1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát trạng thái ứng suất biến dạng đập trụ chống

106 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 4: Giải bài toán không gian trạng thái ứng suất biến dạng của đập trụ chống trong đầu mối của công trình điện Nậm Ngần bằng phương pháp PTHH Do thời gian và trình độ hạn chế, mặc

Trang 1

Trường đại học thủy lợi

Trang 2

Trường đại học thủy lợi

Trang 3

MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của đất nước nhu cầu sử dụng năng lượng điện tăng

lên không ngừng trong những năm gần đây, sự gia tăng phụ tải quá nhanh đã làm xảy ra hiện tượng thiếu điện trên diện rộng do vậy việc phát triển nguồn cung cấp điện đã và đang được chú trọng đầu tư không ngừng, hơn thế nữa Việt Nam lại là một nước có nguồn thủy năng dồi dào, sông suối phong phú

và đa dạng chính vì vậy mà hàng loạt công trình thuỷ điện đã đang và sẽ được xây dựng để nhằm đáp ứng các nhu cầu về điện cho đất nước

Trong trong cụm công trình đầu mối công trình thuỷ điện thì Đập là một

bộ phận quan trọng nhất và cũng chính là bộ phận quyết định về chi phí của

cả hệ thống công trình Trong bối cảnh kinh tế khó khăn của đất nước và thế giới, việc tiết kiệm vật liệu trong các công trình xây dựng nói chung và công trình thủy lợi, thủy điện nói riêng đang là một chiến lược quan trọng trong công việc thiết kế và thi công xây dựng Đập trụ chống mới được đưa vào ứng dụng trong một số công trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam như là một biện pháp công trình đập dâng có xu hướng tiết kiệm vật liệu đáng kể, góp phần rút bớt chi phí của dự án Nhưng việc nghiên cứu sâu về tính toán thiết kế Đập trụ chống ở nước ta đang hạn chế Nhất là trạng thái ứng suất biến dạng theo mô hình bài toán không gian

Trong luận văn này tác giả đề cập đến vấn đề: “Khảo sát trạng thái ứng suất biến dạng đập trụ chống”

Đề tài xin được đưa ra như là góp một phần nhỏ trong tham vọng tìm xu hướng giải quyết bài toán kết cấu tối ưu hóa hình thức Đập trụ chống đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật về độ bền và tiết kiệm vật liệu

Luận văn gồm 4 chương với các nội dung chính sau đây:

Trang 4

Chương 4: Giải bài toán không gian trạng thái ứng suất biến dạng của đập trụ chống trong đầu mối của công trình điện Nậm Ngần bằng phương pháp PTHH

Do thời gian và trình độ hạn chế, mặc dù bản thân đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy hướng dẫn: TS Đào Tuấn Anh và các thầy cô giáo Khoa Công trình -Trường Đại học Thuỷ lợi đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẬP TRỤ CHỐNG

1.1 Khái niện và phân loại đập trụ chống

Đập trụ chống được tạo bởi các bản chắn nước nằm nghiêng về phía thượng lưu và các trụ chống Áp lực nước được truyền qua bản chắn đến trụ chống và xuống nền Đập thường được xây trên nền đá tốt

Về mặt địa hình, đập bản chống thích hợp với các lòng sông rộng, bờ thoải

Theo hình thức bản chắn nước của đập ta có thể phân loại như sau:

Đập bản phẳng: mặt chắn nước là các bản phẳng (hình 1-1a và 1-1d), Đập liên vòm: mặt chắn nước là các bản dạng vòm nối liên tục với bản chống (hình 1-1b)

Đập to đầu: phần đầu phía thượng lưu của trụ pin được mở rộng ra tạo thành bản chắn nước (hình 1-1c)

Hình 1.1: Các hình thức đập trụ chống a- đập bản phẳng trên nền đá; b- đập liên vòm;

c- đập to đầu; d- đập bản phẳng trên nền mềm

Các loại hình thức khác của đập bản tựa: đập phản hướng, đập hình cầu

Trang 6

Đập bản tựa thường là kết cấu bê tông hoặc bê tông cốt thép Các kết cấu của đập bản phẳng và đập liên vòm tương đối mỏng, cần nhiều cốt thép, mặt chắn nước thường thiết kế theo kết cấu bêtông cốt thép Các kết cấu của đập

to đầu tương đối dày, hàm lượng cốt thép ít, gần như kết cấu bê tông Cũng có thể dùng gạch, đá xây để xây dựng đập bản tựa, nhưng loại này được dùng rất

ít và chỉ mới xây được các đập thấp bằng đá xây Thí dụ: Trung Quốc đã xây một đập liên vòm cao 25m bằng đá xây vữa

1.2 Ưu nhược điểm của đập trụ chống

- Thể tích đập không lớn, kết cấu mỏng nên tiết kiệm được rất nhiều vật liệu Đập cao 100 m có thể tiết kiệm từ 40%-80% bê tông so với đập trọng lực cùng độ cao Đập trọng lực cao 70m ứng suất nén lớn nhất không vượt quá 12x105N/m2 trong khi đó cùng độ cao như thế ứng suất nén lớn nhất của đập trụ chống có thể đạt được là 35x105N/m2

- Do đập trụ chống có kết cấu mỏng nên khi thi công sẽ tỏa nhiệt cao hơn vì vậy tiến độ thi công cũng nhanh hơn

- Khi đập trụ chống cao khoảng cách giữa các trụ tương đối lớn ta có thể bố trí trạm thủy điện giữa 2 trụ do vậy làm giảm được chiều dài của ống

áp lực

- Đập trụ chống có khả năng chịu được ở một độ quá tải nhất định Vì một nguyên nhân nào đó mực nước thượng lưu vượt quá mực nước thiết kế,

Trang 7

lực nước đẩy ngang tăng lên nhưng trọng lượng nước trên mặt chắn nằm nghiêng cũng tăng lên Do đó khi mực nước hạ lưu không thay đổi thì có thể coi áp lực đẩy nổi tác dụng lên đập không tăng Những nhân tố đó giúp cho đập có khả năng chịu một độ quá tải nhất định

1.2.2 Nhược điểm và những điều cần lưu ý khi thiết kế:

- Trụ pin có độ cứng hướng ngang nhỏ, ổn định hướng ngang kém Động đất hướng ngang có thể sinh ra chấn động cộng hưởng làm hỏng trụ pin

