Trên cơ sở lý luận về quản lý chất lượng công trình xây dựng, áp dụng trong tổ chức sản xuất và những đánh giá thực trạng về tình hình áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng nói chung c
Trang 1LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây
Tác giả
Nguyễn Xuân Đỉnh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, học viên xin cảm ơn đến các cán bộ giảng viên của trường Đại học Thủy lợi Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Tiến Chương đã
hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài
“Nghiên cứu hoàn thiện quản lý chất lượng công trình xây dựng của Licogi cho dự
án trụ sở Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam”, chuyên ngành Quản lý xây dựng
Tác giả xin cảm ơn đến Tổng Công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng - Licogi, Trưởng phòng và các cán bộ phòng Xây dựng, Phòng Kinh tế - Kế hoạch đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để học viên hoàn thành khóa cao học và luận văn cuối khóa Cuối cùng, học viên xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên chia sẻ hỗ trợ lúc khó khăn để học viên hoàn thành chương trình học và luận văn cuối khoá của mình
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Xuân Đỉnh
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của Đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 4
1.1 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm 4
1.1.1.Khái niệm chất lượng sản phẩm [3] 4
1.1.2 Phân loại chất lượng sản phẩm [3] 6
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm [3] 7
1.1.4 Quản lý chất lượng sản phẩm [3] 11
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng sản phẩm [3] 12
1.2.1 Nhân tố bên ngoài 12
1.2.2 Nhân tố bên trong 14
1.3 Chất lượng công trình xây dựng [3] 17
1.3.1.Khái niệm công trình xây dựng 17
1.3.2 Chất lượng công trình xây dựng 17
1.3.3 Đặc điểm chất lượng sản phẩm xây dựng 17
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng [1] 19
1.5 Tổng quan về chất lượng công trình xây dựng đã qua của Việt Nam và của Tổng công ty Licogi – CTCP 19
1.5.1 Chất lượng công trình xây dựng của Việt Nam trong những năm qua [4] 19
1.5.2 Chất lượng công trình xây dựng của Tổng công ty LICOGI trong những năm qua [5] 22
1.6 Mô hình quản lý chất lượng công trình tại một số quốc gia tiên tiến trên thế giới [4] 24
1.6.1 Cộng hòa Pháp 24
1.6.2 Hoa Kỳ 25
1.6.3 Singapore 25
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC, LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG, TỔNG QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY LICOGI 27
2.1 Cơ sở khoa học quản lý chất lượng công trình 27
2.1.1 Khái niệm, nguyên tắc chung đảm bảo và quản lý chất lượng công trình xây dựng 27
2.1.2 Quản lý Nhà nước về chất lượng xây dựng công trình 29
2.1.3 Quản lý chất lượng xây dựng công trình của Chủ đầu tư [2] 31
2.1.4 Quản lý chất lượng xây dựng công trình của tổ chức tư vấn giám sát.[2] 32
2.1.5 Quản lý chất lượng xây dựng công trình của Nhà thầu tư vấn khảo sát, thiết kế.[2] 33
2.1.6 Quản lý chất lượng của Nhà thầu xây dựng công trình 34
2.1.7 Quản lý chất lượng của nhà thầu chế tạo, sản xuất, cung cấp vật liệu, sản phẩm, thiết bị, cấu kiện sử dụng cho công trình xây dựng 36
2.1.8 Quản lý an toàn trong quá trình thi công xây dựng công trình 36
2.1.9 Quản lý lập và lưu trữ hồ sơ hoàn thành hạng mục công trình 37
2.1.10 Quản lý công tác tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng 38
2.2 Cơ sở pháp lý quản lý chất lượng công trình 38
2.3 Giới thiệu chung về Tổng công ty Licogi - CTCP 39
2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển cuả Tổng công ty LICOGI - CTCP.[5] 39
2.3.2 Ngành nghề kinh doanh chính [5] 42
2.3.3 Năng lực sản xuất [5] 44
2.3.4 Số năm hành nghề xây dựng.[5] 44
2.4 Tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh của Tổng công ty LICOGI trong giai đoạn 2011÷2015 45
2.4.1 Đánh giá tổng quát [5] 45
2.4.2 Những thuận lợi và khó khăn của Tổng công ty LICOGI – CTCP [5] 46
2.5 Những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng tới công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi - CTCP 49
2.5.1 Đặc điểm về sản phẩm xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng 49
Trang 52.5.2 Đặc điểm của sản xuất xây dựng ảnh hưởng đến vấn đề chất lượng 49
2.5.3 Đặc điểm nguyên vật liệu sử dụng cho công trình 51
2.5.4 Đặc điểm về thị trường xây dựng 51
2.5.5 Đặc điểm về lao động trong ngành xây dựng 52
2.5.6 Đặc điểm về cơ cấu hoạt động 52
2.5.7 Đặc điểm về khả năng tài chính 53
2.6 Chiến lược sản xuất kinh doanh trong giai đoạn 2016÷2020 của Tổng công ty LICOGI – CTCP [5] 53
2.6.1 Chiến lược chung 53
2.6.2 Chiến lược về sản xuất xây lắp 54
2.6.3 Chiến lược về công tác tổ chức quản lý và điều hành sản xuất 56
2.6.4 Kế hoạch kinh doanh 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CỦA TỔNG CÔNG TY LICOGI ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI TỔNG CÔNG TY LICOGI – ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN TRỤ SỞ CƠ QUAN TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM 60
3.1 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi trong giai đoạn 2011 ÷ 2015 60
3.1.1 Công tác quản lý kỹ thuật thi công 60
3.1.2 Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng Nhân sự trong Tổng công ty Licogi 62
3.1.3 Công tác quản lý và sử dụng máy móc trong Tổng công ty Licogi 63
3.1.4 Công tác quản lý vật tư, vật liệu sử dụng cho các công trình 64
3.2 Những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi 65
3.2.1 Hạn chế trong công tác quản lý kỹ thuật thi công, giám sát chất lượng công trình 65
3.2.2 Hạn chế trong công tác kiểm soát và quản lý vật liệu đầu vào 66
3.2.3 Hạn chế trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân kỹ thuật 67
Trang 63.2.4 Hạn chế trong công tác quản lý chất lượng máy móc, thiết bị 673.2.5 Hạn chế trong việc áp dụng công nghệ thi công mới vào trong xây dựng 683.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi - CTCP 693.3.1 Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của Tổng công ty theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, lập kế hoạch kiểm soát đảm bảo chất lượng công trình, xiết chặt công tác giám sát hiện trường 693.3.2 Xây dựng chính sách phù hợp để nâng cao trình độ, chuyên môn của cán bộ kỹ thuật, công nhân viên trong Tổng công ty đáp ứng được yêu cầu ngày càng lớn của ngành xây dựng từ nguồn ngân sách Tổng công ty và người học 723.3.3 Tăng cường công tác giám sát, nghiệm thu, quản lý hồ sơ chất lượng công
trường 743.3.4 Tăng cường công tác kiểm soát chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng sử dụng cho công trình 763.3.5 Đầu tư chiều sâu và nâng cao hiệu quả hoạt động của máy móc, thiết bị 783.3.6 Ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới, biện pháp thi công tiên tiến vào thi công công trình 813.4 Áp dụng giải pháp nâng cao quản lý chất lượng cho công trình “trụ sở làm việc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam” 833.4.1 Giới thiệu chung về dự án 833.4.2 Áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001-2008 vào sơ đồ quản lý chất lượng công trình và quản lý chất lượng cho các công tác thi công 843.4.3 Tăng cường công tác kiểm soát chất lượng công trường 883.4.4 Áp dụng giải pháp vào tổ chức nhân sự quản lý chất lượng công trình 903.4.5 Áp dụng giải pháp tăng cường công tác giám sát, nghiệm thu, quản lý hồ sơ quản lý chất lượng cho từng công tác thi công 923.4.6 Áp dụng giải pháp tăng cường công tác kiểm soát quản lý chất lượng vật tư, vật liệu phục vụ thi công 973.4.7 Áp dụng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của máy móc thiết bị 983.4.8 Áp dụng giải pháp ứng dụng công nghệ mới, biện pháp thi công tiên tiến vào thi công công trình 98
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
KẾT LUẬN 100
KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng 6
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty Licogi – CTCP 41
Hình 3 1 Sơ đồ hệ thống quản lý chất lượng 85
Hình 3 2 Sơ đồ nghiệm thu công việc xây lắp 86
Hình 3 3 Sơ đồ nghiệm thu chuyển giai đoạn xây lắp 86
Hình 3 4 Sơ đồ nghiệm thu hoàn thành gói thầu bàn giao cho Chủ đầu tư 87
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Bảng năng lực sản xuất Tổng công ty Licogi 44Bảng 2 2 Số năm hành nghề xây dựng Tổng công ty Licogi 45Bảng 2.3 Các số liệu tổng hợp về tài chính của Tổng công ty trong 3 năm gần đây
2012, 2013, 2014 48Bảng 2.4 Các công trình hoàn thành mang lại sự hài lòng của khách hàng 61Bảng 2 5 Trình độ đội ngũ lao động Tổng công ty Licogi trong giai đoạn 2011-2015 63Bảng 3.1 Chi tiết kế hoạch đầu tư một số dự án lớn trong các năm 2014, 2015, 2016,
2017 57Bảng 3.2 Các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản trong các năm 2015, 2016, 2017 58
Trang 10VHTT: Văn hóa thể thao
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn CHTCT: Chỉ huy trưởng công trường
PCH: Phó Chỉ huy trưởng
BCH: Ban chỉ huy
CBKT: Cán bộ kỹ thuật
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải chấp nhận cạnh tranh bởi vì quy luật cạnh tranh là quy luật vốn có, chi phối các hoạt động của nền kinh tế thị trường Muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện
về mọi mặt, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Một trong những biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là từng bước hoàn thiện về mặt tổ chức quản lý sản xuất, cải tiến và không ngừng áp dụng các phương thức tổ chức sản xuất tiên tiến, phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, công tác xây dựng cơ bản có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng, biện pháp thi công, trang thiết bị, đội ngũ Cán bộ kỹ thuật xây dựng Nhiều công trình lớn mang tầm vóc quốc tế
đã được xây dựng bởi chính đội ngũ Kỹ sư Việt Nam Nhà nước tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản như: Cơ sở hạ tầng giao thông (bao gồm đường bộ, đường sắt, hệ thống cầu lớn nhỏ, cảng biển, cảng sông, cảng hàng không ); Cơ sở phục vụ cho nông nghiệp (bao gồm các cụm công trình đầu mối thủy lợi, hệ thống cấp thoát nước phục vụ nông nghiệp ); Các công trình phát triển công nghiệp như dầu khí, khai thác khoáng sản, các cụm công nghiệp lớn; Các khu đô thị, khu dân cư kiểu mới được quy hoạch và được xây dựng ngày một nhiều đáp ứng nhu cầu về nhà ở và làm việc của người dân cả nước Bên cạnh những thành tựu to lớn, một vấn đề rất được xã hội quan tâm đó là chất lượng công trình trong xây dựng Chất lượng công trình xây dựng không đảm bảo sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống an sinh của người dân Chỉ tính từ năm 2000 đến nay, trong phạm vi cả nước các công trình không đảm bảo về chất lượng trong xây dựng ngày một nhiều, điển hình như: Công trình nâng cấp, cảo tạo quốc lộ 18 đoạn qua Uông Bí – Quảng Ninh, Công trình sửa chữa mặt cầu Thăng Long, sập cầu Cần Thơ Gần đây nhất, qua báo chí phản ánh đó là công trình tuyến cầu máng dẫn nước dài 15km có vốn đầu tư là 119 tỷ đồng tại huyện Hàm Tân (Bình Thuận) vừa được khánh thành đã hư hỏng Các công trình không đảm
Trang 12bảo về chất lượng đã gây nên những bức xúc và lo lắng cho dư luận, ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp của cả ngành xây dựng
Trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay, quản lý chất lượng công trình ngày càng được hoàn thiện để nâng cao chất lượng và tiến độ công trình, song còn rất nhiều vướng mắc
và tồn tại cần khắc phục Trên cơ sở lý luận về quản lý chất lượng công trình xây dựng, áp dụng trong tổ chức sản xuất và những đánh giá thực trạng về tình hình áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng nói chung cũng như Tổng Công ty LICOGI - CTCP nói riêng
Xuất phát từ luận điểm trên, Tác giả luận văn chọn đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện
quản lý chất lượng công trình xây dựng của Licogi cho dự án trụ sở Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam” để tìm hiểu, nghiên cứu về các vấn đề chất lượng công trình xây
dựng của Tổng công ty LICOGI - CTCP, đưa ra một số giải pháp để khắc phục những bất cập còn tồn tại
