Vì vậy, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, chất lượng công trình, tiến độ xây dựng công trình, an toàn
Trang 1NGUYỄN TRỌNG ĐÔ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2011
Trang 2NGUYỄN TRỌNG ĐÔ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Mã số: 60 - 31 - 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN PHÚ
Hà Nội – 2011
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ sau ngày giải phóng, để tạo dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội thì nước ta đã tiến hành đầu tư xây dựng một cách mạnh
mẽ Thời kỳ đầu, do nguồn vốn eo hẹp, trình độ khoa học - kỹ thuật còn yếu nên các công trình chủ yếu là do Liên Xô và các nước Đông Âu giúp đỡ xây dựng Bởi vậy, công tác quản lý đầu tư xây dựng trong thời gian đó chưa được quan tâm đúng mức Sau này, khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh
tế đất nước đã có những bước phát triển đáng kể cùng với đó là nguồn vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng ngày một tăng Vì vậy, công tác quản lý dự
án đầu tư xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, chất lượng công trình, tiến độ xây dựng công trình, an toàn lao động, bảo vệ môi trường, v.v…
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu trong xây dựng cơ bản là vốn ngân sách và vốn ODA Vốn ODA thường đầu tư vào công trình quan trọng, có quy mô lớn, Còn nguồn vốn Ngân sách thường đầu tư vào các công trình có quy mô trung bình và nhỏ nhưng số lượng công trình nhiều Vì các công trình thuộc nguồn Ngân sách thường do nhiều cấp ở địa phương quản lý nên việc quản lý đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn này rất phức tạp
Là một tỉnh có vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa,
Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm kinh tế của khu vực Bắc Miền Trung Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XVII, khóa 2010-1015, đã nêu rõ
ưu tiên và chú trọng đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông, công nghiệp, du lịch góp phần tạo đà phát triển cho các ngành kinh tế khác Vốn ngân sách giành cho chi đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm gần đây tăng nhanh, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực, một số công trình trọng điểm như: Dự án cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp
Trang 5Vũng Áng, Khu Kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, Khu khai thác mỏ sắt Thạch Khê, Hồ chứa nước Ngàn Trươi - Cẩm Trang, Khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp biển Thiên Cầm và nhiều dự án giao thông, thuỷ lợi các cũng đã và đang xây dựng
Việc đầu tư xây dựng các dự án góp phần tạo nên sự thành công của tỉnh, sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã làm cho Hà Tĩnh có những bước chuyển mình đáng khích lệ Tuy nhiên bên cạnh những kết quả
mà các dự án đầu tư mang lại trong những năm qua còn tồn tại nhiều tồn tại
và bất cập cần phải khắc phục như: hiệu quả và chất lượng đầu tư một số lĩnh vực chưa cao, cơ cấu chuyển dịch kinh tế còn chậm, năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, chưa tương xứng với lợi thế tiềm năng vốn có của tỉnh Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh còn tồn tại nhiều bất cập, trong đó nổi lên một số vấn đề như: hệ thống văn bản chồng chéo, chưa rõ ràng; trình độ cán bộ quản
lý đầu tư còn hạn chế, chuyên môn không phù hợp; hệ thống cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư xây dựng chưa thực sự hợp lý; nguồn vốn phân bổ chưa đều; còn quá nhiều thủ tục phải thực hiện; năng lực của các nhà thầu còn hạn chế…Vì vậy, cần hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng để đáp ứng lượng công trình xây dựng ngày càng nhiều và quy mô các công trình ngày càng lớn
Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư xây dựng các công trình sử dụng nguồn vốn Ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 62 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư xây dựng, vai trò của các đơn vị trong quá trình thực hiện đầu tư và sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
- Trên cơ sở nghiên cứu những mặt hạn chế, các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng; hệ thống các văn bản, chế độ, chính sách hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng của Nhà nước và tình hình triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong những năm vừa qua Đề tài áp dụng Phương pháp hệ thống hóa , phương pháp thống kê, phân tích so sánh để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu các quá trình thực hiện một dự án đầu tư XDCB nói chung
và các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong những năm qua Việc phân tích những khó khăn, bất cập vướng mắc trong quá trình thực hiện ở địa phương để đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả đầu tư Số liệu dùng trong nghiên cứu của các năm từ 2010 trở về trước
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Trên cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngấn sách trên địa bàn tỉnh, đánh giá những kết quả đạt được và tồn tại hạn chế trong quá trình thực hiện các dự án Đề tài tập trung
nghiên cứu đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 76 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý đầu tư xây dựng
Chương 2: Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng ở tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu
tư xây dựng sử dụng vốn Ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Chương 4: Đánh giá hiệu quả một số giải pháp trong quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình thủy lợi hồ chứa Xuân Hoa - Hà Tĩnh
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Một số vấn đề về đầu tư xây dựng
1.1.1 Khái niệm chung về đầu tư:
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình
ở hiện tại để hình thành tài sản nhằm mục đích thu lại lợi ích trong tương lai
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
1.1.2 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo đà phát triển cho Đất nước
