1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Môn địa lý du lịch: Huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 31,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tai: Khái quát về địa phương mình đang sinh sống. Thực trạng hoạt động và quản lí tại địa phương. Điểm mạnh, hạn chế, cơ hội và thách thức trong công tác tổ chức và quản lí tại địa phương. Trình bày một số phải pháp bền vững trong công tác tổ chức, quản lí du lịch tại địa phương.

Trang 1

Đề tài: Khái quát về địa phương mình đang sinh sống Thực trạng hoạt động

và quản lí tại địa phương Điểm mạnh, hạn chế, cơ hội và thách thức trong công tác tổ chức và quản lí tại địa phương Trình bày một số phải pháp bền vững trong công tác tổ chức, quản lí du lịch tại địa phương.

Bài làm

1 Vị trí địa lý:

Huyện Bảo Yên là cửa ngõ phía đông của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75 km, cách Hà Nội 263 km Có diện tích tự nhiên 827,91 km2 , kéo dài từ

2205’ đến 22030’ vĩ độ bắc, từ 104015’ đến 104037’ kinh đông Độ cao trung bình của huyện từ 300 đến 400m so với mực nước biển Điểm cao nhất là 1.120m trên dãy núi Con Voi (thuộc xã Long Khánh), điểm thấp nhất là 50m, độ dốc bình quân toàn huyện từ 30 – 350

- Phía đông nam giáp huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái

- Phía đông giáp huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang

- Phía tây nam giáp huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái

- Phía bắc giáp huyện Bảo Thắng và Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

- Phía tây bắc giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai

2 Địa hình:

Địa hình Bảo Yên khá phức tạp, nằm trong hai hệ thống núi lớn là Con Voi

và Tây Côn Lĩnh chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, cao ở phía bắc, thấp dần

Trang 2

về phía nam Nằm giữa hai hệ thống núi này là hai con sông lớn, sông Hồng và sông Chảy Sông Hồng (xưa gọi là sông Nhĩ Hà) chảy qua 3 xã Cam cọn, Kim Sơn, Bảo Hà với tổng chiều dài 35 km, lưu lượng dòng chảy khá lớn Sông Chảy (còn gọi là sồng Trôi) chảy theo hướng đông bắc – tây nam, có độ dốc lớn, dòng chảy xiết, là thượng nguồn chính của thuỷ điện Thác Bà, có nhiều thác gềnh ở phía bắc Đoạn sông Chảy chảy qua 8 xã và thị trấn Phố Ràng của huyện chiều dài 50 km

3 Dân số:

Dân số huyện Bảo Yên năm 2009 là 76.274 người (Số liệu 31/12/2009), trong đó:

- Tổng số hộ: 17.060 hộ

- Số người trong độ tuổi lao động: 45.928 người chiếm 60,21%

- Mật độ dân số bình quân: 92 người/km2

Cư trú tại 17 xã và 1 thị trấn; chia thành 3 khu vực: Các xã ven sông Hồng gồm Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn; các xã ven sông Chảy gồm Điện Quan, Thượng

Hà, Minh Tân, Tân Dương, Yên Sơn, thị trấn Phố Ràng, Lương sơn, Long Phúc, Long Khánh, Việt Tiến; các xã vùng thượng huyện gồm Tân Tiến, Nghĩa Đô, Vĩnh Yên, Xuân Hoà

* Thành phần dân tộc:

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở, tính đến thời điểm 01/4/2009, toàn huyện

có 15 dân tộc cùng sinh sống; Các dân tộc sống trên địa bàn đều có một đặc trưng văn hoá riêng, song trong quá trình lao động, sản xuất và chống ngoại xâm, các dân

Trang 3

tộc trong huyện đã hình thành nên tình đoàn kết keo sơn, gắn bó, tạo ra sự thống nhất trong đặc trưng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Bảo Yên