Vì trụ đập tương đối mỏng nên có khả năng mất ổn định về uốn dọc Nhưng căn cứ vào những kết quả tính toán nghiên cứu gần đây thì ổn định uốn dọc không phải là điều kiện khống chế

- Bản chắn nước của đập liên vòm và đập bản phẳng rất mỏng nên tính chống thấm kém Khi mặt chắn nước bị nứt thì sửa chữa rất khó do đó yêu cầu về mặt vật liệu của đập trụ chống tương đối cao về tính chống thấm, chống phong hóa, xâm thực, độ bền …

- Lượng cốt thép dùng nhiều hơn đập trọng lực nhất là đập liên vòm và đập bản phẳng

- Yêu cầu xử lý nền rất cao so với đập trọng lực Đập trụ chống thường được xây dựng trên nền đá Nếu nền đá thì có thể sử dụng biện pháp phụt vữa tạo màng chắn, nếu không phải nền đá thì phải tạo cừ, sân phủ hoặc chân khay để chống thấm Nhưng về mặt xử lý nền chỉ cần bóc đá xung quanh trụ pin, không cần bóc toàn bộ đá nền nên giảm được khối lượng bóc móng và gia cố nền Mặt khác trong quá trình sử dụng khi cần có thể kiểm tra và gia cố nền dễ dàng

- Bố trí thi công phức tạp, nhiều ván khuôn, công tác dẫn dòng thi công ở đập trụ chống khó hơn so với đập bê tông trọng lực Nếu bố trí dẫn dòng thi công qua đập đang xây dựng thì dễ gây chấn động thân đập và xói nền đập

Trang 8

Về cơ bản đập trụ chống khắc phục được các nhược điểm của đập trọng lực Việc chuyển từ thiết kế đập trọng lực sang đập trụ chống là một bước phát triển lớn trong kĩ thuật xây dựng đập

1.3 Quá trình xây dựng và phát triển đập trụ chống trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Lịch sử phát triển đập trụ chống trên thế giới

Một trong những đập trụ chống đầu tiên trên thế giới là đập liên vòm bằng đá Eltra có mặt vòm thẳng đứng cao 23m được xây dựng tại Tây Ban Nha cuối thế kỉ XVI Sau đó mãi tới thế kỉ XIX mới xuất hiện các đập thuộc loại này những vẫn là trọng lực Mái thượng lưu thẳng đứng , dùng các trụ để gia cố Tác dụng của trụ là chống trượt và truyền áp lực xuống nền

Năm 1929, Mỹ đã xây dựng đập to đầu đầu tiên – đập Don Martin cao 30m Sau đó loại đập này được phát triển rộng rãi ở Italy, Thụy Điển, Scotland, Nhật Bản, Liên Xô, Bulgary, Rumani, Iran

Hiện nay, trên thế giới đã có trên 500 đập bản chống được xây dựng Loại đập bản phẳng đã có một số đập khá cao, như đập Possum Kingdom ở

Mỹ cao 57,8m; khoảng cách giữa các trụ l = 12,2(m), xây năm 1941; đập Ecap (Argentina) xây năm 1949, có h = 88(m)

Trang 9

Hình 1.2: Hình ảnh đập Possum Kingdom

Hình 1.3: Hình ảnh đập Manicuogan 5 (Daniel Johnson)

Trang 10

Thuộc loại đập liên vòm, có thể kể đến một số đập cao như đập Beni Badel (Angieri) xây năm 1949, có h = 61(m); đập Mai Sơn( Trung Quốc) cao

88,24(m) Đập liên vòm cao nhất hiện nay là Daniel Johnson ở Canada, xây năm 1970, cao 215(m), khối lượng bê tông 2,23 triệu mP

3

P

, gồm có vòm trung tâm nhịp l = 161,5 và 13 vòm khác có nhịp l = 76,2(m)

Trong số các đập bản chống đã xây dựng cho đến nay thì loại đập bản phẳng là phổ biến nhất Tuy nhiên, ngày nay loại đập to đầu cũng đang có xu hướng được áp dụng rộng rãi do những ưu điểm của nó như kết cấu ít phức tạp, độ ổn định cao, tốc độ thi công nhanh Một số đập to đầu có chiều cao khá lớn như đập Ben Metir (Tuynidi) cao 71m, đập Mengil( Iran) cao 105m, đập Hanatagi -1( Nhật Bản) cao 125m, đập Itaipu (Brazil – Paraguay) cao 196m

Hình 1.4: Hình ảnh đập Itaipu

Trang 11

Hình 1.5: Sơ đồ đập Itaipu

Trang 12

Trên đây là một số công trình đập trụ chống tiêu biểu trên thế giới Do mang những ưu điểm vượt trội so với các loại đập thông thường nên việc nghiên cứu xây dựng đập trụ chống trên thế giới ngày càng được mở rộng và phát huy Với điều kiện phát triển của máy tính, các phương pháp tính toán cũng như công nghệ thi công phức tạp nên việc xây dựng đập trụ chống trở

thành tất yếu của những người quản lý

1.3.2 Sự phát triển đập trụ chống tại Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng đập trụ chống chưa phát triển như các nước trên thế giới Nhưng hiện nay do đòi hỏi của ngành nông nghiệp, thủy lợi cùng với sự phát triển của các môn khoa học về sức bền – kết cấu, cơ học đất và sự phát triển nhanh chóng của máy tính và công nghệ thi công nên việc thiết kế xây dựng đập trụ chống đang được phổ biến rộng rãi Hiện đã và đang có một số con đập nhỏ được thiết kế và đã có một số con đập được đưa vào xây dựng Việc xây dựng đập trụ chống chính là giải pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, nhân công và thời gian ở những nước như nước ta Điều này thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn khoa học nghiên cứu

- Đập Nậm Ngần: Công trình được xây dựng trên dòng suối Nậm Ngần

xã Việt Lâm, xã Quảng Ngần, xã Thượng Sơn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Được khởi công xây dựng vào ngày 04/11/2005 và hoàn thành ngày 09/06/2009 Đập dâng kết cấu đập vòm bằng bê tông cốt thép, chiều dài toàn

bộ đập dâng vờ phải và bờ trái 101,8m , chiều cao lớn nhất 50m Đập tràn kết cấu đập vòm bằng bê tông cốt thép, chiều rộng tràn 54m, chiều cao lớn nhất đến ngưỡng tràn 45m

Trang 13

Hình 1.7: Hình ảnh đập Nậm Ngần trong quá trình xây dựng đập chính

- Dự án thuỷ điện Nậm Khốt được xây dựng trên suối Nậm Khốt, thuộc địa bàn xã Ngọc Chiến - Huyện Mường La - Tỉnh Sơn La Là công trình thứ 2

ở Việt Nam thi công đập theo kiểu trụ chống Công trình cách thị trấn Mường

La khoảng 25 km về phía đông bắc Tuy mới đang trong ở giai đoạn lập báo cáo thiết kế kĩ thuật nhưng nó cho thấy tính ưu việt về chịu lực, ổn định cũng như phát huy hiệu quả kinh tế mà đập trụ chống mang lại

KẾT LUẬN

Trong chương 1 Tác giả đã giới thiệu về khái niệm, phận loại và nêu rõ cấu tạo cũng như những ưu nhược điểm của từng loại đập trụ chống, đồng thời Tác giả cũng đã nêu lên được tình hình xây dựng đập trụ chống trên thế giới và ở Việt Nam chúng ta hiện nay

Trang 14

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT BIẾN

DẠNG CỦA ĐẬP TRỤ CHỐNG

Tính toán trạng thái ứng suất biến dạng trong thân đập nhằm xác định trị số, phương chiều và sự phân bố của các ứng suất dưới tác dụng của ngoại lực, biến dạng của nền, sự thay đổi của nhiệt độ, biện pháp thi công Trên cơ

sở các kết quả tính toán được tiến hành kiểm tra khả năng chịu lực của vật liệu, thiết kế hình dạng hợp lý cho đập trụ chống Nhằm đảm bảo điều kiện kinh tế kỹ thuật cho công trình

2.1 Cơ sở lý thuyết và các phương pháp

Tách ra từ một điểm bất kỳ thuộc đập một phân tố hình hộp có các mặt song song với các mặt toạ độ Trên các mặt của phân tố có 9 thành phần ứng suất (xem hình 2.1)

Do luật đối xứng của ứng suất tiếp , ta có 3 biểu thức:

Trang 15

Như vậy trong 9 thành phần ứng suất chỉ còn 6 thành phần độc lập

2.1.1 Phương trính cân bằng tĩnh của Navier

Ngoài các ứng suất tác dụng trên mặt của phân tố còn có lực thể tích với các thành phần hình chiếu của nó lên các trục toạ độ là: X, Y, Z tác dụng lên phân tố nữa Trên mặt x và trên mặt (x+dx) có các thành phần ứng suất là:

σR x R(x,y,z) τR xy R(x,y,z) τR xz R(x,y,z)

σR x R(x+dx,y,z) τR xy R(x+dx,y,z) τR xz R(x+dx,y,z) Dùng khai triển Taylor và bỏ qua các vô cùng bế bậc cao ta được:

σR x R(x+dx,y,z) = σR x R(x,y,z) + dσR x R = σR x R(x,y,z) + dx

Trang 16

Khi đó phương trình cân bằng tĩnh Navier là phương trình liên hệ giữa các thành phần ứng suất với nhau:

σ

∂ +

τ

∂ +

τ

= +

τ

∂ +

σ

∂ +

τ

= +

τ

∂ +

τ

∂ +

σ

0 Z z y x

0 Y z y x

0 X z y x

z yz xz

zy y xy

zx xy x

(2-1)

Trong đó: σR x R, σR y R, σR z R, τR xy R, τR yz R, τR zx Rlà các thành phần ứng suất của phân tố

X, Y, Z là các thành phần của lực thể tích đơn vị theo các phương của toạ độ x, y, z

Hoặc có thể viết dưới dạng ma trận:

[ ]T z

zy zx

yz y yx

xz xy x

XYZ

z y

τ σ τ

τ τ σ

= γ

ν +

= γ

∂ +

ν

= γ

= ε

ν

= ε

= ε

x

w z u

z y w y

u x

z

w

; y

; x u

zx yz xy

z y

x

Với u, υ, w là các chuyển vị

Trang 17

2.1.3 Điều kiện tương thích về biến dạng – Phương trình Saint Venant

Chuyển vị tại một điểm được xác định bằng 3 thành phần: u, υ, w ; còn biến dạng được xác định bằng 6 thành phần: εR x R, εR y R, εR z R, γR xy R, γR yz R, γR zx R từ (2-3) thấy rằng nếu biết 3 thành phần chuyển vị u, υ, w thì hoàn toàn xác định được

ε

y x 2 ) z y x

( z

x z 2 ) y x z

( y

z y 2 ) x z y

( x

0 x z z x

0 z y y z

0 y x x y

z 2 xy

zx yz

y 2 zx

yz xy

x

2 yz

xy zx

zx 2 2 x 2 2 z 2

yz 2 2 z 2 2 y 2

xy 2 2 y 2 2 x 2

Phương trình này có ý nghĩa khi vật biến dạng thì các phân tố cũng biến dạng, Nhưng các biến dạng này không phải là tuỳ ý mà phải ràng buộc với nhau

2.1.4 Quan hệ giữa ứng suất – Biến dạng – Định luật R.Hooke

Trong trường hợp bài toán 3 chiều (trường hợp chịu lực tổng quát) ta có các biểu thức liên hệ giữa ứng suất và biến dạng như sau:

Trang 18

= γ

τ

= γ

σ

ν

− σ

ν

σ

= ε

σ

ν

− σ

ν

σ

= ε

σ

ν

− σ

ν

σ

= ε

zx z zx

yz y yz

xy x xy

y y

zy x x zx z

z z

x x

yx z z yz y

y y

z z

xz y y xy x

x x

G 1 G 1 G 1

E E

E

E E

E

E E

E

Trong đó: E là mô đun đàn hồi

Υ là hệ số biến dạng ngang của vật liệu (Hay hệ số Poisson)

G là mô đun đàn hồi khi trượt:

Với

) 1 (

2 yz

x x

E G

ν +

=

) 1 (

2 zx

y y

E G

ν +

=

) 1 (

2 xy

z z

E G

ν +

=

) 2 1 ( )

