Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trong giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa học, trên cơ sở đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Trong nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo đang công tác tại Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt luận văn này Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ đang làm việc tại Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất
Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH VI DANH MỤC BẢNG BIỂU VII DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT VIII
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 6
1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò, đặc điểm về công chứng và các tổ chức hành nghề công chứng 6
1.1.1 Tổng quan về các mô hình công chứng trên thế giới 6
1.1.2 Khái niệm, chức năng, vai trò của công chứng 7
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về các tổ chức hành nghề công chứng 9
1.2 Khái niệm, vai trò, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 18
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 18
1.2.2 Vai trò của Quản lý nhà nước nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 19
1.2.3 Đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 19
1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 21
1.3.1 Quản lý các tổ chức hành nghề công chứng về mặt hình thức 21
1.3.2 Quản lý các tổ chức hành nghề công chứng về mặt nội dung (quản lý nhà nước đối với các hợp đồng giao dịch thông qua hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng) 25
1.3.3 Quản lý các tổ chức hành nghề công chứng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 27
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng 28
1.4.1 Hệ thống quy định của pháp luật về QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng 28
1.4.2 Chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của Công chứng viên 30
1.4.3 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN về công chứng 31
1.4.4 Tình hình kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn 32
Trang 41.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 33
1.5.1 Nguyên tắc bảo đảm sự quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng 33
1.5.2 Nguyên tắc bảo đảm sự độc lập và tự chịu trách nhiệm của Công chứng viên trong thực hiện hoạt động công chứng 33
1.5.3 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa trong quản lý hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng 33
1.6 Các bài học kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng 34
1.6.1 Kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại một số nước trên thế giới 34
1.6.2 Kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam 36
1.7 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH TỈNH THÁI NGUYÊN 40 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 40
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 45
2.2.1 Hệ thống các văn bản QPPL liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh 45
2.2.2 Chất lượng đội ngũ công chứng viên trên địa bàn tỉnh 46
2.2.3 Cơ quan QLNN về công chứng 47
2.2.4 Tình hình kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn 48
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 48
2.3.1 Thực trạng QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng về mặt hình thức hoạt động 48
2.3.2 Thực trạng QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng về mặt nội dung 56
Trang 52.3.3 Hoạt động của cơ quan QLNN về công chứng 64
2.4 Đánh giá kết quả thực hiện QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 72
2.4.1.Ưu điểm (Kết quả đạt được) 72
2.4.2 Tồn tại 77
2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến tồn tại 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 83
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 83
3.2 Các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 85
3.2.1 Các giải pháp chung 85
3.2.2 Các giải pháp cụ thể của quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99
KIẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 40
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
`
Bảng 2.1 Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 53 Bảng 2.2 Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 54 Bảng 2.3 Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2014 59 Bảng 2.4 Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2015 60 Bảng 2.5 Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2016 61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì hoạt động công chứng đều luôn gắn liền với đời sống của mỗi người dân Việt Nam thông qua các hoạt động về mua bán, chuyển giao bất động sản, kinh doanh, lao động, các quan hệ gia đình về thừa kế, phân chia tài sản
Trong cơ chế hành chính, bao cấp trước đây, nhà nước quản lý và điều hành nền kinh
tế đất nước theo phương thức mệnh lệnh hành chính Các giao dịch dân sự hầu như không phát triển, chủ yếu dựa trên sự tin cậy, các thỏa thuận được thực hiện phần lớn bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quan hành chính nhà nước thị thực Vì vậy, quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về công chứng nói riêng chưa được quan tâm một cách thấu đáo, làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao dịch dân sự, kinh tế và xã hội
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm gần đây đã làm gia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu để quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội
Cùng với sự ra đời của Luật Công chứng năm 2006 là sự xuất hiện của các tổ chức hành nghề công chứng (gồm phòng công chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập và các Văn phòng công chứng (VPCC) do công chứng viên thành lập) Đặc biệt từ khi Luật Công chứng năm 2014 được ban hành (thay thế Luật Công chứng năm 2006) thì các quy định đối với hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý của nhà nước đối với hoạt động công chứng cũng như đáp ứng yêu cầu công chứng của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Điều này đã khắc phục được những hạn chế đáng kể như sự quá tải của các Phòng Công chứng, tăng cường khả năng xã hội hóa đối với các tổ chức hành nghề công chứng cũng như sự hạn chế giữa chức năng công chứng và chứng thực của công chứng viên, vấn đề phân cấp, phân quyền trong
Trang 10quản lý nhà nước (QLNN) về công chứng… Sự ra đời của các tổ chức hành nghề công chứng đã góp phần chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng được coi
là bước đột phá trong cải cách hoạt động công chứng ở Việt Nam
Tuy nhiên, việc ra đời của các tổ chức hành nghề công chứng cũng đặt ra những vấn