1 Khái niệm
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản
2 Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB của Ngân sách nhà nước:
- Một phần tích lũy trong nước từ thuế, phí, lệ phí;
- Vốn viện trợ theo dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ;
Trang 9- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam;
- Vốn thu hồi nợ của Ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước;
- Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu do Kho bạc nhà nước phát hành theo quyết định của Chính phủ;
- Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ;
- Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
3 Phạm vi sử dụng vốn Ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn của Ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc đối tượng sử dụng vốn Ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Cụ thể vốn Ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các đối tượng sau:
- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không
có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi Ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng chính phủ cho phép
- Các doanh nghiệp nhà nước được sử dụng vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại để đầu tư (đầu tư mở rộng, trang bị lại kỹ thuật)
Chi đầu tư XDCB của NSNN đó là những khoản chi lớn của Nhà nước đầu tư vào việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và nó được thực hiện bằng chế độ cấp phát không hoàn trả từ Ngân sách nhà nước
Trang 101.2 Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản đối với phát triển KT-XH
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư nên cũng có vai trò chung của hoạt động đầu tư đó là tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước
Ngoài ra, với tính chất đặc thù của mình, đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất Đó là:
- Đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất
kỹ thuật và phương thức sản xuất
Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm, yếu tố nhân lực, vốn
và điều kiện về địa điểm, … lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị; nhà xưởng Đầu tư xây dựng cơ bản đã giải quyết vấn đề này
- Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng
Khi đầu tư xây dựng cơ bản được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích lũy đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội
Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng: là một khâu quan trọng trong quá trình đầu tư phát triển, nóa có quyế định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của Nhà nước Cụ thể như sau:
Trang 111.2 1 Đầu tư xây dựng cơ bản ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
Chính sách đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đến
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Do vậy các ngành, các địa phương trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tư dài hạn để phát triển ngành, vùng đảm bảo sự phát triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế hoạch ngắn và trung hạn nhằm phát triển từng bước và điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu đặt ra
1.2.2 Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản làm cho tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân không ngừng được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi, các công trình công cộng khác, nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các đơn vị kinh tế không ngừng được nâng cao
1.2.3 Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước
Để phát triển khoa học công nghệ thì có thể tự nghiên cứu phát minh ra công nghê, hoặc bằng việc chuyển giao công nghệ, muốn làm được điều này, chúng ta phải có một khối lượng vốn đầu tư mới có thể phát triển khoa học công nghệ Với xu hướng quốc tế hóa đời sống như hiện nay, chúng ta nên tranh thủ hợp tác phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước thông qua nhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu, khuyến khích đầu tư chuyển giao công nghệ Đồng thời tăng cường khả năng sáng tạo trong việc cải thiện công nghệ hiện có phù hợp với điều kiện của Đất nước
ăn việc làm cho người lao động
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư do ảnh hưởng của tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư
Trang 12dù là tăng hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự
ổn định của nền kinh tế, thí dụ như khi đầu tư tăng làm cho các yếu tố liên quan tăng, tăng sản xuất của các ngành sẽ thu hut thêm lao động, nâng cao đời sống cho người lao động Mặt khác, đầu tư tăng đẩy cầu của của yếu tố đầu vào tăng, khi tăng đến một chừng mực nhất định sẽ gây ra tình trạng lạm phát, nếu lạm phát mà lớn sẽ gây ra tình trạng trì trệ, thu nhập của người lao động thấp đi, thâm hụt ngân sách tăng, kinh tế phát triển chậm lại Do vậy khi điều hành nền kinh tế Nhà nước phải đưa ra những chính sách để khắc phục những nhược điểm trên
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động Như chúng ta đã biết, trong khâu thực hiện đầu tư, số lao động phục vụ cần rất nhiều, đối với những dự án sản xuất kinh doanh, sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành sẽ tạo rất nhiều việc làm và cùng với đó trình độ tay nghề của lao động ngày càng được nâng cao
1.3.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc
bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm
1.3.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng:
1 Dự án đầu tư xây dựng có tính thay đổi
Công việc của dự án và những thay đổi của nó có xu hướng là quá trình
“một lần” duy nhất, không được xác định rõ ràng và bất thường
2 Dự án đầu tư xây dựng có mục tiêu và mục đích hỗn hợp
Các thành phần tham gia vào dự án đều có mục tiêu của riêng mình và các mục tiêu đó có thể mâu thuẫn nhau Ví dụ như: Mục tiêu của chủ đầu tư là
Trang 13công trình có chất lượng, chi phí thấp, thời gian thực hiện ngắn; mục tiêu của đơn vị thi công là lợi nhuận và thương hiệu v.v…
3 Dự án đầu tư xây dựng có tính duy nhất
