Trường Đại học Ngoại thương Khoa lí luận chính trị Tiểu luận Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lênin Tên đề tài: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍC
Trang 1Trường Đại học Ngoại thương Khoa lí luận chính trị
Tiểu luận Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lênin
Tên đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI.
Họ tên:
Lớp :
Giáo viên hưỡng dẫn:
Trang 2Hà Nội
Mục lục
Mục Trang
Mở đầu 3
1 Nguyên lí phổ biến 4
1.1 Nội dung nguyên lí phổ biến 4
1.2 Tính chất 6
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 7
2 Mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 8
2.1 Khái quát 8
2.2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 9
Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 3
MỞ ĐẦU
Mối liên hệ phồ biến là một trong hai nguyên lí cơ bản của phép duy vật biện chứng Nắm được khái niệm, tính chất, bản chất của nguyên lí này sẽ giúp ta có phương pháp, biết vận dụng để nhận thức, giải thích nhiều vấn đề trong cuộc sống Ngoài ra, nguyên lí mối liên hệ phổ biến còn cho ta một cái nhìn sáng suốt để đưa ra những phương án, những cách xử lí tình huống, hoạch định phương hướng cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Bởi vậy, làm tiểu luận với đề tài này là một
cơ hội để em củng cố và tìm hiểu sâu về một trong những nguyên lí quan trọng của biện chứng duy vật Nhờ đó em có thể có cách nhìn rõ ràng, cụ thể hơn về bộ môn Triết học Trong quá trình áp dụng mối liên
hệ phổ biến giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, em hiểu biết thêm được một số vấn đề bổ ích như tình hình đất nước ta trước và sau đổi mới, sự chênh lệch khá lớn giữa trình độ phát triển của Việt Nam với nhiều nước, tầm quan trọng của kinh tế tới đời sống con người, những nỗ lực của chính để phát triển đất nước, những vấn đề tồn tại mà Việt Nam đang phải khắc phục, Bởi còn rất nhiều thiếu sót với những kiến thức thu nhận, tìm hiểu được nên em hi vọng sẽ nhận được sự đánh giá, sữa chữa, bổ sung của các thầy cô bộ môn trong khoa lí luận chính trị Cám ơn thầy Trần Quang Huy đã hưỡng dẫn em hoàn thành tiểu luận này!
Trang 41 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy Vì vậy ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến vẫn được xem là một trong những nguyên lí
có ý nghĩa khái quát nhất
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.Trong đó liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề tồn tại cho nhau, là sự quy định lẫn nhau, là sự nương tựa lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt, các yếu tố, các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Ngoài ra những người theo quan điểm duy vật biện chứng còn khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật
và hiện tượng chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Các mối liên hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau, trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi không gian và thời gian Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Tính đa dạng của sự liên hệ do
Trang 5tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường phải thông qua các mối liên hệ bên trong mà phát huy Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi còn giữ vai trò quyết định Ngoài ra còn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhau của cùng một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng Quan điểm duy vật biện chứng
về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại
đó Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy
Trang 61.2 Tính chất.
Tính khách quan: sự quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật hiện tượng là cái vốn có, tồn tại độc lập với ý thức con người Con người chỉ có khả năng nhận thức và vận dụng các mối liên hệ Mối liên hệ là cái có trong mỗi bản thân sự việc, hiện tượng, xuất phát từ tính thống nhất của vật chất
Tính phổ biến: Bất kì sự vật hiện tượng nào cũng có quan hệ với sự vật hiện tượng khác Ví dụ như mối liên hệ giữa các loài trong tự nhiên tạo thành hệ cân bằng sinh thái, mối liên hệ giữa người và người trong
xã hội tạo thành sự đa dạng phức tạp của xã hội Ngoài ra, tính phổ biến của mối liên hệ còn biểu hiện ở quan hệ chặt chẽ giữa các mặt, các yếu
tố, các quá trình trong bản thân mỗi sự vật hiện tượng Ví dụ mối liên
hệ giữa đồng hóa và dị hóa trong cơ thể sinh vật, mối liên hệ giữa kinh
tế và chính trị trong xã hội