đề cấp bách trong quản lý, mà Luật Công chứng không thể tiên liệu hết được những vướng mắc, khó khăn khi triển khai thực hiện trên thực tế với rất nhiều biến động Trong vài năm trở lại đây đã có tình trạng vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng như việc công chứng các hợp đồng thế chấp tài sản không đúng quy định gây thiệt hại cho các tổ chức tín dụng trong việc cho vay và thu hồi vốn, sai phạm trong hợp đồng giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản hay trong hợp đồng
về phân chia di sản thừa kế dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu kiện phức tạp Những vụ việc đó ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và
tổ chức liên quan, ảnh hưởng đến tình hình an ninh - chính trị cũng như việc phát triển kinh tế của mỗi địa phương nói riêng và của cả nước nói chung Từ đó có thể thấy, công tác QLNN về hoạt động công chứng là rất quan trọng và nhạy cảm trong xu hướng “xã hội hóa dịch vụ công”, rất cần thiết phải hoàn thiện trên cơ sở định hướng đúng với mục tiêu chính trị, xã hội, kinh tế lâu dài, đảm bảo lợi ích tối cao cho người dân, đảm bảo hiệu quả trong công tác QLNN, đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm cá nhân của công dân
Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trong giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa học, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý với các tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với thực tiễn biến động của lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua ban hành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trên thực tế
tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chính vì lý do trên tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế
Trang 112 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để chỉ ra được các mặt đạt được, chưa đạt được đồng thời tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
b Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề
công chứng từ khi có Luật Công chứng năm 2014;
Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trong thời gian tới
Về không gian: Nghiên cứu các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Trang 12Hệ thống hóa lý thuyết về QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng Góp
phần bổ sung vào hệ thống lý luận về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề
6 Kết quả dự kiến đạt được
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chỉ ra được ưu, nhược điểm và đồng thời chỉ ra các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phẩn mở đầu và kết luận, bố cục của luận văn gồm ba phần chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công chứng và QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Trang 13Chương 2: Thực trạng QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò, đặc điểm về công chứng và các tổ chức hành nghề công chứng
1.1.1 Tổng quan về các mô hình công chứng trên thế giới
Công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển hàng ngàn năm và gắn bó chặt chẽ với đời sống dân sự Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và hình thành nên ba hệ thống công chứng sau:
Mô hình công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là mô hình pháp luật dân sự (Civil Law); Ở các nước theo hệ La tinh, Công chứng viên được Nhà nước uỷ thác một phần quyền lực và trao cho con dấu riêng có khắc tên công chứng viên đó Với tư cách là uỷ viên công quyền, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, thể hiện ở việc chính họ được người đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng
Tư pháp bổ nhiệm và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, Nhà nước uỷ quyền cho công chứng viên-một nhà chuyên nghiệp do chính Nhà nước bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng công vụ đó
Mô hình công chứng Anglo - Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law); Ở các nước trong hệ Anglo-sacxon, thể chế công chứng không được thiết lập Nhà nước không thừa nhận một thể chế công chứng, không bổ nhiệm một chức danh hoạt động công chứng chuyên nghiệp và chuyên biệt, được trang bị một quyền năng để thay mặt Nhà nước đem lại tính xác thực cho những hợp đồng, văn bản
Mô hình công chứng tập thể (Collectiviste) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique) Cho đến nay, hệ thống công chứng này đã tỏ ra lỗi thời, không phù hợp với xu hướng xã hội hiện tại Tuy nhiên, nước ta là một trong số ít nước còn lại vẫn bị ảnh hưởng của mô hình này
Trước đây, công chứng tập thể là công chứng Nhà nước, Công chứng viên là công chức nhà nước, Phòng Công chứng là cơ quan Nhà nước, Nhà nước lập ra theo đơn vị hành chính Những nơi chưa có Phòng Công chứng thì chính quyền thực hiện việc
Trang 15công chứng Có nơi Phòng công chứng và chính quyền cùng thực hiện hành vi công chứng Sau khi Liên Xô và các nước XHCN tan rã, thì hầu hết các nước áp dụng mô hình công chứng này đã chuyển dần sang mô hình công chứng Latinh Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của hệ thống công chứng tập thể này, sau này khi có Luật Công chứng năm 2006 Việt Nam đã có một bước chuyển mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặng của
hệ thống công chứng Collectiviste
Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy lại, chỉ có hai
mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công chứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste)
1.1.2 Khái niệm, chức năng, vai trò của công chứng
1.1.2.1 Khái niệm về công chứng
Lịch sử hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sự phát triển của
xã hội Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõ ràng Ở thời kỳ cổ đại, người ta
đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình
tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng) Một số tác giả nghiên cứu về công chứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư và công chứng thư
Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tại một truyền thống
là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc tranh chấp Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tư chứng thư" Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ cho
Trang 16Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà… Đây
là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động
Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích công, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công chứng Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vi công chứng được nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà nước ủy quyền (công chứng tự do)
Luật Công chứng năm 2014 quy định: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch)
mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
1.1.2.2 Chức năng của công chứng
Công chứng có chức năng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân,
tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
1.1.2.3 Vai trò của công chứng
Công chứng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp của nội dung các giao dịch Thực tiễn cho thấy, ít người dân Việt Nam có sự hiểu biết rõ ràng các quy định của pháp luật trong
Trang 17các hợp đồng dân sự Việc công chứng sẽ giúp cho các bên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong giao dịch đó qua việc tư vấn, giải thích của các công chứng viên
Công chứng góp phần hạn chế các giao dịch không có thật, góp phần hạn chế các yếu
tố lừa đảo, lừa dối trong các hợp đồng giao dịch (đặc biệt trong các hợp đồng giao dịch
về quyền sử dụng đất, nhất là trong các trường hợp thừa kế theo di chúc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất) Ví dụ: với sự tham gia của công chứng, các vấn đề như lừa dối khi lập di chúc, cưỡng ép lập di chúc sẽ không xảy ra trừ phi có sự thông đồng giữa một bên với công chứng viên
Công chứng sẽ nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ (hợp đồng) khi có tranh chấp Rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp, các bên tham gia giao dịch phải đưa ra chứng cứ
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa án sẽ dễ xem xét và chấp nhận hơn nếu các giao dịch đó đã được công chứng
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về các tổ chức hành nghề công chứng
Theo khoản 5 điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng
1.1.3.1 Khái niệm phòng công chứng
Hệ thống công chứng nhà nước của Việt Nam được hình thành trên cơ sở Thông tư số 574/ QLTPK ngày 10/ 10/ 1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng nhà nước và Thông tư
số 858/ QLTPK ngày 15/ 10/ 1987 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện các việc công chứng; Quyết định số 90/ HĐBT ngày 19/ 7/ 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về con dấu của phòng công chứng nhà nước Trước khi có các phòng công chứng, mọi việc có tính chất công chứng đều do ủy ban nhân dân thực hiện theo sắc lệnh số 59/ SL ngày 15/ 11/
1945 về " ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ" và sắc lệnh số 85/ SL ngày 29/ 2/ 1952 " Ban hành thể lệ trước bạ về các việc mua bán, cho và đổi nhà cửa, ruộng đất" do Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ban hành
Trang 18Như vậy, suốt thời gian dài hơn 40 năm kể từ khi thành lập nước, người dân Việt Nam chỉ biết đến hoạt động thị thực của các cấp chính quyền và hình thành ý thức cho đó là hoạt động của Nhà nước, chỉ có thể do Nhà nước thực hiện.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xóa bỏ triệt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường với việc thừa nhận sự tồn tại của đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, đặc biệt là việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân đã khơi dậy mọi tiềm năng của xã hội Kinh tế xã hội
đã có nhiều biến đổi sâu sắc, các nhu cầu, lợi ích hợp pháp của cá nhân, của xã hội được tôn trọng Trong điều kiện đó, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng trở nên sống động và phát triển mạnh mẽ, đặt ra nhu cầu về một thiết chế công chứng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại Thiết chế công chứng của Việt Nam ra đời chính thức trong bối cảnh trên
Kể từ khi ban hành Nghị định số 45/HĐ-BT ngày 27/02/1991 đến nay, thể chế công chứng đã nhiều lần được sửa đổi, với sự ra đời của Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước và Nghị định
số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực Đặc biệt là sự ra đời của Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 đã có một bước tiến mới trong việc quy định thể chế công chứng cụ thể, rõ ràng và ngày càng theo hướng xã hội hóa hoạt động công chứng để vừa đảm bảo phục vụ yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong hoạt động công chứng vừa phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế
Điều 19, Luật Công chứng năm 2014 quy định:
1 Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập.
2 Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.
Trang 19Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
1.1.3.2 Khái niệm Văn phòng công chứng
Mô hình VPCC đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, VPCC chỉ xuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực pháp luật Đây là lần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình VPCC, tồn tại song song bên cạnh Phòng Công chứng, là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại Điều 23 của Luật
Công chứng năm 2006
Có thể nói, sự ra đời của Luật Công chứng năm 2006, với chủ trương chuyển giao, sắp xếp lại thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công chứng, cũng như việc luật hóa mô hình VPCC đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công chứng Luật Công chứng là cơ sở pháp lý để nhà nước quản lý các giao dịch dân sự và thúc đẩy chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng
Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
1 Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn
2 Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên
Từ quy định của pháp luật trên đây, có thể hiểu một cách khái quát: Văn phòng công chứng là doanh nghiệp hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, trong đó có ít nhất
Trang 20hai công chứng viên hợp danh trở lên thành lập, Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn, thực hiện các hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật
Có thể nói, VPCC ra đời đánh dấu một bước phát triển xã hội hóa, xoá bỏ độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực công chứng Trong quá trình đó, nhà nước rút dần khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng, tiến tới chuyển giao hẳn cho các chủ thể
phi nhà nước thực hiện, nhà nước chỉ đóng vai trò duy nhất là người thực hiện QLNN
Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, để vừa đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động công chứng, thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội đồng thời tiến đến xu hướng xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công cũng như xã hội hóa các đơn vị
sự nghiệp công lập thì việc duy trì song song hai hệ thống Phòng Công chứng nhà
nước và các VPCC đặt dưới sự quản lý bằng pháp luật của nhà nước là điều cần thiết
Mặc dù còn nhiều khó khăn trong tổ chức, hoạt động, song VPCC thực sự đã góp phần tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại phát triển, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho xã hội Điều quan trọng hơn
là sự ra đời của VPCC đã góp phần mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để người dân bước đầu hình thành ý thức sử dụng các công cụ pháp lý, biện pháp hợp pháp để bảo vệ mình trong đời sống dân sự; tạo cho người dân ý thức, trách nhiệm tốt hơn khi tham
gia giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại
1.1.3.3 Đặc điểm của Phòng công chứng
a Về tổ chức của Phòng công chứng
Theo quy định tại điều 19 của Luật Công chứng năm 2014, Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; Là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng
Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Trang 21Phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập từ nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
và từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác
b Về hoạt động của Phòng công chứng
Phòng Công chứng hoạt động trên cơ sở là đơn vị sự nghiệp công lập, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội do UBND tỉnh giao trong thực hiện nhiệm vụ công chứng (mang tính công quyền nhân danh nhà nước vì lợi ích Nhà nước), vừa là đơn vị hoạt động mang tính chất dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng, trên cơ sở phù hợp với lợi ích của toàn xã hội)
Tùy điều kiện cụ thể, nếu xét thấy không cần thiết duy trì Phòng Công chứng, Sở Tư pháp có thể lập đề án đề nghị UBND tỉnh quyết định giải thể hoặc chuyển Phòng Công chứng thành Văn phòng Công chứng
Phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên hành nghề tại tổ chức mình;
Phòng công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của phòng mình gây ra trong quá trình công chứng
Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
c Nguồn tài chính của Phòng công chứng
Phòng Công chứng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính và biên chế theo quy định của Chính phủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập Kinh phí của Phòng Công chứng từ nguồn ngân sách nhà nước cấp (đối với đơn vị tự chủ một phần kinh phí hoặc
Trang 22đơn vị do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động), từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm:
Phí công chứng: Là phí được áp dụng đối với việc công chứng các hợp đồng, giao
dịch, bản dịch, nhận lưu giữ di chúc, cấp bản sao văn bản công chứng, phí chứng thực
bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của Luật công chứng
Mức thu phí công chứng được áp dụng thống nhất đối với Phòng Công chứng và VPCC Theo quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính thì Phòng công chứng tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư thì được trích 75% số tiền phí thu được để trang trải chi phí phí cho các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP Nộp 25% số tiền phí thu được còn lại vào ngân sách nhà nước; Phòng công chứng tự bảo đảm một phần chi thường xuyên thì được trích 60% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP; nộp 40% số tiền phí thu được còn lại vào ngân sách nhà nước; Phòng công chứng do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì được trích 50% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP; nộp 50% số tiền phí thu được còn lại vào ngân sách nhà nước
Thù lao công chứng: Là khoản tiền do Phòng công chứng thu từ việc soạn thảo hợp
đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến công việc công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các
tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương Tổ chức hành nghề công chứng xác định mức thù lao đối với từng loại việc không vượt quá mức trần thù lao công chứng
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và niêm yết công khai các mức thù lao tại trụ sở của mình
Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do Phòng Công chứng thu từ việc người yêu cầu
công chứng đề nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của
Trang 23Phòng Công chứng Mức chi phí này do người yêu cầu công chứng và Phòng Công chứng thoả thuận
Nguồn thu từ thù lao công chứng và thu khác của các Phòng Công chứng phải thực
hiện nộp thuế như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của luật thuế
d Hoạt động công chứng là hoạt động dịch vụ công
Phòng Công chứng thực hiện nhiệm vụ theo tính chất dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập Đây là một nội dung trong công tác cải cách hành chính của nhà nước nhằm ngày càng phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và công dân đối với các yêu cầu về công chứng
Theo điều 21, Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không cần thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định”
Như vậy với quy định trên có thể thấy rõ quan điểm của nhà nước trong việc chủ trương thực hiện xã hội hóa công chứng, giải thể hoặc chuyển đổi những Phòng Công chứng hoạt động không hiệu quả hoặc không cần thiết duy trì sang hình thức hoạt động của Văn phòng Công chứng Việc này sẽ làm giảm gánh nặng về biên chế và kinh phí cho ngân sách nhà nước
1.1.3.4 Đặc điểm của Văn phòng công chứng
a Về tổ chức của Văn phòng công chứng
Theo quy định tại điều 22 của Luật Công chứng năm 2014, Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh; Văn phòng công chứng phải
có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn
Trang 24Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên
Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác
b Về hoạt động của Văn phòng công chứng
Hoạt động của VPCC vừa mang tính công quyền (nhân danh nhà nước vì lợi ích Nhà nước), vừa mang tích chất dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng, trên cơ sở phù hợp với lợi ích của toàn xã hội) Tính chất dịch vụ công của VPCC hướng đến 3 lợi ích:
Lợi ích của Nhà nước: Sự ra đời của VPCC đã giúp nhà nước vừa giảm bớt được gánh nặng cho mình vừa phát huy được tối đa nguồn lực trong xã hội, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: VPCC đã giúp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch của mình một cách thuận lợi, đồng thời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch;
Lợi ích của VPCC: VPCC khi thực hiện hoạt động công chứng được thu phí và thù lao công chứng theo quy định
Các Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên hành nghề tại tổ chức mình;
Các Văn phòng công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng
và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch
là cộng tác viên của Văn phòng mình gây ra trong quá trình công chứng
Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền
Trang 25bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
c Nguồn tài chính của Văn phòng công chứng
VPCC hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm:
Phí công chứng: Tương tự như Phòng Công chứng, VPCC cũng được thu phí công
chứng là loại phí được áp dụng đối với việc công chứng các hợp đồng, giao dịch, bản
dịch, nhận lưu giữ di chúc, cấp bản sao văn bản công chứng, phí chứng thực bản sao từ
bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của Luật công chứng
Mức thu phí công chứng được áp dụng thống nhất đối với Phòng Công chứng và VPCC Theo quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính thì phí công chứng, phí chứng thực thu được tại VPCC là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí Đơn vị thu phí
có quyền quản lý, sử dụng số tiền phí thu được sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán với cơ quan thuế đối với
số tiền phí thu được theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành
Thù lao công chứng: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc soạn thảo hợp đồng, giao
dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến công việc công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các
tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương Tổ chức hành nghề công chứng xác định mức thù lao đối với từng loại việc không vượt quá mức trần thù lao công chứng
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và niêm yết công khai các mức thù lao tại trụ sở của mình
Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc người yêu cầu công chứng đề
nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của VPCC
Trang 26Mức chi phí này do người yêu cầu công chứng và VPCC thoả thuận
Nguồn thu của các VPCC phải thực hiện nộp thuế như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của luật thuế
d Hoạt động công chứng là hoạt động dịch vụ công
Việc xã hội hóa hoạt động công chứng không phải là “tư nhân hoá hoạt động công
chứng” và cũng không phải là “chuyển chức năng công chứng từ tay nhà nước cho bất
cứ ai trong xã hội” mà là hoạt động dịch vụ công Tuy không phải là hoạt động quản lý nhà nước nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực để nhà nước thực hiện quản lý đối với các
hợp đồng, giao dịch Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ dân sự, thương mại được mở rộng thì sự hiện diện của cácVăn phòng công chứng là hết sức
cần thiết, góp phần chia sẻ sự quá tải của các Phòng Công chứng, đồng thời cũng tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh cho lĩnh vực hoạt động này VPCC ra đời đã chia sẻ gánh
nặng với nhà nước, trước đây công chứng hoàn toàn độc quyền, cảnh xếp hàng dài trước cửa các Phòng Công chứng là chuyện thường ngày và gây bức xúc cho người dân Việc thành lập các VPCC đã cải cách một cách đáng kể, ngày một nâng cao chất lượng dịch vụ công cùng với vai trò của nhà nước góp phần quan trọng trong việc bảo
vệ pháp luật, bảo vệ thể chế nền hành chính nhà nước và quyền lợi chính đáng của công dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2 Khái niệm, vai trò, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Từ khi ra đời các tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng được biết đến như một hoạt động dịch vụ pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch, nếu nhà nước không có những chính sách quản lý phù hợp thì vô hình chung hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng có thể trở thành công cụ tiếp sức cho các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là sự ra đời của các Văn phòng công chứng được thành lập một cách ồ ạt không có quy hoạch tổng thể, bản thân đây là lĩnh vực mới gần như QLNN đang bỏ ngỏ, vì thế thời gian qua đã có những hậu quả vô cùng to lớn
Trang 27Quản lý Nhà nước với các tổ chức hành nghề công chứng là việc nhà nước dùng các biện pháp, công cụ có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong
muốn
Trong thời gian qua, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng ở nước ta đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí vai trò quan trọng của công chứng trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực phục vụ QLNN có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phần tích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Vai trò của Quản lý nhà nước nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Vai trò của QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng không nằm ngoài mục đích hỗ trợ và tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động hiệu quả
và theo đúng định hướng của nhà nước Theo đó, nhà nước có thể sử dụng tất cả các biện pháp quản lý để can thiệp nhằm tạo môi trường hoạt động công chứng lành mạnh, tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng phát huy được hiệu quả hoạt động của mình, đồng thời quản lý, giám sát các tổ chức hành nghề công chứng và hoạt động công chứng theo đúng quy định của pháp luật, thúc đẩy việc tăng trưởng và phát triển
kinh tế của một địa phương hay cả quốc gia
1.2.3 Đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
a Quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng nhằm đảm bảo sự ổn
định và phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng theo hướng xã hội hóa
Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao Không giống như sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong một quy hoạch, nhất là sau khi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa Chính vì vậy, rất cần thiết có quy hoạch phát
Trang 28triển mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng, cũng như thực hiện QLNN về công chứng để bảo đảm các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và phân bố một cách hợp lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng của nhân dân một cách
đầy đủ và thuận tiện
Mục tiêu của xã hội hóa công chứng là phát triển rộng mạng lưới công chứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công
Hoạt động QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng gắn liền với việc quy định các tiêu chuẩn thành lập, cấp phép thành lập, bổ nhiệm Công chứng viên, giám
sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động công chứng
b Quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng
Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực, hợp pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trong việc phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra Vì thế, văn bản công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp để xác lập quyền sở hữu cho các bên
có quyền liên quan (ví dụ văn bản công chứng hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là căn cứ để cơ quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất cho các chủ thể ) Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tư vấn: Công chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tục pháp lý trong hoạt động công chứng (khác với luật sư) ; Hoạt động công
chứng đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng )
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro tranh chấp xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình chứng nhận, vì thế, nó có hiệu lực thi hành đối với các bên
Trang 29c Quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không trái pháp luật và đaọ đức xã hội
QLNN có vai trò định hướng sự phát triển của ngành theo lĩnh vực công chứng, xuất phát từ bản chất của hoạt động công chứng là một hoạt động công quyền của nhà nước, công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch Vì thế, việc xác định phạm vi, ranh giới các việc công chứng, nói cách khác là xác định thẩm quyền của các tổ chức hành nghề công chứng được làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nước trong quản lý, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực này
1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng gồm: Thành lập, hoạt động,
giải thể, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lí vi phạm về công chứng theo thẩm quyền, có thể chia thành 3 nội dung chính:
sơ đề nghị thành lập các tổ chức hành nghề công chứng, thẩm định, tham mưu văn bản trình lãnh đạo sở báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định phê duyệt thành lập tổ chức hành nghề công chứng
Tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hành nghề cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động; Sở Tư
Trang 30pháp thực hiện đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên cho công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng
Luật Công chứng năm 2014 quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan đối với việc thực hiện QLNN với các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên như sau:
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: Ban hành hoặc
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng; Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng trong cả nước; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, triển khai, quản lý việc thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng trong cả nước; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên; Phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ; đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những văn bản, quy định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trái với quy định của Hiến pháp, Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền; Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động công chứng; Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về hoạt động công chứng;
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Tổ chức thi hành, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng; Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Quyết định thành lập Phòng công chứng, bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho các Phòng công chứng; quyết định việc giải thể hoặc chuyển đổi Phòng công chứng theo quy định của Luật này; Ban hành tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng; quyết định cho phép thành lập, thay đổi và thu
Trang 31hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, cho phép chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng; Ban hành mức trần thù lao công chứng tại địa phương; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng theo thẩm quyền; phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác kiểm tra, thanh tra về công chứng; Báo cáo Bộ Tư pháp về việc thành lập, chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng; cho phép thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng trên địa bàn Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động công chứng tại địa phương để tổng hợp báo cáo Chính phủ;
Sở Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đều có các quy định trực tiếp về tổ chức, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng; tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên; thủ tục, yêu cầu đối với hoạt động công chứng Nội dung này bao gồm các quy định: Nguyên tắc thành lập tổ chức hành nghề công chứng: Theo quy định tại điều 18 Luật Công chứng 2014 quy định:
1 Việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo quy định của Luật này
và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
2 Phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng
3 Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ
Như vậy việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng ngoài việc đúng quy định của Luật thì còn phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và phải nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu công chứng, tránh trường hợp thành
Trang 32lập bừa bãi, không theo quy hoạch, nơi thừa nơi thiếu hoặc chỉ tập trung ở những trung tâm kinh tế, không trú trọng tới vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Hồ sơ thành lập các tổ chức hành nghề công chứng:
Đối với Phòng Công chứng: Khoản 1 điều 20 Luật Công chứng 2014 quy định: "Căn
cứ vào nhu cầu công chứng tại địa phương, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ xây dựng đề án thành lập Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Đề án nêu rõ sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện"
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thành lập Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải đăng báo trung ương hoặc báo địa phương nơi có trụ sở của Phòng công chứng trong ba số liên tiếp về các nội dung:Tên gọi, địa chỉ trụ
sở của Phòng công chứng; Số, ngày, tháng, năm ra quyết định thành lập và ngày bắt đầu hoạt động của Phòng công chứng; Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thay đổi tên gọi hoặc địa chỉ trụ sở của Phòng công chứng thì Sở Tư pháp phải đăng báo những nội dung thay đổi
Đối với Văn phòng Công chứng: Khoản 1 điều 23 Luật Công chứng 2014 quy định: "
Các công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng phải có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Hồ sơ
đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gồm đơn đề nghị thành lập và đề án thành lập Văn phòng công chứng, trong đó nêu rõ sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện; bản sao quyết định bổ nhiệm công chứng viên tham gia thành lập Văn phòng công chứng"
Để thành lập được Văn phòng công chứng thì cần có các điều kiện sau:
Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn
Trang 33Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên
Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác,
không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trụ sở của Văn phòng công chứng phải có địa chỉ cụ thể, có nơi làm việc cho công chứng viên và người lao động với diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các đơn vị sự nghiệp, có nơi tiếp người yêu cầu công chứng và nơi lưu trữ hồ sơ công chứng
Mục đích của việc quy định này là để Công chứng viên khi chuẩn bị các thủ tục thành lập VPCC phải xác định rõ: hoạt động công chứng phải tương xứng với tính chất là một tổ chức thay mặt nhà nước thực hiện dịch vụ công, phải được tổ chức thực hiện một cách quy củ, tránh tình trạng tạm bợ của hoạt động công chứng hoặc kết hợp thực hiện các dịch vụ khác không phù hợp với tính nghiêm túc của hoạt động công chứng
1.3.2 Quản lý các tổ chức hành nghề công chứng về mặt nội dung (quản lý nhà nước đối với các hợp đồng giao dịch thông qua hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng)
Vấn đề này không được quy định một cách trực tiếp trong Luật Công chứng mà pháp luật chỉ có thể tác động gián tiếp thông qua các quy định về nguyên tắc của hoạt động các tổ chức hành nghề công chứng, áp dụng pháp luật của nhiều lĩnh vực khác nhau
Sự ra đời của các tổ chức hành nghề công chứng chính là sự "san sẻ" một phần quyền lực của nhà nước cho các Công chứng viên Vai trò của họ được ví như một "thẩm phán phòng ngừa" Chính vì vậy, việc thẩm định kỹ càng các văn bản trước khi công chứng là công việc tối quan trọng của các tổ chức này Bởi nếu các tổ chức hành nghề công chứng chứng thực không chính xác, sẽ gây thiệt hại rủi ro cho khách hàng thì họ
sẽ phải bồi thường bằng tài sản của mình hoặc khách hàng có thể kiện Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng ra tòa
Trang 34Hoạt động công chứng bao gồm một loạt các thủ tục rất phức tạp kể từ khi Công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đồng như: xác định tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng, xác định nguồn gốc hợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng
Sau khi Luật Công chứng năm 2006 ra đời, và hiện nay là Luật Công chứng năm 2014
có hiệu lực (từ 01/01/2015), hàng loạt các VPCC được ra đời, áp lực quá tải ở các Phòng Công chứng nhà nước đã giảm Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh các VPCC khiến công tác quản lý hoạt động này đã bộc lộ nhiều kẽ hở, nảy sinh nhiều hành vi có dấu hiệu tội phạm hình sự…
Luật Công chứng năm 2014 quy định Tổ chức hành nghề công chứng vi phạm quy định của Luật này thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng
Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong trường hợp giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề công chứng thì các bên có quyền khởi kiện vụ việc ra Tòa án để giải quyết tranh chấp đó
Trang 351.3.3 Quản lý các tổ chức hành nghề công chứng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước, là nhiệm vụ không thể thiếu của cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo; là một trong ba việc phải làm của cơ quan Đảng và chính quyền các cấp, là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nước: Quyết định đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đó
Thanh tra nhằm kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời phát hiện những vướng mắc bất cập khó khăn để có giải pháp phù hợp đối với các tổ chức hành nghề công chứng Theo quy định, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý thống nhất về công chứng trong phạm vi cả nước Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng và hướng dẫn sử dụng hệ thống sổ công chứng, chứng thực, mẫu hợp đồng, giao dịch, mẫu lời chứng, đào tạo nghề công chứng Sở Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quản lý công chứng, chứng thực như: Bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện công chứng, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra xử lý
Bằng những kết luận thanh tra đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đối với các tổ chức hành nghề công chứng, ở ngành hoặc ở những đơn vị cơ quan được thanh tra, kiểm tra với những nhận xét ưu, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân, có kiến nghị sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót
mà thanh tra đã phát hiện, trong đó có những sơ hở, khiếm khuyết của chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… giúp cho cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước không những nắm được tình hình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, chỉ thị, mệnh lệnh… mà còn có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… đã ban hành hoặc ban hành chính sách mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập khu vực và thế giới
Kiểm tra, thanh tra là một biện pháp quan trọng góp phần tích cực phòng, chống bệnh quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác
Trang 36Thực tiễn cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra ngày càng được nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của nó trong quá trình phát triển bộ máy nhà nước XHCN
Theo quy định của Luật công chứng năm 2014, Bộ Tư pháp được giao thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền; Tại địa phương Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chứng và Sở Tư pháp là cơ quan sẽ giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác thanh, kiểm tra đối với các tổ chức hành nghề công chứng Nếu như thời gian đầu Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp chỉ nhấn mạnh đến công tác thanh tra nhằm “giám sát”, “kiểm soát”, coi đó như một sự bảo đảm cho việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách thì những năm gần đây, vai trò của thanh tra còn được khẳng định rõ ràng bằng các văn bản luật, dưới luật, nó tham gia thúc đẩy quá trình phát triển của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Thanh tra không chỉ phát hiện ra những sơ hở của bản thân cơ chế, chính sách, chỉ ra những "khuyết tật" của bộ máy và quá trình vận hành bộ máy để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn cơ chế, chính sách, đồng thời phát hiện biểu dương những nhân tố mới, nhân tố tích cực và nhân rộng, phát huy những nhân tố điển hình, tích cực
Văn bản pháp luật là những hình thức pháp luật sử dụng trong công tác quản lý kinh
tế, xã hội Nhà nước ta quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế.Vai trò quan trọng của văn bản pháp luật chính là phương tiện để quản lý Nhà nước, để thể chế hoá và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ của nhân dân Văn bản pháp luật còn là nguồn thông tin của quy phạm Nhà nước Không thể
quản lý xã hội tốt, nếu thiếu nguồn thông tin này
Một trong những nguyên tắc quản lý nhà nước hiện nay là quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật Vì vậy, nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp
Trang 37luật để cụ thể hoá, thể chế hoá các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
Xây dựng và ban hành văn bản quản lý là khâu quan trọng trong hoạt động QLNN, là hình thức, phương tiện không thể thiếu được của chủ thể QLNN Sự có mặt của các văn bản quản lý trong hoạt động của các cơ quan quản lý có thể được hiểu như sự “tập trung quyền lực của nhà nước, nhằm điều hành có hiệu quả nhất hoạt động quản lý” QLNN về công chứng muốn thực hiện hiệu quả trước tiên cần có hành lang pháp lý vững chắc, đủ cơ sở để các cơ quan QLNN thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật
Để thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công chứng, ngày 20/06/2014, Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng số 53/2014/QH13 (Luật công chứng năm 2014) với
10 chương, 81 điều, quy định về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, việc hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà nước về công chứng Luật công chứng 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 và thay thế Luật Công chứng năm 2006; Ngày 15/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng; hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng; chính sách ưu đãi đối với Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng; niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; Ngày 15/6/2015 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 06/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng 2014 Thông
tư này quy định về thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề, cấp Thẻ công chứng viên; đào tạo nghề công chứng, khoá bồi dưỡng nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm; tổ chức và hoạt động công chứng; một số mẫu giấy tờ trong hoạt động công chứng
Trang 38Ngày 10/02/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 250/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020" với mục tiêu: Hình thành, xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 làm cơ sở cho việc phát triển mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bố hợp lý trên cả nước, đáp ứng nhu cầu công chứng toàn bộ các hợp đồng, giao dịch của tổ chức, cá nhân trong xã hội;
Ngày 17/02/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 240/QĐ-TTg về quy định tiêu trí quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu làm cơ sở cho các địa phương xây dựng Quy hoạch phát triển
tổ chức hành nghề công chứng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến năm
2020 bảo đảm đúng mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 29/12/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2104/QĐ-TTg phê duyệt “ Quy hoạch tổng thể phát triển các tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020” với mục tiêu đến năm 2020, phát triển mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bố hợp lý gắn với địa bàn dân cư trên toàn quốc, đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch của tổ chức, cá nhân trong xã hội, tăng cường tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng giao dịch, bảo đảm các hợp đồng, giao dịch liên quan hoặc có khả năng liên quan đến chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản đều phải được công chứng; Phát triển hoạt động công chứng theo hướng dịch vụ công, chuyên nghiệp hoá, xã hội hoá, đưa hoạt động công chứng Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới, phù hợp với thông lệ quốc tế
1.4.2 Chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của Công chứng viên
Hoạt động công chứng bao gồm một loạt các thủ tục rất phức tạp kể từ khi Công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đồng như: xác định tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng, xác định nguồn gốc hợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng
Trang 39Hoạt động của công chứng viên khi thực hiện nhiệm vụ là một hoạt động động lập, không bị chi phối hoặc áp đặt bởi bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào, vì thế, người thực hiện hành vi công chứng phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về công việc
do mình thực hiện
Vì vậy, hoạt động công chứng muốn đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật thì trước tiên các công chứng viên phải có đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực, có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng Có như vậy mới tránh khỏi các cám dỗ
vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thi hành nhiệm vụ và loại bỏ, hạn chế những sai xót do chuyên môn nghiệp vụ yếu kém gây ra
Luật Công chứng năm 2014 cũng quy định công chứng viên là chủ thể thực hiện hành
vi công chứng mà không phải là Phòng Công chứng hay VPCC Luật đã đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của Công chứng viên, đó phải là người có đủ tiêu chuẩn được quy định trong luật và được Bộ Trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề
1.4.3 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN về công chứng
Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất trong quản lí hành chính nhà nước và cũng giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện quy phạm pháp luật hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước căn cứ vào thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của mình để thực thi các quy phạm pháp luật hành chính, đưa các quy phạm pháp luật này đi vào thực tế, triển khai thực thi trên khắp cả nước thông qua
hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương
Hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN về công chứng là kết quả quản lí đạt được
của bộ máy hành chính với việc thực hiện chức năng QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng nhằm hướng đến mục tiêu hỗ trợ và tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng của nhà nước như việc ban hành kịp thời các văn bản quản lý làm cơ sở pháp lý thực hiện công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng, làm căn cứ trong việc quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập tổ chức hành nghề công chứng, cấp thẻ hành nghề đúng quy định pháp luật; Quản lý, giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng để đảm bảo các tổ chức này luôn thực hiện đúng quy định của pháp luật, Ngăn
Trang 40chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức hành nghề công chứng
Đối với lĩnh vực công chứng thì cơ quan thực hiện chức năng QLNN ở Trung ương là
Bộ Tư pháp và ở địa phương là Sở Tư pháp sẽ là cơ quan tham mưu cho Chính phủ, cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các hoạt đông thuộc lĩnh vực công chứng
Nếu các cơ quan này hoạt động có hiệu quả sẽ giúp cho việc tham mưu xây dựng, ban hành ra các chủ trương, chính sách để tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động công chứng phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai đoạn; Tăng cường chức năng giám sát về chuyên môn nghiệp vụ của các Công chứng viên nói riêng và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng nói chung để kịp thời phát hiện, chỉnh đốn các hành vi vi phạm; Tuyên truyền, phổ biến cho người dân, các tổ chức và doanh nghiệp hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong thực hiện hoạt động công chứng nhằm hạn chế những tổn thất do hành vi công chứng sai quy định gây ra
1.4.4 Tình hình kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn
Tình hình kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn liên quan chặt chẽ đến kết quả của
hoạt động QLNN về công chứng Ở những vùng kinh tế phát triển thì thường là nơi tập trung đông dân cư, do vậy các giao dịch về kinh tế sẽ phát sinh nhiều và đa dạng, phức tạp hơn Đòi hỏi hoạt động công chứng sẽ phát phát triển cả về số lượng và chất lượng Hiện nay tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng do tốc độ phát triển kinh tế nhanh, phát sinh nhiều giao dịch dân sự thì tại đó hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng rất khởi sắc với số lượng tổ chức hành nghề công chứng đề nghị được thành lập luôn vượt quy hoạch do Chính phủ quy định (đến
2015 số tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội là 95; TP Hồ Chí Mính là 65; Đà Nẵng là 14) Do vậy, Sở Tư pháp các tỉnh, Thành phố này luôn phải quan tâm sâu sắc đến hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và hoạt động QLNN về công chứng nói riêng vì các đơn vị này phải quản lý số tổ chức hành nghề công chứng
và công chứng viên rất lớn, việc tổ chức thực hiện QLNN đối với tổ chức hành nghề công chứng đối với các tổ chức hành nghề công chứng cũng đặt ra nhiều khó khăn, đòi