- Dân tộc Kinh chiếm 32,56 %

- Dân tộc Tày chiếm 31,93 %

- Dân tộc Dao chiếm 22,16 %

- Dân tộc Mông chiếm 8,61 %

- Dân tộc Nùng chiếm 1,96 %

- Dân tộc Phù Lá 1,1 %

- Dân tộc Giáy chiếm 1,09 %

- Các dân tộc khác chiếm 0,69 %

4 Khí hậu:

Khí hậu Bảo Yên mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng, hình thành hai tiểu vùng khí hậu: Đông Bắc và Tây Bắc Nhiệt độ trung bình trong năm của huyện

là 21,50C Tháng nóng nhất là 39,40C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là 3,70C Lượng mưa trung bình là 1.440 mm đến 2.200 mm, tổng số giờ nắng trong năm là 1.300 -1.600 giờ Tài nguyên đất đai, khí hậu và khoáng sản trong lòng đất đã tạo điều kiện thuận lợi để Bảo Yên có thể phát triển kinh tế nông - lâm - công nghiệp toàn diện

5 Về thổ nhưỡng:

Trang 4

Do ảnh hưởng của cấu tạo địa chất nên phần lớn đất đai Bảo Yên là loại đất Pheralít màu đỏ vàng phát triển trên nền đá Gráp điệp thạch mi ca Địa hình Bảo Yên có sự chia cắt mạnh, có núi cao, khe vực sâu và thung lũng hẹp Các nhà khoa học xếp Bảo Yên vào loại vùng đồi nhỏ hơn 300 – 400m và 400 – 500m Vành đai vùng đồi nhỏ hơn 300 – 400m chiếm phần lớn diện tích thung lũng các sông suối lớn như thung lũng sông Chảy Các vành đai vùng đồi núi thấp 400 – 500m có địa hình chia cắt mạnh, núi cao, sườn dốc, khe sâu vực thẳm, thung lũng hẹp, bậc thang nhỏ đất bồi tụ, nhìn chung không lớn, diện tích hẹp, phân bố rải rác; bồn địa tương đối bằng phẳng tạo nên những cánh đồng rộng lớn ở vùng Nghĩa đô, Vĩnh Yên, Xuân Hoà, Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn

Diện tích tự nhiên của huyện rộng, song chủ yếu là rừng và đất rừng chiếm hơn 70% diện tích tự nhiên của huyện, với diện tích che phủ hiện nay là 51% (năm

2009) Hiện ở Bảo Yên còn tồn tại ba kiểu rừng chủ yếu, đó là; Rừng nguyên

sinh tập trung tại đầu nguồn và trên vành cao dãy núi Con Voi, có nhiều lâm sản

quý hiếm; Rừng giữa hiện nay đã được giao đến họ gia đình và các tập thể, việc

khai thác kết hợp với trồng mới và tu bổ đã trở thành vành đai rừng phòng

hộ; Rừng cỏ tranh, lau lách, cây bụi ở vùng thấp, hiện nay đang được phát triển các

loại cây ăn quả, cây nguyên liệu Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, rừng Bảo Yên còn có các loại chim, thú và một số loại thuốc nam quý Đất tự nhiên ở Bảo Yên có khả năng trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả

6 Đơn vị hành chính:

Huyện có 01 thị trấn và 17xã: Thị trấn Phố Ràng; xã Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn, Điện Quan, Thượng Hà, Minh Tân, Tân Dương, Yên Sơn, Lương sơn, Long Phúc, Long Khánh, Việt Tiến, Tân Tiến, Nghĩa Đô, Vĩnh Yên, Xuân Hoà

Trang 5

Trong khi du lịch Sa Pa, Bắc Hà tạm trầm lắng do nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài từ sau Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, thì huyện Bảo Yên cửa ngõ của Lào Cai -lại đón lượng khách tham quan du lịch tăng đột biến

Theo ông Giàng Seo Vần - Phó Chủ tịch UBND huyện Bảo Yên: Năm 2012 đánh dấu sự gia tăng kỷ lục của du lịch huyện Bảo Yên với sự có mặt của trên 4 vạn lượt khách, tăng gấp 3 lần 2009 - trước khi diễn ra "Năm du lịch Bảo Yên" được tổ chức cấp tỉnh tháng 6/2009 Lượng khách đến Bảo Yên, chủ yếu tham gia

lễ hội và du lịch tâm linh Đền Bảo Hà, Đền Phúc Khánh, tham quan thành cổ Nghị Lang, di tích lịnh sử đồn Phố Ràng