1 (

E x

) 1 (

E γ ν +

= τ

=

) 2 1 ( )

1 (

E y

) 1 (

E γ ν +

=

) 2 1 ( )

1 (

E z

) 1 (

E γ ν +

= τ

Trong đó: e = εR x R+ εR y R+ εR z R

Ngoài ra công thức (2-6) còn có thể viết dưới dạng ma trận:

{ }ε =[ ]−1{ }σ D

Trong đó: ε} là véc tơ biến dạng, {σ} là véc tơ ứng suất,

Trang 19

yz zx yx z y x

yz zx yx z y x

x

z y

zy x

zx

z yz y

x yx

z xz y

xy x

1

G

1 0

0 0

0 0

0 G

1 0

0 0

0

0 0 G

1 0

0 0

0 0 0 E

1 E

E

0 0 0 E

E

1 E

0 0

0 E

E E

1

D

Các biểu thức trên cho ta liên hệ giữa ứng suất và biến dạng thông qua các hằng số đàn hồi của vật liệu có nghĩa là bằng công thức (2-5) ta có thể tính được biến dạng khi đã biết ứng suất

2.2 Các phương pháp tính toán trạng thái ứng suất biến dạng của đập trụ chống

Có rất nhiều phương pháp tính ứng suất và biến dạng cho công trình, trong đó có thể kể đến một số phương pháp như sau:

- Phương pháp giải tích: là tìm nghiệm giải tích thỏa mãn các phương trình vi phân tại mọi điểm trong công trình và thỏa mãn các điều kiện biên trên bề mặt, như phương pháp Sức bền vật liệu, phương pháp Lý thuyết đàn

Trang 20

- Phương pháp số: là xác định gần đúng giá trị rời rạc của các hàm ẩn tại điểm bên trong và trên biên của vật thể xét, như phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp sai phân hữu hạn

Ngoài ra còn có các phương pháp thực nghiệm cũng giúp ta tìm được ứng suất biến dạng, dựa vào mô hình tương thích

Mỗi phương pháp đều có tính ưu nhược điểm Việc lựa chọn phương pháp nào là dựa vào yêu cầu, tính chất, mức độ của bài toán đặt ra

2.2.1 Các phương pháp giải tích

2.1.1.1 Phương pháp sức bền vật liệu:

-Ưu điểm: Đây là phương pháp tính toán cơ bản, giúp ta tính toán ứng

suất biến dạng đơn giản, dễ dàng Tính được các giá trị σ σ τx, y, xytại các điểm đang xét, từ đó xác định được ứng suất chính và phương chính tại mọi điểm khác nhau Thường được sử dụng để tính toán trong giai đoạn thiết kế sơ bộ đối với công trình cấp III, IV

- Nhược điểm: Kết quả tính toán có sai số khá lớn, không phản ánh

đúng trạng thái ứng suất biến dạng công trình Nguyên nhân là do khi tính theo Sức bền vật liệu ta coi công trình như một thanh được ngàm chặt vào

nền, chịu uốn và kéo nén đồng thời; giả thiết sự phân bố ứng suất pháp (y trên mặt phẳng nằm ngang là đường thẳng, trị số tại biên được xác định theo công thức nén lệch tâm) Mặt khác, không thể giải quyết được các bài toán

phức tạp như có biến dạng nền, ứng suất tập trung, ứng suất tại lỗ khoét, ứng

suất nhiệt, tính dị hướng, không xét được trong giai đoạn thi công

- K ết luận: Do sai số lớn nên lời giải sức bền vật liệu hầu như không

nên sử dụng để phân tích ứng suất biến dạng cho công trình cấp cao Thường dùng để tính toán trong giai đoạn thiết kế sơ bộ

Trang 21

2.1.1.2 Phương pháp tính theo lý thuyết đàn hồi:

- Ưu điểm: Giải quyết được những vấn đề như ứng suất tập trung, ứng

suất tại lỗ khoét, ứng suất nhiệt mà phương pháp Sức bền vật liệu không giải quyết được Tính toán tương đối đơn giản, áp dụng dễ dàng, độ chính xác cao

Có thể nói giải theo lý thuyết đàn hồi chính là lời giải trực tiếp từ các phương trình vi phân, chúng vừa thoả mãn điều kiện liên tục của biến dạng vừa thỏa mãn điều kiện biên

- Nhược điểm: Phương pháp lý thuyết đàn hồi rất khó thực hiện được

với những trường hợp tải trọng phức tạp, như áp lực thấm và đẩy nổi, áp lực bùn cát, động đất, ảnh hưởng của nền, nền dị hướng Kết quả tính toán chưa sát với thực tế làm việc của vật liệu là không đồng chất, dị hướng Không xét được ảnh hưởng biến dạng của nền, các lớp xen kẹp, đứt gẫy, nền có tính dị hướng, không tính được trong giai đoạn thi công, ảnh hưởng động đất,

- K ết luận: Tính ứng suất biến dạng theo lý thuyết đàn hồi cho kết quả

chính xác cao hơn so với sức bền vật liệu Tính toán đơn giản, dễ áp dụng;

kết quả chấp nhận được Thường được sử dụng tính toán trong thiết kế các công trình cấp III trở xuống

2.2.2 Các phương pháp thực nghiệm

2.2.2.1 Phương pháp thí nghiệm mô hình

Dựa vào mô hình tương tự, kết hợp với các phương trình toán học, phương pháp thí nghiệm mô hình cho ta độ chính xác cao Nhưng phương pháp này thường được tiến hành với những công trình lớn, mức độ rất quan trọng, đòi hỏi phải có thời gian dài, đặc biệt là chi phí cho thí nghiệm mô hình rất cao Do đó phương pháp này ít được sử dụng, trừ những công trình đặc biệt quan trọng

Trang 22

2.2.2.2 Phương pháp thí nghiệm quang đàn hồi

Có tính trực quan cao, nó có thể cho biết toàn bộ tình hình phân bố ứng suất trong công trình và nền Giải quyết được sự phân bố ứng suất của của các kết cấu phức tạp, các bài toán phân tích ứng suất ba chiều, ứng suất do trọng lượng bản thân