Mỗi dự án có đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi
4 Dự án đầu tư xây dựng bị hạn chế về thời gian và quy mô
Với mục đích đảm bảo hiệu quả đầu tư, tránh ứ đọng vốn và chủ động trong việc sử dụng vốn thì mỗi dự án khi được phê duyệt đều được khống chế thời gian và quy mô thực hiện
5 Dự án liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau
Việc quản lý nguồn lực của một dự án (trong trạng thái biến động) rất phức tạp vì mỗi dự án có nhiều nguồn lực khác nhau và bản thân các nguồn lực cũng có sự đa dạng trong đó
- Theo quy mô, tính chất gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm
A, dự án nhóm B, dự án nhóm C
- Theo nguồn vốn đầu tư:
+ Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước;
+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Trang 141.3.4 Quản lý dự án đầu tư xây dựng
1 Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quản lý dự án đầu tư xây dựng là lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nhằm đảm bảo sự hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và các yêu cầu kỹ thuật đã được xác định trước cũng như cách thức và chất lượng thực hiện
2 Hiệu quả đầu tư theo quan điểm quản lý dự án
Theo quan điểm quản lý dự án đầu tư, hiệu quả của một dự án đầu tư được đánh giá là:
- Hoàn thành đúng thời gian quy định: Dự án triển khai thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch đã định sẽ phát huy được hiệu quả vốn đầu tư, đạt được mục tiêu dự án đã đề ra
- Đạt được chất lượng và thành quả mong muốn: Một dự án được quản
lý tốt từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư thì sản phẩm của dự án
sẽ đảm bảo chất lượng, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng và của người hưởng lợi
- Tiết kiệm các nguồn lực, hay nói cách khác là chi phí trong phạm vi cho phép: Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và thời gian hoàn thành, hiệu quả của dự án phải được đánh giá trên cơ sở chi phí để thực hiện và hoàn thành dự án
3 Quy định trách nhiệm trong quản lý dự án
- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng
- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu
Trang 15tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý
dự án
- Đối với các dự án sử dụng vốn khác chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án
Để quá trình thực hiện các dự án sử dụng vốn Ngân sách đạt được hiệu quả cao thì Chính phủ đã quy định quy trình thực hiện dự án trong đó đảm bảo sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước Theo quy định, quy trình thực hiện dự án gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
- Giai đoạn thực hiện đầu tư
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng
1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi nghiên cứu sự cần thiết đầu tư cho đến khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
- Tiến hành tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc nước ngoài để tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng
có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn các hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
Trang 16khai thác sử dụng, đây cũng là giai đoạn quyết định sự thành công hay thất bại của công cuộc đầu tư trong tương lai
2 Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định đầu tư, công trình được ghi vào trong kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư cho đến khi xây dựng xong toàn bộ công trình Nội dung cụ thể của giai đoạn này:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
sự tuân thủ các tiêu chuẩn, quy phạm trong thiết kế kiến trúc, công nghệ, kết cấu…
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
- Xin giấy phép xây dựng Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo sửa chữa, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây dựng;
- Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án;
- Thi công xây lắp công trình;
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng;
- Thanh toán vốn đầu tư theo từng giai đoạn xây dựng Sau khi thực hiện nghiệm thu giai đoạn giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công nếu có nguồn vốn thì chủ đầu tư thực hiện thanh toán cho nhà thầu giá trị khối lượng đã nghiệm thu
Trang 173 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Giai đoạn này được bắt đầu khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận hành đạt thông số đề ra trong dự án đến khi kết thúc dự án Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng;
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;
- Bảo hành công trình;
- Quyết toán vốn đầu tư;
- Phê duyệt quyết toán;
Kết luận chương 1
Một Đất nước muốn có được sự phát triển nhanh và bền vững thì cần phải có cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại Chính vì vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động cần thiết đối với những quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
Với vai trò quan trọng của mình như: tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế, tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ, tạo việc làm cho người lao động nên nguồn lực đầu tư vào xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư và tăng lên hàng năm
Cùng với các nguồn lực đầu tư vào xây dựng cơ bản lớn thì nhiệm vụ quản lý các dự án đầu tư xây có vai trò quan trọng làm tăng hiệu quả đầu tư Với các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng như: luôn biến động, đa mục tiêu, có tính duy nhất, hạn chế về thời gian, quy mô và liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau nên việc quản lý khá khó khăn
Với mục đích quản lý một cách có hiệu quả nhất các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách thì một quy trình thực hiện chặt chẽ đã được các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra Quy trình thực hiện bao gồm: Các nội dung
