1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam thời kỳ 19862006 và rút ra bài học kinh nghiệm

36 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 156,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 29121987, đánh dấu bước ngoặt cho việc chính thức hóa dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam. Từ chủ trương đúng đắn đó, trải qua chặng đường hơn 30 năm đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài góp phần tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, sản phẩm, dịch vụ; thúc đẩy cải cách thể chế, chính sách kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế. Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Báo cáo 2017 của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI. Trong hơn thập kỷ qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế. Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương. Khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistics, giáo dục đào tạo, y tế, du lịch… Đồng thời, đây còn là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế…

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài

đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 29/12/1987, đánh dấu bướcngoặt cho việc chính thức hóa dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam Từ chủtrương đúng đắn đó, trải qua chặng đường hơn 30 năm đến nay, khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng vàđóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Việc thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài góp phần tác động thúc đẩychuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao nănglực cạnh tranh quốc gia, ngành, sản phẩm, dịch vụ; thúc đẩy cải cách thể chế,chính sách kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trườngđầy đủ, hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhậpquốc tế

Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDIthành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệuquả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Báo cáo 2017 của Tổ chức Thương mại

và phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 12 quốc gia thànhcông nhất về thu hút FDI

Trong hơn thập kỷ qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao côngnghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏanhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình

độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế Nhiều dự án lớn đã mang lại bước độtphá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương

Khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã có những đóng góp đáng kể vào pháttriển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính - ngân hàng, bảohiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch… Đồng

Trang 2

thời, đây còn là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành cáckhu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế…

Đầu tư nước ngoài cũng tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc

tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗigiá trị toàn cầu Nhờ có định hướng này, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài

đã tăng nhanh, góp phần cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải

thiện cán cân thanh toán quốc tế Vì vậy em đã chọn đề tài “Phân tích thực trạng

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam thời kỳ 1986-2006 và rút ra bài học kinh nghiệm” để nghiên cứu.

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài của Việt Nam

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là: Việt Nam thười kỳ 1986-2006

3 Bố cục bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bài tiểu luận có bố cục 03chương:

Chương I Bối cảnh lịch sử thười kỳ 1986-2006

Chương II Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam thời

kỳ 1986-2006

Chương III Bài học kinh nghiệm

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI KỲ 1986 - 2006

1 Về bối cảnh quốc tế

Từ những năm của thập kỷ 80 thế kỷ trước, thế giới chứng kiến những quátrình mới diễn ra đang làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị và xã hộinhân loại Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thờiđại; không ngoại trừ một quốc gia, dân tộc nào, nếu muốn phát triển bắt buộc phải

mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với toàn cầu hoá kinh tế, cuộccách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh

mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoa học công nghệ, pháttriển các ngành công nghệ cao, như công nghệ truyền thông và tin học, công nghệvật liệu mới, công nghệ sinh học…

Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới Chẳngnhững các lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh tế thế giới có nhiều thay đổi theohướng dựa vào tri thức và khoa học công nghệ, làm xuất hiện các ngành sản xuấtmới có hàm lượng R&D và giá trị gia tăng cao, ngành dịch vụ ngày càng có vai tròquan trọng và tỷ trọng lớn dần trong cơ cấu kinh tế quốc dân

Mặt khác, nó làm thay đổi các quan hệ kinh tế và quản lý kinh tế thế giớitheo hướng:

- Trong các nước tư bản phát triển phát triển, sau các cuộc khủng khoảng cơcấu và dầu lửa, từ đầu những năm 80, đã tiến hành chính sách điều chỉnh kinh tế.Nội dung cơ bản là điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào các ngành

có hàm lượng KHCN cao, thực hiện điều tiết nền kinh tế chủ yếu thông qua cáccông cụ vĩ mô, thực hiện tư nhân hoá khu vực kinh tế nhà nước, tăng cường vai tròcủa kinh tế tư nhân

Trang 4

- Các nước đang phát triển như Đông Á và Đông Nam Á cũng thực hiện cảicách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới Các cải cách ởđây bao gồm cải cách cơ cấu và xác định đúng chiến lược kinh tế để nâng cao sứccạnh tranh và phát triển, mở cửa hội nhập và liên kết kinh tế, khuyến khích xuấtkhẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài - coi đây là động lực phát triển kinh tế.