Phải sử dụng thiết bị máy quang đàn hồi, vật liệu thí nghiệm đặc biệt Vật liệu rất quan trọng sẽ phản ánh trực tiếp kết quả thí nghiệm, phải thỏa mãn: trong suốt, đồng chất đẳng hướng: có độ nhạy quang học cao, có thể hình thành biểu đồ rõ ràng Do đó kết quả tính toán không phản ánh hết tính chất của nền đá, không giải quyết được bài toán dị hướng

2.2 3 Phương pháp số

2.2.3.1 Phương pháp sai phân hữu hạn

Phương pháp này tương đối đơn giản nhưng không thuận lợi trong việc lập trình Khối lượng tính toán lớn, chưa phản ánh được sự làm việc của nền

và vật liệu Phương pháp sai phân hữu hạn không giải được các bài toán có điều kiện biên phức tạp Độ chính xác còn phụ thuộc vào hình dạng và kích thước mắt lưới, mắt lưới càng dày độ chính xác càng cao Không phân tích được bài toán dị hướng và trong giai đoạn thi công công trình Thường chỉ áp dụng được với các công trình nhỏ, đơn giản, thì mới cho kết quả tương đối chính xác

2.2.3.2 Phương pháp phần tử hữu hạn:

- Ưu điểm: Đây là một phương pháp tổng quát và hữu hiệu cho lời giải

số nhiều lớp bài toán kỹ thuật khác nhau, đặc biệt có hiệu quả để tìm dạng gần đúng của một hàm chưa biết trong miền xác định của nó Từ việc phân tích

trạng thái ứng suất, biến dạng trong các kết cấu công trình thủy lợi, xây dựng

Trang 23

dân dụng, giao thông đến các bài toán của lý thuyết trường như: lý thuyết truyền nhiệt, cơ học chất lỏng, thủy đàn hồi, khí đàn hồi, điện từ trường Phương pháp này đã giải được bài toán có xét đến ảnh hưởng biến dạng, tính

dị hướng của nền, xét đến nền có lớp xen kẹp, đứt gẫy và giải được bài toán

có điều kiện biên phức tạp Phản ánh đúng thực tế sự làm việc của vật liệu là không đồng nhất, không đẳng hướng Phân tích được trạng thái ứng suất biến

dạng quanh lỗ khoét, ứng suất tập trung, ứng suất nhiệt mà các phương pháp như sức bền vật liệu, lý thuyết đàn hồi, không giải quyết được Cơ sở của phương pháp là thay kết cấu, môi trường liên tục bằng một mô hình bao gồm

một số hữu hạn phần tử riêng lẻ liên kết với nhau chỉ ở một số hữu hạn điểm nút, tại các điểm nút tồn tại các lực hoặc các đại lượng đặc trưng khác tùy theo bài toán Các đại lượng tính toán bên trong phần tử được biểu diễn thông qua các trị số tại các điểm nút của phần tử

Phương pháp phần tử hữu hạn cũng thuộc loại bài toán biến phân, song

nó khác với các phương pháp biến phân cổ điển ở chỗ nó không tìm dạng hàm xấp xỉ của hàm cần tìm trong toàn miền xác định mà chỉ trong từng miền con trong miền xác định của nó Điều này rất thuận lợi khi giải bài toán mà miền xác định gồm nhiều miền con có những đặc tính khác nhau

- Nhược điểm: Khối lượng tính toán lớn, phức tạp không thể thực hiện

bằng thủ công, mặt khác phải phân tích kết cấu thực tế đưa về kết cấu có tính toán sao cho hợp lý và cho kết quả đúng, sát với thực tế nhất

2.3 Phương pháp tính toán sử dụng trong luận văn

Qua phân tích ưu nhược điểm ở trên nhận thấy phương pháp phần tử hữu hạn giải được các bài toán có biên phức tạp, phản ánh đúng với thực tế sự làm việc của nền, vật liệu và cho kết quả có độ chính xác cao Với phương pháp này ta có thể nghiên cứu được bài toán nền dị hướng và trong trường

Trang 24

hợp đang thi công, bài toán nhiệt, bài toán có xét đến ảnh hưởng của động đất,

Phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi vì những ưu việt của nó, với miền tính toán bao gồm các loại vật liệu khác nhau và có hình dáng kích thước bất kỳ, biên của bài toán có thể phức tạp

Thông qua việc nêu rõ các phương pháp tính, phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp Vậy nên trong phạm vi luận văn này tác giả sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn là thích hợp để giải bài toán

2.4 Phương pháp phần tử hữi hạn

Phương pháp Phần tử hữu hạn (PTHH) là một phương pháp tính đang được áp dụng hết sức rộng rãi hiện nay trên thế giới, vì phương pháp này rất thuận tiện cho việc áp dụng máy tính điện tử; cho phép tính kết cấu với

những sơ đồ tính toán khá phức tạp, phản ánh tương đối đầy đủ tình hình làm việc của kết cấu thực; cho phép tự động hóa tính toán kết cấu, tiết kiệm được nhiều lao động và thời gian Phương pháp này cho các kết quả bằng số tại các điểm cần tìm, thay cho việc tìm kết quả là các hàm giải tích của các bài toán cơ học vật rắn biến dạng Phương pháp này không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực cơ học vật rắn biến dạng, mà còn trong nhiều lĩnh vực khác

Trang 25

2.4.1 Nội dung của phương pháp

Phương pháp PPHH thuộc loại bài toán biến phân, song nó khác với các phương pháp biến phân cổ điển như phương pháp Ritz, phương pháp Galerkin ở chỗ nó không tìm dạng hàm xấp xỉ của hàm cần tìm trong toàn miền xác định mà chỉ trong từng miền con thuộc miền xác định đó Điều này đặc biệt thuận lợi đối với những bài toán mà miền xác định gồm nhiều miền con có những đặc tính khác nhau, đặc biệt nó được áp dụng trong bài toán phân tích ứng suất thân đập, trong nền không đồng chất

Trình tự gải bài toán bằng phương pháp PTHH

a Chia phần tử: Chia miền tính toán thành nhiều các miền nhỏ gọi là

các phần tử Các phần tử này được nối với nhau bởi một số hữu hạn các điểm nút Các điểm nút này có thể là đỉnh của các phần tử, cũng có thể là một số điểm được quy ước trên mặt (cạnh) của phần tử

Thông thường ta hay sử dụng các loại phần tử như:

Hình dạng các điểm nút được lựa chọn sao cho có khả năng xấp xỉ sát nhất hình dạng mặt biên của miền tính toán Với bài toán đập trụ chống dạng bài toán không gian, người ta thường chọn phần tử khối hộp 6 mặt cho các

Trang 26

phần tử nằm trong và khối hộp 6 nút cho các phần tử nằm trên biên với các điểm nút nằm tại các đỉnh của các phần tử

b Hàm xấp xỉ: Trong phạm vi của mỗi phần tử, ta giả thiết một dạng

phân bố các định nào đó của hàm cần tìm, có thể là:

- Hàm chuyển vị;

- Hàm ứng suất;

- Hàm chuyển vị và hàm ứng suất

Thông thường giả thiết các hàm này là những đa thức nguyên mà các

hệ số của đa thức được gọi là các thông số Trong phương pháp PTHH các thông số này được biểu diễn qua các trị số của hàm và có thể là các trị số các đạo hàm của nó tại các điểm nút của phần tử Ở phương pháp PTHH, hàm xấp

xỉ thường được biểu diễn qua các trị số của hàm và có thể cả các trị số của đạo hàm của nó tại các điểm nút của phần tử Chẳng hạn nếu hàm cần tìm là chuyển vị thì các hệ số của hàm xấp xỉ sẽ được xác định nhờ chuyển vị (chuyển vị thẳng và chuyển vị góc xoay) và các đạo hàm của chuyển vị của các điểm nút tại các phần tử Như vậy các hệ số của hàm xấp xỉ luôn có ý nghĩa vật lý xác định và rất dễ thoả mãn các điều kiện biên của bài toán Đó là một trong những ưu điểm nổi bật của phương pháp PTHH so với các phương pháp xấp xỉ khác

Tuỷ theo ý nghĩa của hàm xấp xỉ mà trong các bài toán kết cấu ta thường chia ra làm 3 loại mô hình:

* Mô hình tương thích: Ứng với mô hình này ta biểu diễn gần đúng

dạng phân bố của chuyển vị trong phần tử Hệ phương trình cơ bản của bài toán sử dụng mô hình này được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Lagrange

Trang 27

*Mô hình cân bằng: Ứng với mô hình này ta biểu diễn gần đúng dạng

phân bố của ứng suất hoặc nội lực trong phần tử Hệ phương trình cơ bản của bài toán sử dụng mô hình này được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Castigliano

* Mô hình hợp lý: Ứng với mô hình này ta biểu diễn gần đúng dạng

phân bố của cả chuyển vị lẫn ứng suất trong phần tử Ta coi chuyển vị và ứng suất là hai yếu tố độc lập riêng biệt Hệ phương trình cơ bản của bài toán sử dụng mô hình này được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Reisser – Hellinger

Hầm xấp xỉ phải được chọn để đảm bảo được một số yêu cầu nhất định, Trước tiên là phải thoả mãn được các phương trình cơ bản của lý thuyết đàn hồi

Trong ba mô hình trên thì mô hình tương thích được sử dụng rộng rãi hơn cả, còn hai mô hình sau chỉ sử dụng có hiệu quả trong một số bài toán nhất định Do đó với bài toán phân tích ứng suất và biến dạng trong đập trụ chống ta dùng phương pháp PTHH với mô hình tương thích

c Thiết lập hệ phương trình cơ bản của bài toán

Để thiết lập phương trình cơ bản của bài toán giải bằng phương pháp PTHH ta dựa vào các nguyên lý biến phân Từ các nguyên lý biến phân ta rút

ra được hệ phương trình đại số tuyến tính dạng:

d Xác định các đại lượng cơ học cần tìm khác

Dựa vào các phương trình cơ bản của lý thuyết đàn hồi sẽ xác định được các đại lượng cần tìm khác

Trang 28

2.4.2 Phân tích ứng suất đập trụ chống theo mô hình tương thích

Để tính toán đập trụ chống bằng mô hình tương thịch, ta chọn phần tử dạng khối (Solid) Phần tử khối có thể là khối tứ diện, ngũ diện hoặc lục diện , tương ứng với các phần tử đó là số nút trong phần tử thường 4 nút, 5 nút, 6

nút, (hình 2.3) Chuyển vị của nút thứ i trong phần tử là uR i R, vR i R, wR i R Các thành phần ứng suất của phần tử bao gồm: σR x R, σR y R, σR z R, τR xy R, τR yz R, τR zx R (hình 2.3)

Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng:

ν ν

0 0

G

0 0

0 c ) 1 (

0 0

0 c

c ) 1 (

0 0

0 c

c c

) 1 (

1

(

E c

ν

− ν

) 1 (

2

E G

ν +

Trang 29

x y

u xy

ν +

y

w z

∂ +

ν

= γ

z

u x

w

xz

∂ +

= γ

- Chuyển vị của một điểm bất kỳ trong phần tử được xác định như sau:

Trang 30

w

u w u

N 0 0 N 0 0

0 N 0 0 N 0

0 0 N 0 0 N w u

2 2 2 1 1 1

2 1

2 1

2 1

(2-13)

- Quan hệ giữa chuyển vị và biến dạng:

Thay (2-11) vào (2-12) hoặc (2-13) ta được:

εR (6x1) R = BR (6x3n) R.dR (3nx1) R (2-14) Trong đó: B là đạo hàm của ma trận hàm dạng N

8

4 5

8

4 5

6

Hình 2.4 : Phần tử khối a) PT tứ diện 4 nút, b) PT tứ diện 8 nút, c) PT lục diện 8 nút, d) PT lục diện

Trang 31

Hình 2.5: Sơ đồ các bước giải bài toán bằng phương pháp PTHH

2.5 Ứng dụng phương pháp PTHH vào trạng thái ứng suất biến dạng, giản bài toán trạng thái ứng suất biến dạng không gian của đập trụ chống bằng phần mềm ANSYS

Trang 32

chịu lực của kết cấu cũng như dựa trên kết quả tính toán phân bố cứu ứng suất

để bố trí cốt thép, bố trí cấu tạo chi tiết cho thân đập

Tải trọng chủ yếu tác dụng vào đập trụ chống và nền đó là áp lực nước phía thượng lưu Về mặt lý thuyết, áp lực nước phía thượng lưu có giá trị bằng chiều sâu cột nước tính đến điểm đang xét nhân với trọng lượng riêng của nước, có phương vuông góc và chiều đi vào mặt tiếp xúc tại điểm đang xét

Tuy nhiên với các phần mềm tính toán kết cấu hiện nay không nhiều phần mềm có thể thiết lập được tải trọng này, đặc biệt là với mặt tiếp xúc dạng cong không xác định như mặt đất tự nhiên

2.5.2 Giới thiệu phần mềm ANSYS

Hiện nay trên thị trường có nhiều phần mềm thương mại phổ biến phục

vụ cho việc phân tích kết cấu công trình xây dựng, các phần mềm này được xây dựng trên cơ sở phương pháp PTHH Tuy nhiên một số đặc điểm hạn chế của đa số các phần mềm là khả năng hỗ trợ đồ hoạ kém nên hạn chế khi phân tích các kết cấu có hình dạng phức tạp Hơn nữa, với các phần mềm này việc gán các tải trọng vào các mặt tiếp xúc mà các mặt này không phải là mặt cong chuẩn thì khó có thể thực hiện được Để giản quyết những khó khăn nói trên, người thiết kế có thể sử dụng phần mềm ANSYS Đây là một phần mềm đa dụng đã được sử dụng phổ biến từ Bắc Mỹ cho đến Châu Á và đặc biệt là Trung Quốc Việt Nam cũng đã được nhập khẩu phần mềm này từ nhiều năm trước qua các trường đại học nhe Bách khoa Hà Nội, Bách Khoa Đà Nẵng, Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện kỹ thuật quân sự

Phần mềm do Công ty phần mềm ANSYS của Hoa Kỳ phát triển, là một gói phần mềm mạnh dựa trên phương pháp PTHH để mô phỏng ứng xử của một hệ vật lý khi chịu tác động của các tải trọng khác nhau Trong thiết

kế, phần mềm ANSYS có thể liên kết với các phần mềm thiết kế mô hình hình học 2D, 3D để phân tích trường ứng suất, biến dạng, trường nhiệt độ, tốc

độ dòng chảy, có thể xác định được độ mòn, mỏi và phá huỷ của chi tiết Nhờ việc xác định đó, nó có thể tìm thông số tối ưu cho công nghệ chế tạo ANSYS còn cung cấp phương pháp giải bài toán với nhiều mô hình vật liệu

Trang 33

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HÌNH HỌC KHÔNG GIAN ĐẬP TRỤ CHỐNG

VÀ NỀN

LỰA CHỌN PHẦN TỬ, CHIA LƯỚI PHẦN TỬ, KHAI BÁO TẢI TRỌNG VÀ ĐIỀU KIỆN BIÊN

Trang 34

2.5.2.1 Xây dựng mô hình hình học không gian đập trụ chống và nền

Hình dạng kích thước cơ bản của Đập trụ chống và nền đập được mô phỏng bằng phần mềm Autocad 3D Các mô phỏng này thì đập được mô phỏng ở dạng không gian 3 chiều rất nhanh chóng và chính xác, song với nền đập thì tác giả giả định nền là một khối đồng chất, không mô phỏng chính xác điều kiện địa hình, địa chất cũng như các lớp địa chất

2.5.2.2 Lựa chọn phần tử, chia lưới phần tử và khai báo điều kiện biên

a Lựa chọn phần tử: Để tính toán ứng suất biến dạng đập trụ chống,

trong ANSYS có thể sử dụng nhiều loại phần tử khác nhau như: phần tử tấm

Phần tử khối có nhiều loại như: phần tử khối hộp 8 nút, 20 nút, phần tử lăng trụ có mặt tam giác 6 nút, phần tử tứ diện 4 nút, 10 nút …, về mặt nguyên tắc các phần tử này đều có thể sử dụng để phân tích ứng suất biến

dạng, tuy nhiên qua quá trình tính toán cho thấy phần tử tứ diện là loại phần

tử có độ linh động cao và cho kết quả hợp lý nhất Đặc biệt là phần tử tứ diện

10 nút, nhờ có hình dạng linh động, các cạnh và các mặt của phần tử có thể cong theo đặc trưng của kết cấu nên rất thích hợp cho các vị trí có hình dạng phức tạp hoặc mô tả mặt đất tự nhiên Nhờ có hình dạng với nhiều góc nhọn

Trang 35

nên phần tử tứ diện dễ dàng mô tả các vùng kết cấu có kích thước nhỏ mà vẫn đảm bảo tỷ lệ các cạnh không chênh lệch quá lớn dẫn đến kết quả tính toán chính xác hơn

R O

Q P

b Chia lưới phần tử: ANSYS rất linh động trong việc chia lưới phần

tử, về cơ bản phần mềm hoàn toàn tự động chia lưới phần tử cho kết cấu, tuy nhiên người tính có thể khống chế độ mịn của lưới, có thể khống chế lưới

phần tử theo một cạnh, một mặt nào đó nếu thấy cần thiết Phần mềm cũng có thể chia lưới phần tử toàn bộ kết cấu cùng lúc hoặc có thể chia lưới theo miền vật liệu, người tính toán nên cân nhắc lựa chọn thứ tự vùng vật liệu cần chia

để đảm bảo lưới có độ mịn cần thiết, số phần tử không quá nhiều dẫn đến thời gian tính toán lâu

c Khai báo điều kiện biên: Khi phạm vi nền đủ lớn, các mặt giới hạn

của nền gần như không biến dạng theo phương vuông góc, vì vậy biên các mặt này khai báo theo điều kiện chuyển vị bằng không theo phương vuông góc với mặt

d Tải trọng tính toán: Trong giới hạn của đề tài mới chỉ nghiên cứu

đến các tải trọng thông thường tác dụng lên đập trụ chống, đó là áp lực nước phía thượng lưu tác dụng lên mặt thượng lưu đập và mặt đất tự nhiên; áp lực thuỷ tĩnh phía hạ lưu; áp lực sóng; áp lực bùn cát; trọng lượng bản thân của đập Áp lực nước là một hàn biến đổi theo độ sâu của cột nước tính toán phía thượng lưu, để khai báo tải trọng này cần phải xây dựng một hàm tải trọng

Trang 36

hàm tải trọng cho một bài toán Tải trọng áp lực nước được gán vào các mặt tiếp xúc với nước