Trang 18chủ yếu của quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước gồm: Công tác xây dựng kế hoạch vốn đầu tư; công tác lập và quản lý quy hoạch; công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thẩm định thiết kế - dự toán; quản lý công tác đấu thầu; công tác triển khai thi công, nghiệm thu và thanh quyết toán
Trang 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở TỈNH
HÀ TĨNH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh
0
P05'50'' đến 106P
o
P30'20'' kinh độ Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Hà Tĩnh có Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 262 xã, phường, thị trấn (235 xã, 15 phường, 12 thị trấn) 7 huyện, thị dọc Quốc lộ 1A;
3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào, Thái Lan
Diện tích đất tự nhiên 6.019 kmP
2
P, dân số 1.289.058 người (năm 2005), có
127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc
- Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan
Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội
Trang 20Hình 2-1 : Bản đồ tỉnh Hà Tĩnh
Trang 21Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường
C Tuy nhiên nhiệt
độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất
Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở Bắc miền Trung Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm
3 Sông, hồ, biển và bờ biển
Sông ngòi nhiều nhưng ngắn Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có
37 km
Sông ngòi Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống:
- Hệ thống sông Ngàn Sâu: có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi
- Hệ thống sông Ngàn Phố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước
từ Hương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội
- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu
Trang 22Các hồ đập chứa trên 600 triệu mP
3
Pnước, cùng với hệ thống Trạm bơm Linh Cảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố thì lượng nước phục vụ cho sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc nên vùng biển này có đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (có 193 loài tảo) và lượng phù sa của vùng sông Hồng, sông Cả, sông Mã tạo ra nhiều nguồn thức ăn cho các loại hải sản sinh sống, cư trú Trữ lượng cá 8 - 9 vạn tấn/năm; tôm, mực, moi 7 -
8 ngàn tấn/năm nhưng mới khai thác được 20 - 30%
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội:
1 Về kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 9,6%, trong đó, công nghiệp xây dựng tăng 18%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 1,50%, dịch vụ tăng 10,30% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp - xây dựng từ 25,56% (năm 2005) lên 32,4% (năm 2010); nông - lâm - ngư nghiệp
từ 43,15% (năm 2005) giảm xuống còn 35%; thương mại - dịch vụ tăng từ
31,29% (năm 2005) lên 32,6%
b Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng trưởng nhanh; môi trường đầu tư được cải thiện, thu hút nhiều nhà đầu tư lớn; nhiều doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động
- Khu vực công nghiệp có bước chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh
tế cũng như cơ cấu sản xuất nội ngành; giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 18,7% Cơ cấu và chất lượng sản phẩm được nâng lên; tỷ trọng công nghiệp khai khoáng từ 24,4% (năm 2005) giảm xuống còn 19,5%, công nghiệp chế biến và phân phối điện, nước tăng từ 75,6% lên 78,3%
Trang 23- Hoạt động xúc tiến đầu tư được chú trọng và đạt kết quả cao, đến nay
đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 193 dự án với tổng vốn đăng ký gần 320 nghìn tỷ đồng, trong đó, một số dự án có quy mô lớn, như: Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh có tổng mức đầu tư 7,87
tỷ USD; Dự án Khai thác mỏ sắt Thạch Khê có tổng mức đầu tư 2.400 tỷ đồng; dự án Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I có tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD
c Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được mùa toàn diện, đời sống nhân dân vùng nông thôn được cải thiện và ổn định
- Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục phát triển ổn định; giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 5,64%, trong đó, nông nghiệp tăng 6,15%, lâm nghiệp tăng 2,75%, ngư nghiệp tăng 4,19%; sản lượng lương thực bình quân đạt 48 vạn tấn/năm, năm 2009 đạt 50,3 vạn tấn, giá trị sản xuất đạt 39 triệu đồng/ha/năm, tăng 1,7 lần so với năm 2005
- Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực; một số tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giống, biện pháp thâm canh mới đã được ứng dụng, góp phần tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm
- Sản xuất thuỷ sản tiếp tục phát triển cả khai thác, nuôi trồng, chế biến
và xuất khẩu
- Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được tăng cường; nhiều làng nghề
và hợp tác xã đã có sự đổi mới tích cực về trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm Công tác chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2 gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được tập trung chỉ đạo tích cực và sâu rộng; đến nay, có 4 địa phương đã cơ bản hoàn thành (Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh) và phấn đấu năm
2010 hoàn thành trên địa bàn toàn tỉnh
Trang 24- Việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả Đến nay, toàn tỉnh đã có 1982 máy nông nghiệp các loại
- Công tác đào tạo nghề, phát triển ngành, nghề truyền thống, nghề mới, chuyển đổi nghề cho nông dân được triển khai tích cực; cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch theo hướng chuyển lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực dịch vụ, chế biến, xây dựng và xuất khẩu lao động
d Các công trình, dự án trọng điểm được triển khai tích cực
- Dự án Khai thác mỏ sắt Thạch Khê: đã thành lập Công ty Cổ phần Sắt
Thạch Khê, tổ chức khai thác mỏ và hiện đang triển khai xây dựng Dự án Nhà máy luyện thép công suất 4 triệu tấn/năm tại Khu kinh tế Vũng Áng Công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ khai thác mỏ
đang được triển khai tích cực
- Khu kinh tế Vũng Áng đến nay đã cấp chứng nhận đầu tư cho 84 dự
