thạc sỹ, đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ mới Luận văn

có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong lĩnh vực đào tạo nghề

Trang 4

4.2 Đóng góp mới của đề tài

Những nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho trường CĐN Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên nói riêng và ngành dạy nghề nói chung nâng cao chất lượng đào tạo nghề, góp phần thực hiện thành công chiến lược đào tạo nghề giai đoạn 2011 – 2015

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm

4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về dạy nghề

1.1.1.1 Khái niệm về dạy nghề

Từ điển tiếng Việt (năm 1998) đưa ra định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công của xã hội” Khái niệm nghề của Nga được định nghĩa là một hoạt động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sống Khái niệm nghề của Pháp được định nghĩa là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống Ở Đức, nghề được định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó

Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những

kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế

từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này

Trang 6

như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau

Luật dạy nghề số 76/2006/QH2011 ngày 29/ 11/ 2006 đã nêu rõ: " Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học" với "mục tiêu là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước."

1.1.1.2 Vị trí của ngành dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/ 6/ 2005: Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhiều cấp học và trình độ đào tạo, trong đó giáo dục

Trang 7

nghề nghiệp là một cấp học quan trọng và được quy định cụ thể hơn bởi Luật dạy nghề số 76/2006/QH2011 ngày 29/ 11/ 2006.

Theo luật này, ngành dạy nghề đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên

Vị trí của ngành dạy nghề đã được mô tả trong “Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 2010”

Sơ đồ 1.1: Vị trí của ngành dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân

(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề)

Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy dạy nghề có vị trí quan trọng trong

hệ thống giáo dục quốc dân, nguồn của giáo dục dậy nghề bắt đầu từ cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và từ giáo dục thường xuyên, từ 3 nguồn này học sinh sẽ được học tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung học

Trang 8

chuyên nghiệp với các hệ đào tạo nghề dài hạn ngắn hạn Người học nghề sau khi tốt nghiệp có thể học liên thông lên các bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học hoặc có thể đi làm ngay

1.1.1.3 Vai trò của ngành dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân

Trong thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam đang có nhiều đổi mới Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng

và hiệu quả nguồn nhân lực

Trong đào tạo nghề, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu lao động mà trước hết là gắn với người sử dụng lao động (các doanh nghiệp) Ở nhiều nước như Nhật, Hàn Quốc…việc đào tạo nghề được tiến hành trong công ty, xí nghiệp và đã chứng tỏ rất hiệu quả Thực tế cho thấy, bao giờ cũng có độ trễ về đào tạo so với nhu cầu sử dụng nên trong đào tạo nghề, có thể khắc phục bằng cách chia nhỏ các giai đoạn đào tạo (đào tạo theo modul) hay thiết kế các modul thích ứng…Đối với người lao động, việc đào tạo nghề và đào tạo lại có thể tiến hành trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời

Theo văn kiện Hội nghị thế giới về Giáo dục nghề

nghiệp-UNESCO-1999 thì “Hầu hết các học viên sau khi hoàn thành các chương trình giáo dục nghề nghiệp đều hy vọng sẽ có cơ hội tiếp tục được đào tạo tại nơi làm việc hay trong các cơ sở đào tạo Vì vậy, việc quản lý chương trình và nội dung đào tạo phải đảm bảo đầu vào linh hoạt và các cơ hội đầu ra trong suốt cuộc đời Các học viên tốt nghiệp các chương trình giáo dục nghề nghiệp mong muốn thu nhận được những kỹ năng mới thông qua việc đào tạo lại, cần có các cơ hội học tập suốt đời Một số đề xuất nhằm tạo điều kiện cho hướng đi này bao gồm: thiết kế các khóa học theo mô hình modul, giới thiệu phương pháp đánh giá dựa trên năng lực, sử dụng hình thức học tập tự điều chỉnh nhằm đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và công nhận những kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng được tích luỹ trước đó của người được đào tạo” Trong bối cảnh toàn cầu hoá, công

Trang 9

nghệ tin học phát triển hàng ngày, hàng giờ Kinh tế phát triển mạnh, xã hội thay đổi, nhiều ngành nghề mới xuất hiện và một số ngành nghề cũng mất đi Nền kinh tế chuyển từ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng XHCN, năm 2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam Quá trình tăng cường hợp tác khu vực ASEAN và các nước trên thế giới đã và đang đặt ra những yêu cầu mới không chỉ về kinh tế mà cả về giáo dục đặc biệt là về đào tạo nguồn nhân lực theo các chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế

Đồng thời, những tiến bộ khoa học- công nghệ và những đổi mới về tổ chức, quản lý sản xuất-dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội cũng đặt

ra những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo nghề nghiệp nói riêng

Các nghiên cứu gần đây về chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở các nước cho thấy Việt nam chỉ đạt 3,79 /10 (so với Trung quốc là 5,73/10 và Thái lan là 4,04/10) Nhân lực được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp dù

đã có những chuyển đổi để thích nghi với nền kinh tế thị trường song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, chưa gắn với việc làm So với các nước, sản phẩm đào tạo - nguồn nhân lực - ở Việt Nam chất lượng còn hạn chế, thiếu tính cạnh tranh do năng lực hoạt động, năng lực chia sẻ và năng lực hòa nhập kém dù người Việt Nam không thiếu sự thông minh và cần cù Đặc biệt, so với các nước, người lao động ở nước ta ở mức rất thấp về sự thành thạo tiếng Anh và công nghệ cao Vì vậy, xuất khẩu lao động tuy mang lại ngoại tệ cho đất nước và giúp nhiều nông dân đổi đời song nhìn chung người lao động Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu chỉ biết lao động đơn giản nên làm việc vất vả

mà mức lương không cao

Nói chung, kinh tế Việt Nam chưa bắt kịp kinh tế của các nước phát triển Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với hai ngành: công nghiệp và

Trang 10

dịch vụ Người lao động ít thay đổi nghề nghiệp (72% lực lượng lao động chưa bao giờ thay đổi việc làm – Khảo sát của Henaff, Martin năm 1999).Thương mại chiếm đa số trong việc chuyển đổi lao động và là điểm dừng chân chính cho những người rời bỏ nghề nghiệp ban đầu Việc hầu hết người dân giữ nguyên công việc và nơi sinh sống do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó, nguyên nhân quan trọng là sự phiến diện trong hướng nghiệp

và sự lạc hậu, bất cập trong đào tạo nghề

Trong vài năm gần đây, kinh tế-xã hội Việt Nam có những bước phát triển mạnh, việc thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao động trong xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu của người lao động Đó là được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc cũng như nghề nghiệp Thực trạng về lao động và việc làm, về chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo nghề Nhà nước ta

đã đặt ra mục tiêu: ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Trong đào tạo nghề, không chỉ dừng ở việc đào tạo cho người lao động

có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn đào tạo và hình thành các năng lực mềm (thích nghi, biến đổi ) để con người có thể linh hoạt trong lựa chọn nghề

và chuyển đổi nghề nghiệp Các trường nghề cần được đầu tư chuyên sâu cho nghề trọng điểm để có thể đào tạo được một đội ngũ đông đảo những người lao động có trình độ lành nghề và tay nghề bậc cao

Đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết trên, việc đào tạo nghề ở nước ta

sẽ có những bước chuyển biến mạnh mẽ, hòa nhập với thế giới Sản phẩm đào tạo-nguồn nhân lực-sẽ phát triển và có chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và đáp ứng được những thách thức của quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay

Trang 11

Như vậy, nền kinh tế hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao,

có thể thích ứng với nhiều loại hình nghề nghiệp Từ đó, giáo dục nghề nghiệp phải chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực phải đa năng…Người lao động phải biết di chuyển kĩ năng, di chuyển cảm xúc…khi chuyển đổi công việc Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho giáo dục nghề nghiệp hiện đại

1.1.1.4 Đặc điểm của đào tạo nghề:

- Thay đổi sự phân loại nghề nghiệp truyền thống theo lĩnh vực kinh tế-xã hội, ngành, nghề ( công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ) hay theo văn bằng, trình

độ đào tạo ( sơ học, trung học, đại học ) Xuất hiện nhiều ngành nghề mới

- Xoá bỏ tính định mệnh nghề nghiệp cho các cá nhân do phải thay đổi và chuyển nghề hoặc việc làm nhiều lần trong toàn bộ cuộc đời

- Dỡ bỏ những rào cản giữa những đặc điểm nhân cách cá nhân (đặc điểm tâm –sinh lý, sức khoẻ, thành phần xã hội, xu hướng nghề nghiệp…) với các loại hình nghề nghiệp khác nhau về tính chất, nội dung, công cụ , môi trường lao động… Mỗi một cá nhân có thể thích ứng với nhiều loại hình nghề nghiệp, việc làm khác nhau và ở những môi trường khác nhau

- Chuyển từ đào tạo nghề một lần sang đào tạo, bồi dưỡng liên tục, suốt đời Chuyển từ đào tạo kỹ năng sang đào tạo và hình thành năng lực đặc biệt là các năng lực mềm (tư duy, thích nghi, biến đổi…)

- Thay đổi những định hướng giá trị nghề nghiệp trong đó bảo đảm kết hợp hài hoà giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân và xã hội , cân bằng các giá trị, lợi ích vật chất ( thu nhập, lưong bổng, đãi ngộ .) và giá trị tinh thần (thoả mãn sự hứng thú, say mê công việc…)

- Chuyển từ đào tạo theo công nghệ, thiết bị dạy học sẵn có trong trường sang đào tạo nghề gắn liền với yêu cầu công nghệ của doanh nghiệp

- Chuyển từ đào tạo theo chỉ tiêu kế hoạch hàng năm sang đào tạo liên tục theo nhu cầu xã hội và xu thế phát triền của nền sản xuất công nghiệp

Trang 12

- Việc dạy, học nghề hiện nay ở nước ta ngày càng tiếp cận theo hướng nhu cầu (cần gì dạy đó) Chúng ta đã áp dụng những công nghệ hiện đại, những chương trình, giáo trình tiêu chuẩn nghề, áp dụng công nghệ phân tích nghề Đa Cum của Mỹ và Canada Đây là công nghệ tiên tiến nhất để làm các tiêu chuẩn

kỹ năng nghề cũng như chương trình, giáo trình Sự vào cuộc của các doanh nghiệp giúp dạy nghề đáp ứng được các kiến thức, kỹ năng doanh nghiệp đòi hỏi Nhờ làm tốt công tác dạy nghề, tạo đầu ra cho học viên, người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của học nghề

1.1.1.5 Các phương thức đào tạo nghề

Dạy nghề bao gồm phương thức dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên:

* Dạy nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề,

trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề, các trường trung cấp, đại học có đăng ký dạy nghề theo các khoá học tập trung

và liên tục kéo dài từ 3 tháng đến 36 tháng

Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề

Phương pháp dạy nghề trình độ trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực,

tự giác, khả năng làm việc độc lập của người học nghề

Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm

* Dạy nghề thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm

1.1.1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề:

Trong thực tế, dạy nghề chịu ảnh hưởng vởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan:

Trang 13

* Yếu tố khách quan:

- Chính sách của nhà nước: Những năm gần đây mặc dù ngành dạy nghề

đã được quan tâm lớn của Nhà nước bằng các dự án chương trình mục tiêu quốc gia về trang thiết bị dạy học, về nguồn cấp kinh phí cho đào tạo lao động nông thôn với mục đích dịch chuyển dần cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp song kết quả thực hiện còn nhiều bất cập do đầu tư quá dàn trải

- Tâm lý người học: Chủ yếu do tâm lý chuộng bằng cấp của người dân cho rằng cơ hội tăng tiến của học sinh tại các trường đại học cao hơn các trường dạy nghề, mặt khác nguồn đầu tư tài chính của gia đình cho các học sinh học tập tại các trường nghề cũng tương đương với các trường đại học do đó họ không lựa chọn học nghề

* Yếu tố chủ quan:

- Cơ sở vật chất tại các trường nghề : Các thiết bị dạy và học còn lạc hậu,

cũ kỹ và còn thiếu, chưa thể đáp ứng nhu cầu học tập và chưa thể theo kịp các tiến bộ của khoa học công nghệ hiện nay

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ tiêu chuẩn: Còn rất ít, đây là một thách thức lớn đang đặt ra cho ngành dạy nghề, hầu hết tại các trường nghề đều thiếu giáo viên đặc biệt là các giáo viên có khả năng dạy nghề theo phương pháp tích hợp

- Hệ thống giáo trình dùng cho việc giảng dạy không thường xuyên được chỉnh lý, có những trường còn giảng dạy trên các thiết bị kỹ thuật cũ của thế kỷ trước

Tất cả các bất cập trên đều làm cho chất lượng đào tạo nghề của chúng

ta còn thấp khó có thể đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản của trường nghề

1.1.2.1 Khái niệm và phân loại trường nghề

* Khái niệm: Nơi đào tạo nghề trong các trường chuyên nghiệp được gọi

là trường nghề, đó là cơ sở giáo dục nhằm cung cấp các kiến thức cần thiết nghề nghiệp, các kỹ năng thực hành cho thực tế cuộc sống và nghề nghiệp

* Phân loại trường nghề: Được phân loại theo cấp trình độ đào tạo

Trang 14

- Trường Cao đẳng nghề; Trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ cao đẳng: Được đào tạo nghề ở cả 3 cấp trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề

- Trường Trung cấp nghề: Được đào tạo nghề ở 2 cấp trình độ: Sơ cấp nghề và Trung cấp nghề

- Trung tâm dạy nghề: Được đào tạo nghề ở trình độ: Sơ cấp nghề

1.1.2.2 Hệ thống các trường dạy nghề:

Hệ thống Dạy nghề Việt Nam được đặt dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các bộ ngành khác cấp trung ương Ở cấp cơ sở, hệ thống này được chính quyền tỉnh và địa phương quản lý một phần Vào năm 1998, trách nhiệm về Dạy nghề ở Việt Nam được chuyển từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang một cơ quan mới được thành lập là Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tuy nhiên việc đào tạo kỹ thuật (chuyên nghiệp) ở trìknh độ trung cấp và đại học vẫn thuộc Bộ GD-ĐT Các trường đại học Sư phạm Kỹ thuật thuộc Bộ GD-

ĐT cung cấp giáo viên cho trường và các cơ sở đào tạo thuộc Bộ và các bộ ngành khác

Ngày 03 tháng 10 năm 2012 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có công văn số 3566/LĐTBXH-TCDN gửi các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc thông báo Danh sách mã trường hình thức sở hữu trường CĐN,TCN đến ngày 01/8/2012 Theo đó, các trường dạy nghề được phân bổ đều khắp các tỉnh thành trong cả nước với 317 trường dạy nghề công lập và 131 trường dạy nghề tư thục, các trường dạy nghề

tư thục chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh

Trang 15

(Nguồn : Tổng cục Dạy nghề)

Trang 16

Sơ đồ 1.2 Hệ thống trường dạy nghề

Qua sơ đồ ta thấy hệ thống trường nghề được nhiều cấp, nhiều ngành quản lý, các trường dạy các kỹ năng như một hình thức thay thế cho con đường học trung học cơ sở thông thường Mục tiêu là phát triển kiến thức cơ bản của học sinh và giới thiệu các kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng nghề nghiệp để học sinh

có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn hoặc đi làm

CÁC TRƯỜNG THUỘC ĐỊA PHƯƠNG

Trường Trung cấp nghề

Trường Cao đẳng nghề

Trường Trung cấp nghề

Trường Cao đẳng nghề

Trung tâm dạy nghề

Được đào tạo:

- TCN

- SCN

- BDN

Được đào tạo:

- CĐN

- TCN

- SCN

- BDN

Được đào tạo:

- TCN

- SCN

- BDN

Được đào tạo:

- CĐN

- TCN

- SCN

- BDN

Được đào tạo:

- SCN

- BDN

Trang 17

- Về hình thức dạy nghề: Các cơ sở Dạy nghề với nhiều loại hình khác nhau thuộc sự quản lý của Tổng cục Dạy nghề - Bộ LĐ-TBXH cung cấp phần lớn lực lượng lao động được tốt nghiệp qua trường lớp cho thị trường lao động Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 quy định tổ chức và hoạt động của các cơ sở Dạy nghề, và đưa ra 3 cấp đào tạo như sau:

• Đào tạo trình độ sơ cấp nghề tại các trung tâm Dạy nghề (khoảng 3 tháng đến 1 năm)

• Đào tạo trình độ trung cấp nghề tại các trường trung cấp nghề (3 đến 4 năm đối với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, 2 đến 3 năm đối với học sinh

đã tốt nghiệp trung học phổ thông)

• Đào tạo trình độ cao đẳng nghề tại các trường cao đẳng nghề (2 năm đối với những người đã có bằng trung cấp nghề, 2 đến 3 năm với những người tốt nghiệp trung học phổ thông)

Theo quy định của Tổng cục Dạy nghề - Bộ LĐ-TBXH, một số lớn các

cơ sở cung cấp đào tạo nghề thuộc các Sở LĐ-TBXH, Bộ GD-ĐT, các cơ sở Dạy nghề thuộc doanh nghiệp, tư nhân, và của các bộ ngành (công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, v.v.) cung cấp tất cả các loại hình đào tạo nghề, ở tất cả các cấp đào tạo và thời gian học khác nhau

- Về chất lượng đào tạo nghề: Hình thức đạo tạo nghề theo trường lớp thường không đáp ứng yêu cầu về thực hành, và hiếm khi đáp ứng nhu cầu của

“thế giới công việc” Học sinh sau khi tốt nghiệp nghề chưa đáp ứng được thị trường lao động, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, thiếu nhân lực kỹ thuật trình độ cao Năng lực nghề nghiệp của lao động nước ta vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trên thế giới và khu vực Một hệ thống thực hành nghề trong đó tỷ lệ lớn đào tạo thực hành được giao cho các doanh nghiệp vẫn chưa xuất hiện ở Việt Nam, mặc dù các quy định có liên quan đã được đưa vào Luật Dạy nghề (Điều 35) và Bộ luật Lao động (Chương III) Cho đến giờ, việc đào tạo thực hành phù hợp thực tế công việc vẫn chỉ dừng lại ở các đợt thực tập – thuộc một phần của chương trình đào tạo chính quy Chất lượng đào tạo nghề

Trang 18

những năm gần đây mặc dù đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm Kỹ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực

- Về số lượng trường nghề và số lao động được đào tạo: Mạng lưới cơ

sở dạy nghề mở rộng, phân bố tương đối hợp lý ở các ngành kinh tế, địa phương, vùng, miền Hiện nay cả nước có 136 trường cao đẳng nghề, 308 trường trung cấp nghề; 849 trung tâm dạy nghề (trong đó có 296 trung tâm ngoài công lập) và hơn 1000 cơ sở khác (các cơ sở giáo dục - đào tạo, doanh nghiệp,…) tham gia dạy nghề Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập chiếm 35,4%

Bộ LĐ-TBXH hội cho biết năm 2010, hệ thống Dạy nghề đã đào tạo được khoảng 1,84 triệu học viên/sinh viên Nhưng có lẽ, đóng góp lớn nhất trong hệ thống Dạy nghề là đào tạo phi chính quy, tức là đào tạo tại chỗ trong quá trình đi làm tại các doanh nghiệp, cho đến nay chưa có sự công nhận chính thức nào về những năng lực mà người học đạt được qua hình thức này Không

có số liệu thống kê cụ thể nào về số lượng người theo học nghề không chính quy, nhưng khả năng và tiềm lực của loại hình này được chính phủ công nhận Việc cải cách hệ thống theo dự án sẽ giải quyết vấn đề công nhận các hình thức đào tạo không chính quy thông qua cách tiếp cận về đào tạo và đánh giá đầu ra dựa trên các tiêu chuẩn nghề

1.1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của trường dạy nghề

a Tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Quyết định số 09/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 27 tháng 3 năm 2008 của

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định:

- Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia bao gồm các quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề

Trang 19

- Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) chủ trì, phối hợp với cơ quan, hội nghề nghiệp có liên quan tổ chức xây dựng và ban hành theo quy định của của Luật dạy nghề và Quy định này

- Cấu trúc tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia gồm 3 phần cơ bản sau: + Mô tả nghề: Mô tả phạm vi, vị trí làm việc, các nhiệm vụ chính cần phải thực hiện, điều kiện và môi trường làm việc, bối cảnh thực hiện các công việc, công cụ, máy, thiết bị, dụng cụ chủ yếu cần thiết để thực hiện các công việc của nghề

+ Danh mục công việc: Liệt kê đầy đủ các công việc cần phải thực hiện

và sắp xếp các công việc đó theo các bậc trình độ kỹ năng nghề

+ Tiêu chuẩn thực hiện công việc: Tiêu chuẩn thực hiện công việc của từng công việc trong danh mục công việc được trình bày theo 5 mục có nội dung như sau:

 Mô tả công việc: Nêu khái quát về công việc và các bước cần phải tiến hành khi thực hiện công việc;

 Các tiêu chí thực hiện: xác định và mô tả chi tiết các tiêu chí cần phải đạt được khi thực hiện các bước công việc về quy trình, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, thái độ nghề nghiệp, an toàn lao động, thời gian thực hiện … Các tiêu chí phải lượng hóa hoặc tính toán xác định được;

 Các kỹ năng và kiến thức thiết yếu: nêu rõ các kỹ năng quan trọng và kiến thức lý thuyết cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả;

Các điều kiện thực hiện: nêu rõ các công cụ, máy, thiết bị, trang bị dụng cụ, tài liệu và nguyên vật liệu cần thiết để tiến hành thực hiện công việc;

 Tiêu chí và cách thức đánh giá: nêu các hướng dẫn lựa chọn bằng chứng hỗ trợ cho việc đánh giá và cách thức để xác định một cá nhân có năng lực thực hiện công việc trong một môi trường làm việc cụ thể

Trang 20

- Các bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia : Trên cơ sở các nhóm tiêu chí xác định bậc trình độ kỹ năng nghề quy định tại khoản 2 Điều 5 của Quy định này, yêu cầu cho từng bậc trình độ kỹ năng nghề như sau:

+ Bậc 1 (chứng chỉ 1):

Làm được các công việc đơn giản và công việc của nghề có tính lặp lại;

 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản ở một phạm vi hẹp về hoạt động của nghề trong một số lĩnh vực, áp dụng được một số kiến thức nhất định khi thực hiện công việc;

 Có khả năng tiếp nhận, ghi chép và chuyển thông tin theo yêu cầu, chịu một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình

+ Bậc 2 (chứng chỉ 2):

Làm được các công việc đơn giản, công việc có tính lặp lại và làm được một số công việc có tính phức tạp trong một số tình huống khác nhau nhưng cần có sự chỉ dẫn;

 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản về hoạt động của nghề; áp dụng được một số kiến thức chuyên môn và có khả năng đưa ra được một số giải pháp để giải quyết vấn đề thông thường khi thực hiện công việc;

 Có khả năng suy xét, phán đoán và giải thích thông tin; có khà năng làm việc theo nhóm, trong một số trường hợp có khả năng làm việc độc lập và chịu phần lớn trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình

+ Bậc 3 (chứng chỉ 3):

 Làm được phần lớn các công việc của nghề có tính phức tạp, công việc có

sự lựa chọn khác nhau và có khả năng làm việc độc lập mà không cần có sự chỉ dẫn;

 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản về lý thuyết cơ sở, kiến thức chuyên môn của nghề; áp dụng được các kiến thức chuyên môn và có khả năng nhận biết để vận dụng các kiến thức để xử lý, giải quyết các vấn đề thông thường trong các tình huống khác nhau:

 Có khả năng nhận biết, phân tích và đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; có khả năng hướng dẫn người khác trong tổ, nhóm; chịu trách

Trang 21

nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của người khác trong tổ, nhóm

+ Bậc 4 (chứng chỉ 4):

Làm được hầu hết các công việc của nghề có tính phức tạp, công việc

có nhiều sự lựa chọn trong các tình huống khác nhau và có khả năng làm việc độc lập, tự chủ cao;

 Hiểu biết và có kiến thức rộng về lý thuyết cơ sở, kiến thức chuyên môn tương đối sâu trong một số lĩnh vực của nghề; có khả năng truyền tải và vận dụng sáng tạo các kiến thức, kỹ năng để xử lý, giải quyết các vấn đề kỹ thuật phức tạp trong các tình huống khác nhau;

 Biết phân tích, đánh giá thông tin và sử dụng kết quả phân tích đánh giá

để đưa ra ý kiến, kiến nghị cho mục đích quản lý và nghiên cứu; có khả năng quản lý, điều hành được tổ, nhóm trong quá trình thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm do mình đảm nhiệm về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu trách nhiệm một phần đối với kết quả công việc, sản phẩm của tổ, nhóm

 Biết phân tích, đánh giá thông tin và tổng quát hóa để đưa ra các quan điểm, sáng kiến của mình; quản lý, điều hành tổ, nhóm trong thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm do mình đảm nhiệm về chất lượng và chịu trách nhiệm về kết quả công việc của tổ, nhóm theo tiêu chuẩn quy định và các thông số kỹ thuật

b Giáo viên dạy nghề

Trang 22

- Về số lượng: Hiện nay, tổng số giảng viên, giáo viên (gọi chung là giáo viên) dạy nghề ở trường CĐN, TCN, TTDN là 35.800 người, trong đó giáo viên dạy ở các trường nghề là 24.200 người (dạy ở các trường CĐN là 12.800 người, giáo viên dạy ở các trường TCN là 11.400 người), giáo viên dạy ở các TTDN là 11.600 người Chia theo cấp trình độ giảng dạy có 6.880 giáo viên dạy chuyên môn nghề ở trình độ cao đẳng nghề, 8.630 giáo viên dạy chuyên môn nghề ở trình độ trung cấp nghề, 16.150 giáo viên dạy trình độ sơ cấp nghề

và 4.140 giáo viên dạy môn chung

- Về chất lượng: Chất lượng của đội ngũ GVDN cũng rất khác nhau, chia theo trình độ của giáo viên có 3,1% trên đại học, 73,7% Đại học và cao đẳng, còn lại là Trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật Trình độ tay nghề

đa phần đạt từ 3/7 trở lên Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên đạt tiêu chuẩn trong các trường dạy nghề mới chỉ đạt khoảng 63%

- Một số tồn tại của đội ngũ giáo viên dạy nghề: Do hệ thống dạy nghề đa dạng về cả loại hình cơ sở , ngành nghề và trình độ đào tạo nên đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) của cả nước nói chung, cũng như Tỉnh Thái Nguyên và Trường CĐN Cơ điện – Luyện kim nói riêng đa dạng về mọi mặt, trình độ không đồng đều nên những tồn tại của đội ngũ GVDN hiện nay không phải là ít Những tồn tại, yếu kém của đội ngũ GVDN hiện nay nổi lên mấy vấn đề là thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo Đặc biệt thiếu nghiêm trọng giáo viên cho các nghề mới, thiếu giáo viên giỏi thực sự Mặt khác, giáo viên dạy nghề nước ta ít đựoc tiếp cận với khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ sản xuất hiện đại nên chất lượng đào tạo nghề chắc chắn bị hạn chế Không những thế, họ còn nhiều hạn chế về năng lực sư phạm, cũng như trình độ ngoại ngữ, tin học nên việc giảng dạy, cũng như khai thác, sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại vào đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn Việc đào tạo GVDN ở các trường sư phạm kỹ thuật hiện nay là quá ít ( chiếm khoảng 10%), trong khi nhu cầu của xã hội ngày càng nhiều hơn Điều này đặt ra sự cần thiết phải có những phương hướng, mô hình đào tạo GVDN

Trang 23

một cách linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đào tạo giáo viên cho nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội, đồng thời phải gắn đào tạo với mục đích sử dụng họ sau khi ra trường Phần lớn vẫn phân biệt giáo viên dạy nghề thành 2 loại giáo viên lý thuyết và thực hành, nay chỉ nên có 1 loại giáo viên dạy nghề là tích hợp cả lý thuyết và thực hành và phải có trình độ chuẩn gồm chuyên môn, kỹ năng nghề và kỹ năng sư phạm dạy nghề

c Tài chính cho Đào tạo nghề

- Cấp tài chính cho đào tạo nghề đã trở thành một vấn đề ngày càng quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách và đưa ra quyết định về đào tạo nghề tại Việt Nam Chính phủ đã nhận ra sự bức thiết trong việc huy động các nguồn lực bổ sung để đầu tư một cách phù hợp và bền vững cho việc mở rộng quy mô đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo theo kế hoạch đã đặt ra

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề

(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề)

Biểu đồ cho thấy nguồn tài chính cho đào tạo nghề gồm:

- Nguồn lực đầu tư từ NSNN :

 Bình quân trong 5 năm qua, tổng chi NSNN cho đào tạo nghề đạt 0,4% GDP là còn quá thấp so với yêu cầu thực tế đào tạo nghề Trong khi đó

Trang 24

các nước trong liên minh Châu Âu chi cho dạy nghề (năm 2003) trên 1% GDP (như Phần Lan là: 1,1% GDP; Cộng hoà Czech, Hungary, Hà Lan, Slovakia là 1% GDP, Thuỵ Sỹ là 1,08% GDP) Vì vậy, chưa tạo động lực phát triển mạnh dạy nghề đáp ứng nhu cầu nguồn lao động có tay nghề cho sự nghiệp CNH, HĐH Mặt khác, các nguồn lực huy động từ nguồn trái phiếu Chính phủ, thu xổ

số kiến thiết chỉ dành đầu tư cho các bậc giáo dục - đào tạo khác, đào tạo nghề chưa được quan tâm

 Tốc độ tuyển sinh học nghề trong các năm qua tăng gấp 3 lần so với tốc độ tăng nguồn lực đầu tư từ NSNN cho đào tạo nghề Ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo cho đào tạo nghề theo tốc độ tăng NSNN bình quân hàng năm Trong khi các nguồn lực tài chính khác đầu tư cho đào tạo nghề không tăng; giá

cả vật tư, nguyên nhiên vật liệu thực hành tăng nhanh, lạm phát năm sau cao hơn năm trước Như vậy, dẫn đến kinh phí đầu tư cho một suất học nghề liên tục bị giảm xuống trong thời gian qua

 Do thiếu nguồn đầu tư cho đào tạo nghề, nên Ngân sách Nhà nước bố trí dàn trải, nhiều khoản chỉ được chi “cầm chừng”, không được bố trí ngân sách tới ngưỡng cần thiết Do đó, thời gian đầu tư bị kéo dài nên việc sử dụng nguồn ngân sách kém hiệu quả

 Nguồn lực tài chính chưa đáp ứng được việc tập trung đầu tư hoàn chỉnh theo từng nghề, từng nhóm nghề, từng trường trọng điểm tiếp cận trình

độ khu vực, quốc tế, vùng kinh tế trọng điểm, các vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

- Nguồn đóng góp của người học :

 Chính sách học phí học nghề tuy đã được sửa đổi, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 20% trong tổng chi cho đào tạo nghề Vì đối với đào tạo nghề việc chi phí đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu thực tập rất tốn kém

 Mức đóng học phí của người học nghề hiện nay chưa cao, nhưng so với người học nghề là những người có thu nhập thấp, thì mức đóng học phí

Trang 25

hiện hành là rất khó khăn Vì vậy, nếu tăng mức đóng học phí của người học nghề trên 20% trong tổng chi cho đào tạo nghề, để đạt mục tiêu: tính đúng, tính

đủ chi phí, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo nghề và có tích lũy cho các cơ

sở dạy nghề là không thực hiện được Mặt khác, nếu tăng học phí lên nữa thì người học nghề sẽ không có khả năng đóng góp, không học nghề nữa, điều này

sẽ ảnh hưởng đến qui mô tuyển sinh Nhưng, nếu giữ mức đóng học phí như hiện hành hoặc giảm mức học phí, thì sẽ không đảm bảo được chất lượng dạy

và học nghề

 Chính sách học phí còn một số điểm bất cập, trong khi đầu tư từ ngân sách tăng không đáng kể (thậm chí bị cắt giảm như trường hợp của các cơ sở đào tạo thuộc doanh nghiệp nhà nước) đã gây khó khăn cho người học nghề ở một số nghề đòi hỏi phải chi phí đào tạo lớn, cơ hội việc làm và thu nhập cao

 Việc quy định miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học nghề và cơ chế thu học phí còn nhiều thủ tục gây khó khăn cho người học Những đối tượng học nghề ở mức cận nghèo sẽ không có cơ hội tiếp cận học nghề chất lượng cao

ở một số cơ sở dạy nghề có thương hiệu, vì phải nộp học phí cao theo chương trình đào tạo nghề chất lượng cao

- Nguồn đóng góp của doanh nghiệp :

Hiện nay, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở Việt Nam chưa thực hiện đóng góp kinh phí cho đào tạo nghề với trách nhiệm là “người

sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề”; mức đóng góp 5% trong tổng chi cho học nghề như hiện nay là quá thấp Do chưa có cơ chế chính sách để khuyến khích doanh nghiệp tham gia một cách tích cực, chủ động vào hoạt động dạy nghề (kể cả dạy nghề tại doanh nghiệp và hoạt động phối kết hợp với cơ sở dạy nghề) nên chưa huy động được tối đa nguồn lực từ phía doanh nghiệp

- Nguồn thu sự nghiệp, thu sản xuất kinh doanh của các cơ sở dạy nghề

 Thực tế, nguồn thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ tại các

cơ sở dạy nghề ở Việt Nam hiện nay là không lớn Một phần do cơ sở vật chất của các cơ sở dạy nghề còn nhiều hạn chế nên việc tận dụng để tăng cường

Trang 26

nguồn thu là không đáng kể Hơn nữa các cơ sở dạy nghề vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ l ại, e ngại khi thay đổi cơ chế quản lý; chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động nhằm khai thác tối đa nguồn thu trong đào tạo nghề

 Chưa triển khai thực hiện việc đánh giá phân loại, xếp hạng các cơ sở dạy nghề để tạo ra thương hiệu cạnh tranh giữa các cơ sở dạy nghề; Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở dạy nghề còn chậm Nên các cơ sở dạy nghề không phát huy được tiềm lực thế mạnh của mình để chủ động hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ tạo ra nguồn thu cho đơn vị

- Nguồn vay và đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

 Nguồn vay và đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiện nay chiếm tỷ tr ọng khoảng 15% trong tổng chi cho đào tạo nghề Nhưng các cơ chế chính sách tài chính đối với nguồn kinh phí này biểu hiện nhiều bất cập như: Nguồn vốn vay trong và ngoài nước cho đào tạo nghề còn hạn chế về

số lượng và chất lượng; thủ tục giải ngân còn nhiều phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều cơ quan Vì vậy, vốn giải ngân thường là chậm, kéo dài thời gian dự án và thường không giải ngân hết được số vốn vay theo Hiệp định đã

ký, dẫn đến vốn đối ứng cũng không được bố trí đủ, không đạt được hiệu quả từ nguồn vốn này;

 Thực chất hiện nay chúng ta chưa có cơ chế huy động, sử dụng nguồn đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho dạy nghề, nên khi có cơ hội được tài trợ, cho, tặng thì một số cơ sở dạy nghề không dám tiếp nhận Mặt khác, người tự nguyện muốn đóng góp cho dạy nghề thì chưa có được thông tin đầy đủ; trình tự, thủ tục chưa rõ, chưa thực sự thuận lợi

d Hợp tác giữa các trường đào tạo nghề với doanh nghiệp

- Nhà nước Việt Nam đã khẳng định “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược,…Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và

Trang 27

chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” Chính phủ Việt Nam đang thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có

Đề án tái cấu trúc DNNN và tập trung phát triển TTLĐ Điều này sẽ có tác động lớn đến doanh nghiệp và người lao động

 Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 2011, LLLĐ cả nước là 51,34 triệu người (chiếm 58,4% dân số), trong đó có 50,3 triệu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Tính đến 1/1/2012, cả nước có 541.000 doanh nghiệp, trong đó có 375.000 doanh nghiệp đang hoạt động thực

tế với khoảng 10 triệu lao động đang làm việc

 Bộ luật lao động có một chương về “Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề”, trong đó quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động Các hình thức kết nối cung cầu cho thị trường lao động được tích cực thúc đẩy và hoạt động hiệu quả: đã hình thành mạng lưới dịch vụ việc làm với gần 140 Trung tâm giới thiệu việc làm ở tất cả các địa phương trên

cả nước

Đến nay, cả nước có gần 200 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp, trong đó có 119 trường TCN và CĐN (chiếm 27% trong tổng số trường CĐN, TCN), gồm 34 trường CĐN (chiếm 25% trong tổng số các trường CĐN) và 85 trường TCN (chiếm 28% trong tổng số các trường TCN)

 Hầu hết các TCT, các TĐKT mạnh đều có trường dạy nghề, đáp ứng một phần nhân lực cho tập đoàn, góp phần cung cấp cho xã hội Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn ĐTNN, DNTN có quy mô lớn đã chủ động

tổ chức dạy nghề, bổ túc nghề, bồi dưỡng KNN cho người lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp Trong tổng số CSDN thuộc doanh nghiệp, số CSDN thuộc khối DNTN chiếm 67%

 Doanh nghiệp đã tham gia vào các hoạt động dạy nghề từ việc xác định danh mục nghề đào tạo, xây dựng nội dung chương trình đào tạo trên cơ

sở phân tích nghề tới biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy Việc tham gia của

Trang 28

doanh nghiệp vào dạy nghề ở cả hai cấp độ: cấp độ chính sách và cấp độ hoạt động đào tạo Ở cấp độ chính sách doanh nghiệp trực tiếp vào việc xây dựng danh mục nghề đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG); xây dựng chương trình khung Chương trình dạy nghề được xây dựng xuất phát từ thực tiễn sản xuất; trên cơ sở phân tích nhiệm vụ, công việc của người lao động, thiết kế các mô đun đào tạo tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Doanh nghiệp cử chuyên gia tham gia xây dựng chương trình đào tạo nhằm tăng tính phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Các chuyên gia tham gia vào các công đoạn từ phân tích nhiệm vụ đến thiết kế các mô đun đào tạo Ở cấp độ hoạt động đào tạo, các chuyên gia, kỹ thuật viên, thợ giỏi của doanh nghiệp được mời đến cơ sở dạy nghề tham gia giảng dạy thực ành nghề cho học sinh; tham gia đánh giá kết quả học tập của học sinh và tham gia vào hội đồng thi tốt nghiệp cuối khóa của học sinh

 Doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên bao gồm: một phần tiền lương cho cán bộ, giáo viên các trường nghề; kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo Một số doanh nghiệp hỗ trợ các trường nghề trực thuộc một phần kinh phí xây dựng cơ bản, xưởng thực hành, ký túc xá cho sinh viên hoặc hỗ trợ trang thiết bị đào tạo phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Kinh phí huy động chủ yếu từ các tập đoàn, tổng công ty (khoảng 56%), các phần còn lại từ nguồn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc tập đoàn, tổng công ty, từ bộ chủ quản hay ngân sách nhà nước, từ học phí, Kinh phí từ NSNN chủ yếu cho các DNNN (hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp)

- Các hình thức gắn kết, liên kết:

Bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong dạy nghề Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp có nhiều ưu điểm: người học nghề được học những nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; các kiến thức và kỹ năng nghề mà người học tiếp thu được đáp ứng được lợi ích của cả người học và người sử dụng lao động Người học nghề ngoài việc học lý thuyết nghề tại trường còn được thực tập ngay trên các máy móc, thiết bị đang sử dụng

Trang 29

tại doanh nghiệp, giúp cho người học có thể vận dụng được những kiến thức đã học, đồng thời nâng cao được kỹ năng nghề Việc gắn kết đào tạo trên đã làm tăng mối quan hệ hiểu biết giữa nhà trường và doanh nghiệp Cơ sở đào tạo không phải tăng đầu tư cho việc mua sắm trang thiết bị thực hành, người học có thể tiếp thu bài học nhanh hơn Về phía doanh nghiệp có thể sử dụng được những học sinh học nghề để tạo ra những sản phẩm mới hoặc có cơ hội lựa chọn được những người lao động có kỹ thuật tốt cho mình Qua điều tra của Tổng cục Dạy nghề, có khoảng 40% số doanh nghiệp có nhu cầu đã thực hiện liên kết đào tạo với các cơ sở dạy nghề

Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ tương quan giữa số lượt người được bồi dưỡng tay nghề

với số người được đào tạo qua 3 cấp trình độ

 Doanh nghiệp có hợp đồng đào tạo với các trường ( 37,1%);

 Các doanh nghiệp nhận hướng dẫn học sinh, sinh viên thực tập tại doanh nghiệp (28,6%);

 Các thợ có tay nghề cao tham gia giảng dạy tại trường dạy nghề (5,7%);

Trang 30

 Doanh nghiệp nhận bồi dưỡng kỹ năng thực hành nghề cho giáo viên dạy nghề (gần 6%)

 Ngoài sự hợp tác trong đào tạo, giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp

có sự phối hợp tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Về phía doanh nghiệp, đó là tư vấn về những công việc, những yêu cầu mà một người lao động cần có, để từ đó học sinh có thể lựa chọn nghề học phù hợp với khả năng và sở thích của mình Về phía nhà trường, đó là tư vấn, giới thiệu về khả năng thu hút lao động của doanh nghiệp; tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các thông tin về doanh nghiệp để họ có thể đến làm việc sau khi tốt nghiệp Nhiều trường đã hình thành bộ phận làm công tác tư vấn nghề nghiệp cho học sinh và đã có sự phối hợp rất chặt chẽ với doanh nghiệp

e Việc làm của lao động sau học nghề

Trong những năm qua, do sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của Chính phủ và sự cố gắng của các cấp, các ngành công tác dạy nghề đã từng bước được đổi mới và phát triển đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế- xã hội

Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

và giải quyết việc làm cho người lao động

Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt trên 95%; trong đó loại khá giỏi chiếm 29%; khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90% Qua điều tra thị trường lao động của Tổng cục dạy nghề tại gần 3000 doanh nghiệp, đa số lao động qua đào tạo nghề đang làm việc trong các doanh nghiệp đã được sử dụng có hiệu quả Đa số lao động qua đào tạo nghề được các doanh nghiệp sử dụng phù hợp hoặc rất phù hợp với trình độ được đào tạo của

họ (khoảng 85% so với số lao động qua đào tạo nghề đang làm việc tại doanh

Trang 31

nghiệp, nghĩa là chiếm khoảng 70% so với số học sinh học nghề tốt nghiệp) Theo đánh giá của người sử dụng lao động về kỹ năng nghề của lao động qua đào tạo nghề: 30,4% đạt loại khá và giỏi

Dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất của thị trường lao động Trong nhiều doanh nghiệp liên kết, liên doanh với nước ngoài hoặc doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại lao động Việt Nam đã đảm nhiệm được hầu hết những vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ phức tạp, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa

Dạy nghề phải gắn với tạo việc làm, song cần thiết hơn là phải lựa chọn nghề phù hợp, đồng thời bám sát kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Có như thế, công tác đào tạo nghề mới đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh việc mở các lớp học nghề theo nhu cầu của người dân, cần thiết lập mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo nghề và cơ sở cung ứng, giới thiệu việc làm gắn với định hướng cho lao động có nhu cầu học nghề

Biểu đồ 1.3.Tỷ lệ HSSV tốt nghiệp và có việc làm tại doanh nghiệp

Trang 32

Mặt khác, các địa phương, đơn vị, các cơ sở đào tạo nghề cần phải thực hiện tốt quy hoạch phát triển đào tạo nghề của địa phương, phù hợp với từng giai đoạn, đặc biệt cần tập trung đào tạo nghề theo hướng chuyên sâu, tăng cường dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động

Bên cạnh đó Nhà nước cũng đã và đang hoàn thiện các quy định luật pháp, chính sách về đổi mới cơ chế tiền lương theo hướng giao quyền tự chủ cho DN trong xác định chi phí tiền lương và trả lương cho người lao động dựa trên cơ sở NSLĐ, hiệu SXKD

1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đào tạo của trường nghề

a Nhóm các nhân tố bên trong

- Văn hóa nhà trường

- Danh tiếng thương hiệu

- Quy mô và địa bàn đào tạo

- Hợp đồng đào tạo chính yếu

- Nguồn lực dự trữ dành cho đào tạo của nhà trường

b Nhóm các nhân tố bên ngoài

- Người học nghề

- Các trường khác trên địa bàn

- Xu hướng thị trường lao động

- Doanh nghiệp sử dụng lao động

- Thay đổi xã hội

- Sự phát triển của khoa học công nghệ

Trang 33

- Môi trường kinh tế

- Môi trường chính trị và pháp luật

- Nguồn cấp tài chính thường xuyên cho đào tạo nghề

- Nguồn lực bổ sung từ địa phương, doanh nghiệp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề của một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã trải qua một quá trình điều chỉnh sửa đổi, cải cách, hoàn thiện và phát triển vững chắc Từ khi Trung Quốc bước vào kỷ nguyên lịch sử mới của cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài vào năm 1978, GDNN rất được coi trọng để phát triển NNL đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đạt hoá đất nước

Năm 1991, Hội đồng Nhà nước đưa ra “Quyết định về phát triển nghề và giáo dục kỹ thuật một cách mạnh mẽ” xác định nhiệm vụ và mục tiêu để phát triển dạy nghề “Đề cương về cải cách và phát triển giáo dục tại Trung Quốc”

do Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Nhà nước đồng soạn thảo năm 1993 yêu cầu chính quyền địa phương các cấp nhận thức tầm quan trọng to lớn của GDNN, đề ra những kế hoạch tổng quát và phát triển GDNN một cách mạng mẽ nhằm động viên mọi sáng kiến của tất cả các ngành, xí nghiệp, cơ sở

và mọi thành phần xã hội cung cấp dạy nghề dưới các hình thức và trình độ khác nhau Năm 1996, “Luật dạy nghề” đầu tiên được chính thức thực hiện, đưa ra cơ sở pháp lý để bảo vệ phát triển và hoàn chỉnh dạy nghề “Quyết định tăng cải cách giáo dục và quảng bá chất lượng giáo dục” của Hội đồng Nhà nước năm 1999 nhấn mạnh hệ thống giáo dục áp dụng trong nền KTTT định hướng XHCN Ngoài ra, kinh phí cho GDNN được bố trí thông qua nhiều nguồn khác nhau: phân phối ngân sách của chính phủ, quĩ tự lập của các xí nghiệp, quĩ tài trợ, tiền quyên góp, vốn vay không lãi, phí tự nguyện do học

Trang 34

viên đóng góp Nhà nước quy định bắt buộc dùng 1,5% số tiền phải trả cho công nhân trong xí nghiệp vào việc huấn luyện công nhân

“Nhân lực là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc và đất nước Trung Quốc phải biến dân số hùng mạnh của mình thành một nguồn lực lớn với nguồn nhân tài phong phú” - Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nói Với chiến lược này Trung Quốc đã đạt những thành tựu đáng kể Đó là:

- Triển khai nhanh chóng mô hình dạy nghề: trong 15 năm, từ năm 1986 đến năm 2001, tỉ lệ học sinh chính qui cấp 3, trong số học sinh trung học, giảm

từ 81% xuống còn 54,7%, trong khi tỉ lệ học sinh trung học nghề tăng từ 19% lên 45,3%; các cơ sở dạy nghề cấp 2 đã cho tốt nghiệp 50 triệu học sinh, bồi dưỡng hàng triệu CNKT, nhà quản lý và các lao động khác có trình độ cấp hai

và sơ cấp với tay nghề và kỹ thuật cao;

- Có bước tiến lớn trong cấu trúc đội ngũ giáo viên dạy nghề, về cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy nghề nhiều dạng khác nhau với trình độ khu vực và quốc tế;

- Tăng chất lượng dạy nghề;

- Phát triển nhanh chóng dạy nghề tại vùng nông thôn;

- Hợp tác và trao đổi quốc tế về dạy nghề được đẩy mạnh

- Thành tựu sau 20 năm đổi mới, năm 1998, kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, GDP trong năm 1998 là 7,9553 ngàn tỉ Nhân dân tệ, gấp 2,07 lần GDP năm 1991 nếu so về giá cả Từ năm 1991 đến 1997, GDP tăng trưởng hàng năm với tỉ lệ bình quân 10,8%

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản:

Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước

Từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới

có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Luật Dạy nghề (Vocational Tranining Law) được ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duy trì hệ

Trang 35

thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công” mang tính hướng nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từng nhóm công nhân trong hãng xưởng do các công ty đảm nhiệm và được chính quyền công nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “dạy nghề cơ bản” cho giới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp” chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề” cho công nhân đang làm việc trong các hãng xưởng Những thay đổi về cấu trúc KT-XH, sự tiến bộ nhanh chóng của KHCN đã tác động đến nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm mở rộng khung dạy nghề truyền thống Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên thành Luật Khuyến khích Phát triển Nguồn nhân lực (Human Resource Development Promotion Law) và cụm từ “phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển NNL theo một

hệ thống huấn luyện suốt đời

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc:

Hàn Quốc là một nước có hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt nhưng đã biết vươn mình từ một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, GDP/đầu người 90,9 đô-la năm 1962 trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng hậu đứng thứ

11 trên thế giới với GDP/đầu người đạt 22.029 đô la năm 2005 Bí quyết của Hàn quốc là dựa vào phát triển nguồn nhân lực trong một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế Giáo dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đưa ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàn cầu hoá vào giữa thập kỷ 1990, mà quan trọng nhất là hệ thống giáo dục phải được cải thiện triệt để, để đào tạo một

số lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dám làm, những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước Trong bản báo cáo của Chính phủ về giáo dục mang tên

“Hình ảnh Hàn Quốc trong Thế kỷ 21” đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo phải hướng tới mục tiêu bồi dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tự giác, tính

Trang 36

cạnh tranh, phát triển khả năng và nhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ý chí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn Quốc lên những trình độ cao nhất, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ chốt trong các vấn đề của thế giới” Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc luôn ở mức 18 – 20% Hướng tới tương lai đó là mục tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiện đại Cùng với sự phát triển kinh tế, người dân Hàn Quốc đang cố gắng tạo ra những điều kiện tốt nhất có thể cho việc đào tạo thế

hệ trẻ

1.2.1.4 Kinh nghiệm của Singapore:

Ngay từ khi mới thành lập nước này đã đề ra chính sách phát triển giáo dục, đào tạo và chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc Chính phủ Singapore luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói: “Biến tài năng trời phú của một dân tộc thành kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọng đại quyết định thành tựu phát triển đất nước” Vào thập kỷ 1980, ngân sách dành cho giáo dục của Singapore mỗi năm tăng trung bình khoảng 30% Mức chi cho giáo dục và đào tạo chỉ đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đã vượt các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản v.v… vào thập niên 1990 Việc không ngừng tăng cường đầu tư cho con người, tích cực thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Singapore phát triển nhanh chóng

1.2.1.5 Kinh nghiệm của Na Uy:

Na Uy là đất nước có hệ thống đào tạo nghề khá toàn diện và ít khiếm khuyết khi kết hợp quá trình đào tạo nghề với chương trình giáo dục phổ thông

Sự kết hợp hài hòa và khoa học này đã tạo cơ hội cho những người thợ có điều kiện học lên bậc cao hơn để nâng cao tay nghề Đây quả thực là mô hình đào tạo nghề rất thiết thực và thành công, đáng để các trung tâm dạy nghề cũng như các doanh nghiệp Việt Nam học tập theo

Trang 37

Na Uy được xem là quốc gia sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề, chính

vì vậy trong nhiều năm qua chất lượng đào tạo nghề tại quốc gia này liên tục tăng cao, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển Đặc biệt, nguồn nhân lực của Na Uy đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 75% GDP Nhận thức được tầm qua trọng của công tác đào tạo nghề cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, từ những năm 1994 cho đến nay, Chính phủ Na Uy liên tục có những cải cách về giáo dục – đào tạo, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia này Trong công tác đào tạo và dạy nghề, mối quan hệ các bên (doanh nghiệp, người lao động và nhà trường) được Chính phủ quan tâm hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp với mức 12.000 Euro cho 2 năm học thực tập ở doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp hỗ trợ ở mức 40% lương cơ bản ở năm đầu và 60% ở năm thứ hai

Hệ thống giáo dục - dạy nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức

là 2 năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng mà do doanh nghiệp và nhà trường lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm học Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt

và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3” (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề),

“mô hình 0+ 4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao trong công tác đạo tạo và dạy nghề tại quốc gia này

Ở Na Uy, những người lựa chọn con đường học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là doanh nghiệp đào tạo Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể của học viên, doanh nghiệp cần phải bảo đảm nguyên tắc: ngay từ năm 1 sẽ cử các công nhân lành nghề hướng dẫn về kĩ thuật cho học viên; từ năm thứ 2 sẽ giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học Học viên sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được

Trang 38

trao chứng chỉ công nhận hoàn thành khóa học và có thể bắt đầu tìm việc làm

để nuôi sống bản thân Theo thống kê, hiện có gần 90% thanh niên Na Uy vào học trường nghề (trường trung học –Secondary School) khi bước qua 15 - 16 tuổi Sau khi học nghề xong, học sinh có thể tiếp tục học đại học (với việc học

bổ sung một số môn khoa học chung như toán, vật lý, địa lý ) Hiện nay, ở

Na Uy vẫn có tình trạng học sinh bỏ học để đi làm vì dễ tìm việc làm, tuy nhiên Chính phủ chỉ hỗ trợ kinh phí đào tạo cho thanh niên trong vòng 5 năm trở lại, nếu quá 5 năm thì không được hỗ trợ kinh phí Cách làm này đã khuyến khích thanh niên trở lại trường đào tạo và tạo ra nhiều lao động có tay nghề cao cho

xã hội

Điều cốt lõi ở đây là hầu hết các cơ sở dạy nghề ở Na Uy đều có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan, đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và địa phương Về nội dung chương trình đào tạo nghề sẽ do các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề Nội dung đào tạo được soạn thảo dựa trên nguyên tắc “xây dựng kiến thức cơ bản về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các kĩ năng thực tiễn” Hầu hết các nội dung của chương trình đào tạo nghề đều dựa trên triết lý của Cựu Thủ tướng Na Uy – Gro Harlem Brundtland:

“Mục tiêu chung của tất cả hệ thống giáo dục đào tạo nghề là phải cung cấp được kiến thức đồng bộ giữa lý thuyết và thực hành để người học có thể ứng dụng những kinh nghiệm thực tế vào cuộc sống” Với hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề cao cùng nhiều tính năng ưu việt, mô hình đào tạo nghề của Na Uyrất được các đối tác, các doanh nghiệp ủng hộ và tin cậy Thêm vào đó, trong tình hình “khát” lao động như hiện nay, các chủ doanh nghiệp ở quốc gia này rất quan tâm đến việc thực tập sinh và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các học viên hoàn thành khóa học của mình

Trang 39

1.2.2 Kinh nghiệm của một số trường nghề trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm của Trường Cao đẳng nghề Lilama2:

Trường Cao đẳng nghề Lilama2 thuộc Bộ Xây dựng là địa chỉ đáng tin cậy về cung cấp công nhân kỹ thuật bậc cao cho ngành xây dựng và các ngành công nghiệp Chất lượng học sinh sinh viên do nhà trường đào tạo đều được các doanh nghiệp sử dụng đánh giá cao, tỷ lệ có việc làm luôn đạt trên 80% Riêng học sinh nghề hàn nâng cao, hàn ống, hàn 6G và nghề điện công nghiệp, 100% học sinh có việc làm sau khi ra trường

Hình 1.1 Thực hành nghề tại trường CĐN Lilama2

Nhà trường đã đổi mới toàn diện các chương trình đào tạo các nghề: Chế tạo cơ khí, hàn, lắp máy, kỹ thuật lắp ống công nghệ, kỹ thuật lắp đặt điện công nghiệp và điều khiển…bằng cách cập nhật các tiêu chuẩn quốc tế như: ASME, JIS, AWS, API, IEC, IP, BS, ANSI…, các công nghệ mới đang áp dụng trong công nghiệp và giáo trình đào tạo để phù hợp với yêu cầu cầu phát triển của doanh nghiệp

Thực hiện mục tiêu ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo, từng bước hội nhập vào công tác đào tạo nghề quốc tế Trường cao đẳng nghề Lilama2 đã gia nhập vào Hội đồng nghề Anh Quốc – City & Guilds và là thành viên của Hiệp Hội Hàn Hoa Kỳ (AWS) Trung tâm đào tạo đánh giá cấp chứng chỉ thợ hàn quốc tế ATF AWS; hợp tác với các trường cao đẳng nghề uy tín trên thế giới như Trường cao đẳng The City of Sunderland Anh Quốc, Học viện đào tạo nghề GMI Malaysia Nhà trường đã đúc kết các mô hình đào tạo nghề tiên tiến

Trang 40

trên thế giới, hình thành mô hình đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế là: “ Mô hình

5 trụ cột trong đào tạo nghề: Chương trình, giáo trình – Trang thiết bị, CSVC – Đội ngũ giáo viên - Lãnh đạo – Môi trường đào tạo” Qua đó, nhà trường xác định đầu tư xây dựng các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu thực tế công nghiệp là nền tảng, đầu tư trang thiết bị giảng dạy , thực hành có công nghệ tiên tiến, phù hợp với mô hình đào tạo chất lượng cao của thế giới là quan trọng Nhà trường đã xây dựng chương trình sư phạm quốc tế theo phương pháp “lấy người học làm trung tâm” để đào tạo bồi dưỡng cho giáo viên nhà trường

Trường Cao đẳng nghề Lilama2 sẽ tập trung phát triển hệ thống hạ tầng

kỹ thuật, tập trung đầu tư trang thiết bị giảng dạy, đào tạo; đào tạo và nâng cấp đội ngũ giáo viên, tiếp tục cập nhật công nghệ để bổ sung vào giáo trình, giáo

án theo tiêu chuẩn quốc tế, tiếp tục phát triển và nhân rộng chương trình thí điểm tiếp cận trình độ sư phạm nghề quốc tế trong cả nước, nhân rộng và nâng cao đào tạo theo chương trình City & Guilds, Diploma đối với nghề điện và cơ khí, tiếp túc phát triển du học tại chỗ thông qua hợp tác với Trường Cao đẳng City of Sunderland và City & Guilds, Trường Keid Kerr với số lượng tuyển sinh lớn hơn và phát triển thêm nghề đào tạo; hợp tác với ĐH Bách khoa Hà Nội để đào tạo thạc sĩ kỹ thuật và một số đại học lớn trong nước về liên thông cao đẳng lên đại học, phát triển trung tâm cấp chứng chỉ quốc tế AWS, chuẩn bị nội dung và cơ sở vật chất để đào tạo nhân lực cho một số dự án lớn của nước ngoài

Nhà trường cũng sẽ tổ chức quản lý theo tiêu chuẩn ISO trong đào tạo, phấn đấu trở thành trung tâm đánh giá nghề phía Nam của Bộ LĐ-TBXH về các nghề chế tạo cơ khí, hàn, kỹ thuật lắp đặt ống công nghệ, kỹ thuật lắp đặt điện và điều khiển Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các Tập đoàn Công Nghiệp Xây dựng Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài như Công ty chế tạo Tháp gió – CS Wind Tower - Hàn Quốc, King’sgrating Đài Loan, Cty NipNippon Steel Nhật, Saigon Shipyard -

Ngày đăng: 23/03/2021, 22:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm