Thường Tín; Phù Sa thị xã Sơn Tây; hệ thống tưới trạm bơm Ấp Bắc huyện Đông Anh; Đan Hoài Đan Phượng; Thanh Điềm Mê Linh; Trung Hà Ba Vì và các hệ thống tưới bằng trọng lực lấy nước từ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ với đề tài
“ Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân, thành phố Hà Nội”
Có được kết quả này, trước tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Trọng Hoan, người thầy đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các Thầy, các Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy trong thời gian tác giả học tập tại Trường Đại học Thuỷ lợi, các Thầy Cô giáo tron g Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Thuỷ lợi nơi tác giả thực hiện Luận văn đã nhiệt tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để tác giả hoàn thành được các nội dung của đề tài
Tác giả cũng xin dành cho gia đình cùng các đồng nghiệp đang công tác tại
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Chi cục Thủy lợi Hà Nội, Công ty trách nhiêm hữu hạn Một thành viên Đầu tư phát triển thủy lợi Sông Nhuệ và Phòng Kinh tế các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Trì đã chia sẻ khó khăn, cung cấp tài liệu và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả có đủ thông tin tài liệu trong quá trình thực hiện đề tài
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vì thời gian thực hiện Luận văn có hạn, trình
độ bản thân còn hạn chế nên không thể tránh được những sai xót Tác giả xin trân trọng và mong được tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp./
Hà Nội, ngày 02 tháng 3 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Văn Đức
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Hà Nội, ngày 02 tháng 03 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Đức
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TƯỚI VÀ PHÂN TÍCH HIỆU
QUẢ DỰ ÁN TƯỚI 1
1.1 Tổng quan về hệ thống tưới 1
1.1.1 Tổng quan về hệ thống tưới[] 1
1.1.2 Nội dung quản lý khai thác CTTL 2
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác CTTL 2
1.2 Những hiệu quả mà hệ thống tưới mang lại 3
1.2.1 Cấp nước tưới phục vụ SXNN 4
1.2.2 Góp phần phát triển du lịch sinh thái 4
1.2.3 Cấp nước phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ 4
1.2.4 Cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân 5
1.2.5 Cấp nước cho nuôi trồng thủy sản và phát triển chăn nuôi 5
1.2.6 Kết hợp phục vụ phát triển lâm nghiệp, giao thông 6
1.2.7 Phòng chống hạn hán, bảo vệ môi trường 6
1.3 Phương pháp đánh giá HQKT của hệ thống tưới 6
1.3.1 Khái niệm về HQKT của hệ thống tưới 6
1.3.2 Nguyên tắc xác định HQKT của dự án tưới 7
1.3.3 Hiệu quả kinh tế của hệ thống tưới trong giai đoạn quản lý vận hành 7
1.3.4 Các phương pháp đánh giá HQKT của hệ thống tưới 8
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá HQKT và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT của hệ thống tưới 12
1.4.1 Chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo[] 12
1.4.2 Chỉ tiêu giá trị - giá trị sử dụng[] 15
1.4.3 Nhóm các chỉ tiêu chi phí - lợi ích[] 15
1.4.4 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy lợi 19
1.4.5 Lựa chọn phương pháp 21
Trang 61.4.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT của hệ thống tưới 21
1.5 Kinh nghiệm quản lý, vận hành và khai thác hệ thống tưới 22
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác CTTL ở nước ngoài 22
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác CTTL ở trong nước 23
1.6 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 26
Kết luận Chương 1 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ SAU CẢI TẠO NÂNG CẤP HỆ THỐNG TƯỚI TRẠM BƠM HỒNG VÂN 30
2.1 Giới thiệu khái quát về hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 30
2.1.1 Vị trí địa lý và nhiệm vụ của hệ thống 30
2.1.2 Hiện trạng dân số và xã hội trong vùng dự án 31
2.1.3 Tình hình sử dụng đất trong vùng 31
2.1.4 Định hướng phát triển kinh tế xã hội trong vùng 32
2.2 Quá trình thiết kế, xây dựng hệ thống thủy lợi Hồng Vân 33
2.2.1 Hiện trạng hệ thống trước khi cải tạo nâng cấp 33
2.2.2 Quy mô thiết kế cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 35
2.2.3 Tiến độ thực hiện dự án đến thời điểm hiện nay 39
2.3 Quá trình khai thác, vận hành 40
2.3.1 Giới thiệu khái quát về đơn vị quản lý 40
2.3.2 Công tác quản lý vận hành các hệ thống tưới của Công ty 44
2.3.3 Hiện trạng quản lý vận hành hệ thống những năm gần đây 44
2.4 Phân tích HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 48
2.4.1 Hiệu quả kinh tế của hệ thống theo nhiệm vụ thiết kế 48
2.4.2 Phân tích HQKT của hệ thống theo thực tế khai thác 55
2.4.3 So sánh HQKT của hệ thống theo nhiệm vụ thiết kế và thực tế khai thác 60 2.4.4 Đánh giá chung 62
2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến HQKT của dự án trong quản lý vận hành 62
2.5.1 Những nhân tố tích cực 62
Trang 72.5.2 Những nhân tố làm giảm HQKT của dự án 63
2.5.2.1 Về quy hoạch hệ thống kênh mương, cơ cấu cây trồng 63
Kết luận Chương 2 68
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HQKT SAU CẢI TẠO NÂNG CẤP HỆ THỐNG TƯỚI TRẠM BƠM HỒNG VÂN 69
3.1 Khái quát về quy hoạch phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển thủy lợi thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 69
3.1.1 Quy hoạch phát triển nông nghiệp[] 69
3.1.2 Quy hoạch phát triển thủy lợi[] 74
3.1.3 Hiện trạng phân cấp quản lý CTTL trên địa bàn thành phố Hà Nội 75
3.1.4 Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội 77
3.1.5 Kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp hoàn thiện hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 79
3.1.6 Định hướng phát triển của Công ty TNHH Một thành viên ĐTPT thủy lợi Sông Nhuệ[] 79
3.2 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 80
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao HQKT hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 83
3.3.1 Giải pháp quy hoạch hoàn thiện hệ thống kênh mương 83
3.3.2 Giải pháp đầu tư xây dựng các hạng mục còn lại và toàn bộ hệ thống 86
3.3.3 Giải pháp trong giai đoạn quản lý vận hành, khai thác hệ thống 90
Kết luận Chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Bản đồ hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 30
Hình 2.2: Trạm bơm Hồng Vân trước khi cải tạo nâng cấp 33
Hình 2.3: Công trình đầu mối trạm bơm Hồng Vân sau khi cải tạo nâng cấp 36
Hình 2.4: Bản vẽ mặt cắt dọc nhà máy trạm bơm Hồng Vân 37
Hình 2.5: Kênh Bắc – hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân 38
Hình 2.6: Mô hình quản lý thủy lợi của thành phố Hà Nội 45
Hình 2.7: Biểu đồ diễn biến mực nước sông Hồng tại Hà Nội trong mùa kiệt[] 65
Hình 3.1: Giải pháp công nghệ tiết liệm nước tưới 92
Hình 3.2: Kiên cố hóa kênh tưới nội đồng bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn 93 Hình 3.3: Hình thức tuyên truyền về công tác quản lý, khai thác và bảo vệ CTTL 98
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các loại diện tích đất khu vực nghiên cứu 31
Bảng 2.2: Thống kê các công trình trên kênh thay thế công trình cũ 39
Bảng 2.3: Thực trạng tổ chức và cơ cấu nhân lực của Công ty 41
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện dịch vụ tưới, tiêu năm 2014 - 2015 43
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp trước khi có dự án 50
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp sau khi có dự án 50
Bảng 2.7: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm từ SXNN (theo thiết kế) 51
Bảng 2.8: Thu nhập thuần tuý nuôi trồng thuỷ sản trước khi có dự án 52
Bảng 2.9: Thu nhập thuần tuý từ nuôi trồng thuỷ sản sau khi có dự án 52
Bảng 2.10: Tổng hợp thu nhập thuần túy hàng năm của dự án theo thiết kế 53
Bảng 2.11: Tổng hợp chi phí quản lý vận hành hàng năm (CQLVH ) 56
Bảng 2.12: Năng suất cây trồng bình quân sau khi dự án đưa vào khai thác 57
Bảng 2.13: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm hàng năm từ SXNN 57
Bảng 2.14: Thu nhập thuần tuý hàng năm từ nuôi trồng thuỷ sản 57
Bảng 2.15: Tổng thu nhập thuần túy thực tế hàng năm của dự án 58
Bảng 2.16: Tổng sản lượng lương thực quy thóc khi đưa dự án vào khai thác 59
Bảng 2.17: So sánh các chỉ tiêu HQKT theo thiết kế và thực tế của hệ thống 61
Trang 10
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTTL Công trình thủy lợi
ĐTPT Đầu tư phát triển
HQKT Hiệu quả kinh tế
HTX Hợp tác xã
PTNT Phát triển nông thôn
QLDN Quản lý doanh nghiệp
SCTX Sửa chữa thường xuyên
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống CTTL, hệ thống tưới giữ vai trò quan trọng, làm nhiệm vụ dẫn nước từ các công trình đầu mối phục vụ sản xuất, cung cấp nước sinh hoạt, cải tạo môi trường góp phần ổn định, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống dân sinh Nhận thấy vai trò quan trọng này nên Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT và các địa phương đã tập trung các nguồn lực thực hiện đầu tư xây dựng CTTL giải quyết tình trạng khô hạn, thiếu nước sinh hoạt cho người dân
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí trong đó tiêu chí thủy lợi ở vị trí thứ ba: “Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh”
HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu “Xây dựng nông thôn mới Thủ đô Hà Nội là kinh tế phát triển toàn diện, bền vững; xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại Thành phố phấn đấu đến năm 2015 có từ 40- 45% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; đến năm
2020 có thêm từ 40- 45% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và định hướng đến năm
2030, Hà Nội hoàn thành xây dựng nông thôn mới ở tất cả 401 xã thuộc địa bàn” Trong đó việc đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp nhằm hoàn thiện hệ thống thủy lợi
là một trong những mục tiêu quan trọng
UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày
25 tháng 5 năm 2010 phê duyệt Đề án Xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030, trong đó chú trọng nội dung xây dựng hệ thống thủy lợi, đề ra các giải pháp thực hiện, chính sách hỗ trợ nhằm đạt được mục tiêu và các tiêu chí của chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thủ đô Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có một số hệ thống tưới được đầu
tư xây dựng và khai thác hiệu quả như: hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân (huyện
Trang 12Thường Tín; Phù Sa (thị xã Sơn Tây); hệ thống tưới trạm bơm Ấp Bắc (huyện Đông Anh); Đan Hoài (Đan Phượng); Thanh Điềm (Mê Linh); Trung Hà (Ba Vì) và các
hệ thống tưới bằng trọng lực lấy nước từ các hồ chứa nước như hệ thống tưới các hồ chứa: Suối Hai, Đồng Mô, Đồng Sương, Xuân Khanh, Quan Sơn…
Để thấy rõ hiệu quả tổng hợp của các dự án đầu tư xây dựng thủy lợi, khắc phục tình trạng xuống cấp và nâng cao hiệu quả khai thác của các hệ thống tưới thì việc phân tích HQKT của hệ thống đóng vai trò quan trọng, qua đó sẽ góp phần giúp các nhà quản lý phát hiện được những tồn tại, những bất cập của công tác quản
lý hệ thống để có các giải pháp phù hợp trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng, cải tạo, nâng cấp và quản lý vận hành, khai thác công trình nhằm đạt HQKT cao và hoàn thành tốt các mục tiêu đã đề ra
Vai trò quan trọng của các hệ thống tưới được thể hiện khá rõ ràng, nhưng hiện nay vẫn chưa có một phương pháp luận thực sự hoàn thiện và cập nhật đầy đủ các thông tin, dữ liệu để đánh giá HQKT của loại hình CTTL này, vì vậy việc lựa chọn giải pháp công trình trong giai đoạn lập dự án đầu tư, thiết kế cải tạo nâng cấp chưa được quan tâm đúng mức; khả năng thuyết phục đầu tư trong các giai đoạn quy hoạch, lập dự án chưa cao, tính thuyết phục trong bước thiết kế chưa đảm bảo
và đặc biệt là việc chưa phát huy đầy đủ HQKT của hệ thống khi đưa vào khai thác Như vậy, việc phân tích HQKT hệ thống tưới trong giai đoạn đầu tư xây dựng cũng như giai đoạn quản lý, khai thác sẽ là cơ sở quan trọng để có các giải pháp nâng cao HQKT của hệ thống Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề
tài luận văn thạc sĩ với tên gọi: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân, thành phố Hà Nội” với mong muốn
đóng góp, chia sẻ những kết quả nghiên cứu và những vấn đề khoa học mà tác giả quan tâm
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích phân tích HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân, thành phố Hà Nội qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao HQKT của hệ thống
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của đề tài là HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân, phân tích những tồn tại hạn chế, nhân tố ảnh hưởng tới HQKT trong quá trình khai thác và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao HQKT của hệ thống
b Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Dựa trên cơ sở lý luận về HQKT dự án thủy lợi để phân tích HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống;
- Về không gian và thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu về
hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân thuộc địa bàn các huyện Thường Tín, Thanh Trì
và Phú Xuyên - thành phố Hà Nội Trong đó huyện Thường Tín (26/29 xã, thị trấn); một phần diện tích phía nam huyện Thanh Trì gồm 5 xã (Tả Thanh Oai, Vĩnh Quỳnh, Ngọc Hồi, Đại Áng, Liên Ninh) và phần diện tích phía Đông bắc huyện Phú Xuyên gồm 3 xã, thị trấn (Văn Nhân; Nam Phong, thị trấn Phú Minh)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của
đề tài, tác giả đề xuất sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu;
- Phương pháp hệ thống hóa;
- Phương pháp khảo sát thực tế;
- Phương pháp phân tích, đánh giá HQKT;
- Phương pháp kế thừa và một số phương pháp kết hợp khác
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
a Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu ứng dụng cơ sở lý thuyết về phân tích HQKT dự án xây dựng thủy lợi, áp dụng để phân tích HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác
hệ thống
Trang 14b Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ được sử dụng trong thực tiễn phân tích HQKT các dự án cải tạo nâng cấp hệ thống tưới, các giải pháp đề xuất sẽ là những gợi ý cho các các cơ quan tư vấn, những người làm công tác quản lý, khai thác, vận hành
hệ thống công trình nhằm mục đích nâng cao HQKT dự án
6 Kết quả dự kiến đạt được
Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết những nội dung chính sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích HQKT, hình thức đầu tư xây dựng
và hiệu quả đạt được của hệ thống tưới; làm rõ khái niệm, nêu phương pháp xác định và các chỉ tiêu đánh giá HQKT của hệ thống tưới, các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT của loại hệ thống tưới
- Phân tích thực trạng HQKT của hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân Qua kết quả phân tích sẽ làm rõ những nhân tố cần phát huy; những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để đề xuất giải pháp phù hợp về mặt kinh tế - kỹ thuật trong các giai đoạn từ quy hoạch, lập dự án đầu tư, thiết kế, thi công xây dựng đảm bảo phát huy đầy đủ năng lực thiết kế và hiệu quả đầu tư dự án
- Nghiên cứu đề xuất những giải pháp phân cấp quản lý, khai thác, vận hành
hệ thống công trình nhằm nâng cao HQKT của hệ thống
7 Nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn được bố cục gồm 3 chương, nội dung chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về hệ thống tưới và phân tích HQKT dự án tưới
- Chương 2: Phân tích HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao HQKT sau cải tạo nâng cấp hệ thống tưới trạm bơm Hồng Vân
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TƯỚI VÀ PHÂN TÍCH HIỆU
QUẢ DỰ ÁN TƯỚI 1.1 Tổng quan về hệ thống tưới
1.1.1 Tổng quan về hệ thống tưới[ 1 ]
Xét trên khía cạnh cung cấp nước tưới thì ở nước ta phần lớn các loại cây trồng sống nhờ nước tưới từ hệ thống thủy lợi và nhờ nước mưa Để dẫn nước từ nguồn nước về đến mặt ruộng cung cấp nước cho SXNN và các yêu cầu dùng nước khác đến các vị trí theo yêu cầu, cần phải có hệ thống CTTL Nguồn nước của hệ thống thủy lợi có thể là sông, suối, hồ chứa hoặc nước ngầm Hệ thống thủy lợi nói chung và hệ thống tưới nói riêng là tập hợp các thống công trình từ đầu mối đến mặt ruộng, bảo đảm cung cấp nước cho cây trồng nhằm thỏa mãn yêu cầu nước cho cây trồng phát triển tốt và có năng suất cao Thực tế, hệ thống tưới thường là hệ thống phải đáp ứng yêu cầu tổng hợp lợi dụng cho nhiều ngành khác nhau, không chỉ giải quyết cấp nước cho nông nghiệp mà còn phải giải quyết cấp nước cho nhiều ngành kinh tế quốc dân khác như cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, phát điện, chăn nuôi, phát triển thuỷ sản, giao thông thuỷ, du lịch, cải tạo môi trường
- Hệ thống điều tiết nước mặt ruộng như bờ vùng, bờ thửa, rãnh tưới, các công trình tưới mặt ruộng
[1] Phạm Ngọc Hải, Tống Đức Khang, Bùi Hiếu, Phạm Việt Hòa (2007) - Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ
thống thủy lợi tập I, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội
Trang 161.1.2 Nội dung quản lý khai thác CTTL
1.1.2.1 Khái ni ệm về quản lý khai thác CTTL
Quản lý khai thác CTTL là quản lý, vận hành hệ thống CTTL theo quy trình, quy phạm, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất mục tiêu sử dụng CTTL cho phát triển sản xuất nông nghiệp, dân sinh, kinh tế, xã hội
1.1.2.2 N ội dung quản lý khai thác CTTL
Theo Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác CTTL, công tác quản lý, khai thác CTTL bao gồm ba nội dung chính sau:
(1) Quản lý nước: Điều hoà phân phối tưới, tiêu nước công bằng, hợp lý trong
hệ thống CTTL, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác
(2) Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự
cố trong hệ thống CTTL, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng,
sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài
(3) Tổ chức và quản lý kinh tế: Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý,
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao nhằm
thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ CTTL, kinh doanh
tổng hợp đa mục tiêu theo qui định của pháp luật
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác CTTL
Thực tế hoạt động quản lý khai thác CTTL ở nước ta hiện nay đã xuất hiện một số nhân tố chủ yếu sau ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác CTTL:
(1) Hoạt động của công tác quản lý khai thác CTTL đã được Nhà nước ta xác định là hoạt động công ích, vừa mang tính kinh tế, đồng thời mang tính xã
hội; không vì mục tiêu lợi nhuận, do vậy các doanh nghiệp quản lý khai thác CTTL tập trung vào mục tiêu ổn định xã hội nhiều hơn thông qua các
hoạt động tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh của mình
Trang 17(2) Hệ thống CTTL được đầu tư qua nhiều thế hệ, bằng nhiều nguồn vốn, có giá trị lớn, lại phân bố trên địa bàn rộng Việc quản lý hệ thống CTTL hết
sức khó khăn, tốn nhân lực; nguồn kinh phí dành cho bảo trì, duy tu hệ
thống công trình đảm bảo phục vụ sản xuất là rất lớn Trong khi đó, nguồn thu chủ yếu từ thủy lợi phí, thiếu ổn định do diện tích tưới, tiêu luôn biến động và nguồn kinh phí cấp bù khó bù đắp chi phí
(3) Hoạt động quản lý khai thác CTTL tạo ra sản phẩm là loại hàng hóa có tính đặc thù cao, khó định giá Người cung cấp dịch vụ không thể lựa chọn được khách hàng, với thị trường bó hẹp, gần như cố định với một nhóm khách hàng
(4) Công tác quản lý khai thác CTTL mang tính thời vụ, hệ thống CTTL trải
rộng nên việc bố trí và sử dụng lao động hợp lý là bài toán hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp Việc tổ chức sản xuất cũng phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mùa vụ nên tính chủ động không cao Kể từ khi Nhà nước
thực hiện chính sách miễn thu thủy lợi phí, hoạt động của các Tổ chức hợp tác dùng nước cũng kém hiệu quả Nền kinh tế phát triển, thu nhập của người nông dân quá thấp so với mặt bằng chung nên sản xuất nông nghiệp không còn hấp dẫn với người nông dân, nhiều hộ gia đình bỏ hoang ruộng đất ra đô thị kiếm sống cũng là một thách thức rất lớn đối với các nhà
hoạch định chính sách quản lý khai thác CTTL
Những yếu tố trên đã làm cho công tác quản lý khai thác CTTL không thực sự hấp dẫn với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước Cùng với việc chậm đổi mới trong ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của ngành đã làm hoạt động quản lý khai thác CTTL cho đến nay vẫn nặng về kế hoạch hóa tập trung, đi chậm so với sự vận hành chung trong nền kinh tế thị trường của đất nước
1.2 Những hiệu quả mà hệ thống tưới mang lại
Hệ thống thuỷ lợi nói chung và hệ thống tưới nói riêng có vai trò quan trọng trong việc ổn định sản xuất và an sinh xã hội Tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp mà mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế
Trang 18phát triển và góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Hiệu quả mà hệ thống tưới mang lại được thể hiện ở một số nội dung chính sau:
1.2.1 Cấp nước tưới phục vụ SXNN
Hệ thống tưới góp phần ổn định tăng năng suất sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây lúa nước Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê - Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến nay, trên phạm vi cả nước, các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo cung cấp nước tưới cho hơn 10,1 triệu héc-ta đất sản xuất nông nghiệp hàng năm, trong đó diện tích lúa 7,835 triệu ha/năm, năng suất bình quân đạt 57,7 tạ/ha; tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt xấp xỉ 50,5 triệu tấn; tổng giá trị từ SXNN năm 2015 đạt trên 637,4 nghìn tỷ đồng, đưa Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đến nay đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với tổng giá trị xuất khẩu gạo trên 2,93 tỷ USD
1.2 2 Góp phần phát triển du lịch sinh thái
Các hồ chứa nước đã được tận dụng để phát triển du lịch (hồ Núi Cốc, Cửa Đạt, Kẻ Gỗ, Đồng Mô, Đại Lải ), một số sân golf, các khu nghỉ dưỡng Một số khu cụm công trình đầu mối như: đập dâng Liễn Sơn, Đập Đáy, Bái Thượng, Thạch Nham, Tường kè sông Đáy ở thành phố Phủ Lý được kết hợp thành điểm du lịch Các hệ thống tưới còn cấp nước cho các làng nghề du lịch hư làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề đúc đồng Ý Yên Nam Định, Đông Hồ ở Bắc Ninh …
1.2.3 Cấp nước phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ
Vùng Đồng bằng sông Hồng có nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển công nghiệp nên đã phát triển trở thành một trong những vùng công nghiệp lớn của đất nước với các khu công nghiệp quy mô tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên… với các ngành sản xuất đa dạng và phong phú
Các công CTTL đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp nước cho phát triển công nghiệp, tiểu công nghiệp, các làng nghề như: kênh mương thuỷ lợi cung cấp một phần nước sản xuất cho các xí nghiệp, cung cấp nước cho công nhân sinh hoạt (trực tiếp hay gián tiếp làm tăng nước ngầm trong các giếng), phần lớn các làng nghề ở nông thôn đều nhờ hệ thống thuỷ lợi cấp và thoát nước Các làng nghề, khu
