1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý áp dụng thử nghiệm quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tại tuyên quang

114 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình tổ chức của Ban QLKTCTTL Tuyên Quang 47 Sơ đồ 2.2: Mối liên hệ giữa các ban quản lý 49 Sơ đồ 3.1: Quy trình tổ chức thực hiện quy chế đặt hàng 70 Sơ đồ 3.2: Đề xuất điều chỉnh M

Trang 1

lòng biết ơn của mình tới sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của giáo viên hướng dẫn PGS-TS Nguyễn Bá Uân và các thầy, cô giáo Trường Đại học Thủy lợi

Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên thiếu sót và khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của của quý thầy, cô và đồng nghiệp, đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà tác giả mong muốn nhất để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này

Xin chân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013

Học viên cao học

Nghiêm Xuân Thuận

Trang 2

Các số liệu và kết luận trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013

Học viên cao học

Nghiêm Xuân Thuận

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN

LÝ THỦY LỢI THEO CƠ CHẾ ĐẶT HÀNG 1

1.1 Vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong nền kinh tế quốc dân 1

1.1.1 Khái niệm về hệ thống các công trình thủy lợi 1

1.1.2 Vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong nền kinh tế quốc dân 1

1.2 Hiện trạng quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta 3

1.3 Các mô hình tổ chức quản lý thủy nông ở nước ta trong thời gian qua 6

1.3.1 Mô hình quản lý nhà nước 6

1.3.2 Mô hình quản lý khai thác các công trình thủy lợi 10

1.4 Phương thức đặt hàng quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 16

1.4.1 Khái quát về phương thức đặt hàng khai thác bảo vệ công trình thủy lợi 16

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng của phương thức đặt hàng 22

1.4.3 Hướngápdụng phương thức đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 27

1.4.4 Những vấn đề đặt ra trong việc áp dụng phương thức đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 29

1.5 Kinh nghiệm về áp dụng các mô hình quản lý 30

1.5.1 Kinh nghiệm ở Thái Nguyên 30

1.5.2 Kinh nghiệm ở Hà Nội 34

Kết luận chương 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC ĐẶT HÀNG CÁC BAN QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 42

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tuyên Quang 42

2.1.1 Đặc điểm dân sinh kinh tế, xã hội 42

2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất 42

2.1.3 Đặc điểm thủy văn sồng ngòi, nguồn nước 43

2.2 Hiện trạng về thủy lợi phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 43

2.2.1 Hiện trạng thủy lợi lưu vực sông Lô 44

2.2.2 Hiện trạng thủy lợi lưu vực sông Gâm 45

Hiện trạng thủy lợi lưu vực sông Phó Đáy 45

Trang 4

2.3 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống các ban quản lý khai thác công trình

thủy lợi áp dụng quy chế đặt hàng tại tỉnh Tuyên Quang 46

2.3.1 Quá trình hình thành, tình hình cơ sở vật chất – kỹ thuật 46

2.3.2 Thực trạng về tổ chức bộ máy, biên chế các ban quản lý CTTL 50

2.3.3 Tình hình quản lý sửa chữa các công trình trên địa bản tỉnh Tuyên Quang 51

2.3.4 Kết quả hoạt động tưới tiêu trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 54

2.3.5 Tình hình tài chính cho quá trình hoạt động của các ban: 55

2.4 Những kết quả đạt được và những tồn tại trong áp dụng mô hình quy chế đặt hàng ở tỉnh Tuyên Quang 58

2.4.1 Những kết quả đạt được trong áp dụng mô hình quy chế đặt hàng 58

2.4.2 Những tồn tại trong áp dụng mô hình quy chế đặt hàng 59

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN MÔ HÌNH ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM QUY CHẾ ĐẶT HÀNG KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 63

3.1 Định hướng quy hoạch phát triển thủy lợi của tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới 63

3.1.1 Quan điểm phát triển thủy lợi 63

3.1.2 Mục tiêu phát triển thủy lợi 63

3.2 Một số quan điểm định hướng trong đổi mới cơ chế quản lý của tỉnh Tuyên Quang 65

3.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý phải nhằm phục vụ đường lối phát triển kinh tế của Đảng 65

3.2.2 Đổi mới cơ chế quản lý cần chú ý đến đặc thù của công tác thủy lợi 65

3.2.3 Áp dụng cơ chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi gắn liền với quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường 66

3.2.4 Phải đảm bảo lợi ích từng vùng, từng địa phương và toàn xã hội 67

3.2.5 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm 68

3.2.6 Coi trọng mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường trong quản lý áp dụng quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 69

Trang 5

3.2.7 Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi theo

phương thức đặt hàng 70

3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình áp dụng thử nghiệm quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tại Tuyên Quang 71

3.3.1 Đánh giá thực trạng mô hình quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tỉnh Tuyên Quang theo phương thức đặt hàng 71

3.3.2 Kiện toàn mô hình quản lý áp dụng quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 73

3.3.3 Hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính 75

3.3.4 Áp dụng quy chế đặt hàng dịch vụ Quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 75

3.3.5 Quản lý thực hiện hợp đồng đặt hàng theo quy định hiện hành 81

3.3.6 Nghiệm thu thanh toán hợp đồng đặt hàng 85

3.3.7 Thực hiện công tác báo cáo theo quy định 87

3.4 Các giải pháp điều kiện để thực hiện mô hình quản lý áp dụng quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tại tỉnh Tuyên Quang 87

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.2:Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi 11

Sơ đồ 1.3: Quy trình đặt hàng quản lý khai thác CTTL ở Thái Nguyên 31

Sơ đồ 1.4 Mô hình quản lý đặt hàng khai thác công trình thủy lợi Hà Nội 34

Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Ban QLKTCTTL Tuyên Quang 47

Sơ đồ 2.2: Mối liên hệ giữa các ban quản lý 49

Sơ đồ 3.1: Quy trình tổ chức thực hiện quy chế đặt hàng 70

Sơ đồ 3.2: Đề xuất điều chỉnh Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh Tuyên Quang theo phương thức đặt hàng 74

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các hình thức tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh

10

Bảng 1.2: Số lượng và trình độ cán bộ trực tiếp quản lý KTCTTL 13

Bảng 1.3: Số cán bộ, công nhân trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các vùng trong cả nước (2008-2012) 14

Bảng 1.4: Số lượng các loại hình Tổ chức Hợp tác dùng nước 15

Bảng 1.5: Số xã có tổ chức Hợp tác xã hoặc Tổ hợp tác hoạt động hiệu quả 16

Bảng 1.6 Mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa 24

Bảng 1.7 Mức thu tiền nước đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi để phục vụ cho các mục đích không phải sản xuất lương thực 26

Bảng 2.1: Danh mục các công trình thủy lợi bị hư hỏng nặng đề nghị được đầu tư bằng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí 52

Bảng 2.2: Danh mục các công trình thủy lợi bị hư hỏng nặng đề nghị được đầu tư bằng nguồn kinh phí của UBND tỉnh 53

Bảng 2.3: Danh mục các công trình thủy lợi bị hư hỏng nặng đề nghị được đầu tư bằng nguồn kinh phí đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT hỗ trợ và đầu tư xây dựng 53

Bảng 2.4: Diện tích tưới phân theo huyện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 55

Bảng 2.5: Bảng kinh phí sử dụng của các ban quản lý CTTL trong năm 2013 58

Bảng 3.1 : Mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp đến năm 2015 và 2020 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội

CTTL Công trình thủy lợi

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

DNKTCTTL Doanh nghiệp Khai thác Công trình thủy lợi

QLKTCTTL Quản lý khai thác công trình thủy lợi

Ban QLDVTL Ban Quản lý dịch vụ thủy lợi

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã xác định và đặt mục tiêu ưu tiên đối với Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của các địa phương trên cả nước, sớm phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh, kinh tế xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước Thực tiễn cho thấy, việc đổi mới cơ chế công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi không những có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, mà còn có vị trí vai trò hết sức quan trọng đối với an sinh, kinh tế xã hội và môi trường Vấn đề đổi mới cơ chế quản lý được xác định là nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi nhằm xóa bỏ hình thức quản lý theo

cơ chế “xin – cho”, phân phối theo kiểu “cào bằng” mà không căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ; đổi mới cơ chế quản lý để minh bạch hóa mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với doanh nghiệp và người hưởng lợi, tạo động lực phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ quản lý và người lao động, gắn quyền lợi với trách nhiệm nhằm khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân cùng tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi (QLKTCTTL) phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; đổi mới cơ chế quản lý để tách bạch rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước trong QLKTCTTL để làm rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý

Sau một thời gian vận hành cơ chế quản lý thủy lợi theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành một số quy định mới về quản lý khai thác công trình thủy lợi hướng dẫn các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi hoạt động phù hợp với xu hướng vận động của nền kinh tế và điều kiện xã hội, mà trọng tâm là hướng dẫn cụ thể việc thực hiện cơ chế đặt hàng Hiện nay các địa phương đang đẩy mạnh công tác phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi và thay đổi cơ chế quản lý từ hình thức

Trang 10

giao kế hoạch sang cơ chế đặt hàng, được xác định là khâu đột phá để thay đổi cách thức quản lý điều hành theo cơ chế bao cấp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức cá nhân quản lý khai thác công trình thủy lợi, từng bước xã hội hóa và huy động các nguồn lực xã hội quản lý khai thác công trình thủy lợi

Hiện nay có nhiều địa phương đi đầu trong cơ chế đặt hàng như Hà Nội, Tuyên Quang, Thái Nguyên và An Giang Tuy nhiên, mô hình của Hà Nội hoàn toàn có sự khác biệt với mô hình ở Tuyên Quang, bởi Hà Nội có cơ chế đặt hàng cho các công ty.Tuyên Quang là một trong những địa phương thực hiện mô hình tổ chức QLKTCTTL đại diện cho nhiều tỉnh miền núi, bước đầu áp dụng cơ chế đặt hàng thông qua Ban Quản lý công trình thủy lợi tới các Tổ chức hợp tác dùng nước

Từ năm 2011 đến nay, hoạt động đặt hàng đã thể hiện được nhiều ưu điểm, nhưng đồng thời còn tồn tại nhiều vướng mắc, chưa hoàn toàn suôn sẻ trong quá trình vận hành

Nhằm hỗ trợ công tác quản lý thủy lợi theo cơ chế mới và nhân rộng mô hình Tuyên Quang cho các tỉnh miền núi có cùng điều kiện tương tự về tự nhiên và hạ

tầng thủy lợi cần có một nghiên cứu xác định rõ những ưu và nhược điểm của mô hình đặt hàng tại Tuyên Quang, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường phát huy ưu điểm, hạn chế những nhược điểm Tác giả huy vọng kết quả Luận văn “Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý áp dụng thử nghiệm quy chế đặt hàng khai thác và bảo

vệ công trình thủy lợi tại Tuyên Quang” sẽ đóng góp hữu ích cho việc hoàn thiện

mô hình để áp dụng rộng cho các tỉnh miền núi phía Bắclà hết sức cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý áp dụng thử nghiệm quy chế đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang làm căn cứ để xác định nhiệm vụ đặt hàng, xác định chi phí, ký hợp đồng, kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả, nghiệm thu thanh toán; nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống các công trình thủy lợi tiết kiệm nguồn chi cho ngân sách Nhà nước

Trang 11

3 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp điều tra thực tế; Phương pháp pháp thống kê; Phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp; Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy và một số phương pháp kết hợp khác để giải quyết các nội dung của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Mô hình tổ chức quản lý khai thác và bảo

vệ hệ thống các công trình thủy lợi theo cơ chế đặt hàng và các giải pháp khắc phục vấn đề thực tế nảy sinh, hạn chế việc phát huy tác dụng của cơ chế này trong quá trình triển khai thực hiện

b Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức quản

lý khai thác và bảo vệ hệ thống các công trình thủy lợi theo cơ chế đặt hàng;

Phạm vi về không gian: Luận văn thu thập số liệu, phân tích các vấn đề có liên quan phục vụ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

Phạm vi về thời gian: Các số liệu nghiên cứu được thu thập trong thời gian từ năm 2011 Đến nay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

a Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc thống kê, thống hóa những

mô hình quản lý, bảo vệ, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, đồng thời chứng minh rõ cơ sở khoa học, sự cần thiết của việc áp dụng mô hình quản lý, bảo vệ, khai thác công trình thủy lợi theo cơ chế đặt hàng ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường

b Ý nghĩa thực tiễn

Trang 12

Những kết quả nghiên cứu của đề tài, sẽ góp phần hoàn thiện mô hình quản

lývà nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung, gắn quyền lợi và trách nhiệm của các tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí nâng cao thu nhập cho người lao động

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Hệ thống hóa các mô hình quản lý đã áp dụng trong quản lý khai thác công

trình thủy lợi ở nước ta, và khẳng định tính tất yếu của việc áp dụng thử nghiệm cũng như việc hoàn thiện cơ chế quản lý theo phương thức đặt hàng

- Đánh giá thực trạng việc áp dụng mô hình thử nghiệm quản lý khai thác công trình thủy lợi theo phương thức đặt hàng tại các công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian vừa qua Qua đó rút ra những kết quả đạt được cần phát huy và những hạn chế, tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện mô hình

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, mang tính khả thi nhằm hoàn thiện mô hình quản lý áp dụng mô hình thử nghiệm đặt hàng trong quản lý, khai thác bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

7 Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 03 chương chính:

Chương 1: Một số vấn đề thực hiện về mô hình tổ chức quản lý hệ thống công

trình thủy lợi theo cơ chế đặt hàng Chương 2: Thực trạng áp dụng phương thức đặt hàng các ban quản lý khai

thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình áp dụng thử

nghiệm quy chế đặt hàng khai thác bảo vệ công trình thủy lợi tại tỉnh tuyên quang

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ

THỦY LỢI THEO CƠ CHẾ ĐẶT HÀNG

1.1 Vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong nền kinh tế quốc dân

1.1.1 Khái niệm về hệ thống các công trình thủy lợi

Hệ thống các công trình thủy lợi bao gồm:

- Hệ thống công trình thủy lợi là tập hợp các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau trong quản lý, vận hành và bảo vệ trong một lưu vực hoặc một khu vực nhất định

- Công trình thuỷ lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh,

đê, kè và bờ bao

- Công trình đầu mối là hạng mục công trình thuỷ lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống dẫn, thoát nước; làm chức năng cấp hoặc thoát nước, điều tiết, khống chế và phân phối nước