Mùa Xuân này, du khách đã hài lòng hơn khi dự án các công trình phụ trợ Đền Bảo

Hà trị giá hàng chục tỷ đồng được UBND huyện Bảo Yên, cùng các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ Nhiều phương án đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh trật

tự, tránh ùn tắc giao thông được chuẩn bị chu đáo, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho khách hành hương đến với khu danh thắng Đền Bảo Hà

Bảo Yên là vùng đất nên thơ nằm trải rộng giữa hai dòng sông Thị trấn huyện lỵ phố Ràng nằm giữa một bên là sông Hồng đỏ nặng phù sa, bên hữu là sông Chảy nước trong xanh Bảo Yên hiện có 5 di tích lịch sử, trong đó có 2 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia Các di tích này đều gắn với giai đoạn lịch sử phồn thịnh của quê hương, hằng năm đón hàng chục vạn du khách cả nước đến tham quan, du lịch Miền quê này còn nhiều vùng đất rất hấp dẫn khách du lịch như: khu căn cứ địa cách mạng Việt Tiến, hồ cá Phố Ràng, Thác Xa Tân Tiến là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng Dưới là dòng sông Chảy hiền hòa, thơ mộng, trên

bờ là những vườn cây ăn trái đa dạng, với cam sành Tân Tiến, Việt Tiến, khoai sọ tím Lệ Phố ngọt bùi ăn một lần nhớ mãi

Từ Đoan Hùng, ngược theo quốc lộ 70 đến Phố Ràng, rẽ theo quốc lộ 279 về hướng Tây Nam khoảng 25km là đến Đền Bảo Hà Rẽ phải theo hướng Đông Bắc chừng 25km là đến khu du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng nổi tiếng Nghĩa Đô

Trang 6

Nếu như đến Bảo Hà du khách bị "lạc" vào miền du lịch tâm linh thì tại Nghĩa Đô,

du khách sẽ đến với miền ẩm thực được thưởng thức những món ăn đặc sản mang đậm bản sắc của đồng bào Tày, tận hưởng không khí trong lành, thỏa sức ngắm nhìn những mái nhà sàn ẩn hiện trong rừng cọ và rặng tre thấp thoáng làng Việt và nông thôn vùng cao Từ sau năm 2010, nhất là từ khi tuyến quốc lộ 279 thông sang quốc lộ 2 sang huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang thì lượng khách đã tăng lên đáng

kể Theo ông Ma Đình Cư - Phó chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô, từ đầu năm đến nay, lượng khách du lịch qua địa bàn xã tăng mạnh so với cùng kỳ 2010 Hiện xã đang lập kế hoạch trình UBND huyện Bảo Yên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lào Cai nâng cấp một số di tích lịch sử thuộc địa phận Nghĩa Đô, nâng cấp cơ sở

hạ tầng đường về các thôn bản, khôi phục các guồng Cọn nước mang đậm bản sắc Tày, Thái ở con suối Nghĩa Đô cũng như mở mang các điểm dịch vụ ẩm thực, nhà nghỉ đủ tiện nghi đón khách lưu giữ dài ngày

Ông Ma Thanh Sợi - một bậc cao niên, danh nhân văn hóa nổi tiếng về lĩnh vực sưu tầm văn hóa dân gian dân tộc Tày cho rằng, muốn du lịch Bảo Yên thật sự phát triển ổn định thì chính quyền và các ngành chức năng cần làm nổi bật truyền thống văn hóa giàu bản sắc dân tộc, sớm trùng tu, tôn tạo các di tích, phát huy giá trị văn hóa truyền thống Có đường giao thông tốt rồi, việc tiếp theo là phải có văn hóa du lịch và dịch vụ Về cơ sở hạ tầng, nếu huyện Bảo Yên có thêm những nhà nghỉ ở Bảo Hà, thị trấn Phố Ràng và đường giao thông từ thị trấn Phố Ràng ra Bảo

Hà được sửa chữa, nâng cấp thì lượng khách đến tham quan du lịch sẽ tăng cao hơn nhiều

DU LỊCH; Huyện Bảo Yên có điểm du lịch tâm linh cực kỳ hấp dẫn du khách thập phương Đó là đền Bảo Hà (Đền ông Hoàng Bảy) là khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được xây dựng trên sườn đồi Cấm, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi và tĩnh mặc Phong cảnh

