1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng các công trình xử lý khẩn cấp của đê sông trong mùa mưa lũ tỉnh hà nam

110 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Tác giả dự kiến xử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Nghiên cứu tổng quan về an toàn hệ thống đê điều; - Điều tra thu thập, phân tích, đánh giá những sự cố đ

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà nam, ngày 22 tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Hoa

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, đồng nghiệp, bạn

bè và gia đình, tác giả hoàn thành luận văn.Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Văn Hùng, người đã tận tình hướng dẫn và vạch ra những định hướng khoa học, chỉ bảo và đóng góp các ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ viên chứcTrường Đại học Thủy lợi, cám ơn tập thể lớp cao học 24QLXD11, cám ơn đồng nghiệp trong cơ quan, cùng gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tác giả trong thời gian hoàn thành luận văn

Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên luận văn có những sai sót, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy cô, đồng nghiệp để giúp tác giả hoàn thiện kiến thức

Trân trọng cảm ơn!

Hà nam, ngày 22 tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Hoa

Trang 3

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 1

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

6 Kết quả dự kiến đạt được 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÊ ĐIỀU Ở VIỆT NAM 4

1.1 Tổng quan hệ thống đê điều ở Việt Nam 4

1.1.1 Hệ thống đê điều ở Việt Nam 4

1.1.2 Đặc điểm về hệ thống đê điều ở Việt Nam 6

1.2 Công tác quản lý và bảo vệ đê ở Việt Nam 7

1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam 7

1.2.2 Hệ thống chính sách về quản lý đê điều 8

1.2.3 Những tồn tại trong việc quản lý đê điều hiện nay ở Việt Nam 10

1.3 Khái quát về công tác xây dựng và quản lý đê điều trên thế giới 13

1.3.1 Hà Lan 13

1.3.2 Một số quốc gia khác 15

1.4 Công tác quản lý chất lượng thi công công trình đê điều 15

1.4.1 Những hạn chế về quản lý chất lượng thi công công trình đê điều 19

1.4.2 Ý nghĩa của công tác quản lý chất lượng thi công công trình đê điều 20

1.5 Các dạng sự cố thường xảy ra trong mùa lũ bão với đê sông 20

1.5.1 Sự cố sạt mái đê phía đồng 20

1.5.2 Sự cố thẩm lậu và rò ở mái đê phía đồng 21

1.5.3 Sóng vỗ làm xói lở mái đê phía sông 22

Kết luận chương 1 23

Trang 4

iv

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 24

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng thi công 24

2.1.1 Khái quát về quản lý chất lượng xây dựng 24

2.1.2 Những yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng công trình xây dựng 25

2.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng thi công 32

2.1.4 Trách nhiệm chính của các bên tham gia xây dựng 34

2.1.5 Những nội dung yêu cầu chính về kiểm soát chất lượng thi công 39

2.2 Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn, qui chuẩn về quản lý chất lượng xây dựng đê điều 45

2.2.1 Hệ thống pháp luật về đê điều 45

2.2.2 Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn về xây dựng đê điều 48

2.2.3 Cơ sở QLCL và làm việc của đê mùa mưa lũ và hành lang bảo vệ đê 53

Kết luận chương 2 54

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XỬ LÝ KHẨN CẤP SỰ CỐ ĐÊ SÔNG TRONG MÙA BÃO LŨ TẠI TỈNH HÀ NAM 56 3.1 Thực trạng các sự cố đối với đê sông trên địa bàn tỉnh Hà Nam những năm gần đây 56

3.1.1 Giới thiệu về chi cục thủy lợi trực thuộc Sở NN & PTNT Hà Nam 56

3.1.2 Thực trạng một số sự cố trên tuyến đê Hữu Hồng thời gian gần đây 58

3.1.3 Thực trạng một số sự cố trên Tuyến đê sông Đáy thời gian gần đây 60

3.1.4 Thực trạng ở một số đê sông khác 61

3.1.5 Xử lý sự cố và những mặt còn tồn tại 63

3.1.6 Những khó khăn và thuận lợi trong công tác quản lý và bảo vệ đê tại Hà Nam 64

3.2 Qúa trình quản lý chất lượng thi công xử lý sự cố và kết quả đạt được 75

3.2.1 Quá trình quản lý chất lượng xử lý sự cố 75

3.2.2 Một số kết quả đạt được 78

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượngxử lý các sự cố khẩn cấp đê sông tại Hà Nam trong mùa mưa bão 80 3.3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đội ngũ cán bộ công nhân viên 80

Trang 5

v

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công 80

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi phí xây dựng đầu tư 87

3.3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hợp đồng 88

3.3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tiến độ thi công 89

3.3.6 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khối lượng thi công 91

3.3.7 Giải pháp nâng cấp đê kết hợp giao thông 92

Kết luận chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Kiến nghị 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 6

vi

Hình 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam 8

Hình 1.2: Xây dựng lấn chiếm hành lang bảo vệđêKm120 đê Hữu Hồng huyện Duy Tiên 11 Hình 1.3: Khai thác cát trái phép trên sôngHồng huyện Duy Tiên 12

Hình 1.4: Xe có tải trọng lớn đi lại trên đê Sông Đáy huyện Thanh Liêm 13

Hình 1.5: Đê biển kết hợp đường giao thông ở Hà Lan 14

Hình 1.6:Một đoạn mái đê sông đáy Km124 - Km125 huyện Thanh Liêm năm 2012 21 Hình 1.7: Sạt lở mái đê phía sông Đáy Km88-Km89 huyện Kim Bảng năm 2011 23

Hình 3.1Sụt lún tại cống Tắc Giang xã Chuyên Ngoại – huyện Duy Tiên - Hà Nam 63

Hình 3.2: Sơ đồ kiểm tra chất lượng vật liệu đầu vào 83

Hình 3.3: Sơ đồ quản lý máy móc, thiết bị thi công 85

Hình 3.4 Sơ đồ đảm bảo chất lượng thi công bộ phận công trình 86

Hình 3.5: Hệ thống kiểm soát tiến độ 91

Trang 7

CLCT Chất lượng công trình TVGS Tư vấn giám sát

Trang 9

1

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Cùng với sự biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu thì những rủi ro thiên tai như bão lũ, hạn hán…đã và đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng bất lợi và ảnh hưởng khắc nghiệt hơn đến Việt Nam Trung bình mỗi năm Việt Nam phải hứng chịu 6-7 trận bão gây thiệt hại nghiêm trọng, hủy hoại cơ sở hạ tầng, kinh tế, giao thống vận tải, đê điều với quy mô rất lớn, Để góp phần chống lại sự đe dọa và ảnh hưởng nặng nề của bão lũ nước ta đã xây dựng hệ thống đê điều tương đối đầy đủ Tuy nhiên hầu hết các tuyến đê được hình thành từ rất xa xưa khi trình độ kỹ thuật và công cụ lao động còn thô sơ, hệ thống đê điều được tu bổ tôn tạo qua nhiều thời kỳ nên đất đắp đê thường không đồng chất, trong thân đê có nhiều tổ mối nên khi có lũ thường bị thẩm lậu mạnh Ngoài ra hoạt động thiếu ý thức của con người cùng với sự quản lý, bảo vệ đê điều chưa tốt …đã tác động tiêu cực đến khả nãng chống lũ của đê điều

Hà Nam là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng có nhiều con sống lớn chảy qua như sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ… về mùa lũ mực nước sông thường cao hơn mặt đất tự nhiên từ 3-5m Hệ thống đê điều của tỉnh Hà Nam được coi là một phần cõ

sở hạ tầng bởi nó đóng vai trò quan trọng sống còn trong việc ngăn lũ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân Hà Nam nói riêng và tài sản của nhà nước nói chung Vì vậy việc phát hiện kịp thời và xử lý khẩn cấp các hư hỏng của đê trong mùa mưa bão sẽ góp phần làm giảm nhẹ thiệt hại

do thiên tai gây ra

Trên đây là lý do chính và là sự cần thiết nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng các công trình xử lý khẩn cấp của đê sông trong mùa mưa lũ tỉnh Hà Nam”

2 M ục đích của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng các công trình xử lý khẩn cấp của đê sông trong mùa mưa lũ tỉnh Hà Nam để từ đó đề xuất giải pháp năng cao chất lượng các công trình nhằm ứng phó sự cố khẩn cấp đê sông Hà Nam trong mùa mưa lũ

Trang 10

2

3 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu

a Cách tiếp cận

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý

luận, khoa học, pháp luật và thực tiễn về an toàn đê điều

b Phương pháp nghiên cứu

Tác giả dự kiến xử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu tổng quan về an toàn hệ thống đê điều;