Trang 19công nghiệp nhỏ tại các tỉnh Phú thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng Cũng được hệ thống thuỷ lợi cấp, thoát nước toàn bộ hoặc một phần (trực tiếp hay gián tiếp)
Nhiều công trình hồ chứa thuỷ lợi đã kết hợp cấp nước cho thuỷ điện như các hồ: Cúa Đạt, Núi Cốc, Cấm Sơn, Khuôn Thần, Tà Keo, Yazun hạ,
1.2.4 Cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân
Hiện nay với 67,7% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, các hệ thống tưới đều tạo nguồn nước sinh hoạt cho dân cư bằng cách hoặc trực tiếp lấy nước từ các hồ chứa, sông ngòi, kênh mương hoặc gián tiếp như nâng cao mực nước ngầm ở các
giếng đào, những nơi đảm bảo nguồn nước sinh hoạt là những nơi có kênh mương thuỷ lợi đi qua Hiện nay ở nông thôn đã có 84% số hộ gia đình đã được cấp nước hợp vệ sinh
Hệ thống thủy lợi cung cấp nước cho các hộ nông dân đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa thuộc miền đồi núi, ở đó chưa có được hệ thống cấp nước sạch công nghiệp cho sinh hoạt thì các gia đình nông dân thường tận sử dụng nguồn nước từ các hệ thống thủy lợi (hồ chứa nước, nước trên kênh mương) để cho sinh hoạt gia đình (nấu ăn, giặt, tắm, vệ sinh, chăn nuôi, tưới vườn…)
1.2.5 Cấp nước cho nuôi trồng thủy sản và phát triển chăn nuôi
Các hệ thống tưới đã phục vụ tích cực, cấp nước có hiệu quả, đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản nội địa và tạo điều kiện mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ lên lớn hơn 1.039.000 héc-ta
Hầu hết mặt nước các hồ chứa thủy lợi đã được tận dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản Kênh mương của các hệ thống thủy lợi còn là nguồn cung cấp nước cho nhiều ao, hồ nhỏ nuôi trồng thủy sản của dân cư, các kênh mương còn thực hiện chuyển dẫn nước, hòa chộn nước mưa và nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản nước mặn vùng ven biển
Hệ thống tưới còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cấp nước cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm…
Trang 201.2.6 Kết hợp phục vụ phát triển lâm nghiệp, giao thông
Các CTTL tại các tỉnh Miền núi, Trung du phía Bắc, Tây nguyên, Nam bộ, khu Bốn cũ còn cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc trồng rừng nhất
là các hồ chứa ở trên vùng cao dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm lâm nghiệp
và cung cấp nước bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn Các bờ kênh mương, đập chắn nước, cầu máng được tận dụng kết hợp giao thông đường bộ Giao thông thủy tận dụng kênh mương được phát triển mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.7 Phòng chống hạn hán, bảo vệ môi trường
Các hệ thống tưới tác động tích cực đến môi trường nước, điều tiết nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy kiệt Bổ sung lượng nước ngầm từ các kênh mương và nước mặt ngấm xuống làm tăng nước ngầm Hệ thống tưới góp phần cải tạo đất, làm cho đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, cải tạo đất,
mở rộng diện tích canh tác Các hồ chứa có tác động tích cực cải tạo điều kiện khí hậu của một vùng Làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai, điều hòa nhiệt độ
1.3 Phương pháp đánh giá HQKT của hệ thống tưới
1.3.1 Khái niệm về HQKT của hệ thống tưới
Hiệu quả là tỷ lệ giữa đầu vào và đầu ra Hiệu quả cao có nghĩa là sản lượng đầu ra lớn so với đầu vào và ngược lại HQKT của hệ thống tưới là toàn bộ các mục tiêu kinh tế đã được đề ra, được đặc trưng bằng hai loại chỉ tiêu là các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được của dự án) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án) Ngoài các lợi ích khó lượng hóa được như: lợi ích về môi trường, xã hội,… Mục tiêu kinh tế của một dự án tưới là hiệu quả từ cấp nước cho SXNN, cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi; công nghiệp; thủy sản; dịch vụ du lịch… Đối với các dự án thủy lợi phục vụ SXNN, dân sinh kinh tế xã hội thuộc loại đầu tư cơ sở hạ tầng (đầu tư công) khác với các dự án đầu tư mang tính kinh doanh thuần túy nên việc phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư dự án tưới chủ yếu tập trung
Trang 21phân tích đánh giá HQKT để đánh giá lợi ích mà dự án mang lại cho SXNN, dân sinh và cải tạo môi trường trong lưu vực
1.3 2 Nguyên tắc xác định HQKT của dự án tưới
- Phải xem xét, phân tích HQKT của hệ thống trong trường hợp có dự án và không có dự án Hiệu quả mà dự án mang lại là phần hiệu quả tăng thêm giữa trường hợp có dự án so với khi không có dự án;
- Khi nghiên cứu, xác định HQKT của CTTL, ngoài việc đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế còn phải đánh giá hiệu quả về mặt bảo vệ môi trường và việc cải thiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác;
- Khi phân tích tính toán hiệu quả vốn đầu tư, cần xét tới sự gián đoạn về mặt thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn bỏ vốn và giai đoạn thu nhận kết quả
- Khi quy hoạch, thiết kế công trình, nhất thiết phải xác định HQKT tương đối
và hiệu qủa kinh tế tuyệt đối
- Không được xem xét HQKT theo giác độ lợi ích cục bộ và đơn thuần của một công trình, mà phải xuất phát từ lợi ích tổng thể, toàn diện
- Không đơn thuần xem xét HQKT là mức tăng sản lượng của một công trình nào đó, điều quan trọng là mức tăng sản lượng tổng hợp của tất cả các công trình
- Khi xây dựng công trình, vừa phải quan tâm đến lợi ích trước mắt, lại vừa phải quan tâm đến lợi ích lâu dài Không nên vì lợi ích trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài, hoặc hạn chế việc phát huy hiệu quả của dự án trong tương lai
- Phải xem xét HQKT của dự án cả về mặt kinh tế và tài chính Hay nói cách khác phải đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân và nhà đầu tư để xem xét tính hiệu quả của dự án Dự án chỉ khả thi khi đạt hiệu quả cả về mặt kinh tế và tài chính
- Do tiền tệ có giá trị theo thời gian, nên trong nghiên cứu HQKT phải xét tới yếu tố thời gian của các dòng tiền chi phí và thu nhập của dự án
1.3.3 H iệu quả kinh tế của hệ thống tưới trong giai đoạn quản lý vận hành
Đối với các dự án đã đi vào quản lý khai thác, việc phân HQKT của dự án luôn giữ vai trò quan trọng để rút ra các bài học, đánh giá những kết quả đạt được
và tìm ra giải pháp nhằm nâng cao HQKT xã hội của dự án
Trang 22Hiệu quả kinh tế của CTTL là hiệu quả mang tính tổng hợp, vì CTTL thường
là công trình công ích phục vụ đa mục tiêu Để đánh giá được HQKT mà CTTL mang lại trong giai đoạn quản lý vận hành người ta thường sử dựng nhiều nhóm chỉ tiêu, trong mỗi nhóm chỉ tiêu lại có nhiều chỉ tiêu Các nhóm chỉ tiêu thường được
sử dụng trong đánh giá gồm có:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá từng mặt HQKT của dự án gồm: sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp; tăng năng suất cây trồng; sự thay đổi giá trị tổng sản lượng, tình hình lao động, tỷ suất hàng hoá nông sản; tăng thêm việc làm cho người dân;
tăng thu nhập cho người hưởng lợi…các chỉ tiêu này được sử dụng khi cần phân biệt tính vượt trội của một hoặc một số mặt hiệu quả nhà đầu tư cần quan tâm
- Nhóm chỉ tiêu phân tích trình độ sử dụng đồng vốn gồm: Chỉ tiêu lượng vốn đầu tư cho một đơn vị diện tích đất canh tác, lượng vốn đầu tư cho một đơn vị diện tích đất gieo trồng, lượng vốn đầu tư cho một đơn vị giá trị sản lượng nông nghiệp tăng thêm, hệ số hiệu quả vốn đầu tư…
- Nhóm chỉ tiêu thời gian hoàn vốn và bù vốn đầu tư chênh lệch Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự án cho chủ đầu tư, thời gian bù vốn đầu tư chênh lệch dùng trong so sánh lựa chon phương án (chỉ tiêu sử dụng tương đương với chỉ tiêu này là chỉ tiêu tổng chi phí hoặc chi phí đơn vị tối thiểu Zmin) Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn dùng trong việc đánh giá HQKT của một phương án so với tiêu chuẩn kỳ vọng của chủ đầu tư về thời gian hoàn vốn;
- Nhóm chỉ tiêu phân tích lợi ích - chi phí là phương pháp mới, hiện đang được sử dụng phổ biến Một trong những ưu điểm vượt trội của phương pháp này so với các phương pháp sử dụng các chỉ tiêu nêu trên là xét tới yếu tố thời gian của dòng tiền dự án, một cách tiếp cận phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường
1.3.4 Các phương pháp đánh giá HQKT của hệ thống tưới
Đánh giá HQKT bao gồm những hoạt động nhằm kiểm tra xem xét sau những giai đoạn nhất định đã đề ra của dự án, hoặc chu kì quản lý, công trình có đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra hay không? các lợi ích thu được từ hệ thống tưới có
bù đắp được các khoản chi phí bỏ ra để thực hiện các mục tiêu đó không? mức độ
Trang 23phù hợp của các mục tiêu đề ra như thế nào? từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao HQKT của hệ thống
Để đánh giá HQKT của dự án thường phải kết hợp dùng nhiều phương pháp vì không thể dùng một chỉ tiêu đơn độc hay một phương pháp để xác định, mà cần phải dùng kết hợp các chỉ tiêu, các nhóm chỉ tiêu và các phương pháp khác nhau để xác định HQKT Vì mỗi chỉ tiêu, mỗi phương pháp chỉ phản ánh được một mặt HQKT của dự án Các phương pháp đánh giá HQKT của dự án bao gồm:
- Phương pháp dùng một chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo;
- Phương pháp giá trị - giá trị sử dụng;
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích
1.3.4.1 Phương pháp dùng một chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo[ 2 ]
Trong so sánh, đánh giá, các phương án đầu tư có trường hợp phải xét tới nhiều chỉ tiêu với các đơn vị đo khác nhau Do vậy, nảy sinh nhu cầu so sánh các phương án bằng một chỉ tiêu tổng hợp, tính gộp được tất cả các chỉ tiêu muốn so sánh Phương pháp này thường được áp dụng để so sánh lựa chọn các phương án khi mà chúng có nhiều chỉ tiêu, mức độ quan trọng của mỗi chỉ tiêu đều đáng kể
* Ưu điểm:
- Việc so sánh lựa chọn đơn giản và thống nhất vì chỉ dùng một chỉ tiêu duy nhất - Chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo;
- Có thể đưa nhiều chỉ tiêu vào so sánh, giúp cho việc so sánh có tính tổng hợp
và phản ánh được tất cả các mặt, các khía cạnh của các phương án;
- Có thể tính đến cả các chỉ tiêu khó thể lượng hóa và các chỉ tiêu chỉ có thể diễn tả bằng lời, ví dụ như tính thẩm mỹ, khía cạnh tâm lý… bằng phương pháp cho điểm của chuyên gia
Trang 24- Các chỉ tiêu đưa vào so sánh có thể bị trùng lặp ở một mức độ nhất định
1.3.4.2 Phương pháp giá trị - giá trị sử dụng [ 3
]
- Phương pháp giá trị - giá trị sử dụng so sánh các phương án trên cơ sở tính toán giá trị hoặc chi phí cần thiết để có được một đơn vị giá trị sử dụng của sản phẩm dự án
- Phương pháp áp dụng cho các trường hợp:
+ So sánh các phương án đầu tư có giá trị sử dụng khác nhau;
+ Các dự án phục vụ lợi ích công cộng, không lấy mục tiêu lợi nhuận là chính; + Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
- Nội dung của phương pháp:
+ So sánh theo tiêu chuẩn giá trị chi phí Gd nhỏ nhất để đạt được một đơn vị giá trị sử dụng tổng hợp:
ij
ij n
ij j=1
Trang 25+ Dễ mang tính chủ quan trong bước cho điểm mức quan trọng của các chỉ tiêu và dễ bị che lấp mất chỉ tiêu chủ yếu nếu đưa quá nhiều chỉ tiêu vào so sánh…
- Các bước tính toán:
Bước 1:
+ Tính chỉ tiêu giá trị sử dụng tổng hợp không đơn vị đo;
+ Làm đồng hướng các chỉ tiêu giá trị sử dụng;
+ Làm mất đơn vị đo các chỉ tiêu giá trị sử dụng;
+ Xác định trọng số của các chỉ tiêu giá trị sử dụng
Bước 2: Tính chỉ tiêu giá trị sử dụng tổng hợp (không đơn vị đo)
1.3.4 3 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA)[ 4
]
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, nó là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra những quyết định hợp lý về việc có thực hiện hay không thực hiện dự án đầu tư và cũng là căn cứ để đánh giá HQKT của dự
án Phương pháp CBA sử dụng ba chỉ tiêu sau để đo hiệu quả của dự án đó là:
- Chỉ tiêu 1: Giá trị tương đương
- Chỉ tiêu 2: Suất thu lợi;
- Chỉ tiêu 3: Tỷ suất lợi ích - chi phí (B/C)
- Ưu điểm:
+ Có tính đến sự biến động của chỉ tiêu thời gian;
+ Có tính toán cho cả vòng đời của dự án, giá trị tiền tệ theo thời gian;
+ Có thể tính đến nhân tố trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu: Doanh thu, chi phí và trị số của suất chiết khấu;
+ Có tính đến nhân tố rủi ro thông qua mức độ tăng trị số của suất chiết khấu; + Có thể so sánh các phương án có vốn đầu tư khác nhau với điều kiện lãi suất
đi vay và lãi suất cho vay bằng nhau như một cách gần đúng
Trang 26+ Khó dự báo chính xác các chỉ tiêu cho cả vòng đời dự án
+ Chỉ tiêu NPV phụ thuộc nhiều vào hệ số chiết khấu
+ Hiệu quả không biểu diễn dưới dạng tỷ số, chưa được so với một ngưỡng hiệu quả có trị số dương khác 0
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá HQKT và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT của hệ thống tưới
Phân tích đánh giá tính bền vững về hiệu quả của dự án, trên cơ sở phân tích tương quan giữa toàn bộ chi phí cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của dự án đã đặt ra và các lợi ích mà dự án mang lại thông qua các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư Hiện nay, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo;
- Chỉ tiêu giá trị - giá trị sử dụng;
- Nhóm các chỉ tiêu chi phí - lợi ích;
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án
1.4 1 Chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo[ 5
]
Trình tự phương pháp được tiến hành như sau:
Bước 1: Lựa chọn các chỉ tiêu đưa vào so sánh và xác định hàm mục tiêu:
- Việc lựa chọn các chỉ tiêu so sánh có tác dụng rất lớn đến kết quả so sánh Cần chú ý tránh sự trùng lặp giữa các chỉ tiêu
- Hàm mục tiêu có thể là cực đại (max) hoặc cực tiểu (min)
- Hàm mục tiêu được chọn là cực đại khi số lượng các chỉ tiêu có xu hướng cực đại chiếm đa số và ngược lại
Bước 2: Xác định hướng cho các chỉ tiêu và làm cho các chỉ tiêu đồng hướng
Tuỳ theo tiêu chuẩn lựa chọn ở bước 1 sẽ chọn mục tiêu của phương án là giá trị cực đại hay cực tiểu Dựa vào hàm mục tiêu đó sẽ xem xét các chỉ tiêu đang xét
là đồng hướng hay nghịch hướng
Bước 3: Triệt tiêu đơn vị đo của các chỉ tiêu:
[5] Nguyễn Bá Uân (2013), bài giảng Quản lý dự án xây dựng nâng cao tr 166
Trang 27Việc triệt tiêu đơn vị đo của các chỉ tiêu hay là việc qui đổi các chỉ tiêu thành chỉ số so sánh được thực hiện theo nhiều phương pháp Với các chỉ tiêu vốn đã không có đơn vị đo cũng phải tính lại theo phương pháp này Một số phương pháp chính thường được sử dụng như sau:
a Phương pháp Pattern
ij
ij n
ij j=1
C
P =
C
Pij: Trị số tính lại cho chỉ tiêu Cij để không còn đơn vị đo hay còn gọi là chỉ số
so sánh của chỉ tiêu thứ i của phương án thứ j (i = 1 đến m; j = 1 đến n)
Cij: Trị số của chỉ tiêu thứ i của phương án j (ví dụ như vốn đầu tư, giá thành sản phẩm ) Phương pháp này hay được dùng nhất
b Phương pháp giá trị nhỏ nhất
ij ij
j ij
C
P =
Trong đó: Cij - giá trị của các chỉ tiêu giá trị sử dụng
mijnCij - trị số nhỏ nhất của chỉ tiêu i trong các phương án j
c Phương pháp giá trị lớn nhất
ij ij
j ij
C
P =
mijnCij - trị số lớn nhất của chỉ tiêu i trong các phương án j
Bước 4: Xác định trọng số cho mỗi chỉ tiêu (Wi)
Trọng số là số chỉ rõ tầm quan trọng của chỉ tiêu đang xét so với các chỉ tiêu còn lại bị đưa vào so sánh Trọng số của mỗi chỉ tiêu thì khác nhau nhưng trọng số của một chỉ tiêu nào đó một khi đã được xác định thì giống nhau cho mọi phương
án Có nhiều phương pháp xác định trọng số nhưng hay dùng nhiều nhất là phương pháp cho điểm của chuyên gia Nội dung của phương pháp này như sau:
Mỗi chuyên gia sẽ có 100 điểm để phân cho các chỉ tiêu tuỳ theo tầm quan trọng do chuyên gia tự cho Trọng số của chỉ tiêu i (Wi) theo công thức 1.8:
n ji j=1 i
B
W = n.100
∑
(1.8)
Trang 28Trong đó: Bji - điểm số của chuyên gia j cho chỉ tiêu i;
n - số chuyên gia Ngoài ra còn dùng phương pháp ma trận vuông của Warkentin để xác định trọng số của các chỉ tiêu trên
Bước 5: Xác định chỉ số tổng hợp không đơn vị đo của các phương án và lựa chọn phương án tốt nhất:
- Trường hợp không so sánh cặp đôi: Trong trường hợp này mỗi phương án thứ j ta tính một chỉ số tổng hợp xếp hạng phương án (Vj):
m
j i ij i=1
Trang 291.4 2 Chỉ tiêu giá trị - giá trị sử dụng[ 6
]
Khi đánh giá sử dụng công thức sau:
j dj j
Sdj - giá trị sử dụng tổng hợp tính cho một đồng chi phí của phương án j
Sj - giá trị sử dụng tổng hợp không đơn vị đo của phương án j xác định bằng phương pháp chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo đã trình bày ở mục trên đây, tức là:
C
P =
C
Trong đó: Cij - giá trị của các chỉ tiêu giá trị sử dụng
1.4 3 Nhóm các chỉ tiêu chi phí - lợi ích[ 7 ]
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay Có ba chỉ tiêu đo hiệu quả sau đây:
Chỉ tiêu 1: Giá trị tương đương Theo phương pháp này, toàn bộ chuỗi dòng tiền tệ của dự án trong suốt thời kỳ phân tích được qui đổi tương đương thành:
- Giá trị hiện tại của hiệu số thu chi, còn gọi là giá trị thu nhập hiện tại;
- Giá trị tương lai của hiệu số thu chi còn gọi là giá trị thu nhập ròng tương lai;
- Hệ số thu chi phân phối đều hàng năm
Mỗi giá trị đó là một độ đo HQKT của dự án và được dùng làm cơ sở để so sánh phương án
Chỉ tiêu 2: Suất thu lợi - người ta gọi mức lãi suất làm cho giá trị tương đương của phương án bằng không là suất thu lợi nội tại (IRR) của phương án Đó là một
[6] Nguyễn Bá Uân (2013), bài giảng Quản lý dự án xây dựng nâng cao tr 183
[7] Nguyễn Bá Uân – Ngô Thị Thanh Vân (2006), giáo trình Kinh tế thủy lợi tr 164
Trang 30độ đo hiệu quả hay được dùng nhất hiện nay Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu suất thu lợi khác như: Suất thu lợi ngoại lai, suất thu lợi tái đầu tư tường minh Trong phạm vi đề tài này, tác gải chỉ giới thiệu chỉ tiêu suất thu lợi nội tại
Chỉ tiêu 3: Tỷ số lợi ích chi phí (B/C) Đó là tỷ số giữa giá trị tương đương lợi ích và giá trị tương đương của chi phí
1.4.3.1 Chỉ tiêu giá trị thu nhập ròng hiện tại (NPV):
Chỉ tiêu giá trị thu nhập ròng hiện tại NPV của một dự án đầu tư là lợi nhuận ròng của dự án trong vòng đời kinh tế của nó được quy về hiện tại Tùy theo mục đích của việc xác định lợi ích của dự án mà ta có chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng trong phân tích kinh tế, và được xác định theo công thức 1.15:
Trong đó: Bt - thu nhập của dự án ở năm thứ t;
Ct - chi phí của dự án ở năm thứ t;
H - giá trị thu hồi khi kết thúc dự án;
n - thời kỳ tính toán (tuổi thọ của DA hay thời kì tồn tại của DA);
r - tỷ lệ chiết khấu (còn gọi là lãi suất chiết khấu)
NPV là giá trị ròng quy về hiện tại của dự án đầu tư, ngoài ra cũng là mọi chi phí và thu nhập của dự án thuộc dòng tiền tệ đều đã tính trong NPV Mọi dự án khi phân tích kinh tế, nếu NPV>0 đều được xem là có hiệu quả Điều này cũng có nghĩa
là khi NPV=0 thì dự án được xem là hoàn vốn, khi NPV<0 thì dự án không hiệu quả và không nên đầu tư dưới góc độ HQKT Tổng quát là vậy, nhưng trong thực
tế, khi phân tích HQKT một dự án, có khả năng xảy ra một số trường hợp sau:
- Trường hợp các dự án độc lập tức là các dự án không thay thế cho nhau được Trong trường hợp này nếu lượng vốn đầu tư không bị chặn, thì tất cả các dự
án NPV > 0 đều được xem là nên đầu tư;
- Trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau, tức là nếu đầu tư cho dự án này thì không cần đầu tư cho dự án kia và ngược lại, thì dự án nào có NPV lớn nhất, được coi là dự án có HQKT cao nhất và nên đầu tư nhất;
Trang 31- Trường hợp có nhiều dự án độc lập và đều có chỉ tiêu NPV > 0, trong khi vốn đầu tư có hạn, thì cần chọn các dự án với tổng số vốn nằm trong giới hạn của nguồn vốn, đồng thời NPV phải lớn nhất Và trong trường hợp này nên sử dụng thêm một số chỉ tiêu kinh tế khác để so sánh, lựa chọn
1.4.3.2 Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại (hệ số hoàn vốn nội tại IRR)
Suất thu lợi nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm hệ số chiết tính để qui đổi dòng tiền tệ của phương án thì giá trị hiện tại của thu nhập sẽ cân bằng với giá trị hiện tại của chi phí Suất thu lợi nội tại còn được gọi là hệ số hoàn vốn nội tại (hệ
số nội hoàn - IRR)
Chỉ tiêu IRR là lãi suất sinh lời của đồng vốn đầu tư, nó thường được đem ra
để so sánh với suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (rc) Để đầu tư kinh tế không bị
lỗ (NPV ≥ 0) thì điều kiện bắt buộc là IRR ≥ rc
IRR càng lớn hơn mức lãi suất đi vay (rc) của vốn thì độ rủi ro càng thấp Tuy nhiên vì đây là một chỉ tiêu tương đối cho nên nó không phản ánh mức lợi nhuận thu về cụ thể là bao nhiêu như chỉ số NPV Chỉ tiêu này phụ thuộc vào chi phí và thu nhập hàng năm, đời sống của dự án, nhưng lại độc lập với lãi suất sử dụng vốn
rc Vì thế, nó phản ánh HQKT của dự án khách quan hơn
Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR là một loại suất thu lợi tối thiểu đặc biệt (r) ở trong các công thức tính toán chỉ tiêu NPV sao cho NPV = 0, và được tìm ra từ việc giải phương trình 1.16:
Trong đó: ra - là một giá trị lãi suất nào đó để sao cho NPVa > 0
rb - là một trị số lãi suất nào đó sao cho NPVb > 0
ra < rb ; NPVa > 0 ; NPVb > 0 và NPVa > NPVb
Trang 32Chỉ tiêu IRR phản ánh lãi suất tối đa mà dự án có thể chấp nhận trả cho vốn vay, bởi vì nếu vay với lãi suất bằng IRR thì dự án sẽ vừa hòa vốn IRR được hiểu
là tỷ số tiền lời thu được trong một thời đoạn so với vốn đầu tư ở đầu thời đoạn Tuy nhiên, một dự án thường kéo dài qua nhiều thời đoạn (nhiều năm) Trong từng thời đoạn, người ta nhận được một khoản thu ròng qua các hoạt động kinh tế của dự án và tiền trích ra để khấu hao đầu tư ban đầu Tùy thuộc vào phương thức
sử dụng số tiền có được đó mà người ta có các loại chỉ số suất thu lợi khác nhau Hiện nay IRR là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả đầu tư,
vì việc tính toán IRR chỉ cần dựa vào một tỷ lệ chiết khấu tính sẵn (định mức chọn trước gọi là suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (r ) - đó là tỷ suất dùng làm hệ số chiết tính để tính toán các giá trị tương đương cũng như để làm “ngưỡng” trong việc chấp nhận hay bỏ qua một phương án đầu tư Về bản chất IRR rất giống với tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư, vì vậy nó cũng rất dễ hiểu đối với mọi người Khi sử dụng chỉ tiêu IRR trong phân tích ta cần chú ý một số trường hợp sau:
- Trường hợp các dự án độc lập, vốn đầu tư không bị giới hạn thì tất cả các dự
án có IRR lớn hơn hoặc bằng tỷ suất chiết khấu quy định thì được xem là có HQKT;
- Đối với các dự án loại trừ nhau thì sử dụng chỉ tiêu IRR sẽ không hoàn toàn chính xác, trường hợp này nên sử dụng chỉ tiêu NPV;
- Trường hợp có nhiều dự án độc lập với IRR lớn hơn với tỷ lệ chiết khấu quy định trong khi nguồn vốn đầu tư có hạn thì không thể sử dụng chỉ tiêu IRR để lựa chọn mà phải dùng các chỉ tiêu khác
1.4.3.3 Chỉ tiêu tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)
Tỷ số lợi ích và chi phí còn có tên là tỷ số thu chi ký hiệu B/C là tỷ lệ giữa tổng giá trị quy về hiện tại của dòng thu với tổng giá trị quy về hiện tại của dòng chi phí (gồm cả chi phí về vốn đầu tư và chi phí vận hành)
n t t t=0 n t t t=0
B
=
CC
Trang 33i - thời điểm tính toán, thường là cuối các năm, t = 0, 1,2,…;
Bt - tổng thu nhập của dự án trong năm t;
Ct - tổng chi phí của dự án trong năm t;
t - tuổi thọ kinh tế của dự án
Một dự án được coi là có HQKT, thì tỷ số B/C phải lớn hơn 1 Điều này cũng
có nghĩa là tổng giá trị quy về hiện tại của thu nhập (tử số) lớn hơn tổng giá trị quy
về hiện tại của chi phí (mẫu số) Như vậy, điều kiện này cũng chính là đảm bảo NPV>0 và IRR> r* Chỉ tiêu B/C không nên sử dụng trực tiếp để lựa chọn giữa các
dự án loại trừ nhau hoặc lựa chọn giữa các dự án độc lập khi vốn đầu tư có hạn
* Ưu nhược điểm của phương pháp sử dụng chỉ tiêu B/C: Chỉ tiêu tỷ số B/C
có các ưu điểm tương tự như chỉ tiêu NPV, nhưng ít được sử dụng hơn, vì đây không phải là chỉ tiêu xuất phát để tính các chỉ tiêu khác, chỉ là chỉ tiêu cho điều kiện cần và không phải là chỉ tiêu để chọn phương án
1.4 4 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy lợi
Các nhóm chỉ tiêu thường được sử dụng gồm:
1.4.4.1 Chỉ tiêu về sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp
Một dự án thuỷ lợi xây dựng với mục đích phục vụ SXNN là chủ yếu thì vấn
đề quan tâm trước hết là sự thay đổi về diện tích đất có khả năng trồng trọt Thể hiện qua việc dự án tạo điều kiện để có thể khai thác những vùng đất bị bỏ hoang do thiếu nguồn nước, cải tạo những vùng đất chua, mặn thành đất canh tác, hoặc biến những vùng đất chỉ gieo trồng 1 vụ thành 2; 3 vụ
a Sự thay đổi diện tích đất canh tác
s tr
ct ct ct
Trong đó: ωcts , ωcttrdiện tích canh tác khi có và không có dự án (ha)
Nếu ∆ωct > 0 có nghĩa là diện tích canh tác được mở rộng
Nếu ∆ωct < 0 có nghĩa là diện tích canh tác bị thu hẹp
b Sự thay đổi diện tích gieo trồng
Trang 34ω ; ω - diện tích gieo trồng khi có và không có dự án (ha) sgt trgt
Nếu diện tích thực tế được tính bình quân nhiều năm, khi có nhiều loại cây trồng, hoặc nhiều mức tưới chủ động thì diện tích phải được quy đổi về cùng loại
1.4.4 2 Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng
Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng xác định theo công thức:
s tr
Trong đó: Y ; Y - năng suất cây trồng sau và trước khi có công trình tính s tr
theo năm, được xác định theo công thức bình quân gia quyền:
n
i i i=1 n i i=1
Với: n - số năm tài liệu thống kê;
ωi, Yi - diện tích, năng suất cây trồng năm thứ i
1.4.4 3 Chỉ tiêu về sự thay đổi giá trị tổng sản lượng
Đây là chỉ tiêu tổng hợp cả hai yếu tố thay đổi diện tích và năng suất, thường khi xác định chỉ tiêu này, người ta xác định cho 2 trường hợp thực tế và thiết kế để
tk i tki tki i i=1
ΔDM = g ω Y P + β (1-P) -ω Y∑ (1.23) Trong đó:
∆DMtk - giá trị tổng sản lượng tăng thêm bình quân hàng năm sau khi có công trình theo thiết kế (đồng)
n - số loại cây trồng trong khu vực phụ trách của dự án
gi - giá một đơn vị sản lượng loại cây trồng thứ i (đ/tạ)
ωtki; Ytki - diện tích (ha) và năng suất loại cây trồng thứ i (tạ/ha) theo thiết kế sau khi có dự án
Trang 35P - tần suất thiết kế của công trình (%)
βi - hệ số giảm sản loại cây trồng thứ i những năm phục vụ ngoài tần suất TK
ΔM = g (ω Y - ω Y )∑ (đ/năm) (1.24) Trong đó:
ω ; Y - diện tích và năng suất bình quân nhiều năm trong thực tế của loại cây trồng thứ i trước khi có dự án
1.4.5 Lựa chọn phương pháp
Từ ưu nhược điểm của các phương pháp trên, trong luận văn này, tác giả lựa chọn phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) với các chỉ tiêu như: Giá trị thu nhập ròng hiện tại (NPV); suất thu lợi nội tại (IRR); tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C) Ngoài ra còn có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy lợi như đã nêu trên Các chỉ tiêu này được xét trong 2 trường hợp của dự án là theo thiết kế và theo thực tế để thấy được HQKT của dự án giai đoạn quản lý vận hành
1.4.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT của hệ thống tưới
- Năng suất, sản lượng của SXNN là căn cứ quan trọng để xác định hiệu quả
- Các điều kiện tự nhiên như: mưa bão, lũ lụt, sâu bệnh, giá cả thị trường,
- Chế độ thâm canh, loại cây trồng, cơ cấu cây trồng, trình độ SXNN, các nhân
tố về mặt kỹ thuật thủy lợi, trình độ quản lý điều hành hệ thống…
- Ngoài việc đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế còn cần phải đánh giá hiệu quả
về mặt quốc phòng, hiệu quả đối với xã hội, môi trường và các ngành khác
Trang 361.5 Kinh nghiệm quản lý, vận hành và khai thác hệ thống tưới
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác CTTL ở nước ngoài
1.5.1.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc đã áp dụng phương thức đấu thầu cạnh tranh để quản lý khai thác CTTL Phương thức này được cho là phát huy hiệu quả tối ưu với các CTTL vừa và nhỏ, hoặc các hệ thống CTTL độc lập Việc đấu thầu đảm bảo được tính cạnh tranh, minh bạch, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo quy luật thị trường, Chính phủ vẫn nắm được vai trò điều phối việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công ích cho
xã hội, sử dụng các công cụ để đảm bảo an sinh xã hội Ngoài hình thức đấu thầu, ở khu tưới Jingui còn áp dụng phương thức đấu giá quyền quản lý Việc thay đổi phương thức quản lý sang đấu thầu hoặc đấu giá quyền quản lý đã mang lại hiệu quả đáng kể, bộ máy quản lý gọn nhẹ, giảm các khâu trung gian nên tiết kiệm được nhiều chi phí, có tính cạnh tranh nên đã nâng cao chất lượng dịch vụ Phương thức này đã tạo động lực thúc đẩy người công nhân tham gia đấu giá, và cũng chính họ được hưởng lợi từ phương thức này
1.5.1.2 Kinh nghiệm ở Canada
Tại Canada, các hàng hóa dịch vụ công đều do Chính phủ tổ chức cung ứng Chính phủ có thể tự đứng ra tổ chức sản xuất hoặc lựa chọn các nhà thầu tư nhân sản xuất cung ứng thông qua cơ chế đặt hàng, đấu thầu, với mục đích đảm bảo cung cấp hàng hóa dịch vụ công ích cho xã hội đảm bảo số lượng và chất lượng Cơ chế quản lý cung cấp hàng hóa dịch vụ công ở Canada cũng như các nước công nghiệp phát triển khác đều dựa trên quan điểm về dịch vụ công theo nghĩa rộng Các phương án xử lý cụ thể xếp theo mức độ tham gia của Chính phủ là: tư nhân hóa, cấp phép, hợp danh, mua của bên ngoài, phân quyền, cung ứng qua đơn vị công ích
và cuối cùng là Chính phủ sản xuất cung ứng trực tiếp
Công tác quản lý khai thác các công trình hạ tầng cơ sở như giao thông, thủy lợi v.v thường áp dụng hình thức đấu thầu hoặc đặt hàng Chính phủ ký hợp đồng quản lý dịch vụ và chịu trách nhiệm cung cấp cho xã hội dịch vụ đó Thuộc nhóm này thường là các dịch vụ không gắn với quá trình quyết định về chính trị và chính sách Chất lượng dịch vụ có thể xác định khá rõ ràng; việc cung ứng dịch vụ cần
Trang 37nhiều kỹ năng, kỹ thuật do đó việc quản lý cần linh hoạt, trong khi khu vực tư nhân lại có sẵn tiềm năng và kinh nghiệm quản lý linh hoạt Do đó, để khu vực tư nhân tham gia quản lý khai thác các công trình hạ tầng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Chính phủ tự đứng ra tổ chức quản lý
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác CTTL ở trong nước
1.5.2.1 Kinh nghiệm ở tỉnh Thái Nguyên
Năm 2008, Thái Nguyên là tỉnh được lựa chọn thí điểm áp dụng chương trình của Đại sứ quán Hà Lan (RNE) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ, nghiên cứu giải quyết các vấn đề về quản lý tưới, thủy lợi phí và quản lý tài chính ở các công ty Khai thác CTTL Trong đó, nội dung thực hiện thí điểm cơ chế đặt hàng cung ứng sản phẩm dịch vụ tưới giữa Nhà nước (đại diện là UBND tỉnh) với đơn vị quản lý khai thác CTTL (công ty hoặc các hợp tác xã)
UBND tỉnh thành lập Tổ công tác liên ngành bao gồm đại diện Văn phòng UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các huyện có công trình Phương thức làm việc của Tổ công tác liên ngành
là bán chuyên trách, mỗi năm làm việc một đợt, thời gian khoảng hai tuần Nhiệm
vụ của Tổ công tác liên ngành là thực hiện thẩm định hồ sơ nhận đặt hàng của các đơn vị quản lý thủy nông, tham mưu cho UBND tỉnh quyết định đặt hàng, giao khoán cho các đơn vị nhận đặt hàng Quy trình đặt hàng gồm 7 bước sau:
(7) Thanh quyết toán hợp đồng đặt hàng
1.5.2.2 Kinh nghiệm ở tỉnh Tuyên Quang
Sau khi thực hiện chính sách miễn thu thủy lợi phí đã nảy sinh các tồn tại, đó
là việc quản lý nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí thiếu chặt chẽ Số đầu mối quản
lý thủy nông cơ sở nhiều nên việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà
Trang 38nước còn khó khăn Đứng trước thực trạng trên, tỉnh Tuyên Quang đã đổi mới mô hình quản lý với mục tiêu:
(1) Quản lý bền vững các hệ thống thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản
xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác;
(2) Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý khai thác CTTL, lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới;
(3) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ CTTL Giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí đúng mục đích, đảm bảo hiệu quả
Việc quản lý khai thác CTTL trong tỉnh được phân giao cho hai cấp là cấp tỉnh
và cấp cơ sở
Ban Quản lý khai thác CTTL tỉnh do UBND tỉnh thành lập, là đơn vị sự nghiệp, tự đảm bảo kinh phí hoạt động từ nguồn thủy lợi phí Ban chịu trách nhiệm
thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác toàn bộ các CTTL trong toàn tỉnh
Ban Quản lý CTTL cơ sở bao gồm Ban Quản lý CTTL liên xã (do UBND cấp huyện thành lập) và Ban Quản lý CTTL xã (do UBND cấp xã thành lập) làm nhiệm
vụ quản lý khai thác CTTL trong phạm vi một hoặc nhiều xã Các tổ chức này có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; hoạt động theo Luật hợp tác xã và các quy định pháp luật khác liên quan, tự đảm bảo kinh phí hoạt động từ nguồn thủy lợi phí
Quy trình đặt hàng và trách nhiệm của các cơ quan như sau:
(1) Sở Nông nghiệp và PTNT ký hợp đồng đặt hàng nghiệm thu, thanh toán
với Ban Quản lý khai thác CTTL tỉnh
(2) Ban Quản lý khai thác CTTL tỉnh ký hợp đồng, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng dịch vụ tưới tiêu với Ban Quản lý CTTL cơ sở Hướng dẫn các Ban
Quản lý CTTL cơ sở hợp đồng, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng tưới tiêu
với các hộ dùng nước và hoàn thiện hồ sơ thanh quyết toán kinh phí miễn thu thủy lợi phí Kiểm tra, theo dõi chất lượng tưới tiêu, quản lý khai thác CTTL, tu sửa nâng cấp công trình của các Ban Quản lý CTTL cơ sở
1.5.2.3 Kinh nghiệm ở tỉnh An Giang
Trang 39Từ đầu những năm 1990, An Giang đã áp dụng hình thức "Hiệp thương khai thác sử dụng đường nước", nhằm huy động mọi thành phần kinh tế tham gia quản lý khai thác CTTL theo cơ chế "hiệp thương - cạnh tranh" đảm bảo hài hòa lợi ích, mang lại hiệu quả cao nhất của người quản lý và người sử dụng
Dự án thủy lợi Bắc Vàm Nao được Chính phủ Úc hỗ trợ và hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2006 tạo nguồn nước tưới tiêu chủ động cho 36.400 ha Trong vùng dự án có 98 đơn vị làm dịch vụ tưới tiêu, trong đó có hơn 26 hợp tác xã dịch
vụ tưới, 16 tổ hợp tác dùng nước và 56 tổ đường nước Khi kết thúc dự án, UBND tỉnh cho áp dụng mô hình đặt hàng - hiệp thương quản lý
Công tác quản lý vận hành công trình được phân chia thành hai cấp Cấp tỉnh quản lý vận hành tuyến đê bao vành ngoài và các cống dưới đê, các trục kênh chính,
cấp 1, cấp 2 theo phương thức đặt hàng Cấp cơ sở do Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý, vận hành các CTTL phục vụ tưới tiêu trong từng tiểu vùng theo phương thức hiệp thương, lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ
UBND tỉnh thành lập Ban Quản lý hệ thống, bao gồm các thành viên thường trực và không thường trực với nòng cốt là Sở Nông nghiệp và PTNT Ban Quản lý
hệ thống có nhiệm vụ: Lập kế hoạch quản lý vận hành; xây dựng kế hoạch đặt hàng trình UBND tỉnh phê duyệt; lựa chọn đơn vị đặt hàng và ký hợp đồng đặt hàng; kiểm tra giám sát tiến độ và chất lượng sản phẩm đặt hàng, công tác duy tu, bảo dưỡng công trình; nghiệm thu thanh toán cho đơn vị nhận đặt hàng
Ban Quản lý tiểu vùng là tổ chức do người dùng nước trực tiếp bầu ra theo quy định, do UBND cấp huyện ra quyết định công nhận Ban Quản lý tiểu vùng chủ trì, phối hợp với UBND xã và các tổ chức cung ứng dịch vụ tổ chức hội nghị hiệp thương để lựa chọn tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ Hội nghị hiệp thương tổ chức công khai, mỗi năm hai với dự tham gia của toàn bộ các hộ dùng nước và đại diện UBND xã Tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ phải trình bày công khai hồ sơ để hội nghị xem xét lựa chọn bằng hình thức bỏ phiếu Tổ chức, cá nhân được trên 70% số hộ dùng nước đồng ý sẽ được lựa chọn cung cấp dịch vụ Đơn vị cung cấp dịch vụ ký hợp đồng, nghiệm thu thanh toán với các hộ dùng nước dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của Ban Quản lý tiểu vùng
Trang 401.6 Các c ông trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kể từ khi Nhà nước thực hiện chủ trương đổi mới, cải cách và mở cửa, xoá bỏ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã tạo ra một đột phá lớn đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Các thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới vừa qua đã chứng
tỏ tính đúng đắn của đường lối đổi mới Trong giai đoạn quá độ chuyển đổi của nền kinh tế, các cấp các ngành ở từng lĩnh vực đang từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới Hệ thống thể chế quản lý từng bước đổi mới và hoàn thiện đã tạo động lực tốt cho các ngành kinh tế phát triển khá tốt trong cơ chế thị trường như nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp vừa
và nhỏ, v.v
Nguồn nước hiện nay ở nước ta đang trở nên khan hiếm, hạn hán có xu hướng xảy ra ngày càng nghiêm trọng và gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân đặc biệt là các vùng nông thôn Trong số các nhu cầu sử dụng nước thì nông nghiệp là khu vực sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 70% đến 80% tổng lượng nước sử dụng và CTTL là công trình chủ yếu để điều tiết, tích trữ, khai thác sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất, nhu cầu của con người và môi trường sinh thái Tổ chức quản lý tốt các CTTL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quản lý sử dụng hiệu quả nguồn nước hiện có và hạn chế các ảnh hưởng hạn hán và lũ lụt gây ra
Đối với lĩnh vực quản lý thuỷ lợi ở nước ta, tuy đã 30 năm thực hiện xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp (theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986), nhưng mô hình tổ chức và thể chế quản lý các hệ thống CTTL chưa theo kịp với tiến trình đổi mới chung của nền kinh tế Mô hình quản lý gần như vẫn giữ nguyên tính chất của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, theo khuôn mẫu doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý khai thác các CTTL Chưa có cơ chế rõ ràng để huy động các thành phần kinh tế khác và cộng đồng người hưởng lợi tham gia quản lý công trình, đem lại hiệu quả Sự bất cập, mâu thuẫn giữa thể chế chính sách chung của cả nước với mô hình và thể chính chính sách riêng của ngành, địa phương là nguyên nhân dẫn đến các bất cập trong tổ