Tính đa dạng, phong phú: các sự vât hiện tượng hay các quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò cụ thể khác nhau, giữ vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện khác nhau , ở những giai đoạn khác nhau của quá trình vận động thì cũng có nhữngtinhs chất, vai trò khác nhau Có thể phân chia các mối liên hệ thành từng cặp: mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên, mối liên hệ chung và riêng,…
Trang 71.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm toàn diện: khi nhận thức về mối liên hệ phải đăt trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác
Ví dụ: khi xem xét đánh giá một con người phải đánh giá toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, ngoại hình Phải phân biệt từng mối liên hệ, thấy
vị trí của tùng mặt từng mối liên hệ trong chỉnh thể Tuy nhiên cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện nhất định Trong hoạt động thực tế, khi tác động vào sự vật cần chú ý tới những mối liên hệ của sự vật đó với sự vật khác Phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau tác động vào
sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Quan điểm lịch sử - cụ thể: Khi nhận thức vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Phải xác định rõ vị trí , vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được giải pháp đúng đắn và
có hiệu quả trong các vấn đề thực tiễn Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thời gian đó Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra
Trang 82 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với
công bằng xã hội
2.1 Khái quát
Để hiểu rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, ta cần hiểu được bản chất của các khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) hoặc GNP ( tổng sản phẩm quốc gia) hoặc thu nhâp bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Các nhân tố của tăng trưởng kinh
tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản, công nghệ Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối (mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kì), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn (chênh lệch giữa quy mô kinh tế hiện tại so với quy mô kinh tế kì trước chia cho quy mô kinh tế kì trước)
Công bằng xã hội với cách nhìn tổng thể có thể hiểu là các giá trị định hướng để con người sinh sống và phát triển trong các quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng về vật chất, tinh thần Đó là những giá trị cơ bản trong các quan hệ xã hội: quan hệ giữa mức độ lao động – mức độ thu nhập, quyền sở hữu tư liệu sản xuất – quyền định đoạt sự sản xuất và phân phối, mức độ phạm tội – mức độ bị trừng phạt, quan
hệ giữa các thành viên trong xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực khác nhau và có cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, khám chữa bệnh, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao
Trang 9Có thể nói tăng trưởng kinh tế là biểu hiện về vật chất còn công bằng xã hội là yếu tố về tinh thần Sự thay đổi về tăng trưởng kinh tế là
sự thay đổi về lượng còn sự thay đổi về công bằng xã hội là sự thay đổi
về chất của một đất nước
2.2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội Không thể có công bằng xã hội trên cơ sở một nền kinh tế thiếu hụt chỉ đủ cung cấp cho dân chúng một cuộc sống “giật gấu vá vai”, “khéo ăn mới no khéo co mới ấm” Nói cách khác, khi có được mức độ tăng trưởng kinh tế hợp lí mới có khả năng xây dựng được những cơ sở cần thiết như trường học, bệnh viện, đường xá, giao thông,
… và nâng cấp các điều kiện khác để phục vụ cho công bằng xã hội Một đất nước có mức độ tăng trưởng kinh tế thấp, không bền vững sẽ gặp khó khăn trong việc đảm bảo công bằng xã hội Bởi lúc đó, dù có muốn tạo dựng công bằng xã hội thật hiệu quả thì cũng không đủ khả năng về kinh tế, cơ sở hạ tầng Trên thực tế, dân số ngày càng tăng, mà thêm vào đó các yêu cầu về cuộc sống cũng không ngừng thay đổi theo chiều hướng đi lên Nó không chỉ gói gọn đơn thuần trong việc “ăn chắc mặc bền” Nó còn là nhu cầu học tập, vui chơi, chăm sóc sức y tế, giải trí, Và những nhu cầu đó luôn phát triển để tiến tới cho con người hưởng thụ những gì tốt nhất, xứng đáng với công sức lao động
bỏ ra Thế nên tăng trưởng kinh tế vững chắc cho ta niềm tin để xây dựng một công bằng xã hội lí tưởng