Trang 7

thiên nhiên nơi đây cũng thật hữu tình: trên bến, dưới thuyền, xung quanh là núi rừng bao la, rộng lớn xanh mướt một màu Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi, mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy Đền thờ “thần vệ quốc” Hoàng Bẩy, vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất đến với huyện Bảo Yên Truyền thuyết kể rằng, vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá, khắp vùng loạn lạc, cư dân điêu tàn Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn Trong một trận chiến đấu không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo

Hà thì dạt vào bờ Nhân dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông Truyền thuyết cũng kể rằng ông hoàng Bảy không chỉ là một tướng tài binh lược mà còn là một tay chơi nổi tiếng, thứ gì

ăn chơi ông đều biết cả cho nên những đồ cúng hàng mã thường có cả bàn đèn hút thuốc phiện, nhưng ngày nay cũng bị cấm vì tượng trưng cho ma tuý Ai muồn có một năm làm ăn gặp nhiều may mắn, tốt lành thì đầu năm nhất định phải đi lễ đền Ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà

7 Môi trường cư trú của người H’mông Lềnh ở Bảo Yên – Lào Cai.

Địa bàn cư trú của người H’mông ở Bảo Yên – Lào Cai chủ yếu là vùng rẻo cao hiểm trở, khô cằn, họ chọn những nơi rẻo cao hẻo lánh để cư trú với lý do: Sau những lần di chuyển thiên di, lang thang, gặp được vùng đất chưa có người cai quản và định cư tạm bợ

Trang 8

Người H’mông nói chung và người H’mông Lềnh ở Bảo Yên – Lào Cai nói riêng đều sống trong khung cảnh vùng cao heo hút trên đỉnh đồi

8 Đời sống kinh tế của người H’mông Lềnh ở Bảo Yên – Lào Cai

Đời sống kinh tế

Địa bàn cư trú của người H’mông là vùng dẻo cao hiểm trở, khó khăn, khô cạn, nương rẫy có độ dốc lớn, diện tích đất trồng trọt không nhiều Ở Bảo Yên tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 5.498.000ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 870.718ha

Cây trồng và cây lương thực chính của người H’mông là cây ngô Ngoài ra, còn có lúa và cây lương thực phụ khác như: Khoai, dong giềng, sắn, đậu tương, tam giác mạch, đậu hà lan, đậu răng ngựa, người H’mông canh tác trên 2 loại nương chính, nương luôn canh và nương quản canh Do diện tích đất hạn hẹp nên người H’mông có kỹ thuật thâm canh, xen canh khá cao

Trước kia người H’mông độc canh cây ngô là chính, còn ngày nay do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, một số địa phương đã phá thế độc canh cây ngô,

từ trồng trọt một vụ sang trồng 2 vụ trong năm, họ thường trồng và thu hoạch nhiều loại cây, đậu tương, bí ngô, dưa chuột thu trước, ngô thu sau Tận dụng đất đai ở khe núi, lèn đá, người H’mông trồng khoai, dong giềng, sắn Lương thực phụ này chủ yếu dùng trong chăn nuôi, đôi khi nó cũng trở thành lương thực chính khi giáp hạt đối với một số gia đình đông người, nghèo khó

Người H’mông ít trồng lúa nước vì họ ở vùng núi cao, hiếm nước, hiếm đất đai và do tập tục lâu đời, họ thích lám nương và ưa dùng ngô làm lương thực chính Hiện nay một số người H’mông ở vùng cao di dân xuống vùng thấp, nơi có

Trang 9

điều kiện canh tác ruông nước thuận lợi Song họ vẫn không thích trồng lúa nước bằng trông ngô Do vây, họ không có kinh nghiệm trong canh tác và năng suất lúa còn thấp, chỉ đạt 1.2 đến 1.3 tấn/ha

Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng, người H’mông còn trồng nhiều cây dược liệu khác Trông các loại dược liệu được trồng, đáng chú ý là cây thảo quả, cây đỗ trọng, cây tam thất, cây Lanh Nương lanh thường đươc người H’mông trồng ở nơi đất tốt nhất, phân tro bón đầy đủ nhất, kỹ thuật chăm sóc cũng cẩn thận, tỷ mỷ Sự quan tâm tới cây lanh, ngoài giá trị về kinh tế nó còn mang ý nghĩa biểu trưng cho cuộc sống tinh thần của tộc người

Nói đến cây trồng của người H’mông còn phải nói đến cây thuốc phiên Trước đây thuốc phiện là cây trồng mà người H’mông dựa vào đó để chống lại sự đói nghèo truyền kiếp, nhưng cũng chính cây này là vòng kim cô vô hình trói buộc giữ người H’mông trong cảnh đói nghèo triền miên Hiện nay người H’mông đã bỏ trồng cây thuốc phiện, thay vào đó là các loại cây khác như cải dầu, xuyên khung, thảo quả,

- Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu phục vụ cho gia đình, làm thức ăn và đồ cúng Do vậy, tuy có nhiều gia cầm có giá trị kinh tế cao, sinh sản và phát triển tốt nhưng nó vẫn chưa trở thành hàng hóa và nguồn lợi chính Kinh tế chăn nuôi của người H’mông là tự cung tự cấp

Vật nuôi của người H’mông gồm bò, ngựa,dê là chủ yếu Giống bò của người H’mông là giống bò to, một số ít bò đực được dùng vào việc cày kéo, còn chủ yếu là nuôi để giết thịt Ngựa của người H’mông không những dùng để cưỡi, thồ, và còn dùng để làm cảnh, họ cưỡi ngựa rất tài, dong ngựa cũng rất giỏi, những ngày chợ phiên, lễ hội thanh niên người H’mông thường tổ chức đua ngựa Tuy vậy, nhưng ngựa ở vùng H’mông cũng không nhiều, có nhà không nuôi ngựa vì

Trang 10

điều kiện kinh tế gia đình khó khăn không đủ tiền mua ngựa, hơn nữa nuôi ngựa cũng rất tốn kém vì ngoài ăn cỏ, ngựa cần có thêm thức ăn tinh bột như; ngô, đậu, gạo,

Dê là con vật nuôi rất phổ biến của các gi đình người H’mông Số lượng dê còn được nuôi nhiều hơn lơn vì dê ít bị dịch bệnh, dê cái mỗi năm đẻ 2 lứa (mỗi lứa 1 – 3 con), dê con chỉ sau 3 – 5 tháng tuổi cũng đã nặng từ 10 – 20kg Dê là loại động vật thích chạy nhảy, rất hợp với vùng núi đá cao, thức ăn của dê chủ yếu

là cây cỏ nên rất sẵn, dê có thể ăn những lá rất độc với người như lá ngón Người H’mông mổ dê để đãi khách như người Kinh mổ gà vậy

Gia cầm nuôi trong nhà người H’mông còn có gà, vịt, ngan, ngỗng Họ nuôi chủ yếu để đáp úng nhu cầu thực phẩm chứ không nhằm mục đích để bán Người H’mông có những giống gà rất to, không kém gì gà lai kinh tế như giống gà

ở bản Tổng Kim, Vĩnh Yên, Bảo Yên

Sản xuất thủ công nghiệp như dệt, da, thêu, làm đồ da, đồ gỗ, xoe giấy, trang sức bằng bạc, rèn súng kíp, nông cụ, đồ dùng bằng sắt, Tuy chỉ là những việc làm lúc rảnh rỗi nhưng cũng đã đạt đến trình độ khá cao Đặc biệt, nghề dệt vải lanh truyền thống của dân tộc H’mông hiện nay đã bắt đầu đem lại hiệu quả kinh tế khá cao cho bà con Theo ông Sùng Mý Quả, chủ nhiệm hợp tác xã dệt lanh thôn Hợp Tiến, xã Vĩnh Yên huyện Bảo Yên thì thu nhập từ làm lanh lớn nhiều lần, khoảng 10 lần so với trồng cây ngô Trong một năm nếu trồng ngô trên diện tích 400m2 có thể thu được tối đa là 70kg ngô(khoảng 150 nghìn), trong khi

đó nếu trồng lanh trên diện tích đó đem dệt vải, nếu có thị trường tiêu thụ có thể thu đựơc 1.7 đến 1.9 triệu đồng Việc phát triển nghề này là hướng đi có triển vọng nhằm tạo thêm thu nhập và việc làm cho người dân

Ngày đăng: 23/03/2021, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w