- Điều tra thu thập, phân tích, đánh giá những sự cố để thường xảy ra trong mùa lũ và công tác xử lý khẩn cấp các hư hỏng tại Chi cục Thủy lợi tỉnh Hà Nam;

- Tham khảo tài liệu, kinh nghiệm về việc thực hiện công tác xử lý khẩn cấp các hư hỏng của đê sông trong mùa mưa bão;

- Ứng dụng hê thống tiêu chuẩn và pháp qui về an toàn đê điều;

- Phương pháp chuyên gia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng thi công công trình đê điều và công tác bảo đảm an toàn đê điều Trọng tâm là công tác là chất lượng thi công xử lý khẩn cấp hư hỏng đê điều vào mùa lũ tỉnh Hà Nam

b Phạm vi nghiên cứu

Chất lượng thi công công trình đê điều, trọng tâm là đê sông tỉnh Hà Nam

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

a Ý nghĩa khoa học của đề tài

Hệ thống hóa và đánh giá tổng quan công tác an toàn đê điều, trong đó có Hà Nam Chi cục thủy lợi Hà Nam là cơ quan chuyên môn trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát

Trang 11

3

triển nông thôn tỉnh Hà Nam có trách nhiệm tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão trên địa bàn tỉnh Để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ về quản lý đê điều cần có những giải pháp trong công tác quản lý Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số đề xuất về mặt lý thuyết nhằm nâng cao chất lượng các công trình xử lý khẩn cấp bảo vệ đê điều tỉnh Hà Nam

b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Góp phần hoàn thiện công tác an toàn đê điều Hà Nam Luận văn phân tích các yếu tố gây lên các hư hỏng của đê sông trên địa bàn tỉnh Hà Nam ảnh hưởng tới chất lượng của đê từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thi công xử lý sự cố

đê sông mùa mưa lũ trên địa bàn tỉnh Hà Nam Giảm thiệt hại cho người và của khi có

sự cố xảy ra trong mùa mưa bão

6 K ết quả dự kiến đạt được

- Xây dựng được phương pháp luận trong đánh giá các sự cố trong mùa lũ bão đối với

đê sông tỉnh Hà Nam Từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những mặt tồn tại và hạn chế, nguyên nhân còn tồn tại

- Nghiên cứu đề xuất một số giải phát nâng cao chất lượng thi công xử lý sự cố đê sông tỉnh Hà Nam trong mùa mưa bão thời gian tới

Trang 12

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ CÔNG TÁC

1.1 T ổng quan hệ thống đê điều ở Việt Nam

1.1.1 H ệ thống đê điều ở Việt Nam

1.1.1.1 H ệ thống đê sông

Ở Việt nam do điều kiện mưa nhiều đã tạo ra một số lượng sông suối rất lớn, tới khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ Đê sông của Việt Nam không nối liền nhau

mà tạo thành dãy theo hệ thống các con sông

Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởngtừ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt Hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta xử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộ vùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt Trải qua quá trình phát triển, hệ thống đê hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với khoảng 13.200 km đê, trong đó có khoảng 10.600 km

đê sông và gần 2.600km đê biển Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt còn lại là đê dưới cấp III và đê chưa được phân cấp Trong đó:

Hệ thống đê Bắc bộ và Bắc Trung bộ: dài 5.620km, có nhiệm vụ bảo vệ chống lũ triệt

để, bảo đảm an toàn cho vùng Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ

Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung bộ và Nam Trung bộ: có tổng chiều dài 904km

Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: có chiều dài 4.075km Hầu hết các hệ thống đê điều và phòng chống lụt bão tồn tại hiện nay ở nước ta được thiết kế xây dựng dựa theo kinh nghiệm tích góp từ nhiều thế hệ và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn phù hợp với tình hình thực tế của một vài thập kỷ trước Trong điều kiện các hình thái thời tiết và thiên tai ngày càng gia tăng do hiệu ứng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, các quy luật khí tượng thủy văn lưu vực có những diễn biến bất thường so với thời điểm thiết kế, cần phải đánh giá an toàn của các hệ thống đê hiện tại ở Viêṭ Nam

Trang 13

5

Hàng năm hệ thống đê điều ở nước ta được Trung ương và địa phương quan tâm đầu

tư tu bổ, nâng cấp tăng cường ổn định và loại trừ dần các trọng điểm đê điều xung yếu Tuy vậy, do tác động của thiên nhiên như sóng, gió, thuỷ triều, dòng chảy và các tác động trực tiếp của con người, quy mô và chất lượng công trình đê điều luôn bị biến động theo thời gian Đối với các tuyến đê sông, các đoạn đê tu bổ thường xuyên đã được thiết kế theo chỉ tiêu hoàn thiện mặt cắt với cao độ đảm bảo yêu cầu chống lũ thiết kế, bề rộng mặt đê phổ thông 5m, độ dốc mái m=2 và mặt đê được gia cố đá dăm hoặc bê tông để kết hợp giao thông nên khả năng phòng chống lũ bão thiết kế Song do chiều dài đê lớn, tốc độ bào mòn xuống cấp nhanh trong khi khả năng đầu tư còn hạn chế nên vẫn còn nhiều đoạn đê còn thấp, nhỏ so với tiêu chuẩn đê thiết kế Phân tích chất lượng hiện trạng đê của Việt Nam cho kết quả: - 66,4% km đê ổn định đảm bảo

an toàn; - 28,0% km đê kém ổn định chưa đảm bảo an toàn; - 5,6% km đê xung yếu

Do được bồi trúc qua nhiều năm nên nhìn chung chất lượng thân các tuyến đê không đồng đều, trong thân đê tiềm ẩn nhiều khiếm khuyết như xói ngầm, tổ mối, hang động vật Vì vậy khi có bão, lũ mực nước sông dâng cao, độ chênh lệch với mực nước

trong đồng lớn, do đó nhiều đoạn đê xuất hiện các sự cố mạch đùn, sủi, thẩm lậu, sạt trượt mái đê phía sông và phía đồng Nếu không phát hiện và xử lý kịp thời ngay từ giờ đầu sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng tới an toàn của đê Sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng Viêṭ Nam trong những năm gần đây đã gián tiếp làm cho tình trạng xử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê, bãi sông và lòng sông ngày càng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn đê điều và khả năng thoát lũ của các sông trên địa bàn từ trung ương đến điạ phương Các loại hình vi phạm Luật đê điều và Pháp lệnh Phòng chống lụt bão như: xây dựng bất hợp pháp các công trình, tập kết vật liệu xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê và bãi sông, san lấp mở rộng mặt bằng lấn chiếm dòng chảy, khai thác bất hợp lý các bãi bồi ven sông, ven biển, chặt phá rừng cây chắn sóng… gây ảnh hưởng đến chất lượng và năng lực phòng chống lũ, bão của đê điều Hiêṇ nay taị Viêṭ Nam để đánh giá an toàn đê điều chủ yếu dưạ vào số liêụ quan trắc thưc ̣ tế làm việc của công trình Với các công trình đã xây dưṇg cách đây vài chục ̣ năm (chủ yếu là đâp ̣ đất), thiết bi ̣quan trắc vừa thiếu vừa yếu, thậṃ chí không còn hoaṭ đôṇg nên khó đánh giá được an toàn hiện tại của công trình Với sự giúp đỡ của

Hà Lan (tập đoàn Holland - Delta), chúng ta đã thử nghiệm xử dụng các công

Trang 14

6

nghê ̣tiên tiến để tiến hành quan trắc các khuyết tâṭ taị các công trình điển hình ở Viêṭ

Nam như đê Sen Chiểu (Hà Nội), đê Sa Rài (Đồng Tháp) để từ đó đưa ra nhâṇ xét ban đầu về mức độ an toàn của công trình Công nghê ̣đã đươc ̣ áp duṇg là sử duṇg máy rada khảo sát trên mặt đất để tìm ra các khuyết tâṭ (tổ mối, ống dòng, các lớp đất ) trong thân đê Ngoài ra trong thời gian tới sẽtiếp tuc ̣ thử nghiêṃ công nghê ̣ khảo sát trên không và giám sát từ không gian để theo dõi, kiểm tra sựlàm viêc ̣ của công trình ,

ngăn ngừa sựcố xảy ra [1]

1.1.1.2 H ệ thống đê biển

Trải qua thời gian dài xây dựng và phát triển nước ta hiện nay đã có khoảng 2700 km

đê biển, với 3260km bờ biển Đê cửa sông trải khắp từ Quảng Ninh đến Kiên Giang

Đê biển của ta không liền tuyến mà bị ngăn cách nhiều đoạn bởi 114 cửa sông lớn nhỏ khác nhau Chính vì vậy mà tổng chiều dài đê cửa sông xấp xỉ bằng đê trực tiếp biển Trong tổng số 117 huyện ven biển thì có 105 huyện có đê biển Tổng chiều dài kè biển

là 364km và số cống dưới đê biển là 1.235 cái Dọc ven biển Việt Nam có rất nhiều đảo và quần đảo trong đó có 120 đảo lớn Hầu hết các tuyến đê biển hiện nay có nhiệm

vụ bảo vệ sản xuất nông nghiêp Ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá vùng có đê biển bảo vệ sản xuất 3 vụ, còn đối với các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sản xuất 2 vụ, có nơi 3

vụ Có khoảng 300 km đê biển để nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh những năm gần đây Theo số liệu thống kê, đê cửa sông chia làm 3 vùng:

- Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Hậu Lộc - Thanh Hóa),

- Trung Bộ (Nam Thanh Hóa đến Bình Thuận)

- Nam Bộ (từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến KiênGiang)

1.1.2 Đặc điểm về hệ thống đê điều ở Việt Nam

Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước Sông của nước ta chảy theo hai hướng chính: Tây bắc - Đông nam và hướng vòng cung Sông ngòi nước ta có hai mùa nước: mùa lũ và mùa cạn khác nhau rõ rệt Bên cạnh đó thời tiết ở việt nam là khí hậu nhiệt đới nắng nhiều, mưa nhiều Đây là những đặc điểm chính của hệ thống sông ngòi từ đó là nguyên nhân vào mủa mưa lũ các tuyến sông chính thường xuyên xảy ra sự cố mất an toàn

Trang 15

7

Phần lớn đê sông ở nước ta đã được cứng hóa mặt và gia cố mái bảo vệ, một số đê lớn kết hợp làm đường giao thông tạo thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng

Hàng năm nhà nước vẫn duy trì vốn để duy tua bảo dưỡng, xây dựng biện pháp công trình nhằm hạn chế tối đa vào mùa mưa lũ Nhưng do là duy tu với nguồn vốn ít nên chất lượng công trình còn thấp, cục bộ, độ an toàn không cao

1.2 Công tác qu ản lý và bảo vệ đê ở Việt Nam

1.2.1 T ổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam

- Với hệ thống đê sông và đê biển trải dài khắp cả nước không chỉ đòi hỏi một đội ngũ quản lý hùng hậu mà chuyên môn và nghiệp vụ phải luôn được nâng tầm Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của ngành Thủy Lợi cũng như của đất nước Hệ thống tổ chức bộ máy về quản lý đê điều ở nước ta cũng hình thành bao gồm

+ Cấp Trung ương: Vụ Quản lý đê điều thuộc Tổng cục Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

+ Cấp tỉnh: Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão trực thuộc Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn (hiện nay sát nhập thành Chi cục Thủy Lợi)

+ Cấp huyện:

- Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

có đê được tổ chức thành các Hạt Quản lý đê trong phạm vi một huyện hoặc liên huyện

- Hạt Quản lý đê là đơn vị của Chi cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão thuộc

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp tỉnh; có trụ sở làm việc, có con dấu và tài khoản riêng

- Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều có chức năng trực tiếp quản lý và bảo vệ đê điều, từ đê cấp III đến đê cấp đặc biệt

Đối với các tuyến đê cấp IV, cấp V; tuyến đê và công trình phân lũ, làm chậm lũ việc

tổ chức quản lý do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Trang 16

8

- Biên chế của Hạt Quản lý đê do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo định mức

- Một người quản lý trực tiếp từ 1 đến 2 km đê đối với đê cấp đặc biệt; từ 3 đến 4 km

đê đối với đê từ cấp I đến cấp III

- Định mức biên chế quản lý tuyến đê cấp IV, cấp V; tuyến đê và công trình phân lũ,

làm chậm lũ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định [2]

Hình 1.1: Mô hình t ổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam

1.2.2 H ệ thống chính sách về quản lý đê điều

Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực đê điều đã được ban hành, xửa đổi phù hợp với tình hình thực tế về cách tiếp cận và phạm vi điều chỉnh, quy định về quy

đê điều và PCLB

UBND xã Các sở,ngành

Các Bộ và cơ quan ngang bộ

Trang 17

9

hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu

bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều, quản lý, bảo vệ đê, hộ đê và xử dụng đê điều Đẩy mạnh việc thực thi Pháp luật khi nhà nước đã tạo điều kiện về quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động về đê điều, các hoạt động có liên quan đến đê điều thì phải đảm bảo về nghĩa vụ trách nhiệm cho quyền của mình trong lĩnh vực này

Để đê điều phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới Nhà nước đã ban hành Luật đê điều có hiệu lực từ 01/7/2007 nhằm mục đích cơ bản nhưsau:

+ Nâng cao hiệu lực pháp lý để điều chỉnh các vấn đề có liên quan phù hợp với tính chất quan trọng của hệ thống đê điều trong việc phòng chống lụt, bão, phát triển kinh

tế - xã hội bền vững, bảo vệ dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh, quốc phòng

+ Mở rộng phạm vi điều chỉnh; cụ thể hóa các quy định đối với các hoạt động liên quan đến đê điều như tổ chức lực lượng trực tiếp quản lý bảo vệ đê; phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động liên quan đến

đê điều, giải quyết những tồn tại bất cập của Pháp lệnh đê điều năm 2000 đã tính tới đặc thù của đê điều ở các vùng miền khác nhau

+ Hệ thống hóa các quy định dưới luật để ban hành và thực hiện có hiệu quả để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn

Tổ chức bộ máy quản lý, bảo vệ đê điều đã được Nhà nước quy định rõ trong Luật đê điều về chức năng; nhiệm vụ; quyền hạn; trách nhiệm và biên chế cho lực lượng quản lý

đê chuyên trách và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, để giúp cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đê điều

Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đê điều và phòng chống lụt bão đã được Nhà nước thể chế hóa bằng các Nghị định hướng dẫn một cách đồng bộ

Trang 18

- Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày 04/07/2014 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống thiên tai

- Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai

- Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của Chính Phủ Quyết định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai

- Nghị định 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về việc thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai

- Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 của thủ tướng Chính phủ về việc thành lập ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai

- Thông tư số 01/2009/TT-BNN ngày 06/01/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

hướng dẫn, tuần tra, canh gác, bảo vệ đê điều trong mùa lũ

- Thông tư số 54/2013/TT-BNN ngày 17/12/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về phân cấp đê và quy định tải trọng cho phép đối với xe cơ giới đi trên đê

1.2.3 Nh ững tồn tại trong việc quản lý đê điều hiện nay ở Việt Nam

Sau mười năm thực hiện Luật Đê điều, tình hình vi phạm về an toàn đê điều vẫn diễn

ra phức tạp Số trường hợp vi phạm pháp luật đê điều phát sinh nhiều nhưng số vụ xử

lý được còn hạn chế Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các tuyến đê đặc biệt vào mùa mưa lũ khi đất bão hòa nước thì khả năng sự cố là hoàn toàn hiện hữu, đe dọa đến vùng dân cư phía trong đê một cách đặc biệt nguy hiểm

Trang 19

11

Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ đê điều cũng đã được củng cố và tăng cường, nhất là việc kiểm tra, thanh tra chấp hành Pháp luật và xử lý vi phạm về đê điều Song hiện tượng vi phạm pháp lệnh đê điều, như: Xây dựng nhà kiên cố, nhà tạm trong hành lang bảo vệ đê; chứa chất vật tư, chất thải trên đê; đào xẻ đê không đúng quy định; xây dựng lò gạch, lò vôi ngoài bãi sông; chặt phá cây chắn sóng…luôn diền ra hàng ngày Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2001 có 3.652 vụ vi phạm, đã xử lý 1.244 vụ; năm

2002 có 2.884 vụ vi phạm, đã xử lý 1.350 vụ; năm 2003 có 2.190 vụ vi phạm, đã xử

lý 658 vụ; năm 2004 có 1.881 vụ vi phạm, đã xử lý 626 vụ; năm 2005 có 1.801 vụ vi phạm, đã xử lý 862vụ;

Một số vi phạn cơ bản sau:

+ Xây dựng công trình trong hành lang đê:

Dân số tăng, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự quản lý, xử lý chưa chặt chẽ nên việc vi phạm hành lang đê như xây dựng công trình một phần làm ảnh hưởng đến tính

ổn định của đất trong thân đê Khi mùa mưa bão không kiểm tra xử lý được do bị che khuất dẫn đến nguy cơ mất an toàn đê điều Khi xây dựng công trình phải đảm bào an toàn hành lang đê và thoát lũ theo quy định của luật đê điều hiên hành