- Các nước xã hội chủ nghĩa cũ trước các khó khăn chồng chất đã tiến hànhcải cách kinh tế nhằm khắc phục cơ chế kế hoạch hoá hành chính chỉ huy, chuyểnđổi sang kinh tế thị trường Cải cách kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn và là tấm gương cho Việt Nam tham khảo

Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùngvới quá trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo

áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam

2 Về bối cảnh trong nước

Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoátập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xôviết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xâydựng và phát triển kinh tế, nhất là tập trung cho công nghiệp hoá, ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng Nhưng nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp vẫntăng chậm, hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng khoảng Trong khinguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu vàhàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của đế quốc

Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới

Trước những khó khăn, nhiều địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế

từ cơ sở Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương 6(khoá IV), Đảng ta đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh

tế, nhằm “cởi trói” và để cho sản xuất “bung ra” Tiếp theo, những cải tiến quản lýthử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981 với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kếhoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Có thể coi

Trang 5

những cải tiến quản lý trong các năm 1979-1985 là các tìm tòi thể nghiệm chuẩn

bị cho cải cách toàn diện (Đổi mới) nền kinh tế Song, các cải tiến cục bộ này vẫnchưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế, khủng khoảng kinh tế vẫn rấttrầm trọng Vì vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ởnước ta

Chủ trương đổi mới kinh tế, trong đó có đổi mới phát triển công nghiệp:

- Đặc trưng nổi bật trong thời kỳ này là đổi mới Đại hội VI (tháng 12/1986)của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện ở nước ta.Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc sai lầm, thiếu sót trong thời gian qua, Đạihội đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế toàn diện cho đất nước trong thời kỳ mới.Tiếp theo, các Đại hội VII (tháng 6/1991), Đại hội VIII (tháng 6/1996) và Đại hội

IX (tháng 12/2001) đã tiếp tục khẳng định và bổ sung, hoàn thiện các chủ trươngchính sách đổi mới kinh tế, có đổi mới phát triển công nghiệp và thực hiện côngnghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Có những nội dung chủ yếu sau:

- Đổi mới về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và chính sách cơ cấu: Trongnhững năm qua, do nhận thức phiến diện về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đãdẫn đến khuynh hướng ham phát triển công nghiệp nặng, ham quy mô lớn và xâydựng mới, đã gây ra mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế Để khắc phụctình trạng đó, Đại hội VI đã đề ra chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu

tư các ngành kinh tế, mà thực chất là cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế ở nước ta trongtừng giai đoạn cụ thể Trong chặng đường đầu tiên, cần tập trung thực hiện bachương trình kinh tế lớn, tạo tiền đề cho đẩy mạnh công nghiệp hoá ở giai đoạntiếp theo; đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, nhấn mạnh vai trò to lớn của côngnghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp; phát triển công nghiệp nặng một cách có chọnlọc, hợp với sức mình, nhằm phục vụ đắc lực cho ba chương trình kinh tế, không

bố trí xây dựng công nghiệp vượt quá điều kiện cũng như khả năng cho phép

Trang 6

- Đổi mới trong cải tạo và xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa, thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi nănglực sản xuất Phê phán quan điểm nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa trướcđây, Đại hội VI đã khẳng định sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều này là xuất phát từ thực trạngkinh tế - xã hội còn thấp của Việt Nam Nó cho phép có nhiều hình thức sản xuấtkinh doanh đa dạng, phù hợp về qui mô, trình độ và hình thức với từng khâu củaquá trình sản xuất và lưu thông, nhằm khai thác các tiềm năng kinh tế của xã hội.Đảng coi đây là giải pháp chiến lược để giải phóng sức sản xuất và xây dựng cơcấu kinh tế hợp lý.

- Đổi mới cơ chế quản lý công nghiệp: Cơ chế quản lý tập trung quan liêubao cấp từ nhiều năm nay đã không tạo được động lực phát triển và gây ra nhiềuhiện tượng tiêu cực trong xã hội Do đó, Đại hội VI đã chủ trương đổi mới về cơchế quản lý kinh tế và chỉ ra thực chất của cơ chế mới đó là: “cơ chế kế hoạch hoátheo phương thức hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắctập trung dân chủ”

Trên cơ sở tổng kết đánh giá những vấn đề thực tiễn trong đổi mới cơ chếquản lý kinh tế ở nước ta từ năm 1986 đến nay, trong các kỳ đại hội, Đảng ta tiếptục làm rõ nội dung và phương thức đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng

“xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thành cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đây thực chất là quá trình đổimới cả hệ thống các công cụ, chính sách quản lý kinh tế, tạo lập đồng bộ các yếu

tố quản lý và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước

Trang 7

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 1986 - 2006

1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ

Trang 8

USD) Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với nămtrước.

Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng kýhơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉbằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự

án có quy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN đượccấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhàđầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông)

Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệuphục hồi chậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% sovới năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng kýgiảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% sovới năm 2002 Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm

2006 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006,

và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủnghoảng

Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷUSD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001của Chính phủ [2], vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu Nhìnchung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau caohơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án cóquy mô vừa và nhỏ Đặc biệt trong 2 năm 2006-2006, dòng vốn ĐTNN vào nước

ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu

tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệcao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụcao cấp v.v.) Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào ViệtNam

Trang 9

2 Tình hình tăng vốn đầu tư 1986 đến 2006

Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động

có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất

là từ năm 2001 trở lại đây Tính đến hết năm 2006 có gần 4.100 lượt dự án tăngvốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tưđăng ký cấp mới

Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanhnghiệp ĐTNN còn ít Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước(4,17 tỷ USD) Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước Trong đó, lượng vốnđầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến

2006 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%.Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất côngnghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7% tronggiai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006

và 2006 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm

Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn tăngthêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8%trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt 70,3% trongthời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2006 tỷ lệ tương ứng là 72,1% và 80%.Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tếtrọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm phía Namchiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và71,5% trong giai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2006 tỷ lệ tương ứng là71% và 65% Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%; 20,4% ;21,1% ; 24% và 20%

Trang 10

Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại ViệtNam có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng vốn, mởrộng sản xuất tại Việt Nam Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhàĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.

3 Quy mô dự án

Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng tàichính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư ViệtNam Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giaiđoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997.Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu USD/dựán/năm Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USDtrong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5 năm 1996-

2000 Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong giaiđoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước Tuy nhiên, quy mô vốn đăng kýtrên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005 Điều này cho thấy

đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa

và nhỏ Trong 2 năm 2006 và 2006, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự ánđều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so vớithời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tưvào một số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio )

4 Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2006

- ĐTNN phân theo ngành nghề:

- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:

Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọngthu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng Qua mỗi giai đoạn các lĩnhvực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục cáclĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Trong những năm 90 thựchiện chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến

Trang 11

khích các dự án : sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuấtkhẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), sử dụng nguồn nguyên liệu trongnước và có tỷ lệ nội địa hoá cao.

Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam đãbãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầubắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước Qua cácthời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thayđổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khíchsản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chếtạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đây cũngchính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế sosánh khi thu hút ĐTNN Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnhvực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao,sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vaitrò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm

và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp Cơ cấu đầu tư cóchuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệcao, lọc dầu và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốcgia nổi tiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v Hầu hết các dự ánĐTNN này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% chosản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giátrị của toàn ngành

Tính đến hết năm 2006, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớnnhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8%

về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện

- ĐTNN trong lĩnh vực dịch vụ:

Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987)

Trang 12

Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăngtrưởng kinh tế Một số ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng,bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản) tăngtrưởng nhanh, thu hút nhiều lao động và thúc đẩy xuất khẩu Cùng với việc thựchiện lộ trình cam kết thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnhthu hút ĐTNN, phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuấtkhẩu.

Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất độngsản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh

hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%)

lịch-Trong năm 2006 tuy vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực côngnghiệp (50,6%), nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vựcdịch vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006(31,19%) với nhiều dự án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựngkhu vui chơi, giải trí.v.v

- ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp:

Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp đãđược chú trọng ngày từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987 Tuy nhiên đến nay donhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này,nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưa được như mongmuốn

Đến hết năm 2006, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệulực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện, (giảm từ7,4% so với năm 2006) Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm

Trang 13

chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự ánhoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau.Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốnđăng ký của ngành Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm12,7% Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án Có 130

dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là 450 triệu USD,

Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngànhnông-lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản,Trung Quốc, Hồng Kông, ) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp(riêng Đài Loan là 28%) Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhấtgồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%) Một số nước có ngànhnông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu

tư vào ngành nông nghiệp nước ta

Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phíaNam Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằngsông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15% Miền Bắc và khu vực miềnTrung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượngvốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước

- ĐTNN phân theo vùng, lãnh thổ :

Qua 20 thu hút (từ 1986), ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địaphương “trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợithế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng nàythực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và cácvùng phụ cận

Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24

tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốnthực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự án với tổng vốn đăng ký12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thực hiện cả vùng Tiếp theo

Trang 14

thứ tự là Hải Phòng (268 dự án với tổng vốn đăng ký 2,6 tỷ USD), Vĩnh Phúc (140

dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Hải Dương (271 dự án với tổng vốnđăng ký 1,7 tỷ USD), Hà Tây (74 dự án với tổng vốn đăng ký 1,5 tỷ USD), BắcNinh (106 dự án với tổng vốn đăng ký 0,93 tỷ USD) và Quảng Ninh (94 dự ánvới tổng vốn đăng ký 0,77 tỷ USD)

Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu tư 44,87 tỷUSD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước(2.398 dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9% tổng vốn đăng kýcủa Vùng Tiếp theo thứ tự là Đồng Nai (918 dự án với tổng vốn đăng ký 11,6 tỷUSD) chiếm 25,9% vốn đăng ký của Vùng, Bình Dương (1.570 dự án với tổngvốn đăng ký 8,4 tỷ USD) chiếm 18,8% vốn đăng ký của Vùng; Bà Rịa-Vũng Tàu(159 dự án với tổng vốn đăng ký 6,1 tỷ USD) chiếm 13,6% vốn đăng ký củaVùng; Long An (188 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD) chiếm 4,1% vốnđăng ký của Vùng Điều này, minh chứng cho việc triển khai thực hiện Nghị quyết09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ và Chỉ thị 19/2001/CT-TTg ngày28/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quảĐTNN thời kỳ 2001-2005

Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký8,6 tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cảnước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD) hiện đứngđầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có vốnđăng ký 1,7 tỷ USD Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷUSD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến

bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trungtâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tìnhtrạng “cháy” buồng, phòng cho khách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dướimức nhu cầu và tiềm năng của vùng Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốnĐTNN còn khiêm tốn như vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng

Trang 15

(93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực TâyNguyên nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 1% về số dự án Đồng bằng sông Cửu Long thuhút vốn ĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4%

về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước

Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiệnđịa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tạicác địa bàn này còn rất thấp

- ĐTNN phân theo hình thức đầu tư:

Tính đến hết năm 2006, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theohình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 51,2

tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký Theo hình thứcliên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD, chiếm 18,8% về số

dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh

có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5%tổng vốn đăng ký Số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO Cóthể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hình thức 100% vốn nước ngoài tính đếnhết năm 2004 là 39,9%, theo hình thức liên doanh là 40,6% và theo hình thứuchợp doanh là 19,5% để thấy được hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhàđầu tư lựa chọn hơn

- ĐTNN phân theo đối tác đầu tư:

Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đa dạnghóa quan hệ hợp tác Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực và thếgiới ” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật ĐTNN, qua 20 năm đã có 81 quốcgia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ đô la

Mỹ Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, trong đó khối ASEAN chiếm 19%tổng vốn đăng ký Các nước châu Âu chiếm 24%, trong đó EU chiếm 10% Cácnước Châu Mỹ chiếm 5%, riêng Hoa Kỳ chiếm 3,6% Tuy nhiên, nếu tính cả sốvốn đầu tư từ các chi nhánh tại nước thứ 3 của các nhà đầu tư Hoa Kỳ thì vốn đầu

Trang 16

tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ đạt con số trên 3 tỷ USD, đứng vị trí thứ 5 trongtổng số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, ví dụ Tập đoàn Intelkhông đầu tư thẳng từ Mỹ vào Việt Nam mà thông qua chi nhánh tại Hồng Kông.Hai nước châu Úc (New Zealand và Australia) chỉ chiếm 1% tổng vốn đăng ký Hiện đã có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vốn đăng ký cam kết trên 1 tỷUSD tại Việt Nam Đứng đầu là Hàn Quốc vốn đăng ký 13,5 tỷ USD, thứ 2 làSingapore 10,7 tỷ USD, thứ 3 là Đài loan 10,5 tỷ USD (đồng thời cũng đứng thứ 3trong giải ngân vốn đạt 3,07 tỷ USD), thứ 4 là Nhật Bản 9,03 tỷ USD Nhưng nếutính về vốn thực hiện thì Nhật Bản đứng đầu với vốn giải ngân đạt gần 5 tỷ USD,tiếp theo là Singapore đứng thứ 2 đạt 3,8 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ 4 với vốngiải ngân đạt 2,7 tỷ USD.

Trong nhưng năm đầu 90 thực hiện Luật Đầu tư, chủ yếu là dự án quy mônhỏ và từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, như Hồng Kông, Hàn Quốc

và Đài Loan Cho tới hết năm 2006, vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn từ các nướcchâu Á mặc dù Đảng và Chính phủ đã có Nghị quyết 09 đã đề ra ba định hướngthu hút ĐTNN

Tình hình phát triển các KCN, KCX, KCNC, KKT (gọi chung là KCN)

Cả nước hiện có 154 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần33.000 ha, phân bổ trên 55 địa phương, 10 Khu kinh tế (KKT) được thành lập vớitổng diện tích đất tự nhiên xấp xỉ 550.000 ha và 2 KCNC (Hoà Lạc và tp Hồ ChíMinh) Trong hơn 16 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX và hơn 3 năm thànhlập KKT cho thấy khu vực này có đóng góp ngày càng quan trọng trong việc thuhút vốn ĐTNN, đến cuối năm 2006 đã thu hút gần 2.700 dự án ĐTNN còn hiệulực với tổng vốn đăng ký khoảng 31 tỷ USD, chiếm 34% về số dự án và 37% tổngvốn đăng ký của cả nước Các dự án đầu tư công nghiệp đang có xu hướng tăngnhanh tại các KCN-KCX Các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài trong KCN,KCX đa dạng về hình thức đầu tư

Trang 17

II Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án ĐTNN

1 Vốn giải ngân ĐTNN từ 1988 đến 2006

Trong số 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ đô la Mỹ,

đã có khoảng 50% dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD (baogồm cả vốn thực hiện của các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thờihạn), chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký, trong đó, vốn của bên nước ngoài đưa vào(gồm vốn góp và vốn vay) khoảng 37,9 tỷ USD, chiếm 89,5% tổng vốn thực hiện,các dự án ĐTNN đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế-

xã hội đất nước qua từng thời kỳ theo mục tiêu kế hoạch đề ra

Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trongkhi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh Nếu như cả giaiđoạn 1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng kýmới ( bao gồm phần vốn góp của Bên Việt Nam trên 1 tỷ USD - chủ yếu là giá trịquyền sử dụng đất và vốn nước ngoài đưa vào khoảng 6,1 tỷ USD) thì trong thời

kỳ 1996-2000, mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực,vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8%tổng vốn đăng ký mới (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ USD và vốn

từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD) và tăng 90% so với 5 năm trước Trong 5 năm

2001-2005 vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng6% so với 5 năm trước và vượt 30% dự báo ban đầu (11 tỷ USD) nêu tại Nghịquyết 09/2001/NQ-CP, trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt trên 1,1 tỷ USD

và vốn từ nước ngoài đạt 12,6 tỷ USD Riêng hai năm 2006 và 2006 tổng vốn thựchiện đạt 8,7 tỷ USD (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt gần 1 tỷ USD vàvốn từ nước ngoài đạt 7,7 tỷ USD), tuy chỉ bằng 27% tổng vốn đăng ký mới,nhưng vốn thực hiện năm 2006 tăng 12% so với năm 2006, và sẽ là tiền đề choviệc giải ngân của 2 năm tới 2008 và 2009 tăng cao vì trong các dự án cấp mớitrong 2 năm 2006 và 2006 có nhiều dự án quy mô vốn đăng ký lớn

Trang 18

2 Triển khai hoạt động sản xuất-kinh doanh của dự án ĐTNN

Trong 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể trongquá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thuđáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực vào ngân sách

và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động Đồng thời, tiếp tục khẳngđịnh vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổngsản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thànhquan trọng của nền kinh tế Từ mức đóng góp trung bình 6,3% của GDP trong giaiđoạn 1991-1995, khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 10,3% GDP của 5 năm1996-2000 Trong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6% Riêngnăm 2005, khu vực ĐTNN đóng góp khoảng 15,5% GDP, cao hơn mục tiêu đề ratại Nghị quyết 09 (15%) Trong hai năm 2006 và 2006 khu vực kinh tế có vốnĐTNN đóng góp trên 17% GDP

Nếu trong giai đoạn 1991-1995 tổng giá trị doanh thu mới đạt 4,1 tỷ USD(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 30% tổngdoanh thu) thì trong thời kỳ 1996-2000 tổng giá trị doanh thu đã đạt 27,09 tỷ USD(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 10,59 tỷ USD, chiếm 39% tổngdoanh thu), tăng gấp 6,5 lần so với 5 năm trước Trong giai đoạn 2001-2005 tổnggiá trị doanh thu đạt 77,4 tỷ USD (trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thôđạt 34,6 tỷ USD, chiếm 44,7% tổng doanh thu), tăng gấp 2,8 lần so với 5 năm1996-2000 Trong hai năm 2006, 2006 tổng giá trị doanh thu đạt 69 tỷ USD, trong

đó giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỷ USD, chiếm 41% tổng doanh thu.Không kể dầu thô, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN cũng gia tăngnhanh chóng Cả thời kỳ 1991-1995 tổng giá trị xuất khẩu mới đạt 1,2 tỷ USD,nhưng đã tăng lên 10,5 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2000, gấp hơn 8 lần so với 5năm trước Trong 5 năm 2001-2005, giá trị trên đạt hơn 34,6 tỷ USD, cao gấp 3lần so với thời kỳ 5 năm trước, trong đó năm sau tăng hơn năm trước, năm 2002tăng 25%, năm 2003 tăng 38%, năm 2004 tăng 39%, năm 2005 đạt 11,2 tỷ USD,

Ngày đăng: 23/03/2021, 09:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w