2.5.2.3 Tính toán

a Lựa chọn kiểu phân tích (analysis type): ANSYS hỗ trợ các kiểu bài toán

tĩnh (static), động (modal), điều hoà (harmonic), tức thời (traisient) … Trong trường hợp luận văn này chọn hình thức phân tích tĩnh (static)

b Thự hiện lệnh tính toán (solver):

KẾT LUẬN:

Trong các phương pháp phân tích ở trên, Trong quá trình phân tích Tác giả chưa kể đến tải trọng động đất Đây là tải trọng khá phức tạp Vì vậy khi tính toán thiết kế cho các công trình nói chung và cho công trình lấy nước nói riêng cần phải nghiên cứu, xem xét thêm tải trọng động đất một cách cẩn thận Việc lựa chọn, mô phỏng tải trọng động đất sao gần với sự làm việc thực

tế của công trình và lựa chọn phương pháp tính nó ảnh hưởng tới sự an toàn

Trang 37

Trên đây tác giả đã trình bày các phương trình cơ bản tính ứng suất biến dạng Nêu rõ các phương pháp tính, ưu nhược điểm của từng phương pháp Từ đó chọn phương pháp phù hợp để tính toán là phương pháp phần tử hữu hạn

Trình bày chi tiết về phương pháp phần tử hữu hạn gồm có: nội dung phương pháp, trình tự giải bài toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn

Đồng thời, tác giả cũng đã giới thiệu về chương trình ANSYS, nêu lên tính ưu việt của phần mền, những đặc điểm nổi bật về khả năng đồ hoạ, khắc phục các nhược điểm cho các phần mềm thương mại khác Đây là một phần mềm mạnh, là sự lựa chọn hợp lý cho việc tính toán trạng thái ứng suất biến dạng của đập trụ chống

Trang 38

CHƯƠNG 3 TÍNH TOÁN TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT BIẾN DẠNG MÔ HÌNH BÀI TOÁN KHÔNG GIAN CỦA ĐẬP TRỤ CHỐNG THỦY ĐIỆN NẬM

NGẦN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG

3.1 Giới thiệu về công trình thuỷ điện Nậm Ngần và kết cấu đập trụ chống trong đầu mối, đặc điểm và điều kiện làm việc của nó

3.1.1 Giới thiệu chung

Công trình thuỷ điện Nậm Ngần thuộc loại công trình đuờng dẫn, có đầu mối hồ chứa nằm trên suối Nậm Ngần (nhánh cấp 1 của sông Lô) thuộc địa bàn xã Việt Lâm và nhà máy nằm trên xã Quảng Ngần huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, tuyến năng lượng nối đầu mối với nhà máy nằm trên địa bàn của hai xã này Khu vực công trình thuỷ điện Nậm Ngần được giới hạn bởi dãi toạ độ địa lý sau:

Tỉnh Hà Giang là một tỉnh vùng cao miền biên giới Tính đến năm

2003 tổng số dân trong tỉnh 648,1 người trên diện tích tự nhiên 7884,4 km2 trong đó 90% là đồng bào các dân tộc ít người (40 dân tộc) GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 3,2 triệu đồng tức 222 USD/năm Trong tổng diện tích tự nhiên của Hà Giang, đất nông nghiệp chiếm 17%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 42.4% còn lại là đồi núi và các loại đất khác Điều kiện lưu thông tong tỉnh còn khó khăn, đường giao thông phần lớn là đường đất nhỏ hẹp, nhiều nơi chưa có điện

Trang 39

Hai xã Việt Lâm và Quảng Ngần được xếp trong diện khá phát triển của tỉnh Hà Giang, nơi đây có đường Quốc lộ 2 từ Hà Nội đi Hà Giang và lên vùng biên giới phía Bắc cắt qua, nên việc giao lưu văn hoá và phân phối lưu thông giữa các vùng miền tương đối thuận tiện

Thuỷ điện Nậm Ngần có nhà máy nằm gần quốc lộ 2, gần hai mạch( một sẵn có và một đang xây dựng) đường dây trên không 110KV dây AC-185

TĐ Thác Bà - Hà Giang và đường dây trên không 35KV dây AC95 từ trạm biến áp trung gian 110/35/10KV thị xã Hà Giang xuôi về Bắc Quang Khoảng cách giữa vị trí nhà máy đến các tuyến đường dây trên chừng 3.0 Km

- Công văn số 953/BXD-KHTK ngày 24 tháng 06 năm 2004 của Bộ xây dựng về việc chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Nậm Ngần – Hà Giang

- Công văn số 165/CV-UB ngày 09/02/2004 của UBND tỉnh Hà Giang đồng ý cho phép Tổng Công ty Sông Đà nghiên cứu đầu tư dự án thủy điện Nậm Ngần thuộc huyện Bắc Quang và huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang

Trang 40

- Công văn số 2897 CV/EVN-KH ngày 16/6/2004 của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam về việc đầu tư phát triển dự án thủy điện Nậm Ngần thuộc địa bà tỉnh Hà Giang

- Giấy giao nhiệm vụ số 279 TCT/ĐT ngày 18/02/2004 của Tổng giám đốc Tổng Công ty Sông Đà giao cho Công ty cổ phần thuỷ điện Nậm Mu nghiên cứu lập báo cáo cơ hội đầu tư dự án thủy điện Nậm Ngần, tỉnh Hà Giang

- Báo cáo cơ hội đầu tư dự án thủy điện Nậm Ngần do Công ty TNHH tư vấn Xây dựng Sông Đà - Ucrin lập tháng 8 năm 2004

- Quyết định số :533 TCT/HĐQT của Hội đồng quản trị Tổng công ty Sông Đà về việc chọn đơn vị chủ đầu tư và phê duyệt Báo cáo cơ hội đầu tư

dự án thủy điện Nậm Ngần, tỉnh Hà Giang ngày 30/9/2004

3.1.2 Các thông số kỹ thuật chủ yếu

1) Thông số về tần suất thiết kế

- Cấp công trình: cấp III ( theo TCVN 285-2002)

- Tần suất lưu lượng lũ thiết kế: P=1%

- Tần suất lưu lượng lũ kiểm tra: P=0.2%

- Tần suất lưu lượng dẫn dòng và chặn dòng

2) Thông số về quy mô hồ chứa

Ngày đăng: 22/03/2021, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm