1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN (TRIẾT học MAC LÊNIN 1) quan hệ GIỮA xã hội với TN và vấn đề bảo vệ môi TRƯỜNG HIỆN NAY ở VIỆT NAM

14 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 93,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI VỚI TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM Sinh viên: Lớp: GV

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI VỚI TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

Sinh viên:

Lớp:

GV hướng dẫn:

Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 3

1.Cơ sở lí luận 3

1.1 Các khái niệm 3

1.2.Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội 3

2.Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam 7

2.1 Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam 7

2.2 Vấn đề môi trường ở Việt Nam 8

2.3 Hành động của Việt Nam để bảo vệ môi trường hiện nay 9

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Con người là động vật cao cấp nhất trong sinh giới, ngôn ngữ và tư duy chính là hai yếu tố phân biệt con người với các động vật khác

Một trong những vấn đề khiến con người phải tư duy nhiều nhất, có lịch

sử lâu dài nhất chính là mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội Tự nhiên và xã hội

là hai phạm trù triết học lớn, đồng thời cũng là những khái niệm rất gần gũi, quen thuộc đối với con người Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, vừa có những tác động không ngừng, làm biến đổi cả tự nhiên và xã hội

Từ khi triết học ra đời đến nay, có rất nhiều quan điểm về mối quan hệ này, nhưng nhìn chung đều theo hai hướng lớn Theo quan điểm siêu hình, tự nhiên và xã hội tồn tại độc lập, không hề có mối quan hệ biện chứng với nhau Đây là một quan điểm sai lầm.Qua thực tế cũng như những lí luận triết học được đúc kết trong hàng ngàn năm cho thấy, tự nhiên và xã hội có quan hệ rất chặt chẽ với nhau Con người, tự nhiên và xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất,luôn tác động qua lại lẫn nhau Tự nhiên là nền tảng ,lầ căn bản cho sự tồn tại của con người, con người gây dựng nên xã hội dựa vào trình độ nhận thức, tư duy của mình Nhưng cũng chính con người cùng với xã hội của mình đã tác động trở lại tự nhiên, môi trường Những biến đổi khí hậu, thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần để lại cho con người rất nhiều hậu quả nặng nề Bảo vệ

tự nhiên và môi trường đang là vấn đề nghị sự bức thiết của toàn cầu, trong đó

có Việt Nam

2.Mục đích của đề tài

Tiểu luận “Quan hệ giữa xã hội với tự nhiên và vấn đề bảo về môi trường hiện nay ở Việt Nam” nhằm nêu lại mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội, đồng thời có những liên hệ cần thiết tới vấn đề môi trường hiện nay ở Việt Nam Từ đó mong muốn có thể tác động tích cực về nhận thức của mỗi người về quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, có những hành động đúng đắn góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta

PHẦN NỘI DUNG

Trang 4

1.Cơ sở lí luận

1.1 Các khái niệm

Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất vô tận.

Con người và xã hội cũng là một bộ phận của tự nhiên

Xã hội là hình thức vận động cao nhất của vật chất, lấy quan hệ của con người

cùng sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng Theo Mác: “Xã hội không phải gồm các cá nhân người Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau”

1.2.Mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội

1.2.1.Xã hội – bộ phận của tự nhiên

Xã hội là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Con người và xã hội cũng là những bộ phận cấu thành tự nhiên

Con người là một sinh vật của giới tự nhiên, đồng thời tự nhiên cũng là nơi sinh sống của con người, là nơi cung cấp cho con người những điều kiện vật chất để đảm bảo cho sụ sống Tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của con người

Từ tiền đề quan trọng đó,con người tác động, khai thác và cải tạo tự nhiên, đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình Lao động ra đời là sự tất yếu của lịch

sử Lao động và ngôn ngữ chính là là những điểm cơ bản làm nên sự khác biệt giữa con người với các động vật khác, làm nên tư duy, nhận thức, ý thức của con người