Trang 10Ngược lại, thực hiện tốt công bằng xã hội trở thành động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có hiệu quả cao, bền vững trong một xã hội với đa số dân chúng thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất và một bộ phận đáng kể lực lượng lao động thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra lề xã hội Tăng trưởng kinh tế chính là nhờ vào sức lao động của nhân dân để tạo ra của cải cho xã hội Chỉ khi nào người dân cảm thấy mình được hưởng những điều kiện xứng đáng, được chăm sóc tốt về y tế, giáo dục, văn hóa,… thì họ mới cống hiến năng lực bản thân bằng sự tận tâm vào công cuộc xây dựng đất nước Bởi khi đó dân chúng tin rằng làm giàu cho đất nước cũng chính là làm giàu cho chính mình, làm cho cuộc sống của chính mình tốt đẹp hơn Mặt khác, thực hiện tốt công bằng xã hội không chỉ có lợi cho tăng trưởng kinh tế hiện tại mà cả tương lai Vì khi tạo được một xã hội lành mạnh, công bằng, có cơ sở vật chất tốt, tức là ta đã tạo điều kiện để cho một thế hệ mới-thế hệ của tương lai phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức Đó sẽ là những nguồn lao động tốt, có phẩm chất, trình độ trong tương lai, sẽ làm cho tăng trưởng kinh tế được bền vững, ổn định và phát triển
Nhìn vào tình hình tăng trưởng kinh tế từ 1975 của Việt Nam ta có thể thấy rõ điều này
Từ 1975 đến 1985, sau khi thống nhất đất nước, thu nhập quốc dân tăng rất thấp, có năm còn giảm: năm 1997 tăng 2,8%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 giảm 1,4%, bình quân 1977-1980 chỉ tăng 0,4% thấp xa
so với tốc độ tăng trưởng dân số làm cho thu nhập quốc dân đầu người
Trang 11giảm sút mạnh; thời kì 1981-1985 thu nhập quốc dân có những bước tăng trưởng tiến bộ hơn Nhưng nhìn chung thời kì 1977-1985 chỉ tăng được 3,7% Lại đặt trong hoàn cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế còn vô cùng khó khăn Thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng, chẳng những không có đủ tích lũy trong nước mà còn không đủ tiêu dùng Toàn bộ quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài Đó là một thời kì mà tăng trưởng kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, cộng với một xuất phát điểm thấp Điều đó dẫn tới hậu quả tất yếu là công bằng xã hội không được thực hiện tốt Vào thời kì này, dù
đã kết thúc chiến tranh nhưng cuộc sống của người dân không được cải thiện Sản xuất công nghiệp- nông nghiệp đình đốn; lưu thông, phân phối ách tắc; lạm phát ở mức ba con số; đời sống tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng thấy Ở thành thị, lương tháng của công nhân, viên chức chỉ đủ sông 10-15 ngày Ở nông thôn, vào lúc giáp hạt có tới hàng triệu nông dân thiếu ăn Tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân không yên Công bằng xã hội không được thực hiện tốt lại tiếp tục ảnh hưởng xấu tới tình hình tăng trưởng kinh tế
Từ khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã thực sự khởi sắc Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá: năm 1986 tăng 2,84%, năm 1991 tăng 5,81%, năm 1996 tăng 9,84%, năm 2001 tăng 6,89% Bình quân thời kì 1986-2005 đạt 6,76%, cao gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kì 1977-1985 GDP năm 2005 gấp trên 3,7 lần 1985, đến năm 2005 tăng trưởng kinh
Trang 12nội tính bình quân đàu người tăng từ 200USD năm 1990 lên 835 USD năm 2007, khoảng 80-85% gia đình tự đánh giá mức sống khá hơn so với trước Trong những năm qua, chúng ta đã lần lượt kí kết và thực hiện các văn bản pháp lí quốc tế quan trọng về quyền lao động: xóa bỏ lao động cưỡng bức, xóa bỏ phân biệt trong tuyển dụng và nghề nghiệp, xóa bỏ hình thức lao động trẻ em Nhờ tăng trưởng kinh tế khá, Chính phủ đã dành tới 24-26% ngân sách nhà nước để chi cho các chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình , tạo việc làm, xóa đói giam nghèo, xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, phát triển giáo dục, y tế, xây dựng mạng lưới an sinh
xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội…Theo đánh giá của Liên hợp quốc, giá trị chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam có xu hướng tăng đều đặn và liên tục trong mấy chục năm qua: từ 0,590 năm 1985 lên 0,620 năm 1990, đến 2005 là 0,733 Cũng
có thể nói công bằng xã hội được thực hiện hiệu quả đã ảnh hưởng tốt cho kinh tế
Các dẫn chứng trên cho thấy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
có quan hệ mật thiết với nhau, cùng tăng hoặc cùng giảm Tất nhiên cũng có thể có những nơi tăng trưởng kinh tế sẽ không tỉ lệ thuận với công bằng xã hội Đó là khi của cải sản xuất ra nhiều mà những người lao động không hưởng đúng với khả năng lao động của họ mà lại thuộc
về một bộ phận tầng lớp khác Ví dụ các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, đã có những giai đoạn kinh tế rất phát triển nhưng không thực hiện được công bằng xã hội, cho nên không thể tồn tại bền vững, dẫn đến bị thay đổi bởi các hình thức khác cho phù hợp Điều đó