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, tình hình thực hiện quản lý chất lượng xây dựng công trình, qua đó tìm ra những ưu thế và tồn tại trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi, để đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
Nghiên cứu hoàn thiện quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Tổng công ty Licogi
cho dự án xây dựng trụ sở làm việc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng công trình xây dựng và công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Tổng công ty Licogi cho dự án trụ sở làm việc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
Trang 13Chương 1: Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Chương 2: Cơ sở lý luận quản lý chất lượng công trình xây dựng Tổng quát về quá trình hinh thành và phát triển của Tổng công ty Licogi
Chương 3: Thực trạng và hạn chế trong công tác quản lý chất lượng của Tổng công ty Licogi Đề xuất một số phương pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Licogi – Áp dụng cho dự án trụ sở Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu:
- Điều tra khảo sát, thu nhập và thống kê số liệu
- Phân tích, đánh giá, tổng hợp
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
1.1 1.Khái niệm chất lượng sản phẩm [3]
Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể
Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất
Một quan điểm thứ 3 về chất lượng theo định nghĩa của W A Shemart, “chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó”
Quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất Theo họ quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu thiết kế sản phẩm Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với vấn đề công nghệ và đề cao vai trò của công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm với chất lượng cao Quan điểm này cho rằng
“chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi sản xuất”
Để khắc phục những hạn chế tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm, khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan mặt khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà chất lượng của sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh nghiệp, cho tổ chức Cụ thể hơn, khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực sự
Trang 15xuất phát từ hướng người tiêu dùng Theo quan điểm này thì “chất lượng là sự phù hợp một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”, với khái niệm trên về chất lượng thì bước đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh phải là việc nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng về các loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp trên thị trường
Ngoài các khái niệm đã nêu ở trên, còn một số khái niệm khác về chất lượng sản phẩm cũng được đưa ra nhằm bổ xung cho các khái niệm đã được nêu ra trước đó Cụ thể theo các chuyên gia về chất lượng thì chất lượng là:
- Sự thoả mãn người tiêu dùng
Như vậy, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau đều có một điểm chung nhất Đó là “sự phù hợp với yêu cầu”
Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp là sự thoả mãn yêu cầu trên tất
cả các phương diện sau:
- Tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm;
- Giá cả phù hợp;
- Thời gian;
- Tính an toàn và độ tin cậy
Có thể mô hình hoá các yếu tố của chất lượng tổng hợp như sau:
Trang 16Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng Cho tới nay, quan niệm về chất lượng sản phẩm tiếp tục được mở rộng hơn nữa Trên thực tế, ta thấy rằng các doanh nghiệp không theo đuổi chất lượng với bất cứ giá nào
mà luôn đặt nó trong một giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội
1 1.2 Phân loại chất lượng sản phẩm [3]
- Phân loại chất lượng theo hệ thống ISO 9000: Theo tiêu thức này, chất lượng sản phẩm được chia thành các loại sau:
+ Chất lượng thiết kế: Chất lượng thiết kế của sản phẩm là bảo đảm đúng các thông số trong thiết kế được ghi lại bằng văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường, các đặc điểm của sản xuất, tiêu dùng và tham khảo các chỉ tiêu chất lượng cả các mặt hàng cùng loại
+ Chất lượng tiêu chuẩn: Là mức chất lượng bảo đảm đúng các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm do các tổ chức quốc tế, nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền quy định
+ Chất lượng thực tế: Là mức chất lượng sản phẩm thực tế đạt được do các yếu tố nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, phương pháp quản lý chi phối
+ Chất lượng cho phép: Là mức chất lượng có thể chấp nhận được giữa chất lượng thực tế và chất lượng tiêu chuẩn, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- kỹ thuật, trình độ
Trang 17lành nghề của công nhân, phương pháp quản lý của doanh nghiệp
+ Chất lượng tối ưu: Là mức chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao chất lượng lớn hơn chi phí đạt mức chất lượng đó
- Phân loại theo mục đích công dụng của sản phẩm
+ Chất lượng thị trường: Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định Nói cách khác, chất lượng là thị trường, là khả năng sản phẩm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng có khả năng cạnh tranh trên thị trường, sức tiêu thụ nhanh hiệu quả cao
+ Chất lượng thị hiếu: Là mức chất lượng của sản phẩm phù hợp với ý thích sở trường, tâm lý của người tiêu dùng
+ Chất lượng thành phần: Là mức chất lượng có thể thoả mãn nhu cầu mong đợi của một số người hay một số nhóm người Đây là mức chất lượng hướng vào một nhóm người nhất định, một số bộ phận tạo nên chất lượng toàn diện, đáp ứng nhu cầu theo sở thích cá nhân
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm [3]
1.1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan
- Thị trường: Đề cập tới các yếu tố cung, cầu, giá cả, quy mô thị trường, cạnh tranh
Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Trên cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là đối tượng nào? Quy mô ra sao? và tiêu thụ ở mức như thế nào?
Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định
Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quan tâm tới khía cạnh thẩm
mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm
Trang 18- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật: Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã
hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: Tự động hoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tạo ra những thay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác và vận hành công nghệ có hiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì thời gian để chế tạo công nghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút ngắn lại Sự ra đời của một công nghệ mới thường đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ không thể ngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều
- Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước: Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý
nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việc ban hành các hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hành kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan, các chính sách ưu đãi cho đầu
tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng, tạo động lực phát huy tính
tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và
nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông và tiêu dùng
Trang 19Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết
bị, máy móc hoạt động ngoài trời Khí hậu, nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho côn trùng,
vi sinh vật hoạt động làm cho sản phẩm bị phân huỷ, nấm mốc, thối rữa ảnh hưởng tới hình thức và chất lượng của sản phẩm Điều này dễ dàng gặp ở các sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp, ngư nghiệp
- Văn minh và thói quen tiêu dùng: Trình độ văn hoá, thói quen và sở thích tiêu dùng
của mỗi người là khác nhau Điều này phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố tác động như: Thu nhập, trình độ học vấn, môi trường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, mỗi khu vực
Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao thì văn minh
và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn Vì thế, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cao sản phẩm của mình để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của người tiêu dùng
1.1.3.2 Nhóm các nhân tố chủ quan
Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp
có thể (hoặc coi như có thể) kiểm soát được Nó gắn liến với các điều kiện của doanh nghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, trình độ quản lý Các nhân
tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
- Trình độ lao động của doanh nghiệp: Trong tất cả các hoạt động sản xuất, xã hội,
nhân tố con người luôn luôn là nhân tố căn bản, quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nó được phản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm của từng lao động trong doanh nghiệp Trình độ của người lao động còn được đánh giá thông qua sự hiểu biết, nắm vững về phương pháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụng của máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ và các điều kiện đảm bảo an toàn trong doanh nghiệp
Trang 20Để nâng cao chất lượng quản lý
trong doanh nghiệp cũng như nâng cao trình độ năng lực của lao động thì việc đầu tư phát triển và bồi dưỡng cần phải được coi trọng
- Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng: Đối với mỗi doanh nghiệp,
công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định tới chất lượng sản phẩm Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng với trình độ công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản phẩm có chất lượng cao Ngược lại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công nghệ là có thể có được những sản phẩm chất lượng cao, mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc, thiết bị Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt thì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình độ của các doanh nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rất nhiều và không thể tách rời trình độ công nghệ thế giới
- Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp: Các yếu tố sản xuất như
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù có ở trình độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khí nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanh nghiệp Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng
- Chất lượng nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào
quá trình sản xuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể có được những sản phẩm có
Trang 21chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất không bảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra
sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu
- Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp: Theo quan điểm quản trị chất lượng sản
phẩm hiện đại, mặc dù công nhân là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là người phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm sản xuất ra Trong thực tế,
tỷ lệ liên quan đến những vấn đề trong quản lý chiếm tới 80% Do vậy, họ phải nhận thức được rằng đó không chỉ do lỗi ở trình độ tay nghề người công nhân mà còn do chính bản thân mình Trên thực tế, liệu đã có nhà quản lý nào đặt cho chính họ những câu hỏi như: Họ bố trí lao động đã hợp lý chưa? Việc bố trí có phát huy được khả năng, trình độ tay nghề của người công nhân hay không? Sản phẩm sản xuất với chất
lượng kém có phải do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay do nguyên nhân nào khác
1.1.4 Quản lý chất lượng sản phẩm[3]
- Theo GOST (15467-70): Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí
- Theo A.G.Robertson: Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau
để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và
Trang 22bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng
- Theo Philip Crosby: Là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động
- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: Quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng
Như vậy, tuy còn nhiều tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, song nhìn chung chúng có những điểm giống nhau như:
- Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu
- Thực chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cách khác, quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý
- Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội) Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng sản phẩm [3]
1.2.1 Nhân tố bên ngoài
1.2.1.1 Nhân tố vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp cho doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp phải đối phó với cái gì, từ đó tìm ra các giải pháp, những hướng đi đúng cho doanh nghiệp trong việc sản xuất kinh doanh Mỗi nhân tố của môi trường vĩ mô có thể tác động trực tiếp tới doanh nghiệp hoặc tác động đến doanh nghiệp thông qua các tác động khác
Trang 23- Nhân tố chính trị và thể chế: Sự ổn định chính trị, việc công bố các chủ trương, chính
sách, các đạo luật, các pháp lệnh và nghị định cũng như các quy định pháp quy có ảnh hưởng đến doanh nghiệp, tác động đến cách thức của doanh nghiệp Mỗi quy định mới được công bố sẽ có thể tạo đà cho doanh nghiệp này phát triển, nhưng cũng có thể thu hẹp phạm vi hoạt động của doanh nghiệp khác
- Nhân tố kinh tế: Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng vô cùng lớn đến doanh nghiệp
Chúng rất rộng rãi, đa dạng và phức tạp Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm các nhân tố như lãi suất ngân hàng, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ
Vì các nhân tố này rất rộng nên từng doanh nghiệp cần xuất phát từ các đặc điểm của doanh nghiệp của mình mà chọn lọc các nhân tố có liên quan để phân tích các tác động
cụ thể của chúng, từ đó xác định được các nhân tố có thể ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh cũng như tới hoạt động quản lý chất lượng của doanh nghiệp
- Nhân tố xã hội: Các nhân tố xã hội thường thay đổi chậm nên thường khó nhận ra,
nhưng chúng cũng là các nhân tố tạo cơ hội hoặc gây ra những nguy cơ đối với doanh nghiệp
Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ có thể có những thay đổi nhanh, doanh nghiệp cần chú ý phân tích kịp thời để đón bắt cơ hội hoặc phòng tránh nguy cơ
- Nhân tố khoa học - kỹ thuật - công nghệ: Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật cũng như cuộc cách mạng công nghệ, các nhân tố này càng trở nên quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việc áp dụng những công nghệ mới, những thành tựu mới của khoa học và kỹ thuật mang lại sức cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp
- Nhân tố tự nhiên: Các điều kiện về vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt
đến các quyết định của doanh nghiệp Vấn đề sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, năng lượng cũng như các vấn đề về môi trường, đòi hỏi các doanh nghiệp có các biện pháp xử lý thích đáng để bảo đảm sự hài hòa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người tiêu dùng và xã hội
1.2.1.2 Nhân tố trực diện
Trang 24- Đối thủ cạnh tranh: Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh với mình là điều cực kỳ
quan trọng đối với doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Chính sự cạnh tranh giữa các đối thủ sẽ quyết định tính chất và mức độ ganh đua trong công việc cũng như trên thị trường
+ Doanh nghiệp phải phân tích từng đối thủ cạnh tranh để hiểu và nắm bắt được các ý
đồ của họ cũng như các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể thực hiện để giành lợi thế
+ Doanh nghiệp phải biết đối thủ của mình đang làm gì, mục đích chiến lược của họ như thế nào, phương thức quản lý chất lượng của họ, họ đã có chính sách chất lượng
và hệ thống chất lượng chưa?
+ Bên cạnh những đối thủ hiện có, cũng cần phát hiện và tìm hiểu những đối thủ tiềm
ẩn mới mà sự tham gia của họ trong tương lai có thể mang lại những nguy cơ mà doanh nghiệp phải thay đổi chính sách để ứng phó với những tình thế mới
+ Doanh nghiệp cũng không thể coi nhẹ những sản phẩm tiềm ẩn có thể thay thế hoặc hạn chế sản phẩm của mình trên thị trường, do đó phải thường xuyên nghiên cứu cải tiến thiết kế, đổi mới công nghệ để không ngừng hoàn thiện sản phẩm của mình
- Người cung cấp: Những người cung cấp là một phần quan trọng trong hoạt động của
doanh nghiệp có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đó là những nguồn cung cấp nguyên - nhiên - vật liệu, chi tiết, phụ tùng, máy móc, trang - thiết bị, cung cấp vốn cho doanh nghiệp, Họ là chỗ dựa vững chắc cho doanh nghiệp Họ có thể gây áp lực với doanh nghiệp bằng cách tăng giá, giảm giá, giảm chất lượng hoặc cung cấp không đủ số lượng, không đúng thời hạn Doanh nghiệp cần có đủ thông tin
về những người cung cấp, lựa chọn những bạn hàng tin cậy và tạo nên mối quan hệ lâu dài với họ
- Khách hàng: Khách hàng là nhân tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Sự tín nhiệm của khách hàng là mục tiêu của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt khi doanh nghiệp thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ của mình
1.2.2 Nhân tố bên trong
Trang 25- Phân tích nội bộ đòi hỏi phải thu thập, xử lý những thông tin về tiếp thị, nghiên cứu - triển khai, sản xuất, tài chính qua đó hiểu được mọi công việc ở các bộ phận, hiểu được mọi người, tìm ra những mặt mạnh và mặt yếu của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp để phát huy mọi nguồn lực trong doanh nghiệp
- Quá trình phân tích nội bộ của doanh nghiệp cùng với quán trình phân tích môi trường bên ngoài tác động đến doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm ra những mặt mạnh và mặt yếu, tìm ra những cơ hội thuận lợi và thách thức hiểm nguy, từ đó đề
ra những chiến lược, mục tiêu, chính sách của doanh nghiệp, đề ra những chính sách chất lượng thích hợp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững Đề đạt được điều này doanh nghiệp cần xem xét đến những vấn đề sau đây:
+ Trình độ phát triển chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh
+ Nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy động vốn, giá thành, lợi nhuận
+ Cơ sở hạ tầng, nguyên - nhiên - vật liệu, máy móc dụng cụ, trang - thiết bị của doanh nghiệp, trình độ công nghệ hiện tại, khả năng cải tiến, đổi mới công nghệ, khả năng đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng
+ Tình hình tổ chức quản lý trong doanh nghiệp nói chung và quản lý chất lượng nói riêng trong doanh nghiệp
+ Tình hình đội ngũ cán bộ - công nhân viên trong doanh nghiệp: bộ máy lãnh đạo, trình độ và tư cách đạo đức của cán bộ - công nhân viên, công tác tuyển chọn, sử dụng,
bố trí, bồi dưỡng đào tạo
+ Tình hình xây dựng và các văn bản trong doanh nghiệp (chính sách, mục tiêu, kế hoạch, quy chế, nội dung, )
+ Tình hình triển khai, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các hoạt động tiêu chuẩn hóa như:
• Chất lượng trong thiết kế
Trang 26• Chất lượng trong cung ứng vật tư
• Chất lượng chuẩn bị sản xuất
• Chất lượng trong quá trình sản xuất và dịch vụ
• Chất lượng trong đo lường, kiểm tra, thử nghiệm, xác nhận
• Chất lượng trong bao gói, lưu kho, vận chuyển
• Chất lượng trong quá trình lưu thông, phân phối
• Chất lượng lắp đặt và vận hành
• Chất lượng bảo hành, bảo trì và hỗ trợ kỹ thuật
• Chất lượng trong giám sát thị trường
• Chất lượng trong thanh lý, tận dụng
• Chất lượng trong hoạt động Maketing
+ Tình trạng đảm bảo an toàn vệ sinh
+ Tình hình áp dụng các phương pháp thống kê trong quản lý chất lượng
+ Hoạt động thông tin phục vụ cho quản lý chất lượng
+ Hoạt động đào tạo phục vụ cho đảm bảo và nâng cao chất lượng
+ Tình hình hợp tác nội bộ và với bên ngoài trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng
+ Triển vọng xây dựng và thực hiện chính sách chất lượng, hệ thống chất lượng trong doanh nghiệp
- Phân tích các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, doanh nghiệp sẽ đánh gái chính xác bản thân và các đối tác có liên quan, qua đó đưa ra những biện pháp quản lý chất lượng có hiệu quả cũng như đề ra những chiến lược phát triển đúng đắn, xây dựng
và thực hiện được một hệ chất lượng phù hợp với doanh nghiệp để nâng cao vị trí của
Trang 27mình trên thị trường
1.3 Chất lượng công trình xây dựng [3]
1.3.1.Khái niệm công trình xây dựng
"Công trình xây dựng" là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, NN&PTNT, công trình hạ tầng kỹ thuật
Các công trình xây dựng được phân thành các nhóm có đặc điểm kỹ thuật tương tự nhau, gồm: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình thủy lợi, công trình giao thông, công trình hạ tầng kỹ thuật
1.3.2 Chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng sản phẩm xây dựng cũng không ngoài khái niệm chất lượng sản phẩm, song do đặc điểm của sản phẩm xây dựng nên khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng cụ thể hơn và nó phản ánh tập trung ở chất lượng công trình xây dựng
Nói theo một cách khác chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính an toàn bền vững, mỹ quan, kinh tế của công trình phù hợp với các Quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của Nhà nước
1.3.3 Đặc điểm chất lượng sản phẩm xây dựng
- Sản phẩm XD có khối lượng, quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ xã hội
để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải phù hợp với văn hoá dân tộc Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia như chùa Một cột ở Hà nội, tháp Eiffel ở Paris và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình và còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử
Trang 28dụng Vì vậy, khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại, hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tư xây dựng và giảm tuổi thọ công trình
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn Số lượng chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ
- Sản phẩm xây dựng do nhiều chủ thể tham gia tạo nên, vì vậy nó có liên quan trực tiếp đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình Do đó thúc đẩy được sự phát triển kinh tế của mỗi vùng, địa phương nơi công trình xây dựng
- Sản phẩm xây dựng được sản xuất tại nơi tiêu thụ, vì thế nó phụ thuộc nhiều vào đơn đặt hàng của chủ đầu tư, nhu cầu sử dụng, điều kiện địa lý, xã hội và địa chất công trình nơi xây dựng
- Sản phẩm xây dựng gắn chặt với đất đai nên sau khi hoàn thành, nhiều bộ phận bị che khuất nên không thể đánh giá chất lượng sau khi sản phẩm đã hoàn thành, mà phải qua thời gian sử dụng, khai thác mới đánh giá hết được lợi ích mà nó mang lại đối với cảnh quan, môi trường tự nhiên và cộng đồng, nhất là dân cư của địa phương nơi đặt công trình
- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật và quốc phòng Sản phẩm chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết
kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất
ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn
Trang 29giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp
về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng,
lũ, lụt đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động này để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của nó Có thể nói sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học – kỹ thuật và văn hóa trong từng thời giai đoạn phát triển của một đất nước
- Sản phẩm xây dựng được sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng định trước của bên mua (chủ đầu tư) nên sản phẩm xây dựng nào được sản xuất đáp ứng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn thì được đánh giá là đảm bảo chất lượng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng [1]
- Nhân tố chủ đầu tư;
- Nhân tố tài chính;
- Nhân tố năng lực nhà thầu xây dựng, nhà thầu cung ứng vật tư, thiết bị;
- Nhân tố về tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế;
- Nhân tố tay nghề công nhân, kỹ thuật thi công
1.5 Tổng quan về chất lượng công trình xây dựng đã qua của Việt Nam và của Tổng công ty Licogi – CTCP
1.5.1 C hất lượng công trình xây dựng của Việt Nam trong những năm qua [4]
Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hoá đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP Vì vậy chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người Trong thời gian qua công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng - yếu tố quan
Trang 30trọng quyết định đến chất lượng công trình xây dựng - đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh đội ngũ công nhân các ngành xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi… góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; xây dựng hàng chục triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hoá, thể thao… thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân
Tuy nhiên bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít các công trình
có chất lượng kém, không đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong bộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:
- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng
Trang 31- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định
- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -
2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành
Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng
Chúng ta đã thiết kế, thi công nhiều công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp như: Hầm qua Đèo Ngang, hầm Hải Vân, cầu Bãi cháy, cầu Mỹ Thuận, toà nhà Trung tâm hội nghị Quốc gia, hồ chứa nước Định Bình, công trình thủy lợi Cửa Đạt, hồ chứa nước Ka La (Lâm Đồng), hồ chức nước Tràng Vinh, thuỷ điện A Vương, thuỷ điện Sơn La và các đô thị mới hiện đại đã và đang mọc lên bằng chính bàn tay, khối óc con người Việt Nam Các công trình đang từng bước phục vụ đời sống của nhân dân, góp phần nâng cao năng suất, CLSP, tăng cường năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc
- Đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai hoàn thành với 245 km đường cao tốc loại A
- Tòa nhà Keangnam khu phức hợp khách sạn, văn phòng, căn hộ, trung tâm thương mại với 72 tầng, chiều cao 336m
- Nhà máy thủy điện Sơn La với công suất lắp đặt 2400MW, diện tích lưu vực 43.760
Trang 32km2, dung tích hồ chưa 9,26 tỷ m3
Với thực trạng trên có thể thấy rằng, chất lượng các CTXD ở nước ta về cơ bản là tốt Phần lớn các công trình đều đảm bảo độ an toàn, công năng sở dụng đảm bảo yêu cầu thiết kế và hiện tại đang phát huy tốt vai trò về CLCT trong mọi mặt của đời sống xã hội Điều đó cho thấy rằng các hoạt động đầu tư xây dựng từ ý tưởng đầu tư, thực hiện đầu tư, đến hoàn thiện bàn giao công trình đưa vào khai thác sử dụng đươc thực hiện tốt
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích nổi bật mà HĐXD đạt được, vẫn còn nhiều vấn
đề tồn tại, thiếu sót cần phải được xem xét, uốn nắn và quản lý chặt chẽ hơn để trong tương lai chúng ta xây dựng được những công trình không còn tình trạng bị lãng phí
về kinh phí đầu tư, tránh được sự cố công trình, tăng được tuổi thọ công trình, điển hình như:
+ Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ là một trong những thảm họa cầu đường và tai nạn xây dựng nghiêm trọng nhất tại Việt Nam xảy ra vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại
xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Hai nhịp cầu dẫn cao khoảng 30 mét giữa ba trụ cầu đang được xây dựng thì bị đổ sụp, kéo theo giàn giáo cùng nhiều công nhân, kỹ sư đang làm việc xuống đất
+ Rò rỉ nước đập thủy điện sông Tranh 2 gấp 5 lần mức cho phép
+ Đập bê tông dài 60 m, cao khoảng 20 m của thủy điện Đak Mek 3 bị đổ sập, hàng trăm khối đá, bê tông rơi xuống suối Đak Mek Chủ đầu tư cho rằng xe tải đã "đâm sập đập thuỷ điện"
1.5.2 Chất lượng công trình xây dựng của Tổng công ty LICOGI trong những năm qua [5]
- Trong những năm qua, Tổng công ty LICOGI đã tham gia thực hiện rất nhiều dự án, trong đó có các dự án trọng điểm quốc gia như: Nhà ga hành khách quốc tế T1 Nội Bài, Nhà máy xay bột mỳ Cái Lân, Nhà máy đóng tàu Dung Quất, Phần ngầm trụ sở
Bộ Công An, Cọc khoan nhồi Nhà Quốc Hội, Thủy điện A Vương, Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu
Trang 33- Công tác quản lý chất lượng luôn được Tổng công ty LICOGI đặc biệt chú trọng và phát triển Với bề dầy kinh nghiệm tham gia những công trình có khối lượng lớn, kết cấu phức tạp, nhưng Tổng công ty Licogi luôn hoàn thành khối lượng công việc được giao, chất lượng và tiến độ công trình đảm bảo Tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại cần giải quyết Để cải thiện công tác quản lý chất lượng công trình, Tổng công ty LICOGI
đã áp dụng các chương trình quản lý tiên tiến như Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2008
- Công tác nghiệm thu, giám sát được thực hiện theo đúng quy trình quản lý chất lượng đã ban hành của Tổng công ty LICOGI và các quy định hiện hành của pháp luật
- Đối với thiết bị phục vụ thi công và thí nghiệm, Tổng công ty LICOGI sử dụng đúng theo yêu cầu thiết kế
- Trong quá trình thi công các công trình xây dựng Tổng công ty LICOGI luôn tuân thủ điều kiện kỹ thuật và quy trình quản lý chất lượng của công trình dưới sự giám sát của Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát Kết quả nén mẫu bê tông đúc tại hiện trường và khoan lấy mẫu đều đạt yêu cầu thiết kế
- Công tác quản lý vật liệu đầu vào:
+ Đối với vật liệu đưa vào công trường phải được kiểm tra chứng chỉ xuất xưởng, khối lượng và tiến hành lấy mẫu để thí nghiệm theo yêu cầu thiết kế và chỉ được đưa vào sử dụng khi có kết quả đảm bảo các yêu cầu thiết kế
+ Công tác quản lý vật liệu đầu vào được tập hợp từng đợt tập kết lên công trường và đưa vào hồ sơ quản lý chất lượng của từng hạng mục theo tiến độ
- Công tác lập hồ sơ quản lý chất lượng và nghiệm thu hoàn thành hạng mục:
+ Hồ sơ nghiệm thu công việc (khối đổ bê tông, khoan phun, đào đất đá…): Hiện nay trong quá trình thi công các Đơn vị thi công phải có hồ sơ mời nghiệm thu công việc xây dựng trước khi nghiệm thu và hoàn thành các yêu cầu chỉnh sửa ngoài hiện trường sau 3 ngày đồng ý nghiệm thu công việc ngoài hiện trường để làm hồ sơ QLCL của từng công việc
Trang 34+ Hồ sơ hoàn công nghiệm thu hoàn thành hạng mục: Sau khi kết thúc công tác thi công một hạng mục công việc hoặc giai đoạn thi công theo Bản vẽ thi công, Tổng công ty tiến hành tập hợp đầy đủ hồ sơ Quản lý chất lượng cho nghiệm thu công việc của các hạng mục sau đó lập hồ sơ hoàn công hoàn thành hạng mục (giai đoạn thi công) đồng thời lập biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục đưa vào sử dụng với Chủ đầu tư
- Công tác An toàn và vệ sinh môi trường luôn được coi trọng, thường xuyên kiểm tra đôn đốc và hướng dẫn AT&VSLĐ tại công trường thi công, thực hiện đúng các nội quy về an toàn và biện pháp an toàn đã được thỏa thuận với Chủ đầu tư và theo quy định của pháp luật, đảm bảo các yêu cầu và điều kiện theo biện pháp thi công an toàn được chấp thuận
1.6 Mô hình quản lý chất lượng công trình tại một số quốc gia tiên tiến trên thế giới [4]
1.6 1 Cộng hòa Pháp
Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh
về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Ngày nay, nước Pháp
có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các
tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó,
để quản lý chất lượng các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ
có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế,
Trang 35thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
1.6 2 Hoa Kỳ
Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản
vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
1.6.3 Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt
Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự
ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng
Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ
Trang 36quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc
sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã hệ thống một cách logic có chọn lọc các vấn đề cơ bản về chất lượng công trình xây dựng trên cơ sở phân tích các yếu tố như chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phảm, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình Từ đó có cái nhìn tổng quan về tiêu chí chất lượng trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, tác giả cũng đưa ra các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình xây dựng
Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra cái nhìn tổng quan về chất lượng công trình đã qua của Việt Nam và chất lượng công trình đã qua của Tổng công ty Licogi – CTCP nói riêng Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra kinh nghiệm QLXD tại một số nước tiên tiến trên thế giới như Cộng Hòa Pháp, Hoa Kỳ, Singapore Những vấn đề cơ bản tiếp theo của chất lượng công trình sẽ được tác giả đề cập ở chương 2
Trang 37CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC, LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY LICOGI
2.1 Cơ sở khoa học quản lý chất lượng công trình
2.1.1 Khái niệm, nguyên tắc chung đảm bảo và quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của các bên hữu quan đến quá trình đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo cho công trình đáp ứng tốt nhất các yêu cầu và mục tiêu chất lượng phù hợp với những tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật đã định, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu sử dụng của xã hội
Quản lý chất lượng công trình bao gồm việc xác định các chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và việc thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng và cải tạo chất lượng công trình
Tất cả các công trình xây dựng (xây mới, mở rộng, cải tạo, ) thuộc các thành phần kinh tế, đều phải thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định quản lý chất lượng công trình ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ số 46/2015/NĐ-CP[1] Hoạt động đảm bảo và quản lý chất lượng công trình phải tuân theo các nguyên tắc chung sau đây:
- Chất lượng công trình xây dựng phải được đảm bảo và quản lý xuyên suốt quá trình đầu tư xây dựng và cả giai đoạn khai thác công trình, thực hiện trong mọi quá trình, mọi công việc tạo nên thực thể công trình Hoạt động quản lý phải gắn liền với hoạt động đảm bảo chất lượng trong suốt quá trình đó
Theo nguyên tắc này quản lý chất lượng công trình xây dựng phải được thực hiện ở tất
cả các giai đoạn tham gia vào việc tạo nên thực thể công trình đó là:
+ Quản lý chất lượng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư;
Trang 38+ Quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện đầu tư;
+ Quản lý chất lượng trong giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác
+ Thi công xây lắp;
+ Mua sắm máy móc, thiết bị;
+ Bảo hành, bảo trì, bảo hiểm công trình v.v
- Tất cả các tổ chức, cá nhân các cấp tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng đều có trách nhiệm đảm bảo, quản lý chất lượng công trình Các tổ chức, cá nhân đó hoạt động gắn liền với môi trường luật pháp, cạnh tranh, khách hàng, Sự tác động qua lại giữa các yếu tố này hình thành môi trường, nội dung, yêu cầu và các biện pháp quản lý chất lượng công trình
Theo nguyên tắc này hoạt động đảm bảo và quản lý chất lượng công trình xây dựng phải được tất cả các chủ thể tham gia thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của họ
Các chủ thể sau đây phải có trách nhiệm đảm bảo và quản lý chất lượng công trình xây dựng:
+ Cơ quan quản lý Nhà nước;
+ Chủ đầu tư;
+ Nhà tư vấn;
Trang 39+ Các tổ chức cung ứng v.v ;
+ Những người được hưởng lợi từ xây dựng và khai thác công trình
- Quản lý chất lượng phải được thực hiện thông qua một hệ thống các biện pháp kinh
tế, công nghệ, tổ chức, hành chính và giáo dục, thông qua một cơ chế nhất định và hệ thống các tiêu chuẩn định mức, hệ thống kiểm soát, các chính sách khuyến khích Chuẩn mực để đánh giá chất lượng công trình xây dựng phải dựa trên các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, dự án, thiết kế được duyệt, hợp đồng kinh tế đã được ký duyệt và các văn bản pháp quy khác có liên quan
2.1.2 Quản lý Nhà nước về chất lượng xây dựng công trình
Là hoạt động can thiệp gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày giữa người đặt hàng (chủ đầu tư) và người bán hàng (các nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng – một loại sản phẩm có tính đơn chiếc và không cho phép có phế phẩm
Bản chất của hoạt động quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là mang tính vĩ mô, tính định hướng, tính hỗ trợ và tính cưỡng chế của cơ quan công quyền Các cơ quan quản lý Nhà nước chịu trách nhiệm về tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn được phân cấp quản lý chứ không phải là chất lượng cụ thể của từng công trình
Nội dung của quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là: Tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng hướng tới việc hình thành công trình có chất lượng cao làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Sau khi đã tạo được môi trường pháp lý và kỹ thuật, Nhà nước phải tổ chức hướng dẫn việc thực thi trong thực tế Việc kiểm tra phải được thực hiện theo đúng nội dung và thẩm quyền nhằm cưỡng chế các chủ thể thực hiện đầy đủ về nội dung và trình tự quy định trong
công tác bảo đảm chất lượng công trình xây dựng
Hệ thống quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được phân cấp như sau:
Trang 40Bộ xây dựng: Thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng công trình trong phạm vị cả nước, có trách nhiệm:
- Ban hành hoặc thỏa thuận để các Bộ có xây dựng chuyên ngành, Bộ quản lý chuyên ngành kỹ thuật ban hành các quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Giám định sự cố công trình xây dựng theo phân cấp
- Tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chất lượng công trình xây dựng theo quy định
- Thường trực hội đồng nghiệm thu Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng đối với các công trình quan trọng cấp Quốc gia
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
- Sở xây dựng và Sở có xây dựng chuyên ngành giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh thành phố
- Các Sở, Ủy ban nhân dân, Quận, Huyện, Ủy ban nhân dân phường, xã được Ủy ban nhân dân tỉnh giao làm chủ dự án phải chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình với tư cách là chủ đầu tư theo các nội dung quy định tại Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ [1]
Các bộ có xây dựng chuyên ngành có trách nhiệm:
- Ban hành các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng chuyên ngành sau khi có thỏa thuận với Bộ xây dựng
- Hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng đối với các công trình xây dựng chuyên ngành do Bộ quản lý trên phạm vi
cả nước
- Tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất công tác đảm bảo chất lượng công trình xây