Hình 1.2: Xây dựng lấn chiếm hành lang bảo vệ đê Km120 đê Hữu Hồng huyện Duy

Tiên

+ Do khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép

Trang 20

12

Khai thác cát, sỏi lòng sông là việc làm tất yếu phục vụ nhu cầu xây dựng đang ngày càng phát triển, nếu khai thác theo đúng quy hoạch, đúng giấy phép có tác dụng rất tích cực cho thoát lũ, ổn định lòng dẫn và giao thông thuỷ Tuy nhiên, hiện việc cấp giấy phép, quản lý khai thác cát, sỏi lòng sông hiện còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các đoạn sông tại vùng giáp gianh giữa hai tỉnh (có hiện tượng lực lượng chức năng không cho khai thác bờ bên này thì chuyển sang bờ kia hoặc không cho khai thác ở khúc sông này chuyển đến khúc sông khác để khai thác), chế tài hiện chưa đủ mạnh và chưa có sự phối hợp đồng bộ của các địa phương nên việc khai thác trái phép, sai phép vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi đặc biệt có nơi việc khai thác cát trái phép ngay tại khu vực chân đê và mái kè bảo vệ bờ sông gây sạtlở Như khu vực sông Hồng đoạn qua Huyện Đan Phượng Hà Nội hay tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ Mặc dù lệnh cấm khai thác cát sỏi đã được chính phủ ban hành trong năm 2017 xong ở nhiều địa phương, con sông dường như ko có nhiều tác dụng

Hình 1.3: Khai thác cát trái phép trên sông Hồng huyện Duy Tiên

+ Xe quá tải đi lại trên đê

Trong những năm gần đây việc thực hiện nâng cấp, hoàn thiện, cứng hoá mặt đê thường chỉ chú trọng đến vấn đề đảm bảo cao trình an toàn chống lũ mà chưa đặt ra

Trang 21

13

vấn đề kết hợp đường giao thông Mặt đê thường được thiết kế có chiều rộng từ 5 ÷ 6m; kết cấu bê tông thì chỉ đảm bảo cho xe tải trọng nhỏ hơn 10 Tấn

Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương (đặc biệt

là nhu cầu về chở hàng hoá, vật liệu xây dựng…) thì những xe có tải trọng lớn >30Tấn thường được dụng Khi mặt đê lún rạn nứt vào mùa mưa nước ngấm vào nếu không theo dõi phát hiện xử lý kịp thời thì hậu quả là khôn lường

Hình 1.4 : Xe có tải trọng lớn đi lại trên đê Sông Đáy huyện Thanh Liêm 1.3 Khái quát v ề công tác xây dựng và quản lý đê điều trên thế giới

1.3.1 Hà Lan

Hà Lan là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển trung bình 400m Vùng trũng nhất ở dưới mực nước biển tới 6,74m là một thị trấn nhỏ thuộc thành phố Rotterdam Chính vì đặc điểm này mà người Hà Lan trở thành một trong những chuyên gia số một

về thủy lợi và công trình biển với rất nhiều thành tựu bậc nhất

Đê biển được xây dựng không cho phép nước tràn dưới tác động của sóng bão; kết cấu của đê được đặc biệt quan tâm và được kiểm soát rất chặt chẽ về chất lượng trong quá trình xây dựng thông qua một ủy ban riêng thuộc Nhà nước

Kết cấu thân đê: Đê thường có cả cơ ngoài và cơ trong kết hợp giao thông Tùy theo mức độ quan trọng mà kết cấu của đê cũng khác nhau Với đê không trực diện với biển thường là đê đất với lõi đất hoặc lõi cát bảo vệ bằng đất sét, bảo vệ mái trong và ngoài

Trang 22

14

bằng hình thức trồng cỏ, tần suất thiết kế cũng thấp hơn Đối với những đê trực diện với biển thì lõi không khác so với những đê khác, nhưng nền đê được xử lý và gia cố rất cẩn thận, lớp bảo vệ khá đặc biệt Đó là các khối bảo vệ có xu hướng chuyển từ dạng “bản” như đang được xử dụng phổ biến hiện nay sang dạng cột để tăng ổn định

và dễ xửa chữa khi có sự cố, bố trí cơ ngoài đủ lớn để chiết giảm tối đa năng lượng sóng leo và sóng tràn đỉnh, đồng thời đó cũng là đường giao thông kết hợp đường xửa chữa, bảo dưỡng đê khi cần thiết Việc bảo vệ mái ngoài và chân đê cũng được xem là đặc biệt quan trọng trong xây dựng đê biển Tại những vùng có tác động sóng lớn, bảo

vệ mái ngoài đê và chân đê thường được tăng cường bằng lớp vỏ hợp bởi các cấu kiện

bê tông đúc sẵn, có thể theo hình thức loại kết cấu tự chèn hoặc các khối hình lập phương (ví dụ như: Tetrapod, Accrepod, X-block hay Cube), với khối lượng từ vài tấn đến vài chục tấn thả phía bãi trước để triệt tiêu bớt năng lượng sóng trước khi sóng vào đến đê

Hình 1.5: Đê biển kết hợp đường giao thông ở Hà Lan

Đê biển Afsluitdijk là một trong những minh chứng điển hình với tổng chiều dài hơn 32km, rộng 90m và độ cao ban đầu là 7.25m trên mực nước biển trung bình Điều phi thường là công trình này được tiến hành trong khoảng thời gian vẻn vẹn 6 năm từ năm

1927 đến 1933

Giờ đây, hệ thống đê biển ở Hà Lan đã trở thành một bức trường thành ngăn chặn các thảm họa của biến đổi khí hậu Người ta có thể vượt trên các con đê, kè biển với tốc độ

Trang 23

15

hơn 100km/giờ Ở một số đoạn của con đê, người ta còn xây dựng các nhà hầm, khách sạn và bảo tàng phục vụ du khách từ các nơi đến tham quan và nghiên cứu kinh nghiệm của Hà Lan Mức đảm bảo chống lũ hiện tại của hệ thống đê của Hà Lan cao hơn của nước ta rất nhiều, tiến tới mức đảm bảo chống lũ ở một số khu vực của

Hà Lan sẽ được nâng lên gấp 10 lần so với hiện nay, có nơi đưa lên tới tần suất 10.000 năm xuất hiện một lần Ở Việt Nam, đa số ở mức 50-100 năm xuất hiện một lần, riêng sông Hồng sau khi hồ Sơn La vào hoạt động thì đạt mức đảm bảo chống lũ 500 năm xuất hiện một lần Hệ thống đê của Hà Lan luôn được kết hợp làm hệ thống đường giao thông hiện đại vừa tiết kiệm đầu tư, vừa tiết kiệm đất và thuận lợi cho quản lý khai thác Quan điểm xây dựng đê thân thiện với môi trường, với hình thức đê này, kết hợp với việc trồng rừng ngập mặn và cỏ bảo vệ đê sẽ tạo ra một số ưu điểm như: Độ

an toàn cao; gần gũi với thiên nhiên; bố trí giao thông thuận lợi; có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp; có thể kết hợp bố trí du lịch, vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa và

đô thị hóa

1.3.2 M ột số quốc gia khác

Bên cạnh đó các quôc gia Nhật Bản, Mỹ cũng là các quốc gia có hệ thông đê hiện đại

an toàn bậc nhất thế giới, đây không chỉ là vấn đề liên quan đến kinh tế mà còn một phần ở công tác quản lý chất lượng xây dựng cũng như đầu tư ỏ nước ta còn nhiều bất cập, dẫn đến công trình kém chất lượng và tuổi thọ Khi thiên tai hầu như đều chịu hưởng độ mất an toàn tương đối cao

Với sự phát triển của kênh tế nhưng chính phủ và ngành nông nghiệp vẫn luôn đặc biệt chú trọng đến việc tu xửa, nâng cấp các tuyến đê từ mức cáo đến thấp Do quá trình biến đổi khí hậu ở Việt Nam nhưng năm gần đây diễn ra nhanh làm tình trạng sạt lở luôn đe dọa đến các hộ dân ven sông cả về tính mạng và tài sản

1.4 Công tác qu ản lý chất lượng thi công công trình đê điều

1.4.1 Những bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng đê điều của Việt Nam

70 năm qua, sự nghiệp đê điều, phòng, chống thiên tai đã không ngừng phát triển, thu được những thành tựu rất đáng khích lệ, đóng góp cho sự nghiệp thủy lợi nói chung và góp phần rất quan trọng trong việc đưa Việt Nam từng bước an toàn hơn trước thiên

Trang 24

16

tai, hạn chế được sự phá hoại của thiên tai đối với môi trường sống, góp phần bảo vệ thành quả phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo phát triển bền vững của đất nước bảo đảm an ninh quốc phòng