Sự hình thành con người kèm theo những mối quan hệ giữa người với người đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cộng đồng người từ hình thức bầy đàn sang một hình thức tiến bộ hơn, khác hẳn về chất, đó chính là xã hội Đó cũng chính là quá trình chuyển biến từ vận động sinh học sang vận động

xã hội Như vậy xã hội cũng là sản phẩm của tự nhiên Hoạt động của con người

Trang 5

trong xã hội không chỉ cải tạo chính bản thân con người mà còn cải tạo chính giới tự nhiên

1.2.2 Tác động của xã hội đến tự nhiên

Xã hội tác động vào tự nhiên thông qua những hoạt động của con người Con người sử dụng những điều kiện tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống và lao động sản xuất của mình Cá hoạt động đó rất phong phú như khai thác khoáng sản, đánh bắt thủy hải sản trên biển, khai thác lâm sản, đốt rừng, xả rác thải ra ngoài môi trường tự nhiên Tự nhiên cũng biến đổi theo rất nhiều chiều hướng khác nhau Thực tế con người đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề của

tự nhiên như sự biến đổi khí hậu, hiện trạng Trái đất nóng lên, nước biển dâng

Sự vươn lên mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, sự bùng nổ dân số khiến sự biến đổi của tự nhiên càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết Những sự biến đổi này mang thiên hướng tiêu cực hơn là tích cực, con người chính là sinh vật tàn phá thiên nhiên khủng khiếp nhất

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây chính là trong quá trình tác động đó, con người cần phải khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tự nhiên, đi đôi với đó là cần

có những biện pháp bảo vệ tự nhiên Nếu không tất yếu sẽ dẫn đến sự khủng hoảng, mất cân bằng giữa hệ thống tự nhiên – xã hội Tóm lại trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, để bảo vệ môi trường, sự tồn tại của mình, chúng ta cần những biện pháp khai thác hợp lí, đảm bảo khả năng tái sinh của tự nhiên, đảm bảo cân bằng giữa tự nhiên và xã hội

1.2.3 Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội

Trình độ phát triển của xã hội

Yếu tố xác định trình độ phát triển của xã hội chính là phương thức sản xuất Mỗi phương thức sản xuất sử dụng những công cụ lao động khác nhau, quy định mục đích tiến hành sản xuất Khi công cụ và mục đích sản xuất thay đổi, tính chất của mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội cũng thay đổi

Trang 6

Nhận thức của con người ngày càng nâng cao, trình độ khoa hoc kĩ thuật phát triển, con người không chỉ coi tự nhiên là môi trường sống mà còn là đối tượng chiếm hữu nhằm thu lợi nhuận, tất yếu dẫn đến hủy hoại tự nhiên Chung sống hòa bình với thiên nhiên, thay đổi cách đối xử với thiên nhiên chính là nhiệm vụ của mỗi chúng ta

Trình độ nhận thức và vận dụng các quy luận vào các hoạt động thực tiễn

Quan hệ giữa tự nhiên với con người bộc lộ thông qua các hoạt động của con người, từ đó quyết định ý thức xã hội

Nhận thức tốt đi kèm với những hành động đúng quy luật, con người vừa đảm bảo một cuộc sống đầy đủ cho bản thân, chung sống hài hòa với thiên nhiên, thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của xã hội

Nhận thức sai lầm, làm trái quy luật, chỉ biết khai thác, chiếm doạt những cái sẵn có trong tự nhiên là nguyên nhân trực tiếp của việc phá vỡ sự cân bằng

tự nhiên và xã hội Con người sẽ phải trả giá, đồng thời đứng trước nguy cơ của

sự diệt vong

Nhận thức mới chỉ là tiền đề, yếu tố cốt lõi chính là hành động của chúng

ta Với sự vươn lên mạnh mẽ của các phương thức sản xuất hiện đại, tiên tiến,

đó sẽ là nguồn trợ giúp đắc lực cho hoạt động thực tiễn của con người Hãy hành động vì thiên nhiên, đồng thời cũng là vì chính tương lai nhân loại

1.2.4 Môi trường- vấn đề của chúng ta

Môi trường là toàn bộ những điều kiện sống xung quanh chúng ta Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ở đây chúng ta chủ yếu xét đến môi trường tự nhiên

Mỗi cá thể người sinh ra đều có những nhu cầu riêng của nó, cần tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng gây ra những ảnh hưởng nhất