án với số vốn gần 180.000 tỷ đồng, trong đó có 20 dự án đã đi vào hoạt động,
09 dự án đang triển khai xây dựng Một số dự án lớn đang được đẩy nhanh tiến độ, như: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I, Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh, Dự án phát triển Khu du lịch Hồ Tàu Voi,
Tổng kho xăng dầu, khí hoá lỏng Nhiều dự án có quy mô lớn đang triển khai các bước để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, như: Nhà máy Lọc hoá dầu công suất 16 triệu tấn/năm, tổng mức đầu tư gần 12,47 tỷ USD; Dự án Nhà máy thép của Công ty cổ phần Sắt Thạch Khê (công suất 4 triệu tấn/năm) một số công trình kết cấu hạ tầng quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng Công tác tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ các công trình, dự án đang được triển khai tích cực
- Dự án Trung tâm Điện lực Vũng Áng đang được đẩy nhanh tiến độ; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I, công suất 1.200MW, tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD
Trang 25- Dự án Khu Liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh, với tổng mức đầu tư giai đoạn I là 7,87 tỷ USD, gồm 2 hạng mục chính: xây dựng Khu liên hợp gang thép quy mô 15 triệu tấn/năm (giai đoạn I: 7,5 triệu tấn/năm) và cảng Sơn Dương gồm 08 cầu cảng, 35 bến với 4,2km đê chắn sóng, đón tàu 30 - 35 vạn tấn cập cảng, công suất bốc dỡ hàng hoá 27-30 triệu tấn/năm
- Dự án Hệ thống thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang: dung tích hồ chứa
785 triệu mP
3
Pnước, tổng mức đầu tư gần 6.000 tỷ đồng, với mục tiêu cấp nước
phục vụ khai thác mỏ sắt Thạch Khê, nước tưới cho 32.585 ha đất nông nghiệp tại các huyện phía Bắc tỉnh và 5.991 ha nuôi trồng thủy sản, cấp nước cho các ngành công nghiệp khác và dân sinh, phát triển du lịch, kết hợp phát điện với công suất 15MW và góp phần giảm lũ cho vùng hạ du
- Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo có tổng diện tích 56.685 ha, là khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực Đến nay, đã hoàn thành phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung, công bố các quy hoạch khu vực cổng B, Khu công nghiệp - dịch vụ Đại Kim, Khu tái định cư Hà Tân, Khu đô thị tổng hợp
Đá Mồng, đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, các khu tái định cư ; đã có 04 công ty đầu tư vào Khu kinh tế
và 85 doanh nghiệp được cấp giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh
e Hoạt động tài chính - ngân sách, thương mại - dịch vụ
- Thu ngân sách nội địa năm 2010 đạt 1.200 tỷ đồng, tăng hơn 2,5 lần
so với năm 2005 và bình quân hằng năm tăng 21% Cơ cấu nguồn thu đã có
sự chuyển biến tích cực, tỷ trọng thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tăng khá (từ 25,7% năm 2005 lên 43,8% vào năm 2010) Thu thuế xuất, nhập khẩu năm 2010 ước đạt 120 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2005
Trang 26- Chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhu cầu chi theo kế hoạch, đảm bảo thực
hiện các chính sách an sinh xã hội, thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí
- Hoạt động ngân hàng cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển và sản xuất, kinh doanh; triển khai tích cực và đạt kết quả khá các gói hỗ trợ của Chính phủ, góp phần cùng các doanh nghiệp khôi phục sản xuất, ngăn chặn suy giảm kinh tế Tổng nguồn vốn các ngân hàng thương mại huy động
và quản lý năm 2010 đạt 10.000 tỷ đồng, tăng bình quân hằng năm 30,3%; Tổng dư nợ cho vay đạt 14.000 tỷ đồng, vượt 2,15 lần kế hoạch; tỷ lệ nợ xấu dưới 2%
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của các ngành dịch vụ đạt 10,3%, đóng góp trên 30% tăng trưởng GDP Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân hằng năm tăng trên 30% Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 55 triệu USD Lượng khách du lịch tăng hằng năm trên 21%
- Hoạt động kinh tế đối ngoại đã góp phần huy động các nguồn vốn cho đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và xoá đói, giảm nghèo Trong 5 năm
đã huy động được 2.500 tỷ đồng từ nguồn ODA và 340 tỷ đồng từ nguồn NGO
f Huy động các nguồn vốn đầu tư
- Nguồn vốn đầu tư trên địa bàn có bước tăng trưởng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, tạo sự chuyển biến rõ nét trong phát triển đô thị, đầu tư các công trình trọng điểm, xây dựng các khu kinh tế và khu công nghiệp trong tỉnh
- Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn trong 5 năm đạt 19.700 tỷ đồng, riêng năm 2010 đạt trên 6.000 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với năm 2005) Cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ ngân sách hằng năm giảm dần, từ 70,25% (năm 2005) xuống còn 44% (năm 2010); nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp
Trang 27và dân cư tăng, chiếm 34% tổng vốn đầu tư xã hội trong năm 2010 Công tác
xã hội hoá đầu tư được triển khai tích cực Thu hút nguồn vốn ODA đạt kết quả khá, dự kiến năm 2010 tăng 2,1 lần so với năm 2005
- Kết cấu hạ tầng nông nghiệp - nông thôn, đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp, hệ thống giao thông vận tải, điện lực… được tăng cường Đến hết năm 2009 toàn tỉnh xây dựng được 4.118km đường giao thông nông thôn bằng nhựa, bê tông, dự kiến hết năm 2010 là 4.418 km ( vượt chỉ tiêu 484 km)
và 400km kênh mương cứng; xây mới, kiên cố hoá 1.200 trường học Nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng: hồ Xuân Hoa, hồ Thượng nguồn Sông Trí, Cống Đò Điệm, các công trình hạ tầng giao thông…
g C ác thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh
- Công tác sắp xếp và đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước được quan tâm chỉ đạo và đạt kế hoạch đề ra (đến nay đã cổ phần hoá 47 doanh nghiệp nhà nước, chuyển 13 đơn vị thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên); cơ cấu ngành nghề và nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp có bước chuyển biến tích cực Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả, thu nhập của người lao động được nâng lên Ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã; đến nay, đã có 1.957 doanh nghiệp
hoạt động trên địa bàn, với tổng số vốn đăng ký đạt 331,4 ngàn tỷ đồng, trong
đó 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 131,4 nghìn
tỷ đồng
- Kinh tế tập thể tiếp tục phát triển, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
cơ bản đã được chuyển đổi và hoạt động từng bước có hiệu quả Đến nay, toàn tỉnh có 460 hợp tác xã, 1 liên hiệp HTX, 1409 tổ hợp tác, với 213 ngàn
xã viên
Trang 28- Kinh tế tư nhân được khuyến khích và tạo mọi điều kiện phát triển nhanh về số lượng và chất lượng Đến hết tháng 6 năm 2009 toàn tỉnh có 1.630 doanh nghiệp tư nhân, số vốn đăng ký tăng nhanh, năm 2005 là 484 tỷ đồng, nhưng 6 tháng đầu năm 2009 là 1.015 tỷ đồng; đóng góp vào ngân sách năm sau cao hơn năm trước; giải quyết việc làm cho 4,5 vạn lao động
2 Lĩnh vực văn hoá - xã hội
a V ăn hoá, thể thao và du lịch
- Các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hoá, thể thao và du lịch do Đại hội đề ra được triển khai thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ, tạo được môi trường văn hóa lành mạnh trên địa bàn, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho các tầng lớp nhân dân
- Chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá, thể thao ngày càng tăng và
phục vụ kịp thời, có hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế, lễ hội truyền thống của quê hương, đất nước
- Các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư Thực hiện tốt công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá; khuyến khích phục hồi các lễ hội truyền thống; có 72 di tích văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia, 150 di tích xếp hạng cấp tỉnh
- Du lịch tiếp tục phát triển mạnh, nhất là du lịch biển, du lịch gắn với các di tích lịch sử, văn hoá Quy hoạch phát triển du lịch được triển khai chủ động, gắn với quy hoạch chung về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hạ tầng
du lịch tiếp tục được đầu tư nâng cấp; số lượng du khách và doanh thu từ du lịch tăng nhanh
b Giáo dục- đào tạo
- Chất lượng giáo dục toàn diện được quan tâm và tiếp tục giữ vững thành tích là một trong những đơn vị dẫn đầu cả nước
Trang 29- Huy động và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng; đến nay, 100% phường, xã có trường học các cấp từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được xây dựng cao tầng, tỷ lệ phòng học kiên cố hoá đạt khá cao (tiểu học 57%, THCS 50%, THPT 100%), có 473 trường đạt chuẩn quốc gia (83 trường mầm non, 294 trường tiểu học, 88 trường trung học cơ sở, 8 trường trung học phổ thông) Hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn được hình thành và phát triển nhanh chóng, đến nay, có trên 60 % Trung tâm hoạt động có hiệu quả
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cả 3 tuyến tiếp tục được tăng cường; tiến độ triển khai đầu tư xây dựng, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn hỗ trợ ODA đảm bảo kế hoạch đề ra (các bệnh viện đa khoa huyện, thị xã, thành phố đang được đầu tư xây dựng và nâng cấp theo tiêu chuẩn bệnh viện loại 1) Triển khai nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh
2.2.1 Về huy động nguồn vốn
Hà Tĩnh là tỉnh có điều kiện tự nhiên khắc nhiệt, chịu sự tàn phá nặng
nề của chiến tranh nhưng lại có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển trở thành trung tâm kinh tế khu vực bắc Miền Trung Vì vậy, trong những năm gần đây
Trang 30tỉnh được Chính phủ và các Bộ, ngành chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện để Hà Tĩnh trở thành tỉnh có ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển Vốn đầu tư huy động được đạt ở mức cao và tăng nhanh từ vốn ngân sách tập trung, chương trình mục tiêu, vốn ODA, vốn từ khu vực dân cư
và doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)
Từ năm 2005 đến 2010 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 30.719 tỷ đồng, mỗi năm tăng 47%; trong đó vốn ngân sách Nhà nước đạt 20.487 tỷ đồng, mỗi năm tăng 40%, vốn khu vực dân cư và doanh nghiệp đạt 10.232 tỷ đồng, mỗi năm tăng 67% Đến năm 2010 đầu tư toàn xã hội đạt 9.625 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước đạt 6.337 tỷ đồng, vốn từ dân cư và doanh nghiệp đạt 3.288 tỷ đồng
Bảng 2-1: Tình hình huy động vốn từ 2005 - 2010
Năm Vốn NSNN
(tỷ đồng) Tăng %
Vốn DC & DN ( tỷ đồng) Tăng %
Tổng vốn (tỷ đồng) Tăng %
( Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh)
Các chủ đầu tư đã quan tâm đến công tác triển khai thực hiện vì vậy công tác giải ngân hàng năm của tỉnh khá tốt, đứng trong tốp 10 tỉnh dẫn đầu của toàn quốc Một số nguồn vốn giải ngân đạt tỷ lệ cao như: nguồn ngân sách tập trung đạt 90% kế hoạch; nguồn hỗ trợ có mục tiêu từ NSTW cho NS địa phương đạt trên 85% (chương trình du lịch, chương trình thuỷ sản và giống cây trồng, vật nuôi, hạ tầng quản lý bảo vệ biên giới, nâng cấp đê biển,
Trang 31đê cửa sông, đầu tư phát triển rừng, hỗ trợ đầu tư y tế tỉnh, huyện, đối ứng các
dự án ODA, hỗ trợ khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ); các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đạt trên 90% kế hoạch
Nguồn
hỗ trợ có mục tiêu (%)
Chương trình MTQG (%)
Khu KT Vũng Áng (%)
Khu KT Cầu Treo (%)
Trang 322.3 Công tác quản lý hoạt động đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Công tác chuẩn bị đầu tư là khâu quan trọng trong thực hiện kế hoạch hoá đầu tư Do đó, UBND tỉnh đã có những quy định nhằm tạo sự chủ động trong xây dựng kế hoạch hằng năm về Xây dựng cơ bản Các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước khi trình UBND các cấp phê duyệt chủ trương đầu tư phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
1 Lập dự án đầu tư
Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập
dự án đầu tư hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật và trình người quyết định đầu
tư thẩm định, phê duyệt Hầu như các dự án trên địa bàn, chủ đầu tư thuê các đơn vị tư vấn lập Tuy nhiên, nhiều đơn vị tư vấn trình độ còn hạn chế, thiếu trách nhiệm và do chịu sự chỉ đạo của chủ đầu tư nên chất lượng công tác lập
dự án không cao Tình trạng sao chép hồ sơ giữa các công trình xẩy ra nhiều, các số liệu điều tra, khảo sát để làm căn cứ lập dự án còn chưa chính xác Các
dự án được lập ít khi tính toán để đạt hiệu quả kinh tế xã hội, thu hồi vốn nhanh, trả nợ vốn vay mà hầu như lập với quy mô lớn hơn cần thiết nhằm giành lượng vốn lớn Nhiều dự án phải điều chỉnh lại do xác định phương án thiết kế, quy mô, công suất không phù hợp với chủ trương đầu tư hoặc nhu cầu thực tế Một số dự án phải điều chỉnh , bổ sung hồ sơ nhiều lần mới đáp ứng yêu cầu trình phê duyệt Nhiều dự án chưa có chủ trương của tỉnh nhưng các ngành, các huyện thị đã lập đưa lên Sở Kế hoạch và Đầu tư để thẩm định
và trình duyệt nhưng cũng có những dự án đã có chủ trương của tỉnh những việc triển khai xây dựng châm , chất lượng không cao phải điều chỉnh nhiều lần
Trang 33Nội dung đánh giá tác động môi trường trong lập dự án chưa được chú trọng đúng mức, nhất là đối với các dự án giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp Phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư nêu trong hồ
sơ các dự án lớn thường không phù hợp với thực tế dẫn đến khi dự án triển khai lại bị vướng mắc, kéo dài thời gian, làm giảm hiệu quả thực hiện dự án
Số lượng dự án, tổng mức đầu tư cho một dự án, sự phức tạp của dự án gia tăng qua các năm Công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án được cải tiến Thẩm định dự án theo cơ chế 1 cửa cơ bản đảm bảo chất lượng và thời gian theo quy định
Tổng hợp trong 6 năm từ 2005 – 2010 đã tổ chức thẩm định 1.262 dự án đầu tư và báo cáo kinh tế kỹ thuật, với tổng mức đầu tư 38.119.645 tỷ đồng, giảm trừ kinh phí 1.603.772 tỷ đồng (4%) Một số dự án có quy mô lớn, tính chất phức tạp, tổng mức đầu tư cao như: Trường Đại học Hà Tĩnh 1.717 tỷ đồng; Dự án Đường tránh ngập lũ thành phố Hà Tĩnh - Kẻ Gỗ - Hương Khê
973 tỷ đồng; Dự án bồi thường GPMB, hỗ trợ tái định cư dự án trọng điểm quốc gia Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng 6.125 tỷ đồng được tiến hành thẩm định đảm bảo thời gian và chất lượng
Riêng năm 2010 đã thẩm định phê duyệt 342 dự án đầu tư, điều chỉnh
78 dự án, trong đó điều chỉnh mục tiêu quy mô 6 dự án, điều chỉnh vốn đầu tư
33 dự án, điều chỉnh tiến độ 39 dự án, với tổng mức đầu tư 13.777 tỷ đồng
Trang 34Bảng 2-3: Kết quả thẩm định dự án từ năm 2005 - 2010 Năm thẩm định Số DA
Giá trị Chủ đầu tư trình (tr.đ)
Giá trị thẩm định (tr.đ)
Giảm trừ kinh phí (tr.đ)
Số dự án điều chỉnh TMĐT
Giá trị điều chỉnh (tr.đ)
Tổng cộng (tr.đ)
Trang 35Các đơn vị được giao công tác thẩm định dự án đã thực hiện có trách nhiệm và đạt hiệu quả cao Các dự án được trình lên đúng thời gian quy định,
có chất lượng, đảm bảo phù hợp với kế hoạch, quy hoạch đã được xây dựng Nhiều dự án sau khi chủ đầu tư trình lên, qua quá trình thẩm định đã phải giảm quy mô, công suất rất nhiều nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong đầu tư cũng như sự phù hợp của dự án với kế hoạch phát triển chung
UBND cấp huyện quyết định đầu tư các dự án có sử dụng nguồn vốn
hỗ trợ từ ngân sách tỉnh đến 2 tỷ đồng sau khi có văn bản chấp thuận của UBND tỉnh về nguồn vốn hỗ trợ trên cơ sở đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu
tư để đảm bảo cân đối kế hoạch vốn
UBND cấp xã quyết định đầu tư các dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
từ ngân sách cấp trên đến 500 triệu đồng sau khi có văn bản chấp thuận của cấp có thẩm quyền để đảm bảo cân đối kế hoạch vốn
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư các dự án có tổng mức đầu tư đến 2 tỷ đồng sau khi có chủ trương đầu tư đã được UBND tỉnh phê duyệt
Công tác phê duyệt dự án đầu tư đã được thực hiện đảm bảo thời gian
và thẩm quyền quy định Các dự án được phê duyệt đảm bảo phù hợp với kế hoạch đề ra và quy hoạch phát triển ngành, vùng đã được phê duyệt
1 Thiết kế, dự toán xây dựng công trình
a Khảo sát, thiết kế, lập dự toán xây dựng công trình
Trang 36* Khảo sát thiết kế xây dựng công trình
Khảo sát thiết kế là công tác có vai trò quan trọng trong xây dựng công trình Công tác khảo sát được thực hiện tốt sẽ dẫn đến chất lượng công trình được đảm bảo và tiết kiệm được chi phí xây dựng đáng kể Với sự phát triển của các thiết bị phục vụ khảo sát và trình độ cán bộ khảo sát ngày càng cao thì chất lượng khảo sát xây dựng công trình đã được cải thiện đáng kể Tuy
nhiên, do đặc thù của công tác khảo sát là quyết định sự an toàn của công trình và khó kiểm soát quá trình thực hiện nên có nhiều sai sót Nhiệm vụ khảo sát do đơn vị tư vấn lập không phù hợp với quy mô công trình, chủ đầu
tư phê duyệt nhiệm vụ khảo sát thường quá thiên về an toàn nên không giảm khối lượng công việc khảo sát do đơn vị tư vấn lập Một số công trình xây dựng lại trên nền cũ đã có số liệu đảm bảo cho việc thiết kế nhưng vẫn thực hiện khảo sát lại gây mất thời gian và tăng chi phí Nhiều công trình đơn vị tư vấn thông đồng với giám sát lấy tài liệu khảo sát của các công trình đã thực hiện liền kề để giảm khối lượng công việc Mặt khác, do quá trình khảo sát diễn ra trong thời gian ngắn nên việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng rất khó thực hiện
* Thiết kế, lập dự toán xây dựng công trình
Với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin nên công tác thiết kế, lập dự toán cơ bản đảm bảo yêu cầu về mặt chất lượng, rút ngắn thời gian và
có độ thẩm mĩ cao Tuy nhiên, còn một số tồn tại trong công tác thiết kế, lập
dự toán làm giảm hiệu quả đầu xây dựng
Hầu hết các công trình được thiết kế đều có hệ số an toàn quá cao làm tăng chi phí xây dựng công trình Nhiều công trình thiết kế chưa phù hợp với công năng của công trình và văn hóa từng vùng Việc thiết kế các hạng mục thuộc dự án lớn chưa đồng bộ, một số hạng mục liền kề nhau nhưng lại có thông số khác nhau, sai sót này thường thuộc về công trình hạ tầng kỹ thuật
Trang 37Có những công trình phải thực hiện thiết kế bổ sung nhiều lần do khi thiết kế không đánh giá được các tình huống xẩy ra làm kéo dài thời gian thi công
Công tác lập dự toán do chưa có sự ràng buộc chặt chẽ trong việc chịu trách nhiệm về chất lượng nên còn nhiều sai sót dẫn đến chi phí xây dựng công trình tăng cao so với thực tế Nhưng những sai sót đó nếu được phát hiện thì chỉ trừ vào phần chi phí xây dựng còn chưa có chế tài cụ thể quy định về hình thức xử phạt đơn vị tư vấn lập dự toán Do đó, các đơn vị tư vấn lập dự toán hoặc do năng lực hạn chế hoặc do cố tình lập tăng dự toán chi phí tạo điều kiện cho đơn vị thi công hưởng lợi Nhiều công trình, dự toán được lập với biện pháp thi công phức tạp, không phù hợp với thiết kế, áp dụng sai định mức, chế độ chính sách quy định, sai sót trong đo bóc tiên lượng, sai lỗi số học
b Thẩm tra thiết kế, dự toán công trình
Trước đây, khi công tác thẩm tra thiết kế, dự toán công trình được giao cho các cơ quan chuyên môn thì hầu hết các công trình đều được điều chỉnh những sai sót trong thiết kế, lập dự toán qua quá trình thẩm tra Từ khi nhiệm
vụ thẩm tra thiết kế, lập dự toán được giao cho chủ đầu tự tự thực hiện hoặc thuê tư vấn, thiết kế, dự toán xây dựng công trình hầu như không có sự thay đổi qua quá trình thẩm tra Nhiều đơn vị tư vấn thẩm tra còn phối hợp với đơn
vị tư vấn lập dự toán cố tình lập tăng dự toán để nếu qua được sự kiểm tra của các cơ quan chuyên môn thì tạo điều kiện cho đơn vị thi công hưởng lợi Xẩy
ra tình trạng này, ngoài do năng lực của các đơn vị tư vấn thẩm tra hạn chế thì còn do các đơn vị này không phải chịu trách nhiệm cao khi phát hiện ra sai phạm
c Phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình
Theo quy định, chủ đầu tư có thẩm quyền phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình Tuy nhiên, ngoài các chủ đầu tư lớn như Sở Nông
Trang 38nghiệp, Sở Giao thông và các huyện, thành phố còn lại các chủ đầu tư nhỏ hầu như không có trình độ chuyên môn về xây dựng, việc phê duyệt thiết kế,
dự toán của các chủ đầu tư này dựa hoàn toàn vào báo cáo đơn vị thẩm tra
Do đó, nhiều công trình đã được phê duyệt nhưng vẫn còn tồn tại nhiều sai sót
2 Công tác bồi thường GPMB
Công tác bồi thường GPMB ở hầu hết các dự án đang gặp nhiều khó khăn, phức tạp như: Nhận thức của người dân ở vùng hưởng lợi từ dự án còn hạn chế; Việc quản lý đất đai các xã trong vùng dự án nhiều khi còn buông lỏng, không cập nhật và quản lý theo quy định dẫn đến quá trình tổng hợp, xác định nguồn gốc đất đai mất nhiều thời gian; Các chế độ, định mức trong công tác đền bù đang còn thấp so với mặt bằng giá cả trên thị trường (cụ thể giá đất tại một số địa phương); Quản lý dự án thuộc chủ đầu tư, nhưng Hội đồng Bồi thường GPMB thì do địa phương, các thành viên Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư của các địa phương chủ yếu là kiêm nhiệm; Khả năng huy động nguồn vốn cho công tác đền bù GPMB, tái định cư còn gặp nhiều khó khăn Để khắc phục khó khăn trên, Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh đã có Nghị quyết chỉ đạo công tác bồi thường GPMB, tái định cư trên địa bàn toàn tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt để thực hiện công tác bồi thường GPMB, tái định cư cho các chương trình, dự án, đặc biệt là đối với các dự án lớn,trọng điểm Nhờ vậy, thời gian vừa qua một số dự án được thực hiện công tác bồi thường GPMB rất tốt để tạo mặt bằng sạch, kịp thời cho xây dựng công trình như: Dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê; Dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư hệ thống thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; Dự án bồi thường, GPMB, hỗ trợ và tái định cư Dự án Khu liên hợp gang thép và Cảng Sơn Dương Dự án đường tránh Quốc lộ IA, đoạn qua thành phố Hà Tĩnh… Một
Trang 39số công trình gặp nhiều khó khăn, khi bàn giao đưa vào sử dụng nhưng vẫn còn lại một số đoạn không thể thi công được như 150 m đoạn nút giao cuối tuyến thuộc dự án đường Nam Cầu Cày đến cầu Thạch Đồng và 538 m đoạn qua xã Thạch Đồng thuộc dự án đường Nguyễn Du kéo dài đến cầu Thạch Đồng Mặt khác các chủ đầu tư chưa tập trung cao độ cho công tác đền bù, GPMB, hỗ trợ tái định cư dẫn đến dự án triển khai chậm tiến độ so với yêu cầu
3 Lựa chọn nhà thầu
a Vai trò của của công tác lựa chọn nhà thầu
- Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý N hà nước
về đầu tư và xây dựng, quản lý sử dụng vốn một cách có hiệu quả, hạn chế và loại trừ được các tình trạng như: thất thoát lãng phí vốn đầu tư đặc biệt là vốn ngân sách, các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong xây dựng cơ bản
- Đấu thầu tạo nên sự cạnh tranh mới và lành mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản , thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá trong ngành cũng như trong nền kinh tế quốc dân
- Thông qua đấu thầu , chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động, quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dự án đầu tư do toàn bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu thầu được tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật
b Những kết quả đạt được trong công tác lựa chọn nhà thầu
Thực hiện quy định của các luật: Luật Xây dựng năm 2003, Luật đấu
thầu năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư XDCB năm 2009; Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng, công tác đấu thầu đã từng bước đi vào nề nếp, cơ bản đã thực hiện đúng theo quy định Hàng năm đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về
Trang 40công tác đấu thầu cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong công tác đấu thầu Năng lực tổ chức thực hiện đấu thầu của các chủ đầu tư, BQL dự án cũng như năng lực tham gia đấu thầu của các nhà thầu ngày càng được nâng lên Công tác đấu thầu đã được phân cấp, cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, chủ đầu tư tổ chức thẩm định và phê duyệt hồ sơ
mời thầu, kết quả đấu thầu và xử lý kết quả đấu thầu nên đã tạo chủ động cho
Bảng 2-4: Kết quả công tác lựa chọn nhà thầu từ năm 2005-2010
Giá trị (tr.đ) gói Số
Giá trị (tr.đ) gói Số
Giá trị (tr.đ) kiệm Tiết