- Kênh là công trình dẫn nước phục vụ tưới, tiêu, cấp nước

- Công trình trên kênh là công trình làm nhiệm vụ dẫn, điều tiết nước và phục

lở

1.1.2 Vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong nền kinh tế quốc dân

Hơn 60 năm qua, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, ngành thuỷ lợi

đã để lại những ấn tượng sâu sắc thông qua hiệu quả đóng góp của ngành cho các lĩnh vực như hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bằng việc tăng diện tích đất được tưới,

Trang 14

tiêu, nước cấp thuỷ sản, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo và thuỷ sản hàng đầu thế giới Hiệu quả của thuỷ lợi không chỉ có những kết quả tính được thông qua thu nhập, mà còn có những kết quả to lớn khác cho cả cộng đồng Đó là những tác động tích cực

về mặt xã hội, môi trường, cuộc sống của nông dân và bộ mặt nông thôn mới, góp phần ổn định kinh tế và đời sống cũng như nâng cao văn hoá xã hội của nhân dân Với các hệ thống thuỷ lợi hiện có, tổng năng lực thiết kế tưới của các hệ thống bảo đảm cho khoảng 90% diện tích đất canh tác Về diện tích gieo trồng được tưới, theo báo cáo của các địa phương, năm 2012, tổng diện tích đất trồng lúa được tưới, tạo nguồn nước tưới đạt 7 triệu ha, trong đó vụ Đông Xuân: 2,99 triệu ha, vụ Hè Thu: 2,05 triệu ha; vụ Mùa: 2,02 triệu Tỷ lệ diện tích được tưới bằng tự chảy chiếm gần 61%, còn lại là diện tích được phục vụ tưới bằng bơm dầu, bơm điện và hình thức khác Hàng năm, các hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ tưới cho 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp Tạo nguồn cho 1,3 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha Tiêu nước cho trên 1,72 triệu ha đất nông nghiệp và cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp

Hệ thống thuỷ lợi đã góp phần làm giá trị sản lượng nông nghiệp trên một đơn

vị diện tích đất canh tác tăng, tạo nên những cánh đồng 50 triệu đồng/ha, thậm chí còn cao hơn nữa nhờ được tưới, tiêu chủ động và đầu tư ngày càng cao về giống và vật tư kỹ thuật Ở Vùng đồng bằng sông Hồng, hệ thống thuỷ lợi đã góp phần đảm bảo điều tiết lũ cho hạ du, làm cho các đợt lũ giảm đi đáng kể Những năm gặp điều kiện thời tiết hạn hán, hệ thống thuỷ lợi cũng đã góp phần giảm thiểu đáng kể những vùng diện tích chịu hạn, góp phần ổn định sản xuất, nâng cao sản lượng cây trồng cho người dân trong vùng Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các hệ thống thuỷ lợi Đồng Tháp Mười, Ô Môn Xà No, Nam Măng Thít, Tứ Giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, Quản Lộ- Phụng Hiệp, Gò Công, hệ thống đê ngăn mặn ở Sóc Trăng, đập cao su Trà Sư, Tha La đã chủ động một phần trong việc chống lũ, ngăn mặn, giữ ngọt, mở rộng diện tích đất lúa thêm hàng nghìn ha gieo trồng

Trang 15

Các hệ thống công trình thuỷ lợi còn tạo điều kiện phát triển đa dạng hoá cây trồng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng hiệu suất sử dụng đất, phân

bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất và sinh hoạt, đã tạo điều kiện để định canh, định cư, giảm nạn đốt rừng làm nương của đồng bào miền núi Bên cạnh đó chăn nuôi cũng phát triển đa dạng phong phú theo hướng hiệu quả kinh tế cao Tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ở Miền Đông Nam bộ, Tây nguyên, chè ở trung du và miền núi phía Bắc Cây màu lương thực, nhất là ngô đã tăng diện tích lên Cây công nhiệp hàng năm và lâu năm, cây ăn quả cũng được phát triển nhanh

cả về diện tích và sản lượng

Nhiều hệ thống thuỷ lợi đã góp phần cải tạo môi trường sinh thái, tạo nên những cảnh quan đẹp phục vụ du lịch như hồ Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn, Đại Lải, Núi Cốc, Dầu Tiếng… Một số hệ thống thuỷ lợi được đầu tư đã làm cho các vùng đất khô cằn trở thành những vùng đất trù phú, có điều kiện để người dân sinh hoạt, canh tác, thể hiện rõ nét như các hệ thống thuỷ lợi các tỉnh duyên hải miền Trung và vùng Đông Nam bộ như Dầu Tiếng (Tây Ninh), hệ thống thuỷ lợi Sông Quao, Cà Giây (Bình Thuận) Tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh ngày càng tăng, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.2 Hiện trạng quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta

Theo số liệu thống kê của Cục Thuỷ lợi (nay là Tổng cục Thuỷ lợi) hiện nay

cả nước có 92 công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số

tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp

Trang 16

tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục thủy lợi cũng đang trong quá trình xây dựng đề án thành lập Chi cục thuỷ lợi Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) trong tỉnh như Hà Nội sau khi sáp nhập còn 4 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ và Quản lý; tỉnh Hải Dương sát nhập các công ty KTCTTL huyện thành công ty KTCTTL tỉnh

Ngoài ra, theo thời gian, hiệu quả hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi bị suy giảm do sự xuống cấp của công trình và do sự chuyển dịch nhanh và mạnh về cơ cấu sản xuất dẫn tới thuỷ lợi không kịp thay đổi để đáp ứng được các nhu cầu của quá trình phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội

Ngành thuỷ lợi đã nỗ lực xác định lại thực trạng năng lực hệ thống thuỷ lợi, thực trạng xuống cấp của công trình, những tồn tại trong công tác quản lý để tìm ra giải pháp quản lý và vận hành các hệ thống thuỷ lợi phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế và phát huy hiệu quả công trình đáp ứng các yêu cầu phục vụ trong thời kỳ mới Một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công trình được Chính phủ quan tâm là các giải pháp về chính sách quản lý công trình, trong đó có các chính sách về cơ chế tài chính được thể hiện qua các văn bản đã được ban hành trong những năm gần đây như Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2008 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CPngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi trong đó sửa đổi nội dung quan trọng

về chính sách miễn giảm và cấp bù thủy lợi phí; Thông tư số11/2009/TT-BTC ngày

21 tháng 1 năm 2009 về Hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước làm nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 01 tháng 10 năm 2010 Quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi

Trang 17

Tuy vậy, trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều bất cập bởi các nguyên nhân:

Các doanh nghiệp KTCTTL thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên bị đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Trong nhiều trường hợp việc tách, nhập là do ý chí chủ quan, tuỳ tiện thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn dẫn tới sự mất ổn định về mặt cơ cấu tổ chức

Có những hệ thống thuỷ nông chỉ phục vụ tưới tiêu trong phạm vi một tỉnh cũng phân ra nhiều chủ thể quản lý, nên việc phối hợp trong quản lý, điều tiết phân phối kết hợp trong quản lý toàn hệ thống rất phức tạp Vì vậy, gây ra tình trạng

“cha chung không ai khóc” công trình không ai duy tu bảo dưỡng nên xuống cấp nghiêm trọng Nhưng trong khi quyền lợi phân bố xuống các chủ thể quản lý thì cơ quan nào cũng muốn gắn quyền lợi của mình vào; Và lợi ích của những người sử dụng nước thì bị bỏ mặc

Việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn chưa thống nhất giữa các địa phương, còn lúng túng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để chuyển đổi cho phù hợp Các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của nhà nước đang tồn tại, về bản chất hoạt động cơ bản là như nhau, song được mang nhiều tên gọi khác nhau như: Công ty KTCTTL, Trung tâm khai thác thuỷ lợi, Ban quản

lý công trình thuỷ lợi, Công ty cổ phần Sự khác biệt về tên gọi không có ý nghĩa nhiều về thực thi chủ trương đa dạng hoá quản lý công trình thuỷ lợi Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm, hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông

Nhiều địa phương chưa thành lập các tổ chức hội dùng nước (TCHTDN) để quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng ở những hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Lai Châu, Hà Giang, Cà Mau, Hà Tĩnh ) Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng trong bàn xã, trong khi UBND xã và thôn không

Trang 18

phải là các TCHTDN Nhiều địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long các tổ thuỷ nông quản lý công trình thuỷ lợi nội đồng trong bản, xã Các

tổ thuỷ nông này chưa phải là các TCHTDN hoàn chỉnh Việc thực hiện Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương Đối với phần kinh phí cấp cho các doanh nghiệp KTCTTL không có nhiều vướng mắc, tuy nhiên việc triển khai phân bổ kinh phí cho các TCHTDN và các đơn vị quản lý KTCTTL không phải là doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc

1.3 Các mô hình tổ chức quản lý thủy nông ở nước ta trong thời gian qua

Để quản lý, vận hành tốt các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội, trên phạm vi cả nước đã có một hệ thống

tổ chức quản lý thuỷ lợi khép kín từ Trung ương đến địa phương (thực hiện chức năng quản lý Nhà nước) và từ đầu mối đến mặt ruộng (thực hiện nhiệm vụ quản lý công trình)

1.3.1 Mô hình quản lý nhà nước

1 Mô hình quản lý nhà nước cấp Trung ương

Thực hiện Chỉ thị số 1268/CT-BNN-TL ngày 12/5/2009 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT về việc tăng cường công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, UBND các tỉnh thành phố (sau đây gọi tắt cấp tỉnh) trong cả nước đã triển khai thực hiện chủ trương kiện toàn và củng cố các chi cục thủy lợi để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo quy định tại Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/5/2008 của liên Bộ Nội vụ - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Về mô hình tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước cơ bản thống nhất, ở cấp tỉnh

có Chi cục Thủy lợi, ở các tỉnh không thành lập Chi cục phòng chống lụt bão và quản lý đê điều thì Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm thêm chức năng phòng chống lụt bão, quản lý đê điều (xem sơ đồ đồ 1.1)

Trang 19

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi

- Năm 1995, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bộ Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Bộ Lâm nghiệp Chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi cũng được sáp nhập thành một trong các chức năng của Bộ NN & PTNT Tổ chức bộ máy giúp BộNN & PTNT thực hiện chức năng của cả Bộ Thuỷ lợi trước kia là 2 Cục: Cục Quản lý nước và công trình thuỷ lợi (sau đổi tên thành Cục Thuỷ lợi) và Cục Quản lýđêđiều và Phòng chống lụt bão

- Đến năm 2004, chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp Trung ương lại

có sự thay đổi Thực hiện Nghịđịnh số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ, nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước được chuyển sang Cục Quản lý

Tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên Môi trường

Trang 20

- Từ tháng 03/2010 đến nay, chức năng quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi được giao cho Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN&PTNT Tổng cục Thủy lợi thành lập Vụ Quản lý công trình thủy lợi để tham mưu cho Tổng cục thực hiện chức năng này

Sự thay đổi về chức năng nhiệm vụ và bộ máy tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi trong đó có quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Trung ương kéo theo sự thay đổi về tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi ởđịa phương từ tỉnh đến huyện và xã

2 Mô hình quản lý nhà nước cấp tỉnh

- Trước năm 2008, ở cấp tỉnh, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thuỷ lợi trong đó có quản lý khai thác công trình thủy lợi được quy định tại Thông tư liên tịch số 11/2004/TTLT/BNN-BNV của liên Bộ NN & PTNT -

Bộ Nội vụ Tuy nhiên, do các quy định này chỉ mang tính hướng dẫn, không bắt buộc nên các mô hình tổ chức quản lý nhà nước ở các địa phương rất khác nhau Một số địa phương thành lập phòng quản lý nhà nước về thuỷ lợi nhưng chủ yếu làm chức năng thẩm định xây dựng cơ bản về thuỷ lợi, không tham mưu giúp Sở làm tốt chức năng quản lý nhà nước về chuyên ngành quản lý khai thác công trình thủy lợi Vì thế, lĩnh vực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở nhiều địa phương chưa được đẩy mạnh, nhất là tổ chức quản lý chưa được củng cố, phát triển để đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai

- Chức năng, nhiệm vụ của mô hình Chi cụcThủy lợi giữa các địa phương, vùng miền trong cả nước có sự khác biệt đáng kể Đối với các Chi cục Thuỷ lợi vùng ĐBSH và Bắc Trung Bộ chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi không bao gồm chức năng quản lý nhà nước về đê điều và phòng chống lụt bão Trong khi đó các Chi cục Thuỷ lợi ở các vùng gồm Miền núi phía Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long đều có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thuỷ lợi bao gồm cả quản lý đê điều và phòng chống lụt bão vàgiảm nhẹ thiên tai

Trang 21

- Từ năm 2008 đến nay, thực hiện Thông tư liên tịch số BNV ngày 15/5/2008 của liên Bộ Nội vụ - Bộ NN & PTNT, cơ quan chuyên môn

61/2008/TTLT-BNN-về quản lý, khai thác công trình thủy lợi đã cơ bản được kiện toàn, hoàn thiện Đến nay, cả nước đã có 62/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Thủy lợi trực thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT với chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo quy định của Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV (riêng chỉ còn tỉnh Đồng Nai là chưa thành lập Chi cục Thủy lợi mà đang còn duy trì Phòng Thủy lợi trực thuộc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN& PTNT)

3 Mô hình quản lý nhà nước cấp huyện

- Ở cấp huyện, chức năng quản lý nhà nước về khai thác công trình thủy lợi phần lớn được giao cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một số nơi giao cho Phòng Kinh tế nông nghiệp

- Hiện nay, số lượng cán bộ có trình độ đào tạo về thủy lợi làm việc tại các phòng nêu trên rất ít, theo điều tra tại 528 đơn vị cấp huyện chỉ có 407 đơn vị được

bố trí ít nhất 1 người có chuyên môn thủy lợi, còn lại 121 đơn vị chưa có cán bộ chuyên môn thủy lợi (chiếm 23%)

- Năng lực chuyên môn và kinh nghiệm cán bộ phụ trách thuỷ lợi còn chưa cao, vẫn còn trên 40% cán bộ có trình độ trung cấp và sơ cấp Trong khi nhiệm vụ quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp huyện là rất nặng nề Với tổ chức biên chế và năng lực hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới

4 Mô hình quản lý nhà nước cấp xã

- Ở cấp xã, hầu hết uỷ ban nhân dân mỗi xã hầu hết đều cử 01 cán bộ bán chuyên trách phụ trách công tác thuỷ lợi, trong đó có nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi Tuy nhiên, phần lớn các cán bộ này ít có kinh nghiệm về quản

lý, năng lực còn hạn chế dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp cơ sở thấp, thậm trí nhiều nơi buông lỏng

Trang 22

1.3.2 Mô hình quản lý khai thác các công trình thủy lợi

Tổ chức bộ máy quản lý vận hành công trình thủy lợi khá đa dạng, với nhiều

mô hình quản lý khác nhau

Ở cấp tỉnh, tính đến nay cả nước có 92 doanh nghiệp (trong đó có 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và 89 doanh nghiệp thuộc các tỉnh), 2 Ban quản lý (Tuyên Quang và Kon Tum), 4 Trung tâm (Long An, Bạc Liêu, Vũng Tàu và Lâm Đồng), 4 Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão) kiêm nhiệm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình (Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang và Cà Mau) (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Các hình thức tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh

T

Số tỉnh

Loại hình tổ chức QLKTCT thủy lợi

Doanh nghiệp

Trung tâm

Ban Quản

Chi cụ thủy lợi chưa có Số tỉnh

(Nguồn: Báo cáo của địa phương tháng 10/2012)

Ghi chú: Trong số các doanh nghiệp có 3 công ty trực thuộc Bộ NN&PTNT Tuy các hình thức tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các tỉnh trong cả nước chưa thống nhất, nhưng tự trung lại có 3 mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi chủ yếu sau đây (xem Sơ đồ 1.2)

Trang 23

r - ■

Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi

- Mô hình 1 (Mô hình Doanh nghiệp) Mô hình này thường áp dụng để quản

lý các hệ thống thủy lợi vừa và lớn Theo mô hình này Nhà nước thành lập công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi và giao nhiệm vụ quản lý công trình thủy lợi từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Thông thường mỗi tỉnh thành lập 1 công ty (31/50 tỉnh, chiếm 62%); 5 tỉnh thành lập 2 công ty (2/50 chiếm 4%), 17 tỉnh còn lại có số công ty khá nhiều, nhiều nhất là các tỉnh Nghệ An và Nam Định

có 7 công ty (14/89, chiếm 16 % cả nước), sau đến là Bắc Giang và Hải Phòng mỗi tỉnh có 5 công ty Đối với các tỉnh chỉ thành lập một công ty thì ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Xí nghiệp, Chi nhánh, Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nướcquản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông

- Mô hình 2 (Chi cục Thủy lợi) Ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thường không thành lập các doanh nghiệp mà giao luôn cho Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão) quản lý Theo mô hình này, ở các huyện thường thành lập các trạm trực thuộc Chi cục Thủy lợi làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi Thông thường Chi cục Thủy lợi quản lý nhân sự, nhưng giao về các Phòng Nông nghiệp huyện cùng hoạt động Kinh phítrả lương cho số

Trang 24

cán bộ này được tính riêng thành một khoản trong nguồn kinh phí cấp về cho Chi cục Thủy lợi Phần công trình thủy lợi nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông

- Mô hình 3 (Trung tâm hoặc Ban) Ở một số tỉnh không thành lập các doanh nghiệp (hoạt động theo Luật doanh nghiệp) mà thành lập Trung tâm Quản lý KTCTTL hoặc Ban Quản lý KTCTTL (hoạt động theo đơn vị sự nghiệp) Mô hình này thường áp dụng các tỉnh không có các hệ thống thủy lợi quy mô lớn Tương tự như mô hình doanh nghiệp, các đơn vị quản lý công trình thủy lợi từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác

xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông

Trong số 92 doanh nghiệp thuộc 50 tỉnh thành phố trong cả nước, loại hình công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi là chủ yếu 89/92 (chiếm 96,7%), loại hình Công ty cổ phần 2/92 (chiếm 2 %), loại hình Công ty mẹ con 1/92 (chiếm

1 %) và loại hình Công ty TNHHMTV trực thuộc Công ty cổ phần 1/92 (chiếm 1

%) như ở Bình Dương, Bắc cạn

Ngoài các mô hình chủ yếu trên đây, trong thực tế có tỉnh vừa có tổ chức trực thuộc UBND tỉnh (Doanh nghiệp, Trung tâm) vừa có tổ chức Quản lý KTCTTL trực thuộc huyện Trung tâm, Trạm, Ban trực thuộc huyện (hoạt động như đơn vị sự nghiệp) như Lâm Đồng, Thanh Hóa, Yên Bái, An Giang,

Hiện vẫn còn 4 tỉnh không thành lập tổ chức Quản lý khai thác công trình thủy lợi ở cấp tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp)

Về năng lực cán bộ công nhân viên đang quản lý khai thác công trình thủy lợi: Theo điều tra, số liệu thống kê của các địa phương, tính đến 30/10/2012 tổng số cán

bộ công nhân viên thủy nông đang làm việc tại các Công ty Quản lý KTCTTL hoặc Trung tâm, Ban QLKTCTTL (thuộc cấp tỉnh) là 24.456 người, trong đó trình độ

Trang 25

đại học và trên đại học chiếm 16,8 %, cao đẳng 2.13 %; trung học, dạy nghề là 50,7

%; sơ cấp 27,9%, chưa đào tạo là 2,23 % (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.2: Số lượng và trình độ cán bộ trực tiếp quản lý KTCTTL

Tổng

số (người)

Đại học

và trên

ĐH

Cao đẳng

Trung cấp

Nhân công

(Nguồn: Báo cáo của địa phương tháng 10/2012)

So với số liệu điều tra thống kê năm 2008, cả về số lượng và năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ thuỷ nông đã tăng lên đáng kể, số cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng tăng hơn 4%; có trình độ trung học và dạy nghề tăng 24%; số công nhân giảm từ 57% xuống 30%

Về số lượng tăng lên 1.885 người (tăng 8%) so với năm 2008, đây là tín hiệu không tốt Đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên Hải – Miền Trung (xem bảng 1.3)

Trang 26

Bảng 1.3: Số cán bộ, công nhân trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi

ở các vùng trong cả nước (2008-2012)

(người)

Năm 2012 (người)

Tăng/Giảm (người)

xã viên, hộ xã viên; bình quân một HTX có 795 xã viên, hộ xã viên Trong các HTX dịch vụ nông nghiệp thì hoạt động cung cấp dịch vụ tưới tiêu là chủ yếu (7179 HTX, chiếm 80,5%), ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sản xuất (57% có cung cấp dịch vụ bảo vệ thực vật, 46,2% có dịch vụ cung ứng vật tư phân bón, 46,3% có dịch vụ khuyến nông, 43,2% có dịch vụ điện, 38% có dịch vụ khoa học kỹ thuật, 15% có dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, 15,1% có dịch vụ tín dụng nội bộ ) Theo tổng hợp của Tổng cục Thủy lợi, tính đến 30/11/2012, cả nước có 16.238

tổ chức Hợp tác dùng nước, loại tổ chức theo hình thức Hợp tác xã là 6.270 tổ chức

và Tổ hợp tác là 8.314 Như vậy sau hơn một năm đã giảm đi 909 Hợp tác xã (xem Bảng 1.4)

Trang 27

Bảng 1.4: Số lượng các loại hình Tổ chức Hợp tác dùng nước

1.627 (10%)

( Nguồn: Báo cáo của địa phương tháng 10/2012)