Trang 7

định đến môi trường Khi dân số càng tăng cao, nhu cầu đối với tự nhiên càng lớn, những nhu cấu thiết yếu của cuộc sống như thực phẩm, thuốc men, ăn mặc, nước sạch ngày càng thiếu thốn Rất nhiều vấn đề của môi trường nảy sinh như

ô nhiễm đất, nước, không khí, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu của con người Áp lực lên môi trường là rất lớn trong khi khả năng chịu đựng của môi trường là có hạn Một quy luật thường gặp trong sinh học là: khi số lượng cá thể trong một quần thể tăng lên đột biến thì sẽ xảy ra chết hàng loạt một số lượng cá thể nhất định để lấy lại sự cân bằng đối với môi trường sống, cân bằng với sức chịu đựng của môi trường Nếu điều này xảy ra với quần thể người thì đây quả là một thảm họa ghê gớm

Để tránh nguy cơ đó, con người cần có những cách ứng xử văn minh đối với môi trường, sử dụng và khai thác phải đi đôi với bảo vệ Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo sự cân bằng giữa tự nhiên và xã hội

2.Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam

2.1 Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

Tài nguyên đất: diện tích đất tự nhiên của Việt Nam vào khoảng 33 triệu

ha.Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp vào khoảng 10-11 triệu ha, trong đó mới chỉ sử dụng được 6,9 triệu ha đất nông nghiệp Xói mòn, rửa trôi,

bạc màu, đất mặn, phèn, chua là những vấn đáng lưu ý Tài nguyên nước của

Việt Nam khá dồi dào: lượng nược mặt sản sinh nội lãnh thổ là 32,5 tỷ m3/năm, nếu tính cả lượng nước từ các quốc gia lân cận đạt 889 tỷ m3/năm, trữ lượng tiềm năng nước ngầm đạt 48 tỷ m3/năm

Tài nguyên khoáng sản: nước ta nằm trên hai vành đai tạo khoáng lớn của thế

giới là Thái Bình Dương và Địa Trung Hải Việt Nam có hơn 3500 mỏ khoáng sản với 80 loại khác nhau, trong đó mới chỉ có 270 mỏ được đưa vào khai thác

32 loại Những khoáng sản chủ yếu như than đá, dầu mỏ, khí đốt, quặng sắt, bô

Trang 8

xít Đó là những nguồn tài nguyên vô giá, phục vụ cho sự phát triển công nghiệp

Tài nguyên biển: Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2, với rất nhiều tiềm năng kinh tế và độ đa dạng sinh học cao Tuy nhiên, nước ta cũng là quốc gia thường xuyên phải gánh chịu những hậu quả nặng nề từ những thảm họa thiên nhiên trên biển như sóng thần, bão, biển động

Tài nguyên rừng ở nước ta cũng rất phong phú và đa dạng với nhiều loại động

thực vật quý hiếm, là nguồn thực phẩm, dược phẩm, nguồn nguyên liệu cho công nghiệp Việt Nam có 7-8 triệu dân sống ở rừng, khoảng 18 triệu dân có cuộc sống gắn bó với rừng

Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới Việt Nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền

2.2 Vấn đề môi trường ở Việt Nam

Do chiến tranh tàn phá, sự gia tăng dân số nhanh, các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên đã đưa đến nhưng hậu quả khá nặng nề cho môi trường Việt Nam Sự phát triển công nghiệp với những công nghệ kém thân thiện với môi trường, sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân cũng những biên pháp bảo vệ môi trường thiếu hiệu quả khiến môi trường ô nhiễm ngày một nặng nề

Trang 9

Năm 1943, Việt Nam có 13,3 triệu ha rừng, chiếm 43,8% diện tích đất Hiện nay còn 8,5 triệu ha,chiếm23,8% Tốc độ mất rừng của Việt Nam là

200000 ha/năm, trong đó 60000 ha do khai hoang, 50000 ha do cháy và 90000

do khai thác gỗ qua mức Trữ lượng và chất lượng gỗ rừng đang bị suy giảm

Việt Nam đang phải đối phó với thực trạng thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt là vào mùa khô trong khi nhu cầu về nước sạch không ngừng ra tăng Ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước tại các con sông, kênh rạch và kĩ thuật xử lí nước kém là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên

Khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi, thiếu chiến lược lâu dài làm cho nguồn tài nguyên bị suy giảm nhanh chóng Đồng thời những hoạt động khai thác này cũng là nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí xung quanh khu vực khai thác

Sự suy thoái đa dạng sinh học cũng là hâu quả tất yếu của sự ô nhiễm môi trường Rất nhiều loài động thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đo nhiều loài được đưa vào Sách đỏ của thế giới cũng như Việt Nam

Ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, chất thải cũng là những vấn đề nóng của rất nhiều quốc gia

Ngoài ra, Việt Nam còn phải chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Chất độc màu da cam không chỉ tàn phá nặng nề môi trường nước ta mà còn để lại rất nhiều di chứng tàn khốc đối với nhiều thế hệ người Việt Nam Những căn bệnh như ung thư, bệnh da liễu, lao, phổi do sống tại những vùng ô nhiễm môi trường đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Việt Nam

Nhìn chung chất lượng môi trường Việt Nam đang xấu đi nghiêm trọng

Đã đến lúc chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu trước khi quá muộn Bảo

vệ môi trường là nhiệm vụ cấp bách không chỉ của Việt Nam mà của toàn cầu

2.3 Hành động của Việt Nam để bảo vệ môi trường hiện nay

Trong xu thế hành động của thế giới, Việt Nam cũng có những hành động của mình:

Trang 10

- Từ năm 1981 Nhà nước đã cho tập hợp các trường đại học, các viện thành lập Chương trình Quốc gia về Bảo vệ môi trường

- Công tác môi trường ở nước ta được chia thành 3 giai đoạn:

+ Từ 1975-1980: Hồi phục

+ Từ 1980-1990: Xử lí môi trường trong phát triển sau chiến tranh

+ Từ 1991 đến nay: Phát triển môi trường bền vững

- Chiến lược quốc gia của Việt Nam về bảo vệ môi trường:

+ Bảo vệ các hệ sinh thái, hệ nông nghiệp, thủy sản, rừng

+ Bảo vệ sự đa dạng sinh học

+ Khuyến khích sử dụng năng lượng tiết chế, tiết kiệm

+ Đảm bảo chất lượng cuộc sống cho cộng đồng

+ Bảo vệ môi trường có liên quan đến toàn cầu

- Chương trình Quốc gia về phát triển bền vững có nội hoạt động theo 5 hướng:

+ Có luật lệ chính sách môi trường

+ Xây dựng các cơ quan môi trường Đầu năm1992, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ra đời

+ Khuyến cáo phải quan trắc, thông tin bảo vệ môi trường

+ Xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho các ngành và địa phương + Đánh giá tác động môi trường, tai biến môi trường

- Bảy chương trình hành động:

+ Quản lí xây dựng

+ Quản lí tổng hợp lưu vực sông

+ Quản lí tổng hợp vùng ven biển, cửa sông

+ Bảo vệ vùng đất ngập nước

+ Bảo vệ đa dạng sinh học, các vườn quốc gia

+ Kiểm soát ô nhiễm và xử lí phế thải

- Hai chương trình hỗ trợ:

+ Giáo dục đào tạo

+ Quản lí hợp tác quốc tế

Trang 11

- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua vào năm 2005 đã cho thấy sự cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường Việt Nam

Những biện pháp trên mới chỉ mang lại những hiệu quả bước đầu Nhìn chung, việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa nghiêm túc, hiệu lực, hiệu quả kém Trong hàng ngàn dự án đã được phê duyệt báo cáo tác động môi trường, phần lớn không thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo

vệ môi trường Một số doanh nghiệp đã có hệ thốngxử lí nước thải nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành đối phó Hiện nay có đến 70% các khu công nghiệp không có hệ thống xử lí nước thải, 90% các cơ sở sản xuất kinh doanh thải nguy hại còn rất tự phát, vi phạm quy định bảo vệ môi trường

Còn rất nhiều điều chúng ta phải làm để duy trì chiến lược phát triển bền vững của nước nhà Môi trường thực sự đang cần chúng ta

Ngày đăng: 23/03/2021, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w