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai đặc biệt là

lũ lụt, bão, lũ quét, hạn hán

+ Về lũ: chúng ta đã chứng kiến trận lũ lịch xử tháng 8/1971 ở Bắc Bộ làm 16 điểm đê

bị vỡ, làm chết và mất tích 100.000 người và ngập 200.000 ha; Trận lũ lịch xử trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung làm 900 người chết, mất tích; Trận lũ lớn năm 2000 tại đồng bằng sông Cửu Long làm 565 người chết ( hơn 300 trẻ em), hơn 263.000 ha lúa bị hư hỏng

+ Về bão: Theo thống kê từ năm 1976 đến năm 2014, đã xảy ra 464 cơn bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông Điển hình phải kể đến cơn bão Kate đổ bộ vào Hải Phòng tháng 9/1955 gây nước dâng làm 699 người chết, 12.000 nhà bị đổ, tốc mái; cơn bão Linda đổ bộ vào Cà Mau tháng 11/ 1997 làm 2.900 người chết và mất tích, gần 3.000 tàu thuyền bị chìm, mất tích

+ Về lũ quét và lũ bùn đá: Chúng ta đã chứng kiến trận lũ quét thán 6/1990 trên suối Nậm Lay, thị xã Lai Châu đã quét toàn bộ phần cao trình thấp của thị xã, làm 82 người chết và mất tích; trận lũ quét tháng 9/2002 tại Hương Sơn, Hương Khê làm 83 người chết và mất tích, 370 căn nhà bị cuốn trôi;

+ Về ngập úng: Tình trạng ngập úng diễn ra thường xuyên tại một số thành phố ven biển: Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ Hà Nội cũng chịu ngập úng lịch xử trong trận lụt tháng 11/2008 với 90 điểm ngập sâu từ 0,3 – 1,2 m, khu vực Hoàng Mai ngập tới 2,5m Ngoài lũ, bão, nước ta còn chịu tác động của nhiều loại thiên tai khác như: hạn hán, sa mạc hóa, xâm nhập mặn, tố lốc, sạt lở, động đất, sóng thần, nước biển dâng ở nhiều mức độ khác nhau

Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm thiên tai gia tăng hơn nhiều về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường Chúng ta cũng chịu

Trang 25

17

những thách thức từ quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong đó có việc phát triển các

hồ chứa ở thượng lưu, mạng lưới đường giao thông, các khu đô thị, khu công nghiệp, các hoạt động sinh kế ở khu vực miền núi đã phần nào cản đường thoát lũ, giảm không gian cho nước, gia tăng ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất

Năm 1945, trên cả nước có hơn 3.000 km đê các loại Đến nay, trên cả nước đã có 8.000 km đê các loại trong đó hơn 5.000 km đê sông, gần 3.000 km đê biển Ngoài ra còn hàng nghàn kim bờ bao chống lũ, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương

Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện được xây dựng đã đóng góp rất lớn trong việc nâng mức đảm bảo chống lũ ở Hà Nội lên 500 năm Hệ thống công trình thủy lợi kết hợp kiểm soát lũ khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần đảm bảo ổn định sản xuất từ 2 đến 3 vụ lúa Hệ thống cụm, tuyến dân cư vượt lũ góp phần ổn định chỗ ở, đảm bảo an toàn nhân dân vùng ngập lũ

Phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng được bổ sung, hoàn chỉnh dần theo từng thời kỳ: năm 1964 xác định 4 biện pháp cơ bản, năm 1972 xác định 6 biện pháp cơ bản Năm 2007 bổ sung và điều chỉnh thành 8 biện pháp cơ bản Năm 2011, điều chỉnh

bỏ các khu phân chậm lũ thuộc hệ thống sông hồng

Hợp tác quôc tế được đẩy mạnh, Việt Nam đã ký kết và tích cực tham gia Khung hành động Hyogo, Sendai, Hiệp định ASEAN về giảm nhẹ và ứng phó thảm họa, Uỷ ban bão Tăng cường hợp tác và triển khai các dự án do các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tài trợ

Tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học vào lĩnh vực đê điều và phòng chống lụt bão trong đó có công nghệ trong thu thập dữ liệu tự động, quản lý thông tin thiên tai trên bản đồ trực tuyến, viễn thám; ứng dụng các sáng chế phát minh, chuyển giao công nghệ về các cấu kiện, vật liệu, kết cấu, công nghệ mới trong xây dựng, tu bổ, duy tu, bảo dưỡng công trình phòng chống thiên tai

Trên cơ sở những gì đã đạt được, những mặt còn tồn tại, thuận lợi, khó khăn, thách thức trong thời gian tới và yêu cầu của sự phát triển, chúng ta sẽ tập trung triển khai

Trang 26

18

các nhiệm vụ nhằm xây dựng một xã hội an toàn trước thiên tai, phục hồi nhanh sau thiên tai, đóng góp vào mục tiêu tái cơ cấu ngành, xây dựng nông thôn mới, phát triển bền vững đất nước bao gồm:

- Củng cố tổ chức, bộ máy từ trung ương đến Địa phương Tăng cường năng lực cán

bộ làm công tác phòng, chống thiên tai, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở

- Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống thiên tai trong

đó có tập trung vào các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ động phòng, chống thiên tai

- Rà soát chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2020 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng hướng tới quản lý rủi ro

- Rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, ngành, lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển

- Xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai quốc gia, kế hoạch và phương án phòng, chống thiên tai các cấp theo hướng quản lý tổng hợp, theo lưu vực sông

- Nâng năng lực dự báo, cảnh báo các loại hình thiên tai đạt trình độ tương đương nhóm các nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á

- Tiếp tục xây dựng, củng cố nâng cấp đê sông, đê biển, hồ chứa, khu neo đậu tàu thuyền tránh trú, công trình phòng, chống thiên tai đảm bảo chống lũ, bão theo thiết

kế, phấn đấu chống lũ, bão ở mức cao hơn, giảm tình trạng khô hạn, xâm nhậm mặn

- Tiếp tục di dân tái định cư vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai

- Tiếp tục tăng cường quản lý, hỗ trợ tàu, thuyền đánh bắt xa bờ, trang thiết bị đủ thiết

bị thông tin liên lạc

- Tiếp tục tăng cường khoa học công nghệ, tư duy quản lý tiên tiến của thế giới

- Tiếp tục tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về thiên tai; tăng cường xã hội hóa, tạo môi trường, cơ chế, tăng cường vận động để doanh nghiệp, nhân dân, cộng đồng chủ động hơn trong phòng chống thiên tai

Trang 27

19

- Tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế, tham gia tích cực, chủ động trong các diễn đàn,

cơ chế hợp tác về phòng, chống thiên tai trong khu vực và trên thế giới

- Thiên tai, lũ, bão là những hiện tượng thường xuyên, ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt chúng ta là một trong năm nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng; nếu có sự chuẩn bị chu đáo tốt về các mặt từ xây dựng cơ sở vật chất đến tổ chức lực lượng, vật tư và các phương tiện phòng tránh, phát huy truyền thống 70 năm, với kinh nghiệm đã có từ bao thế hệ đi trước chúng ta sẽ giành được thế chủ động để phòng chống và phòng tránh có hiệu quả giảm nhẹ đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, lũ, bão gây ra nhất là giảm thiệt hại về người và tài sản, góp phần đảm bảo phát triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước

1.4.1 Nh ững hạn chế về quản lý chất lượng thi công công trình đê điều

Với mỗi sự cố sảy ra trong mùa mưa bão đều được xử lý tạm thời bằng các biện pháp công trình sau đó cần lập báo cáo đánh giá hiện trạng và lên phương án khắc phục, lên

kế hoạch vốn để đâu tư khắc phục dứt điểm Chất lượng công trình trong giai đoạn thi công phụ thuộc vào nhiều yếu tố của quá trình thi công như: vật liệu, kỹ thuật thi công, giám sát thi công… và chịu ảnh hưởng lớn từ các giai đoạn nghiên cứu trước đó

Công trình đê điều do nằm ở địa chất thường xấu và không ổn định, đất bão hòa nền dễ thấm và sạt lở do vậy việc khảo sát địa chất là rất quan trọng để đánh giá đúng chính xác đất trong thân đê và nền để có biện pháp xử lý như khoan phục gia cố hay bóc bỏ đắp mới

Kinh phí đầu tư xây dựng cao nên chủ đầu tư thường hạn chế biện pháp kỹ thuật xử lý đẫn đến đê chì được cứng hóa mặt nhiều còn phần mái đê chưa được đầu tư gia cố Đất đắp đê khi được vận chuyển về không được giám sát chặt chẽ tỉ lệ hạt sét ít, rải san đầm không theo tiêu chuẩn dẫn đến độ chặt nhiều chỗ không đồng đều

Khi lấy mẫu thí nghiệm lại chọn vị trí mà đơn vị thi công chủ định trước nên mẫu thí nghiệm thì đạt còn chất lượng thực tế đa phần không đạt

Có sự qua lại giữa đơn vị thi công và chủ đầu tư, do phần lớn dự án hiện nay đơn vị thi công là đơn vị chạy vốn nên chất lượng công trình ảnh hưởng bởi nhiều mối quan hệ

Trang 28

20

1.4.2 Ý nghĩa của công tác quản lý chất lượng thi công công trình đê điều

Quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công là một giai đoạn vô cùng quan trọng

+ Thi công xử lý kip tiến độ và chất lượng phục vụ kịp thời theo nhiệm vụ công trình

đề ra

+ Giảm được chi phí đầu tư xửa chữa duy tu

+ Đảm bảo công trình vận hành ổn định, an toàn trong mùa mưa lũ

1.5 Các d ạng sự cố thường xảy ra trong mùa lũ bão với đê sông

1.5.1 S ự cố sạt mái đê phía đồng

Đây là sự cố thường xuyên vào mùa mưa lũ, lúc đầu xuất hiện dọc theo mái đê những vết nứt nhỏ hình cung, sau đó nó phát triển rộng ra cả chiều rộng và chiều dài Nếu không xử lý kịp thời làm cho mái đê bị sụt từng mảng, nguy hiểm hơn cung trượt là mất một phần mặt đê trong lúc nước lũ cao

Nguyên nhân là do sát chân đê có hồ đầm ao, mái đê quá dốc, đất đắp áp trúc không đảm bảo kỹ thuật, địa chất nền yếu khi bị ngậm nước sức chống cắt trong đất giảm Đây cũng là một hiện tượng phổ biến đối với đê sông khi chênh lệch mực nước thượng

hạ lưu lớn Hiện tượng sảy ra nếu không khắc phục kịp thời thì nguy cơ mất an toàn có thể gây vỡ đê là hoàn toàn có thể

Mùa mưa bão nãm 2016 do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3, mực nước trên sông Cầu đạt đỉnh lũ cao hơn báo động 1 là 0,38 m vào ngày 21/8, tại khu vực K35+580 đê tả sông Cầu thuộc thôn Ngọ Khổng, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang hiện đang có sự cố sạt trýợt mái cõ đê phía đồng, cung sạt dài 21 m, rộng 4 m, sạt đến mép mặt cõ đê, chênh lệch khối trýợt tại vị trí sạt lở cao 2m, tổng chiều dài sạt lở khoảng 100 m, sau đó xử lý khẩn cấp mất 10 tỷ

Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Giang, sự cố sạt lở trên rất nguy hiểm, có xu hướng tiếp tục phát triển, nếu không được xử lý khẩn cấp sẽ ảnh hưởng đến an toàn đê

Trang 29

21

Hình 1.6: Một đoạn mái đê sông đáy Km124 - Km125 huyện Thanh Liêm năm 2012

1.5.2 S ự cố thẩm lậu và rò ở mái đê phía đồng

Khi nước sông dâng cao nước thấm qua thân đê rồi thẩm lậu ra từng vùng ở mái hạ lưu, nếu là thẩm lậu nước trong thì cần có biện pháp xử lý sớm Làm cho nước thoát ra

rễ ràng không để cho đất ở mái đê bị ướt sũng bùng nhùng, không được để nước thoát

ra là nước đục, khi ấy các hạt đất bị cuốn ra gây rỗng thân đê đến một thời điểm nào

đó đê bị sụt, có thể vỡ đê nếu không xử lý kịp thời

Đây là hiện tượng phổ biến vào mùa mưa lũ ở các tuyến đê sông, do mặt cắt đê nhỏ, đất đắp không đạt độ chặt, áp lực cột nước thượng lưu và hạ lưu cao

Hàng năm vào mùa mưa lũ hầu như các tuyến đê đọc sông Hồng, sông Đuống đều sảy

ra một vài sự cố Mặc dù các tuyến đê cấp 3 đến cấp đặc biệt đã cơ bản được cứng hóa nhưng do tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, vùng mặt đê trở thành huyết mạch giao thông số lượng xe vận tải lớn chở vật liệu xây dựng, gạch ngói, cát, làm hư hỏng mặt

đê

Ngoài ra, địa chất nền của các tuyến đê trên địa bàn Hà Nội rất phức tạp, nhiều đoạn

đê có địa chất xấu, hệ thống đầm, hồ, ao, ven đê nhiều nên mùa mưa lũ thường xuất hiện mạch sủi, giếng sủi, mạch đùn, bùng nhùng dễ gây sự cố ảnh hưởng đến an toàn

đê điều Do biến động của thời tiết, lượng nước về mùa cạn xuống rất thấp, làm cho sự

Trang 30

22

chênh lệch mực nước giữa mùa lũ và mùa khô lớn đã gây ra hiện tượng sạt lở mạnh Liên tiếp những vụ sạt lở trên hệ thống sông Hồng, sông Đà, sông Đuống ngày càng nghiêm trọng gây bất ổn cho dân cư ven sông và đe dọa an toàn hệ thống đê điều

1.5.3 Sóng v ỗ làm xói lở mái đê phía sông

Khi nước sông dâng lên cao cộng với gió to kết hợp đà sóng dài tạo sóng vỗ vào mái

đê gây sạt sở thượng lưu Do đê không được gia cố mái, đất đắp đê là đất rời, độ chặt không đảm bảo Đây là hiện tượng thường xuyên sảy ra trên các tuyến sông mà mái thượng lưu chưa được bảo vệ, nếu không xử lý kịp thời xói lở ăn xâu vào thân đê, mặt cắt đê bị thu hẹp có thể gây vỡ đê

Với con sông lớn lưu lượng tàu thuyền đi lại nhiều, tầu công suất lớn tạo một luồng sóng mạng vỗ vào mái đê, ngay cả khi không có lũ trên sông thi hiện tượng sạt lở vẫn sảy ra Như ở sông Tiền, An Giang ở điều kiện tự nhiên, tập quán sinh sống và làm ãn đặc thù của vùng sông nước nên ngýời dân miền Tây thường xây cất nhà dọc các bờ sông, kênh rạch

Sau này để tiện lợi việc đi lại, vận chuyển nên nhiều cõ sở sản xuất, kinh doanh cũng bám theo mặt sông, mặt kênh, dần dà hình thành những khu vực dân cư, phố chợ ngày càng đông đúc

Ông Lữ Cẩm Khường, phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, cho biết thống kê ban đầu toàn tỉnh có hơn 30.000 hộ sống ven sông từ lâu đời tại những nõi hiện có khả nãng sạt lở, phần lớn do trước đây làm nghề nông, đánh bắt thủy sản, nay không có điều kiện thay đổi chỗ ở

Tuy nhiên, do các khu vực dân cý ven sông hình thành lâu đời, ngýời dân vẫn xây dựng, cõi nới thêm, thay đổi kết cấu nhà cửa bằng vật liệu kiên cố

Ngoài nguyên nhân biến đổi dòng chảy thì do xây dựng nhà cửa gây áp lực lên bờ sông cũng góp phần làm sạt lở

Hiện nay khu vực miền Tây Nam Bộ đang là điểm nóng trong sạt lở bờ sông, mái sông Nếu không có biện pháp xử lý khẩn cấp thì hiện tượng các ngôi nhà bị nước

Trang 31

Tóm lược được vai trò của hệ thống đê điều đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và đưa ra những tồn tại trong việc quản lý hệ thống đê điều trong nước hiện nay; một số sự cố thường gặp khi mùa mưa lũ đến gây mất an toàn đê điều

Qua thực tế hoạt động quản lý đê điều, luận văn đã đưa ra được một số đánh giá về năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian qua Để hiểu rõ hơn tác giả đi vào cơ sở lý luận nhằm nâng cao chất lượng thi công xử lý khẩn cấp sự cố đê sông trong mùa mưa bão

Trang 32

24

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU

2.1 C ơ sở lý luận về quản lý chất lượng thi công

2.1.1 Khái quát v ề quản lý chất lượng xây dựng

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu và quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát

và tự giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác

Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng có vai trò to lớn đối với nhà thầu, chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng nói chung, vai trò đó được thể hiện cụ thể là:

- Đối với nhà thầu thi công, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng

sẽ tiết kiệm nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động Nâng cao chất lượng công trình xây dựng là tư liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng tới tăng năng suất lao động, thực hiện tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu

- Đối với chủ đầu tư, đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ thoả mãn được các yêu cầu của chủ đầu tư, tiết kiệm được vốn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Đảm bảo và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng hộ của chủ đầu tư với nhà thầu, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là yếu tố quan trọng, quyết định sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng

- Hàng năm, vốn đầu tư dành cho xây dựng rất lớn Vì vậy quản lý chất lượng công trình xây dựng rất cần được quan tâm Thời gian qua, còn có những công trình chất lượng kém, bị bớt xén, rút ruột khiến dư luận bất bình Do vậy, vấn đề cần thiết đặt ra

đó là làm sao để công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có hiệu quả

Đặc biệt do đặc thù khi thi công xử lý khẩn cấp sự cố nên chất lượng thi công phải được coi trọng hơn cả đảm bảo nhanh - chất lượng - an toàn Khi diễn biến sự cố vẫn

Trang 33

25

còn sảy ra thì việc xử lý là hết sức khó khăn, phức tạp Đỏi hỏi các bên liên quan phải

có sự giám sát rất chặt chẽ, phát hiện và có biện pháp xử lý sớm

Qua các thời kỳ phát triển, các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư ởnước ta đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng công trình vì nó quyết định hiệu quả của dựa án, góp phần quan trọng đối với tốc

độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Cơ sở để quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công xử lý khẩn cấp cũng tương tự như quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công là nhữngvăn bản của Nhà nước, tiêu chuẩn của ngành, quy chuẩn Quốc gia và tiêu chuẩn cho công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt Hồ sơ lập thiết kế công trình với quyết định phê duyệt là những căn cứ để thực hiện quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình xây dựng Nhà nước đã hoàn thiện các Luật, các Nghị định, Thông tư, các văn bản về quản lý chất lượng công trình xây dựng từ Trung ương đến địa phương theo một số mô hình quản lý đầu tư khác nhau Các qui phạm, tiêu chuẩn, qui chuẩn có liên quan tới chất lượng xây dựng công trình Thủy lợi

Các văn bản trên quy định: Chính phủ thống nhất Quản lý nhà nước về xây dựng công trình trên phạm vi cả nước; Bộ Xây dựng thống nhất Quản lý nhà nước về Chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi cả nước; các Bộ có quản lý Công trình xây dựng chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc Quản lý chất lượng; UBND cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm Quản lý nhà nước về xâydựng trên địa bàn theo

phân cấp của Chính phủ [3]

2.1.2 Nh ững yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình được tạo thành từ nhiều yếu tố từ chủ quan đến khách quan Nhưng cơ bản vẫn do con người, con người có thể làm chất lượng tốt lên cũng như là chất lượng kém đi, con người chi phối các yếu tố khác như vật liệu, máy móc, biện pháp thi công

2.1.2.1 Y ếu tố về con người

Để quản lý chất lượng công trình tốt thì yếu tố con người là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình Với CĐT, khi năng lực quản lý yếu kém

Trang 34

26

hay không đủ năng lực quản lý các nhà thầu trong giai đoạn thi công xây dựng thì chất lượng công trình khó đảm bảo Với Nhà thầu TVGS được CĐT thuê thì đơn vị TVGS đóng vai trò là người kiểm soát toàn bộ chất lượng công trình trong giai đoạn thi công Khi năng lực của cán bộ TVGS không đáp ứng được yêu cầu công việc, yếu trong chuyên môn và quy trình quản lý thi công của nhà thầu không đảm bảo thì trách nhiệm

về việc đảm bảo chất lượng công trình thuộc về các nhà tư vấn giám sát thi công Với nhà thầu thi công cán bộ phải là những kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm cao Công nhân phải

có tay nghề cao, ý thức trách nhiệm cao, có sức khỏe Kiểm soát tốt được chất lượng cán bộ, công nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công trình Điều này được thể hiện

ở tùng công trình cụ thể mà nhà thầu thực hiện, nếu công trình nào có chỉ huy trưởng công trường có thâm niên công tác và kinh nghiệm thi công các công trình tương tự càng nhiều thì về mặt chất lượng, tiến độ, chi phí của nhà thầu sẽ cao hơn hẳn công trình được chỉ huy bởi một người còn thiếu kinh nghiệm thực tế

Sự chỉ đạo kịp thời khẩn cấp đúng mục đích luôn hạn chế được tối đa các rủi ro, ngăn ngừa được sự cố Đối với các sự cố khẩn cấp yếu tố con người luôn là rất quan trọng phát hiện sự lý kịp thời Do sự cố thường sảy ra nhanh nên người quản lý cần có một kinh nghiệm cũng như năng lực tốt ra quyết định đúng đắn Cần có sự chuẩn bị đội ngũ sẵn sang ứng phó 24/24 với tinh thần và trách nhiệm cao nhất

2.1.2.2 Y ếu tố vật tư máy móc thiết bị

Vật tư bao gồm vật liệu xây dựng, cấu kiện, bán thành phẩm, linh kiện…được đưa vào quá trình xây lắp tạo ra các công trình hoàn thiện Vật tư có vai trò quan trọng, là điều kiện tiên quyết trong việc đảm bảo chất lượng công trình Quản lý và xử dụng đúng các chủng loại vật liệu, đảm bảo chất lượng và số lượng các loại vật tư sẽ góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng Để làm được điều đó thì cần phải thực hiện toàn bộ quá trình từ khi tìm kiếm, khai thác nguồn cung cấp vật tư cho đến khi đưa vật

tư vào sản xuất và thi công

Thời gian thi công xử lý sự cố là rất nhanh chóng nên quá trình quản lý vật liệu máy móc cần phải được chú trọng đặc biệt

Trang 35

27

- Vật tư được huy động một cách tối đa nhanh nhất có thể, cũng có thể từ nhiều nguồn khác nhau nên chất lượng sẽ thấp hơn các công trình thi công bình thường nên đòi hỏi phải có sự chuẩn bị từ trước Từ thực tế hàng năm đưa ra nhận định về sự cố có thể sảy

ra ở vị trí, đoạn từ đó có sự chuẩn bị trước về vật tư máy móc

- Máy móc luôn phải được túc trực với chất lượng tốt và thợ vận hành nhiều kinh nghiệm Đã từng thi công và sự lý sự cố tương tự

- Kiểm soát vật liệu:

+ Trước khi cho triển khai bất cứ công việc nào, toàn bộ vật tư vật liệu đều phải được kiểm tra, lấy mẫu, thử nghiệm, thử nghiệm lại kể cả bị loại do không đạt yêu cầu + Mọi vật tư, vật liệu chưa qua thử nghiệm và chưa được Tư vấn giám sát chấp thuận

mà Nhà thầu tự ý đưa vào xử dụng sẽ không được thanh toán và phải di dời hoặc đập

bỏ Chi phí di dời, đập bỏ và làm lại sẽ do Nhà thầu chịu

+ Tiêu chuẩn thử nghiệm để đánh giá chất lượng vật tư, vật liệu tuân thủ theo các Tiêu chuẩn thử nghiệm của Nhà cung cấp được chấp thuận

+ Yêu cầu về hệ thống quản lý và kiểm soát chất lượng về vật liệu của Nhà thầu tuân thủ theo các các Điều, Khoản có liên quan của Điều kiện hợp đồng và các yêu cầu trong chỉ dẫn kỹ thuật của hồ sơ mời thầu được duyệt

+ Công tác thử nghiệm đánh giá chất lượng vật tư vật liệu theo các yêu cầu trên đây được cấu thành trong đơn giá bỏ thầu của Nhà thầu khoản Trực tiếp phí, trừ khi có yêu cầu khác trong Hợp đồng

- Kho chứa vật liệu cũng cần được xây dựng để dự trứ trước mùa mưa bão

+ Vật liệu phải được cất trong kho theo qui định để đảm bảo chất lượng và tính hiện trạng vốn có của chúng cho công trình như các cây, que chống Vật liệu sẽ được để ở mặt bằng sạch, chắc chắn và khi cần phải được che đậy cẩn thận Vật liệu cất vào kho phải được bố trí để cho phép kiểm tra nhanh chóng Tài sản riêng chỉ được lưu kho để

sử dụng khi có giấy phép (bằng văn bản) của người chủ và người thuê

Trang 36

28

+ Nơi làm kho chứa phải được chuẩn bị bằng cách dọn dẹp sạch sẽ, bằng phẳng ra vào

thuận tiện [4] [5]

2.1.2.3 Y ếu tố về quản lý thi công

Hàng tuần, nhà thầu luôn tổ chức 1 cuộc họp với ban chỉ huy công trường để nắm bắt tình hình thi công và chủ động giải quyết các vướng mắc, khó khăn

Quá trình tổ chức thi công đảm bảo tuân thủ các trình tự, thủ tục trong quản lý dự án Các bộ phận chức năng trên công trường hoạt động mang tính chuyên môn hóa cao nên đem lại hiệu quả công việc tốt và năng suất lao động tăng cao

Công tác lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình đã thực hiện khá tốt: thực hiện đầy

đủ hồ sơ pháp lý; có thể hiện rõ số liệu kỹ thuật và biên bản nghiệm thu vật liệu, nghiệm thu cấu kiện thi công; nhật ký thi công có ghi rõ ràng, có đánh giá chính xác về diễn biến ở công trường

Cho đến nay, có rất nhiều dự án đã được đưa vào xử dụng đảm bảo chất lượng và yêu cầu xử dụng, không phát hiện những hư hỏng về kết cấu công trình sau khi bàn giao Một số công trình nhận được bằng khen từ phía chủ đầu tư và cơ quan nhà nước tặng Những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý thi công

Chậm tiến độ vẫn là xu hướng phổ biến trong các công trình

Ở một số công trình trong giai đoạn thi công vẫn có nhiều sai hỏng phải xửa chữa hoặc đập đi làm lại gây lãng phí và giảm chất lượng cho cấu kiện sai hỏng

Việc truyền đạt thông tin từ ban chỉ huy xuống và giữa các bộ phận còn nhiều hạn chế Chưa có quy trình quản lý chất lượng kỹ thuật tổng thể

Công tác nghiệm thu công việc nội bộ còn chưa được chú trọng Vai trò của bộ phận KCS chưa được đánh giá cao trong công tác quản lý chất lượng kỹ thuật nội bộ Tư tưởng của Ban chỉ huy đối với bộ phận này thường chỉ chú trọng đến công tác hồ sơ

Do đó khi nghiệm thu công việc với TVGS vẫn còn nhiều lỗi và thậm chí khó khắc phục những lỗi đó

Trang 37

29

Nguyên nhân của những mặt hạn chế đó

+ Chậm trong giải phóng mặt bằng

+ Bất lợi của thời tiết, mùa lũ

+ Năng lực cán bộ phụ trách thi công thiếu linh hoạt

+ Tài chính huy động cho công trình thường thiếu (cũng có nguyên nhân do chủ đầu tư chậm giải ngân)

+ Các công trình thi công không huy động được công nhân có tay nghề tốt, hoặc có đông công nhân nhưng điều hành không hợp lý làm cho năng suất lao động thực tế kém đi

+ Điều chỉnh thiết kế, chưa chủ động trong triển khai thi công cũng góp phần lớn làm chậm tiến độ thi công

+ Vẫn xảy ra 1 số hư hỏng nhẹ là do trình độ tay nghề của công nhân không đều, do các đội và xí nghiệp thuê lao động mùa vụ nhưng không kiểm soát được chất lượng công nhân

+ Người kiểm soát bản vẽ triển khai thi công của bộ phận không làm hết trách nhiệm

mà chủ yếu phụ thuộc vào nhân viên vẽ Điều này dẫn đến tình trạng vẫn có những sai sót, nhầm lẫn trong bản vẽ không được phát hiện sớm nên thi công xong lại phải dỡ ra làm lại

+ Bộ phận KCS chưa làm hết trách nhiệm trong việc kiểm soát chất lượng công việc của các tổ công nhân

+ Chưa thiết lập quy trình xử lý sự không phù hợp về chất lượng chung cho các dự án của Công ty Quá trình xử lý sự không phù hợp về chất lượng phụ thuộc nhiều vào ý thức chất lượng của Ban chỉ huy công trình

Quản lý thi công trong giai đoạn này hết sức quan trọng đảm bảo kịp tiến độ để công

trình phát huy được tác dụng khi mùa mưa bão đến

Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công khẩn cấp mùa mưa bão

Trang 38

30

Cũng như các lĩnh vực khác của sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng công trình xây dựng có nhiều nhân tố ảnh hưởng Có thể phân loại các nhân tố đó theo nhiều tiêu chí khác nhau Trong phạm vi luận văn này chỉ để cập tới việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng theo tiêu chí chủ quan và khách quan

- Địa chất công trình: Nếu như địa chất phức tạp, ảnh hưởng tới công tác khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư, thiết kế phải bàn bạc tính toán lại, mất thời gian do thay đổi,

xử lý các phương án nền móng công trình, ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến độ thì đây là một điều bất lợi, bởi công việc

xử lý nền móng phải tốn một thời gian dài

Bên cạnh đó các công trình xử lý khẩn cấp thường là các vị trí hàng năm quan trắc được sự cố nên địa chất tại vị trí đó thường là yếu, đẫn đến thời gian thi công xử lý nền lâu làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình Do vậy cần có sự kết hợp và tạo điều kiện giữa chủ đầu tư và tư vấn để kịp thời sự lý sự cố đúng tiến độ

- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thi công xây dựng, các nguyên vật liệu dự trữ tại các kho bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết

bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời

2.1.2.5 Nhân t ố chủ quan

Là những yếu tố doanh nghiệp có thể kiểm soát được và chúng xuất phát từ phía bản thân doanh nghiệp thực hiện

Trang 39

31

- Đơn vị thi công: Đơn vị thi công xây dựng trên công trường là người biến sản phẩm xây dựng từ trên bản vẽ thiết kế thành sản phẩm hiện thực Do vậy đơn vị thi công đóng vai trò khá quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng công trình cũng như công tác quản lý chất lượng Do vậy bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi đơn vị có được, mỗi cá nhân cũng như toàn đơn vị đề phải được bồi dưỡng, đào tạo nhận thức về chất lượng và tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng để

họ có ý thực hiện nghiêm chỉnh Đồng thời hướng mọi hoạt động mà họ thực hiện đều phải vì mục tiêu chất lượng

- Chất lượng nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng, một phần hình thành nên công trình, là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng công trình Với tình trạng nguyên vật liệu như hiện nay, chẳng hạn như: xi măng, cát, đá, ngoài những loại có chất lượng tốt, thì cũng có nhiều nguồn kém chất lượng, nếu có xử dụng loại này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng công trình xây dựng, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tới tính mạng con người (khi công trình đã hoàn công và được đưa vào xử dụng) Do vậy, trong quá trình thi công công trình, nếu không được phát hiện kịp thời, sẽ bị một số công nhân ý thức kém, vì mục đích trục lợi trộn lẫn những nguyên vật liệu có chất lượng kém vào những nguyên vật liệu có chất lượng tốt Đây

là trách nhiệm của tư vấn giám sát từ quá trình nhập vật tư đến quá trình triển khai thi công hạng mục công việc

- Khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của đơn vị thi công: Mỗi đơn vị thi công tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định về công nghệ Trình độ hiện đại máy móc thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến chất lượng xây dựng Trong nhiều trường hợp, trình độ và cơ cấu công nghệ đưa ra những giải pháp thiết kế và thi công quyết định đến chất lượng sản phẩm tạo ra Công nghệ lạc hậu khó có thể tạo ra sản phẩm chất lượng cao Xử dụng tiết kiệm có hiệu quả máy móc thiết bị hiện có, kết hợp với công nghệ hiện đại là một trong những hướng quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức và quản lý của đơn vị thi công: Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù có ở trình độ cao nhưng không được tổ chức một cách hợp lý, đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra

Trang 40

32

những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khi nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của đơn vị thi công Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong đơn vị thi công đóng một vai trò hết sức quan trọng

Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của đơn vị thi công Điều này gắn liền với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán

bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến

- Biện pháp kỹ thuật thi công: Các quy trình phải tuân thủ quy phạm thi công, nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng các công trình, các cấu kiện chịu lực sẽ không được đảm bảo Ví dụ như các cấu kiện thi công công trình đặc biệt đúng trình tự, nếu thi công khác đi, các cấu kiện sẽ không được đảm bảo dẫn đến công trình có những phần chịu lực kém so với thiết kế Các công trình xử lý sự cố ở công ty khai thác công trình thủy lợi hay chi cục đê điều thường là nhỏ, thường lập báo cáo kinh tế kỹ thuật do vậy biện pháp thi công là truyền thống thường làm theo các dự án trước đã từng áp dụng

mà ngại nghiên cứu cái mới dẫn đến chất lượng thường chưa cao

- Thiếu vốn nên thi công bị ngừng trệ là nguyên nhân làm chất lượng công trình giảm sút do quá trình thi công bị gián đoạn ảnh hưởng đến vật liệu máy móc cũng như tâm

lý của công nhân [6]

2.1.3 M ột số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng thi công

2.1.3.1 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý con người

- Tỷ lệ cán bộ quản lý kỹ thuật có trình độ chuyên môn

Nếu tỷ lệ này càng nhỏ thì chứng tỏ đơn vị thi công đã không tuyển dụng tốt, trình độ của cán bộ quản lý kỹ thuật thấp sẽ không đáp ứng được yêu cầu công việc Điều này

sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình

Ngày đăng: 22/03/2021, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w