Tuy vậy số HTX, THT hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản còn rất hạn chế Theo số liệu điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, tính đến 1/7/2011 cả nước có 8.007 HTX và THT (trong tổng số 9.071 xã), trong đó HTX là 6.302 (78,7 %) và THT là 1705 (21,3%); HTX trong lĩnh vực nông nghiệp là 6072 ( 96,3%), HTX trong lĩnh vực lâm nghiệp là 33 (0,5%); HTX trong lĩnh vực thủy sản

là 197 ( 3,2 %) Mặc dù số lượng ít, hiện mới có 4.062 xã (50,73 %) hoạt động có hiệu quả (có lãi), còn gần 50 % số HTX hoặc THT hoạt động chưa có hiệu quả (thua lỗ) Ngoài lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản, các HTX hoặc THT hoạt động chủ yếu là dịch vụ thủy nông, và phần lớn số đó thu không đủ chi nên có xu hướng tan

rã Nếu tính bình quân 1 xã nông nghiệp có một HTX dịch vụ nông nghiệp, hiện vẫn còn có đến 2999 xã (33%) chưa có HTX Ở những xã chưa có HTX, thường UBND

xã trực tiếp chỉ đạo việc quản lý thông qua thôn, xóm, bản hoặc là không quản lý bỏ mặc dân muốn làm như thế nào cũng được (xem Bảng 1.5)

Trang 28

Bảng 1.5: Số xã có tổ chức Hợp tác xã hoặc Tổ hợp tác hoạt động hiệu quả

(Nguồn: Báo cáo của địa phương tháng 10/2012)

1.4 Phương thức đặt hàng quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

1.4.1 Khái quát về phương thức đặt hàng khai thác bảo vệ công trình thủy lợi

Theo quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ thì những sản phẩm, dịch vụ công ích có thể thực hiện theo ba phương thức Việc lựa chọn sẽ phải theo thứ tự ưu tiên là đấu thầu, đặt hàng rồi mới đến giao kế hoạch Ngoài những sản phẩm, dịch vụ công ích, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Công ty Quốc phòng, an ninh thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và Hợp tác xã (HTX) đều có quyền tham gia sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công ích theo các phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao kế hoạch là một trong những nội dung mới nhất được quy định tại Nghị định 31/2005/NĐ-CP về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Trong Nghị định này cũng quy định rõ các loại dịch vụ nào gắn với phương thức cung ứng nào cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Như vậy, có 3 phương thức đặt hàng quản lý khai thác công trình thủy lợi là:

- Phương thức đấu thầu thực hiện nhiệm vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi

Trang 29

- Phương thức giao kế hoạch thực hiện nhiệm vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi

- Phương thức đặt hàng thực hiện nhiệm vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi

1 Phương thức đấu thầu thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi

Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ

đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể

Mô hình quản lý theo hình thức đấu thầu, đặt hàng trong quản lý khai thác CTTL là một mô hình mới, phù hợp với cơ chế thị trường và là một trong các hình thức đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng đem lại hiệu quả cao Tùy theo quy

mô phạm vi của từng hệ thống công trình thuỷ lợi để phân chia thành từng gói thầu thuận tiện trong việc quản lý các công trình Các công ty, xí nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi và các tổ chức, cá nhân khác nếu có đủ điều kiện, năng lực theo quy định của nhà nước đều được tham gia đấu thầu quản lý các hệ thống CTTL Cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định cụ thể trong đấu thầu thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác CTTL bao gồm:

Trang 30

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 của điều 5 quyết định TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/11/2006 về việc ban hành quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch thực hiện sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thì doanh nghiệp tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức đấu thầu phải tự bù đắp chi phí theo giá thực hiện thầu Mức độ hoàn thành về sản lượng, chất lượng, tiến độ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức đấu thầu là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích

256/2006/QĐ Ưu điểm:

+ Với các điều kiện, hình thức và phương thức đấu thầu thể hiện rõ tính chất

“cạnh tranh hoàn hảo” của “thị trường” này Do đó, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ mang lại là rõ rệt

+ Phương thức này kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh tranh và trách nhiệm trong quá trình cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm mang lại hiệu quả cao cho dịch vụ

- Nhược điểm:

+ Phương thức đấu thầu thực hiện nhiệm vụ Quản lý khai thác CTTL mang hình thức đấu thầu rộng rãi (tức là không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia), tuy nhiên nếu không có giải pháp ràng buộc cao vàquản lý chặt chẽ các nhà thầu sẽtồn tại nguy cơmất an toàn về mặt phục vụ sản xuất dẫn tới bấtổnchính trị, xã hội

Ở Việt Nam, phương thức cung ứng này mới chỉ tiến hành thí điểm ở tỉnh An Giang dưới sự hỗ trợ của Chính phủ Australia thực hiện với “Dự án kiểm soát lũ

Bắc Vàm Nao” nhằm giải quyết thử thách về tăng diện tích và năng suất sản xuất trong khu vực thông qua việc xây dựng một hệ thống quản lý nước tổng hợp tiên tiến kết hợp với cơ chế đấu thầu, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác trên

hệ thống với 24 Tiểu vùng sản xuất tạo điều kiện cho toàn bộ 24.039 ha đất sản xuất nông nghiệp trong toàn khu vực sản xuất được 3 vụ/năm

Mặc dù vậy, với nhiều bất cập về quản lý khai thác CTTL từ trước đến nay thì phương thức này chưa khả thi để áp dụng được trong thực trạng hiện nay ở nước ta

Trang 31

2 Phương thức giao kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi

Đây là phương thức mà nước ta đã áp dụng trong thời kỳ nền kinh tế nước ta theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, theo đó Nhà nước trực tiếp giao chỉ tiêu pháp lệnh sản xuất cho các doanh nghiệp Nhà nước cả về khối lượng, đơn giá sản phẩm đầu vào đầu ra cũng như việc bao tiêu sản phẩm

Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua, sự yếu kém trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi bắt nguồn từ cơ chế quản lý Các doanh nghiệp thủy nông tuy là doanh nghiệp (tuân thủ Luật doanh nghiệp) nhưng lại hoạt động như một đơn vị sự nghiệp, kết quả sản xuất ít ảnh hưởng đến nguồn thu của doanh nghiệp mà chủ yếu dựa vào mối quan hệ cấp phát, xin cho; trách nhiệm không gắn với quyền lợi nảy sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ Nhà nước để cấp phát

Hàng năm các đơn vị thuộc đối tượng được giao kế hoạch làm nhiệm vụ quản

lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi phải lập kế hoạch tưới nước, tiêu nước, cấp nước trong điều kiện thời tiết bình thường, kế hoạch tài chính theo mẫu biểu đã được quy định tại phụ lục số 01 (Ban hành kèm theo Thông tư 11/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi và quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước làm nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi),

và Sở Tài chính tổng hợp theo mẫu biểu quy định tại phụ lục số 02 (cùng Thông tư) báo cáo cơ quan có thẩm quyền giao kế hoạch xem xét, quyết định Các cơ quan quản lý nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất cho các doanh nghiệp thủy nông hết sức chi tiết cả sản lượng và tài chính, các đơn vị dựa vào kế hoạch được giao triển khai thực hiện giống thời kỳ bao cấp Đây là hình thức đang tồn tại phổ biến hiện nay ở các địa phương và là cơ chế bất hợp lý cũng như vấn đề bức xúc nhất hiện nay vì thực tế tồn tại những bất cập sau:

- Doanh nghiệp thủy nông hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước nhưng thực tế một số doanh nghiệp lại hoạt động như một đơn vị sự nghiệp dẫn đến tình trạng không quan tâm nhiều đến kết quả sản xuất vì nguồn thu ít hay nhiều cũng

Trang 32

không ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp mà chủ yếu dựa vào mối quan hệ cấp phát, xin cho

- Yếu kém trong tư tưởng gắn trách nhiệm với quyền lợi của các bên liên quan; tư tưởng ỷ lại bởi mối quan hệ cấp phát, xin cho;

- Lãng phí cả về vốn (tài chính và nhân lực) lẫn tài nguyên nước, nhất là nguồn nước đang phải đối mặt với xu hướng biển đổi khí hậu hiện nay

Các bất cập trên dẫn đến hiệu quả thực hiện quản lý khai thác CTTL rất kém

Vì thế cần đổi mới gắn liền việc giao kế hoạch với quy định chất lượng dịch vụ thực hiện các kế hoạch đó Phương thức mới sẽ đáp ứng được yêu cầu và xu hướng thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện nay ở Việt Nam nhằm mang lại hiệu quả quản lý tối ưu

3 Phương thức đặt hàng thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi

Phương thức đấu thầu, đặt hàng là phương thức tiên tiến trong sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường đã và đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng Theo phương thức này, Nhà nước vẫn giữ được vai trò tổ chức, quản lý việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, phù hợp với cơ chế thị trường với sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước với tư cách là người cung ứng hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, Nhà nước đứng ra lựa chọn đơn vị, cá nhân tổ chức sản xuất với các yêu cầu về số lượng, chất lượng, sau đó Nhà nước mua lại và cung cấp cho xã hội Tổ chức cá nhân nào chào bán cho Nhà nước với giá bán (hoặc chi phí sản xuất thấp nhất) sẽ được lựa chọn Các tổ chức, cá nhân với

tư cách là người bán sẽ phải đưa ra được phương án tối ưu nhất, đáp ứng các yêu cầu về sản phẩm hàng hóa dịch vụ của người mua với mức giá tốt nhất, vừa đủ bù đắp chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận hợp lý

Đối với công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi áp dụng phương thức đặt hàng và kết hợp phương thức đấu thầu ở các công trình thủy lợi nhỏ (quy mô trong phạm vị thôn xã) là giải pháp tối ưu hiện nay để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi Tính ưu việt của phương thức đặt hàng là:

Trang 33

- Thực hiện phương thức đặt hàng là phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp sẽ khơi dậy tính sáng tạo, thúc đẩy đổi mới nâng cao năng suất và chất lượng

- Thực hiện phương thức đặt hàng, buộc doanh nghiệp phải tự đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới tổ chức sản xuất để hàng hóa sản xuất ra có tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường Nếu không tự đổi mới doanh nghiệp sẽ bị đào thải khỏi thị trường

- Phương thức đặt hàng là phương thức quản lý theo kết quả cuối cùng, phương thức này là động lực để người lao động nhiệt tình và hăng say với công việc được giao, vì kết quả cuối cùng mới là cơ sở để phân phối thu nhập cho người lao động theo nguyên tắc “làm nhiều, làm tốt thì hưởng nhiều; làm ít, làm kém thì hưởng ít, thậm chí còn bị phạt”.Phân phối thu nhập theo kết quả còn là động lực để người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận

- Áp dụng phương thức đặt hàng sẽ huy động được các tổ chức, doanh nghiệp,

cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia cung ứng sản phẩm hàng hóa dịch vụ công

sẽ giảm áp lực về ngân sách cho Nhà nước Thực tiễn đã chứng minh rằng, phương thức doanh nghiệp Nhà nước được giao kế hoạch sản xuất là phương thức kém hiệu quả nhất, chi phí cao, lợi nhuận thấp, thậm chí luôn luôn thua lỗ

- Áp dụng phương thức đặt hàng, tiến tới đấu thầu là giải pháp tối ưu để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi

- Mặt khác khi sử dụng phương thức đặt hàng sẽ tách bạch rõ được quyền chủ

sở hữu với quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) Đối với các DNNN, thông thường chủ tịch hội đồng quản trị kiêm luôn chức vụ tổng giám đốc nên chưa có sự tách biệt giữa quyền của một đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước với quyền điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo các quy định hiện nay, về lý thuyết Chính phủ là người đại diện trực tiếp quyền chủ sở hữu tại các DNNN, thực tế Chính phủ không thể trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với hàng chục tổng công ty Nhà nước nên

Trang 34

lại ủy quyền cho các bộ, UBND các tỉnh Việc có quá nhiều đầu mối thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đã dẫn đến hệ quả là quản lý không hiệu quả, mỗi

cơ quan làm một phần, không có ai chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện, tình trạng

“cha chung không ai khóc”, phó mặc DNNN muốn làm gì cũng được, làm gì không

ai biết Đây là nguyên nhân quan trọng nhất mà trong những năm gần đây, tuy số DNNN giảm về lượng nhưng quy mô, lĩnh vực hoạt động thì lại phát triển nhanh chóng, tập đoàn, Tổng công ty, DNNN nào cũng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực và gây thất thoát lãng phí vốn Nhà nước chưa từng có từ trước đến nay

Đứng trước những bất cập lớn tồn tại trong phương thức giao kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác CTTL hiện nay đòi hỏi Chính phủ, các ban ngành, các cấp có thẩm quyền tìm hướng quản lý mới phù hợp với xu thế phát triển Điều này đã được định hướng từ năm 2005 với “Nghị định 31/2005/NĐ-CP ngày 11/03/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích” ; Trong đó có các danh mục quy định phương thức thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác CTTL Từ đó cho đến nay còn có thêm một số văn bản quy định nhiệm vụ này, như: Thông tư 11/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính về việc “hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi và quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước làm nhiệm vụ quản

lý, khai thác công trình thủy lợi” và các văn bản quy định phương thức đặt hàng đối với cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích nói chung

Song, do Việt Nam mang nặng tính “bao cấp” trong phương thức giao kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác CTTL nên quá trình chuyển đổi từ phương thức này sang phương thức hiệu quả hơn còn gặp nhiều khó khăn

Hiện mới chỉ có một sốđịa phương như Hà Nội, Thái Nguyên và Tuyên Quang bước đầu tiến hành thực hiện hình thức này Tuy vậy, mỗiđịa phương lại có các mô hình đặt hàng khác nhau bởi mô hình tổ chức quản lý của các địa phương khác nhau

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng của phương thức đặt hàng

1 Cơ chế chính sách

Trang 35

Đến nay, cả nước có 172 doanh nghiệp nhà nước với gần 20.000 cán bộ công nhân, trong đó có 1.800 cán bộ đại học và trên đại học Những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi đã cố gắng trên cả 3 nội dung của công tác quản lý là: Quản lý công trình; Quản lý nước; Quản lý kinh tế

Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng tài chính khó khăn và công tác quản lý tài chính chưa minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là khâu quản lý về thủy lợi phí, công tác quản lý hợp đồng tưới tiêu còn nhiều bất cập; công trình xuống cấp, đầu tư thì dàn trải, đời sống của người lao động thấp dẫn đến hiệu quả khai thác chưa cao

Trong quản lý vận hành, cùng với pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi đã có nghị định về thuỷ lợi phí 112/HĐBT, Nghị định 56/CP về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, Thông tư liên tịch 90/TCNN hướng dẫn chế

độ tài chính đối với các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Nhưng cơ chế tài chính của các doanh nghiệp vẫn không đảm bảo Hầu hết các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi đều rơi vào tình trạng thu không đủ chi Ở những địa phương được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và có nhiều khoản thu cho ngân sách Nhà nước thì việc cấp bù, chỉ cho quản lý khai thác được một phần Ở những địa phương khó khăn việc cấp bù không được thường xuyên Theo tính toán, muốn đảm bảo hệ thống các công trình không xuống cấp, an toàn và hiệu quả hàng năm cần 1200-1500 tỷ để duy tu bảo dưỡng và quản lý Trong khi nguồn thu từ thuỷ lợi phí chỉ đạt 350 - 400 tỷ và ngân sách hỗ trợ khoảng 100 tỷ như vậy mới đảm bảo khoảng 40% yêu cầu chi phí hợp lý

Trang 36

2 Thủy lợi phí

Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trong đó đã quy định rõ mức thu thủy lợi phí

và miền giảm thủy lợi phí

a Mức thuỷ lợi phí, tiền nước quy định tại khoản 4 Điều 14 Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi quy định chi tiết như sau

Bảng 1.6 Mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa

(1.000 đồng/ha/vụ) Miền núi của cả nước

Trang 37

TT Vùng và biện pháp công trình Mức thu

(1.000 đồng/ha/vụ) Tây Nguyên

(Nguồn: Tại Điều 19 Nghị định 115/2008/NĐ-CP)

- Trường hợp tưới, tiêu chủ động một phần thì thu bằng 60% mức phí trên

- Trường hợp chỉ tạo nguồn tưới, tiêu bằng trọng lực thì thu bằng 40% mức phí trên

- Trường hợp chỉ tạo nguồn tưới tiêu bằng động lực thì thu bằng 50% mức phí trên

- Trường hợp lợi dụng thủy triều để tưới tiêu thì thu bằng 70% mức phí tưới tiêu bằng trọng lực

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể danh mục công trình và biện pháp tưới, tiêu nước áp dụng đối với từng công trình thuỷ lợi thuộc phạm vi địa phương quản lý

+ Đối với diện tích trồng mạ, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày kể cả cây

vụ đông thì mức thu thủy lợi phí bằng 40% mức thuỷ lợi phí đối với đất trồng lúa + Mức thuỷ lợi phí áp dụng đối với sản xuất muối tính bằng 2% giá trị muối thành phẩm

Trang 38

Bảng 1.7 Mức thu tiền nước đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi để phục vụ cho các mục đích không phải sản

xuất lương thực

Thu theo các biện pháp công trình

3 Cấp nước tưới các cây công nghiệp dài

ngày, cây ăn quả, hoa và cây dược liệu đồng/m

4 Cấp nước để nuôi trồng thủy sản

đồng/m3

700 500 đồng/m2mặt

1.500

7 Sử dụng nước từ công trình thủy lợi để phát

điện

% giá trị sản lượng điện thương phẩm

Trang 39

(Nguồn: Tại Điều 19 Nghị định 115/2008/NĐ-CP)

- Trường hợp lấy nước theo khối lượng thì mức tiền nước được tính từ vị trí nhận nước của tổ chức, cá nhân sử dụng nước

- Trường hợp cấp nước tưới cho cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, hoa, cây dược liệu nếu không tính được theo mét khối (m3) thì thu theo diện tích (ha), mức thu bằng 40% mức thuỷ lợi phí đối với đất trồng lúa

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức thu tại các tiết 5, 7, 8 Biểu mức thu tiền nước quy định tại điểm này cho phù hợp với thực tế của hệ thống công trình thuỷ lợi ở địa phương và quy định về phân cấp,

tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi hiện hành

b Phạm vi miễn thuỷ lợi phí

Mở rộng phạm vi miễn thuỷ lợi phí đối với diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới tiêu bằng các công trình thuỷ lợi đầu tư từ tất cả các nguồn vốn, kể cả nguồn vốn ngoài ngân sách, tính từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng

Phí dịch vụ cấp nước từ sau cống đầu kênh đến mặt ruộng (kênh nội đồng) do

tổ chức, cá nhân sử dụng nước chi trả Mức phí cụ thể của tổ chức hợp tác dùng nước thoả thuận với tổ chức, cá nhân sử dụng nước, nhưng không vượt quá mức quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

c Cấp bù về kinh phí do miễn thu thuỷ lợi phí

- Đối với các công trình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, ngân sách nhà nước cấp bù 100% theo mức thuỷ lợi phí do Nhà nước quy định

- Đối với các công trình đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước hiện đang thu theo thoả thuận, ngân sách nhà nước cấp bù 100% theo mức thoả thuận giữa các đơn vị thuỷ nông với các hộ dùng nước, đã được UBND cấp tỉnh chấp thuận

1.4.3 Hướngápdụng phương thức đặt hàng khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

Trang 40

Phương thức đặt hàng sẽ làm hạn chế những khiếm khuyết trong phương thức giao kế hoạchđó làcơ chế bao cấp “xin cho’’ dẫn tới thui chột động lực, tính năng động sáng tạo trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

Tuy nhiên, Đổi mới phương thức sản xuất và cung ứng sản phẩm công ích nói chung và quản lý khai thác công trình thủy lợi nói riêng đã là chủ đề được bàn luận khá nhiều, nhất là khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường Đây là một yêu cầu tất yếu của nền kinh tế nước ta khi hội nhập với nền kinh tế thế giới; nhất là không thể duy trì các DNNN hoạt động kém hiệu quả, nhưng lại nắm giữ vốn và tài sản lớn, giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành và lĩnh vực ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế xã hội Với cách tiếp cận mới và kinh nghiệm của các nước, Chính phủ quyết định thay đổi cơ bản phương thức quản lý hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ công ích Cách tiếp cận này đã được thể hiện khá đầy đủ trong Luật DNNN năm 2005 và Nghị định 31/2005/CP

Theo quy định mới tại Nghị định 31/2005/NĐ-CP, việc sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích không nhất thiết chỉ do doanh nghiệp Nhà nước sản xuất,

mà tất cả các loại hình doanh nghiệp (tư nhân, cổ phần), Hợp tác xã đều có quyền tham gia sản xuất sản phẩm theo các phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch (trừ một số hàng hóa thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh) Việc lựa chọn các phương thức này phải dựa vào tính chất đặc điểm của từng loại hàng hóa, theo nguyên tắc chung là chỉ khi không thể thực hiện được phương thức đấu thầu, đặt hàng thì mới áp dụng phương thức giao kế hoạch

Đối với hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu, Nghị định 31 quy định rõ phạm vi áp dụng với từng phương thức trên Cụ thể là:

- Đối với các hệ thống công trình thủy lợi quy mô lớn, liên tỉnh liên huyện thì

có thể lựa chọn một trong hai phương thức là đặt hàng và giao kế hoạch Và chỉ thực hiện phương thức giao kế hoạch khi không thể thực hiện được phương thức đặt hàng

Ngày đăng: 22/03/2021, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm