1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng thẩm định thiết kế bản vẽ thi công dự toán xây dựng công trình tại sở xây dựng tỉnh bắc kạn

102 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng như: Nhà thầu, CĐT, các cơ quan chuyên môn về xây dựng và pháp luật khác có li

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Hà Thanh Bình, tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sỹ “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng thi công Công trình tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây,

tỉnh Lâm Đồng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS

.TS Nguyễn Trọng Tư

Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào trước đây

Lâm Đồng, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Hà Thanh Bình

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Sau một quá trình nghiên cứu, đến nay Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng thi công Công trình tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây, tỉnh Lâm Đồng” đã được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các

Thầy, Cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Tác giả xin Trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Thuỷ lợi cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo trong bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng đã truyền đạt kiến thức mới trong quá trình học tập cũng như giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình làm Luận văn tại trường

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn thầy PGS.TS.Nguyễn Trọng Tư đã hết lòng động

viên giúp đỡ và nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn theo đúng tiến độ đề ra Tác giả xin chân thành cảm ơn Sở NN và PTNT Lâm Đồng, Trung tâm quản lý đầu tư

và khai thác thuỷ lợi Lâm Đồng, Ban quản lý dự án Đạ Lây, các bạn bè đồng nghiệp

và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có điều kiện học tập, nghiên cứu chuyên sâu, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ trong lĩnh vực đang công tác

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm Luận văn

Đây là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, với thời gian và kiến thức có hạn, chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của các Thầy Cô giáo, các Cán bộ khoa học và đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn! Lâm Đồng, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Hà Thanh Bình

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài: 1

2 Mục đích của luận văn: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4 Nội dung nghiên cứu: 2

5 Phương pháp nghiên cứu: 2

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

7 Kết quả đạt được 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 4

CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 4

1.1 Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 4

1.1.1 Nội dung quản lý chất lượng 4

1.1.2 Hoạt động QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam 5

1.1.2.1 Thực trạng hoạt động QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam 5

1.2.2 Một số vấn đề quản lý CLCTXD thuỷ lợi tại Lâm Đồng 6

1.1.3 Mục tiêu quản lý chất lượng công trình 8

1.2 Đặc điểm, tính chất và nguyên tắc thi công công trình thuỷ lợi ở Việt Nam 9

1.2.1 Đặc điểm: 9

1.2.2 Tính chất của việc thi công các công trình thuỷ lợi: 9

1.2.3 Những nguyên tác cơ bản trong thi công công trình thuỷ lợi: 10

1.3 Tình hình quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng thủy lợi hiện nay 12

1.3.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng nói chung và xây dựng thuỷ lợi nói riêng 12

1.3.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình 14

1.3.2.1 Chủ đầu tư - Ban quản lý 14

1.3.2.2 Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết 15

1.3.2.3 Tổ chức tư vấn giám sát : (của chủ đầu tư hoặc thuê tổ chức tư vấn giám sát độc lập) 15

1.3.2.4 Nhà thầu thi công xây lắp 16

Trang 4

1.3.2.5 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn bảo trì 17

1.4 Các mô hình QLCL tại các nước tiên tiến 17

1.4.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Nga 17

1.4.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Pháp 18

1.4.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Mỹ 19

1.4.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Singapore 19

1.4.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Australia 20

1.4 6 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Nhật Bản 21

1.5 Kết luận Chương I 21

CHƯƠNG 2 : 23

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC 23

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG 23

2.1 Cơ sở lý luận quản lý chất lượng xây dựng công trình 23

2.1.1 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 [1] 23

2.1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng CTXD 26

2.1.2.1 Nghị định số 46/2015/ NĐ - CP [2] 26

2.1.2.2 Nghị định số 59/2015/NĐ - CP [3] 29

2.1.2.3 Nghị định số 42/2017/NĐ - CP [4] 30

2.2 Thực tiễn về công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng 31

2.2.1 Một số nội dung về quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng 31

2.2.1.1 Quản lý CLCTXD trong giai đoạn thực hiện đầu tư 31

2.2.1.2 Quản lý CLCTXD trong giai đoạn kết thúc đầu tư 33

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thi công công trình xây dựng 34

2.2.2.1 Các yếu tố khách quan 34

2.2.2.2 Các yếu tố chủ quan 35

2.3 Các mô hình quản lý chất lượng công trình 37

2.3.1 Các mô hình quản lý ở Việt Nam 37

2.3.1.1 Các hình thức và mô hình tổ chức quản lý chất lượng của chủ đầu tư ở Việt Nam 38

2.3.1.2 Mô hình quản lý chất lượng công trình của các nhà thầu tư vấn xây dựng thủy lợi ở Việt Nam 39

Trang 5

2.3.1.3 Mô hình quản lý chất lượng thi công của nhà thầu xây dựng ở Việt Nam 40

2.3.3 Một vài nhận xét đánh giá 41

2.4 Vai trò chủ đầu tư tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng 43

2.4.1 Khái niệm : 43

2.4.2 Vai trò của chủ đầu tư tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng: 43

2.5 Những nguyên tắc chung công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thuỷ lợi 43

2.5.1 Công trình xây dựng 43

2.5.2 Trình tự đầu tư xây dựng công trình 44

2.5.3 Nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng 44

2.6 Những yêu cầu vật liệu, bê tông , kỹ thuật thi công công trình thuỷ lợi nói chung và công trình Tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây nói riêng 45

2.6.1 Yêu cầu vật liệu trong quá trình thi công: 45

2.6.2 Yêu cầu kỹ thuật thi công, nghiệm thu công trình thuỷ lợi: 55

2.7 Kết luận chương 2 57

CHƯƠNG 3 58

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG TRÀN XẢ LŨ HỒ CHỨA NƯỚC ĐẠ LÂY 58

3.1 Giới thiệu chung về công trình Tràn xả lũ thuộc dự án Hồ chứa nước Đạ Lây 58

3.1.1 Tên dự án, vị trí địa lý vùng công trình, khu hưởng lợi 58

3.1.2 Mục tiêu đầu tư xây dựng: 58

3.1.3 Các thông số kỹ thuật: 58

3.1.4 Đặc điểm kết cấu công trình Tràn xã lũ: 59

3.1.5 Các điều kiện xã hội, cơ sở hạ tầng có liên quan đến xây dựng dự án 60

3.1.6 Điều kiện thi công 60

3.2 Thực trạng quản lý chất lượng thi công công trình Tràn xả lũ thuộc dự án Hồ chứa nước Đạ Lây 62

3.2.1 Trình tự thi công và yêu cầu về quản lý chất lượng thi công tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây: 69

3.2.2 Vai trò và các hoạt động của Chủ đầu tư (Trung tâm quản lý đầu tư và khai thác thủy lợi Lâm Đồng) tại dự án Hồ chứa nước Đạ Lây 75

Trang 6

3.2.3 Vai trò và các hoạt động của Nhà thầu thi công trong quá trình thực hiện triển

khai và quản lý chất lượng công trình 76

3.2.4 Vai trò và các hoạt động của các Nhà thầu Tư vấn trong quá trình thực hiện triển khai và quản lý chất lượng công trình 77

3.3 Đánh giá về công tác quản lý chất lượng thi công công trình Tràn xả lũ thuộc dự án Hồ chứa nước Đạ Lây 79

3.3.1 Đối với Tư vấn khảo sát thiết kế 79

3.3.2 Giám sát tác giả của Tư vấn thiết kế 80

3.3.3 Giám sát thi công xây dựng 80

3.3 4 Nhà thầu thi công xây dựng 80

3.3 5 Đối với chủ đầu tư 81

3.3.6 Nhà thầu kiểm định 81

3.4 Ưu và nhược điểm trong công tác quản lý chất lượng thi công Tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây 82

3.4.1 Ưu điểm: 82

3.4.2 Nhựợc điểm: 82

3.5 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng thi công công trình Tràn xả lũ thuộc Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây , tỉnh Lâm Đồng 83

3.5.1 Cải tiến công tác lựa chọn nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng nói chung 83

3.5.2 Nâng cao năng lực hoạt động của chủ đầu tư (Ban QLDA) 84

3.5.3 Nâng cao năng lực hoạt động của đơn vị TVGS 87

3.5.4 Nâng cao năng lực hoạt động của đơn vị thi công xây lắp: 87

3.5.5 Tăng cường công tác giám sát tác giả: 88

3.5.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng thi công công trình của các bên 88

3.5.7 Tăng cường, bổ sung thêm cốp pha vào công trình 88

3.5.8 Nâng cao tinh thần tự giác và trách nhiệm của nhà thầu thi công, tư vấn giám sát tại công trình 88

3.5.9 Nâng cao sự phối hợp trong công tác quản lý chất lượng thi công tại công trình giữa các bên 89

3.5.10 Nâng cao tinh thần tự giác và trách nhiệm của các bên 89

3.6 Những biện pháp cụ thể cho từng vấn đề khắc phục 89

3.7 Kết luận Chương 3 89

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 KẾT LUẬN 91

2 KIẾN NGHỊ 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Mặt tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây Năm 2016 8

Hình 2.1 Các bước trong quản lý chất lượng công trình 31

Hình 2.2 Sơ đồ mô hình QLCL CTTL của chủ đầu tư 39

Hình 2.3 Sơ đồ mô hình QLCL CTTL của nhà thầu tư vấn 40

Hình 2.4 Sơ đồ mô hình QLCL CTTL của nhà thầu thi công 41

Hình 3.1 Thi công tường cánh và tường biên Tràn xả lũ 62

Hình 3.2 Thi công hoàn thiện sân trước và mái thượng lưu tràn 63

Hình 3.3 Thi công ngưỡng tràn xả lũ 63

Hình 3.4 Thi công hoàn thiện các tường cánh và tường biên tràn 64

Hình 3.5 Thi công các mố trụ cầu qua tràn xả lũ 64

Hình 3.6 Thi công hoàn thiện mặt tràn và bể tiêu năng tràn xả lũ 65

Hình 3.7 Bổ sung 45 m rọ đá bờ phải hạ lưu tràn 66

Hình 3.8 Mặt bằng gia cố cọc xi măng tràn xả lũ 67

Hình 3.9 Mặt tràn xả lũ thi công xong lúc chưa xử lý gia cố 67

Hình 3.10 Thi công cầu qua tràn 68

Hình 3.11 Trạm trộn bê tông tại công trình 68

Hình 3.12 Mô hình tổ chức Ban QLDA cho 1 dự án 86

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

1 ATLĐ :An toàn lao động

2 BQLDA :Ban Quản lý dự án

3 NNPTNT :Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

14 QCVN :Quy chuẩn Việt Nam

15 TCVN :Tiêu chuẩn Việt Nam

16 QPPL :Quy phạm pháp luật

17 TVGS :Tư vấn giám sát

18 GSTG :Giám sát tác giả

19 TVTK :Tư vấn thiết kế

20 TKBVTC-DT:Thiết kế bản vẽ thi công – dự toán công trình

21 UBND :Ủy ban nhân dân

22 QLĐT : Quản lý đầu tư

23 KTTL :Khai thác thuỷ lợi

24 CTTL :Công trình thuỷ lợi

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài:

Công tác quản lý chất lượng trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Luật xây dựng, Chính phủ,

Bộ xây dựng, Bộ quản lý công trình chuyên ngành đã ban hành thông tư và các văn bản hướng dẫn dưới Luật để các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng áp dụng thực hiện từ bước phê duyệt quy hoạch ngành, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến bước chủ trương đầu tư, lập dự án đầu tư, thiết kế xây dựng đến quá trình thực hiện thi công xây dựng; song song với tăng cường công tác thanh, kiểm tra thường xuyên, đột xuất nhằm đưa hoạt động đầu tư xây dựng vào nền nếp, tránh gây thất thoát lãng phí chi phí đầu tư, sớm đưa công trình vào khai thác vận hành hiệu quả góp phần phát triển kinh

tế xã hội của đất nước

Từ nhiệm vụ bản thân được giao trong những năm qua tại đơn vị nhận thấy, giai đoạn thi công xây dựng là giai đoạn đặc biệt quan trọng, sử dụng nhiều tài nguyên của xã hội nhất từ vật liệu, nhân công, thiết bị thi công đến các vấn đề phát sinh khác như ảnh hưởng đến đời sống nhân dân liền kề công trình Ngoài yếu tố năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu thì yếu tố con người giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, công tác quản lý chất lượng thi công một số công trình vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa phù hợp trình tự quy định Hậu quả, khi vận hành khai thác không phát huy năng lực thiết kế của công trình và phải mất nhiều chi phí sửa chữa thường xuyên

Do yêu cầu công tác ngày càng đòi hỏi cao hơn về năng lực, kinh nghiệm Bản thân học viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong thực hiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình Để không ngừng trau dồi và vận dụng những kiến thức chuyên môn đã học tập tại nhà trường, đặc biệt thiết thực cho bản thân là công tác quản lý chất lượng thi công các dự án thuỷ lợi mà cụ thể là công trình Tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây do Trung tâm Quản lý đầu tư và khai thác thuỷ lợi Lâm Đồng làm

giải pháp nâng cao chất lượng thi công công trình tràn xã lũ hồ chứa nước Đạ Lây, tỉnh Lâm Đồng”

Trang 10

2 Mục đích của luận văn:

Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Trung tâm quản lý đầu tư và khai thác thủy lợi Lâm Đồng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng thi công Tràn xả lũ thuộc Dự án Hồ

chứa nước Đạ Lây

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác quản lý chất lượng thi công Tràn xả lũ thuộc Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây của chủ đầu tư

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu tổng quan công tác quản lý chất lượng thi công các dự án đầu tư xây dựng thuộc lĩnh vực thủy lợi trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đi sâu nghiên cứu công tác quản lý chất lượng thi công Tràn xả lũ thuộc Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng cho dự án, là tiền đề để bản thân

hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình

Thời đoạn nghiên cứu: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động quản lý chất lượng thi công các dự án thuỷ lợi do Trung tâm quản lý đầu tư và khai thác thủy

lợi Lâm Đồng thực hiện từ năm 2013 đến nay

4 Nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện quản lý chất

lượng thi công xây dựng công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công Tràn xả

lũ thuộc Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu;

- Phương pháp hệ thống hóa;

- Phương pháp phân tích tổng hợp;

- Phương pháp chuyên gia

Trang 11

- Một số phương pháp có liên quan khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Từ đó đưa ra đề xuất mốt số đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý chất

lượng thi công tràn xả lũ thuộc dự án Hồ chứa nước Đạ Lây, Đạ Tẻh, Lâm Đồng

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

1.1 Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình

1.1.1 Nội dung quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là hoạt động phối hợp với nhau để điều hành và kiểm soát một tổ

chức về mặt chất lượng

Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và

mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định

trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng như: Nhà thầu, CĐT, các cơ quan chuyên môn về xây dựng và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình

Căn cứ vào điều 23, nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì các nội dung QLCL thi công xây dựng công trình như sau:

1) Quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng

2) Quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình 3) Giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư, kiểm tra và nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình

4) Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công xây dựng công trình

5) Thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình

6) Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng, bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng (nếu có)

7) Nghiệm thu hạng mục công trình, công trình hoàn thành để đưa vào khai thác, sử dụng

8) Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 13

9) Lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, lưu trữ hồ sơ của công trình và bàn giao công trình xây dựng

Phương pháp và công cụ QLCL công trình: dùng thước, máy thuỷ bình và các máy móc, thiết bị phục vụ cho việc kiểm tra và đánh giá chất lượng của một công việc hoặc hạng mục công việc nào đó có đạt yêu cầu hay chưa để triển khai công việc tiếp theo hay cho sửa chữa lại cho đạt yêu cầu thiết kế đề ra

1.1.2 Hoạt động QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam

1.1.2.1 Thực trạng hoạt động QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam

Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu

tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước Chính vì vậy, trong hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay, công tác xây dựng thể chế cho công tác quản

lý chất lượng xây dựng công trình được Đảng và Nhà nước quan tâm và chỉ đạo quyết liệt, thể hiện rõ ràng nhất là Quốc hội đã ban hành Luật xây dựng số 50/2014/QH13; Trên cơ sở Luật này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý

dự án đầu tư xây dựng và Nghị định 46/2015/NĐ – CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, giúp cho người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng công trình, nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng có cơ sở để áp dụng thực hiện Văn bản quy phạm kỹ thuật, hệ thống tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra để tạo pháp lý cho mối quan hệ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng hướng tới việc hình thành công trình có chất lượng cao làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng Nghĩa là: Nhà nước kiểm soát các điều kiện “phù hợp” vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của toàn xã hội Mô hình cho công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình được xây dựng thống nhất từ Trung ương đến địa phương và cho từng hình thức quản lý

Vấn đề còn lại là việc triển khai thực hiện, kiểm tra, đánh giá và cải tiến nâng cao hiệu quả của công tác quản lý của các đơn vị có trách nhiệm như Sở quản lý chuyên ngành, chính quyền địa phương các cấp, cũng như CĐT công trình Tuy nhiên, đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng công trình của các đơn vị có trách nhiệm còn khá nhiều vấn đề Tình trạng tồn tại về chất lượng công trình, lãng phí, đặc biệt các dự

án vốn ngân sách Nhà nước

Trong những năm gần đây, diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng

Trang 14

lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Đó là việc đời sống kinh tế của người dân ngày càng được cải thiện, nền kinh tế ngày càng tăng trưởng và phát triển.Tất nhiên cùng với sự phát triển và nâng cao không ngừng của các loại hình kinh tế, các lĩnh vực khác của đời sống, bộ mặt đất nước ngày càng thay đổi; đó là sự mọc lên của các công trình nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Theo các chuyên gia xây dựng, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực là vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng phải luôn gắn liền với đảm bảo an toàn thi công xây dựng Nhưng ở nước ta hiện nay, chưa có sự quản lý thống nhất trong lĩnh vực này Do đó, khi công trình xảy ra sự cố liên quan đến an toàn trong thi công, chất lượng có vấn đề thì việc phân định trách nhiệm xử lý vụ việc đối với các bên liên quan không rõ ràng Bản thân Luật Xây dựng, Nghị định hướng dẫn về sự cố công trình khi điều chỉnh về vấn đề này cũng có khá nhiều điểm thiếu rõ ràng Mặt khác, trong khâu lựa chọn nhà thầu theo Luật Đấu thầu và Nghị định hướng dẫn thi hành, cơ quan chủ quản không đủ thông tin để đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu khi tham gia xây dựng các công trình Lực lượng quản lý xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng từ tỉnh, đến cơ sở còn mỏng, trình độ không đồng đều

và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành xây dựng; còn có sự chồng chéo

và tính phối hợp chưa cao trong thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa

tổ chức thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước Bên cạnh đó, năng lực, trách nhiệm của CĐT theo quy định của pháp luật cũng bị xem nhẹ; chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng, phó mặc cho tư vấn, nhà thầu thi công; Với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ngân sách, chủ đầu tư vẫn còn

dễ bị hiểu là “Ông chủ hờ” Họ chưa bị ràng buộc thật sự chặt chẽ về pháp luật và chưa thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý chất lượng, biết nhưng vẫn làm (cố tình lựa một số đơn vị tư vấn không đủ điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng để

ký kết hợp đồng; tìm những nhà thầu thi công không đảm bảo điều kiện năng lực tài chính, chuyên môn vì lợi ích cá nhân nào đó)

1.2.2 Một số vấn đề quản lý CLCTXD thuỷ lợi tại Lâm Đồng

Theo số liệu báo cáo về tình hình chất lượng và công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng từ năm 2015-2018 của Sở Nông Nghiệp

và PTNT, mỗi năm trên địa bàn đầu tư xây dựng hơn 12 công trình lớn nhỏ, chủ yếu các công trình vốn ngân sách nhà nước

Trang 15

Kết quả kiểm tra tại các công trường xây dựng trên địa bàn tỉnh từ năm 2015 đến nay cho thấy, tuy mức độ có khác nhau, nhưng nhìn chung các chủ đầu tư đều tuân thủ khá nghiêm túc quy định, có ý thức trong việc thực hiện những quy trình nhằm bảo

đảm chất lượng công trình, nhất là công trình vốn ngân sách Nhà nước Các chủ thể

tham gia hoạt động xây dựng nắm khá rõ, cập nhật tốt những quy định pháp luật về quản lý chất lượng công trình; quan tâm đến bộ phận lập, quản lý hồ sơ chất lượng công trình, làm cơ sở nghiệm thu chất lượng nội bộ và giám sát thi công xây dựng công trình

Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc đảm bảo, nâng cao, kiểm soát chất lượng công trình và cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể Tuy nhiên, số lượng công trình kém chất lượng hoặc vi phạm về chất lượng vẫn còn xảy ra, làm tốn kém về nguồn kinh phí khắc phục, thậm chí tính mạng con người và gây nhiều bức xúc trong

xã hội

Những sai sót chủ yếu được phát hiện như: Nhà thầu không có cán bộ kỹ thuật, không

có chỉ huy trưởng công trình theo quy định, hoặc bố trí cán bộ chỉ huy trưởng công trường không đúng với hồ sơ dự thầu, sự lơ là, yếu kém về chuyên môn của cán bộ tư vấn giám sát chưa quản lý chặc chẽ việc thi công tại công trình lập phương án thi công thiếu chi tiết, chưa phù hợp thực tế; chưa có quy trình bảo trì công trình xây dựng; mua bảo hiểm không đầy đủ; Tài liệu khảo sát địa chất thủy văn, địa chất công trình chưa đầy đủ, công trình thi công kéo dài…Ngoài ra, nhiều CĐT không chấp hành việc báo cáo định kỳ về chất lượng công trình cho cơ quan quản lý nhà nước theo quy định, mặc dù chỉ một lần mỗi năm, chỉ khi tiến hành kiểm tra, cơ quan chức năng mới có được các thông tin về tình hình thi công, chất lượng công trình

Một số sự cố công trình thuỷ lợi điển hình trong năm 2015 trên địa bàn tỉnh: Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây được Bộ NN & PTNT phê duyệt dự án đầu tư ngày 16/12/2008, là công trình trọng điểm nhằm tạo nguồn cấp nước tưới cho 1.411 ha đất canh tác, cấp nước sinh hoạt cho 7.000 người vùng hạ lưu dự án đồng thời cải thiện môi trường sinh thái trong khu vực Dự án Hồ chứa nước Đạ Lây được khởi công ngày 15 tháng 01 năm 2015 Trong quá trình thi công, do chủ đầu tư và các nhà thầu tư vấn không làm hết trách nhiệm kiểm soát chất lượng công trình đúng quy định, không phát hiện và đề xuất biện pháp thi công cho đúng với hồ sơ thiết kế của dự án, dẫn đến khi thi công đã gây sự cố mặt tràn xả lũ không bằng phẳng, bê tông có những chỗ chưa đủ bề dày như thiết kế được duyệt dẫn đến phải thiết kế thêm một lớp bê tông cốt thép dày 20cm để công trình đảm bảo về mặt chất lượng, khối lượng cũng như mỹ thuật công trình, ước tính thiệt hại về vật chất khoảng hơn 7 tỷ đồng Ngoài ra cũng còn m,ột số công trình

Trang 16

chậm thời gian thi công do thay đổi thiết kế hoặc vốn chưa bố trí đủ đế thực hiện

….dẫn đến gây thiệt hại không nhỏ cho nhà nước và xã hội

Hình 1.1 Mặt tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây năm 2016

Trong năm 2016, Bộ NN & PTNT, Sở NN & PTNT cùng cơ quan quản lý chuyên ngành đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, thường xuyên kiểm tra các công trình thuỷ lợi và có đề xuất xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, nhất là vi phạm về trình

tự, thủ tục trong quản lý chất lượng công trình

Như trên, chúng ta thấy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh nói chung còn khá nhiều vấn đề cần phải xem xét Đặc biệt cần xem xét tới chất lượng các công trình có vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tỉnh

1.1.3 Mục tiêu quản lý chất lượng công trình

Quản lý chất lượng có vai trò quan trọng bởi một mặt đời sống xã hội, làm cho chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng, mặt khác nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Đó là cơ sở để chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, tăng cường vị thế, uy tín trên thị trường Riêng trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản, Quản lý chất lượng có các mục tiêu cụ thể như sau:

- Công trình xây dựng được đảm bảo an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật và phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và phát huy hiệu quả vốn đầu tư

- Tăng cường quản lý chất lượng sẽ giúp cho việc xác định đầu tư đúng hướng, khai thác quản lý sử dụng công trình có hiệu quả hơn Đây là lý do vì sao quản lý chất lượng đầu tư xây dựng được đề cao trong những năm gần đây

Trang 17

- Về phía Nhà thầu: Cho phép doanh nghiệp xác định đúng hướng các mặt hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức bộ máy quản lý chất lượng;cần cải tiến, thích hợp với những mong đợi của CĐT; Việc quản lý chất lượng tốt sẽ tạo ra sản phẩm có lợi cho người thụ hưởng và giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao

- Về phìa Nhà nước: Việc quản lý chất lượng là nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm xây dựng, sự tăng trưởng ngành xây dựng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng; sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Công trình thuỷ lợi yêu cầu phải ổn định, bên lâu an toàn tuyệt đối trong quá trình khai thác Do đó phải thoả mãn các yêu cầu sau: chống lật, lún, nứt nẻ, chống thấm, chống xâm thực tốt, xây lắp với đô chính xác cao…

- Công tác thi công công trình thuỷ lợi tiến hành trên các lòng sông, suối, địa hình chật, mấp mô, địa chất xấu và chịu ảnh hưởng của nước mưa, ngầm, thấm do đó thi công rất khó khăn, xa dân cư, điều kiện kinh tế chưa phát triển

- Công trình thuỷ lợi thường phải xây dựng lòng dẫn sông suối ngoài yêu cầu lợi dụng tổng hợp nguồn nước còn phải hoàn thành công trình trong mùa khô hay hoàn thành căn bản với chất lượng cao do đó thời gian thi công hạn chế

1.2.2 Tính chất của việc thi công các công trình thuỷ lợi:

- Tính phức tạp vì:

+ Thi công trong điều kiện rất khó khăn

+ Liên quan nhiều bộ môn khoa học kỹ thuật, nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều địa phương, nhiều người

+ Phải đảm bảo lợi dụng tổng hợp và thi công trên khô

Trang 18

- Tính khẩn trương: Do chất lượng đòi hỏi cao, khối lượng lới, thi công trong điều kiện khó khăn, thời gian thi công ngắn, trong tình trạng thiếu vật tư trang thiết bị và yêu cầu đưa công trình vào sử dụng sớm do đó phải khẩ trương

1.2.3 Những nguyên tác cơ bản trong thi công công trình thuỷ lợi:

* Thống nhất hoá trong thi công:

- Để đảm bảo nhanh nhiều, tốt rẻ phải thống nhất hoá trong thi công trên cơ sở các tính chất kỹ thuật, quy trình, quy phạm của nhà nước

+ Ưu điểm thống nhất hoá trong thi công :

o Cân đối được nhu, cần và sản xuất;

o Giảm bớt các khâu trung gian;

o Giảm bớt sự phức tạp trong sản xuất;

o Giảm thời gian thiết kế và tổ chức đơn giản việc quản lý;

o Phù hợp công xưởng hoá và cơ giới hoá thi công

* Công xưởng hoá thi công: Là tổ chức sản xuất các chi tết kết cấu, các bộ phận công trình theo quy định đã thống nhất sau đó lắp ráp ở thực địa

+ Ưu điểm:

o Rút ngắn thời gian xây dựng, giảm nhẹ việc thi công tại công trình;

o Chất lượng các chi tiết được đảm bảo tốt;

o Máy móc và các khâu sản xuất được chuyên môn hoá tận dụng được khả năng làm việc máy móc, thời gian làm việc của công nhân → Giá thành sản phẩm nhỏ;

Trang 19

o Do làm việc tập trung nên có điều kiện nâng cao trình độ nhân công

* Cơ giới hoá trong thi công: Là máy móc để sử dụng thi công công trình nếu tất cả các khâu được cơ giới hoá gọi là cơ giới hoá đồng bộ

+ Ưu điểm:

o Giảm bớt sự lao động nặng nhọc của con người, tăng tốc độ thi công, giảm thời gian xây dựng, sớm đưa công trình vào sản xuất;

o Tiết kiệm về mặt quản lý , tổ chức nhân lực đơn giản, giá thành công trình

o Chất lượng thi công công trình cao hơn khắc phục khó khăn mà con người không đảm nhiệm được

* Thực hiện thi công dây chuyền: Trong dây chuyền công nghệ sản xuất các khâu dây chuyền do mỗi công nhân hay nhóm phụ trách

+ Ưu điểm:

o Giảm thời gian chết do chờ đợi;

o Phân công nhân công cụ thể → nâng cao năng suất lao động , phát huy sang kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nhân

o Để đảm bảo các khâu dây chuyền thi công liên tục nhịp nhàng phải thường xuyên kiểm tra các khâu yếu để điều chỉnh kịp thời

* Thực hiện thi công liên tục:

+ Ưu điểm:

o Bảo đảm cho công tác thi công không được gián đoạn;

o Giảm bớt được phụ phí trong thi công;

o Tăng cường tiến độ thi công sớm đưa công trình vào sản xuất

* Làm tốt công tác tổ chức và kế hoạch thi công:

Thi công các công trình thuỷ lợi đòi hỏi hoàn thành khối lượng lớn trong thời gian ngắn lại gặp điều kiện thi công khó khăn phức tạp và phải bảo đảm chất lượng cao, giá thành hạ do đó phải làm tốt công tác tổ chức và kế hoạch thi công bằng cách:

Lập kế hoạch tiến độ thi công hợp lý ;

Trang 20

Tranh thủ mủa khô, chú trọng công trình trọng điểm;

Kế hoạch phải cụ thể toàn diện có biện pháp đối phó những trường hợp bất lợi có thể xảy ra;

Các bộ phận công trình phải phối hợp chặc chẽ với nhau hướng tập trung vào việc hoàn thành tiến độ kế hoạch đề ra

1.3 Tình hình quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng thủy lợi hiện nay

1.3.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng nói chung và xây dựng thuỷ lợi nói riêng

Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy, để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng (bao gồm công trình thuỷ lợi), các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:

- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng

- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng

- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định

- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -

2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành

Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng

Trang 21

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là:

1) Những quy định về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa yếu tố chất lượng và giá dự thầu Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về chất lượng công trình hồ sơ mời thầu Đặc biệt là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự tầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án

2) Những quy định chế tài xử lý, phân rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong quản lý chất lượng còn thiếu cụ thể Chế tài chưa đủ mạnh để răn đe phòng ngừa: Đối với giai đoạn lập dự án, thiết kế, khảo sát đó là những quy định chế tài đối với chủ đầu tư khi vi phạm trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng, đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thẩm định là những quy định chế tài khi họ vi phạm các quy định về quản lý chất lượng

Đối với giai đoạn xây dựng đó là những điều quy định chế tài đối với các chủ thể về quản lý chất lượng trong quá trình đấu thầu, xây dựng bảo hành, bảo trì

Cần có chế tài cụ thể vi phạm điều nào, điểm nào thì xử lý thế nào? Phạt bao nhiêu tiền, bao nhiêu % giá trị hợp đồng, đưa vào danh sách “đen”, cấm có thời hạn, vi phạm thế nào thì thu hồi giấy phép kinh doanh, gây hậu quả mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự…

3) Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, đến tài sản Các doanh nghiệp hoạt động xây dựng phải là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện Vì vậy cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp công trình (ở Trung Quốc doanh nghiệp xây lắp chia là 4 cấp, tư vấn 3 cấp do Nhà nước cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng)

4) Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, đặc biệt là đội ngũ đốc công, thợ cả Công tác đào tạo cán bộ quản lý dự án, chủ đầu tư chưa được coi trọng, nhiều chủ đầu tư, ban quản lý dự án làm trái ngành trái nghề, không đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức quản lý dự án

5) Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất

Trang 22

lượng xây dựng trong phạm vi cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế

1.3.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình

Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là

3 chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh rằng dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện này của nhà nước tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các

tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu quả

1.3.2.1 Chủ đầu tư - Ban quản lý

Chủ đầu tư là người chủ động vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ

là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng

Đối với chủ đầu tư là vốn của tư nhân, của nước ngoài (nhà tư bản) đồng tiền bỏ ra từ túi tiền riêng của họ nên việc quản lý dự án nói chung cũng như quản lý chất lượng nói riêng của cả quá trình được hết sức quan tâm, từ quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết

kế đến cả giai đoạn thi công xây lắp, bảo trì Trừ công trình nhỏ lẻ họ tự quản lý còn

đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp thực hiện quản lý chất lượng công trình thông qua các hình thức: Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát độc lập để kiểm tra chất lượng công trình suốt vòng đời của dự án

Trường hợp vốn đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất chủ đầu tư được Nhà nước

uỷ nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ đầu tư “thực sự”, được thành lập thông qua quyết định hành chính.Thực trạng hiện nay nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế

Vì vậy nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu việc tách chức năng chủ đầu tư là ông chủ đồng vốn nhà nước đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn quản lý dự án (là đơn vị làm thuê) thông qua hợp đồng kinh tế Tổ chức tư vấn quản lý

Trang 23

dự án, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập (trừ các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản)

1.3.2.2 Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết

Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có

đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình

độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ Mặt khác kinh phí cho công

việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa cao, còn nhiều sai sót

a Đối với giai đoạn lập dự án

- Khảo sát chưa kỹ, lập dự án theo chủ quan của chủ đầu tư

- Khâu thẩm định dư án chưa được coi trọng Các ngành tham gia còn hình thức, trình

độ năng lực của cán bộ thẩm định còn hạn chế

b Đối với lĩnh vực khảo sát, thiết kế

- Khảo sát phục vụ thiết kế còn sơ sài, thiếu độ tin cậy

- Hệ thống kiểm tra nội bộ của tổ chức khảo sát thiết kế chưa đủ, chưa tốt còn tình trạng khoán trắng cho cá nhân, tổ đội

- Công tác thẩm định còn sơ sài, hình thức

1.3.2.3 Tổ chức tư vấn giám sát : (của chủ đầu tư hoặc thuê tổ chức tư vấn giám sát độc lập)

Là người thay mặt cho chủ đầu tư trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong suốt quá trình xây dựng thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp, độc lập Các cán bộ làm vịêc trong tổ chức tư vấn giám sát này thường

là những cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, lương khá cao Do vậy việc thực hiện việc giám sát chất lượng rất chặt chẽ, bài bản Đối với công trình trong nước là công trình trọng điểm, quan trọng có đơn vị tư vấn giám sát độc lập, có đủ năng lực và uy tín thì ở đó việc quản lý chất lượng chắc chắn

sẽ tốt hơn

Trang 24

Tuy nhiên, do tốc độ phát triển xây dựng rất nhanh, lớn trong khi chưa có các công ty

tư vấn giám sát chuyên nghiệp, tình trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung thêm nhiệm vụ này, đã thế lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình

độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ đãi nghộ hạn chế, do phí quản lý giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư vấn giám sát

1.3.2.4 Nhà thầu thi công xây lắp

Đây là chủ thể quan trọng, quyết định đến việc quản lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng

Thời gian qua các nhà thầu trong nước đã phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng và thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường, nên nhiều Tổng Công

ty, công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế

Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng

gây lún sụt, sập đổ nhiều công trình thấm,vở đập, xuống cấp rất nhanh mà nguyên nhân của nó là:

Còn khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong thực tế nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí còn khoán trắng cho các đội thi công và phó mặc cho giám sát của chủ đầu tư

Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc biệt đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng nhiều công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã bảo đảm phần rất quan trọng để quản lý chất lượng công trình Rất tiếc rằng thời gian qua công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm,

sự cố công trình (ví dụ biện pháp thi công cầu Cần Thơ, thi công đầm lăn Thuỷ điện Sơn La, hầm Thủ Thiêm…)

Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là ở văn phòng công ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng

Trang 25

Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân

tự do, công nhân thời vụ, đã thế việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế

Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau, đã hạ giá thầu một cách thiếu căn

cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ (tiêu cực) cho đối tác hoặc bản thân dính tiêu cực, tư túi cá nhân… nên đã tìm cách “hạ chất lượng sản phẩm” để bù đắp

1.3.2.5 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn bảo trì

Công tác bảo trì công trình qua các công đoạn duy tu, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và lớn nhằm đảm bảo chất ượng công trình trong giai đoạn sử dụng đến hết niên hạn hoặc kéo dài niên hạn sử dụng Đó là công việc có ý nghĩa rất lớn

Hiện nay công tác này được thực hiện chủ yếu ở các công trình giao thông, đập lớn, một số công trình công nghiệp, do đó đã kịp thời sửa chữa các khuyết tật Công việc duy tu, sửa chữa định kỳ đã được thực hiện bởi các lực lượng chuyên nghiệp nhằm bảo

vệ gìn giữ công trình có được chất lượng sử dụng tốt nhất đảm bảo sử công trình đúng niên hạn tuổi thọ theo thiết kế Nhiều nhà khoa học đã tổng kết: Đầu tư 1 đồng vốn cho bảo trì, kết quả bằng 5 đồng vốn cho đầu tư mới Vì vậy việc bố trí kế hoạch, vốn cho công tác bảo trì có ý nghĩa rất lớn

Tuy nhiên công tác bảo trì còn chưa được coi trọng đúng mức, nhiều công trình không được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời đúng thời hạn làm công trình xuống cấp nhanh chóng (thép làm cầu bị rỉ, dầm bê tông nứt vỡ, lớp bảo vệ bị phá hỏng dẫn đến ăn mòn cốt thép, đê đập bị sụt lở, hư hại thép chịu lực) dẫn đến công trình xuống cấp, tuổi thọ rất ngắn hỏng trước thời hạn, gây lãng phí tiền của rất lớn mà chẳng ai chịu trách nhiệm

1.4 Các mô hình QLCL tại các nước tiên tiến

1.4.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Nga

Tại Cộng Hòa Liên Bang Nga, Ủy ban Nhà nước về xây dựng thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về xây dựng, giúp Bộ trưởng Chủ nhiệm ủy ban thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chất lượng CTXD là Tổng cục quản lý chất lượng CTXD

Trang 26

Liên Bang Nga giám sát xây dựng được tiến hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản nhằm kiểm tra sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết kế, với các quy định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ đồ mặt bằng xây dựng của khu đất Giám sát xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng Chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra sự phù hợp các công việc đã hoàn thành với hồ sơ thiết kế Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan giám sát xây dựng nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xây dựng

Trong công cuộc đổi mới, Ủy ban Nhà nước về xây dựng đã xây dựng mô hình hoạt động với sự tham gia của các doanh nghiệp tư vấn giám sát, quản lý xây dựng chuyên nghiệp Liên Bang Nga coi việc xây dựng một đội ngũ kỹ sư tư vấn giám sát chuyên nghiệp là yếu tố quyết định của quá trình đổi mới công nghệ quản lý chất lượng CTXD

Việc giám sát xây dựng của cơ quan Nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình xây dựng cơ bản mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các cơ quan nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mẫu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồ sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan nhà nước thẩm định; xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người

có chức trách thực hiện giám sát xây dựng nhà nước có quyền tự do ra vào đi lại tại các công trình xây dựng cơ bản trong thời gian hiệu lực giám sát xây dựng nhà nước

1.4.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Pháp

Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh

về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Ngày nay, nước Pháp

có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các

tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng Hoà Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28m, nhịp rộng hơn 40m, kết cấu cổng sân vườn

ra trên 200m và độ sâu của móng trên 30m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng của Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình

Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó,

để quản lý chất lượng các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận.Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém.Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2 % tổng giá

Trang 27

thành.Đối với bảo hành và bảo trì, Luật quy định các chủ thể tham gia xây dựng phải

có trách nhiệm bảo hành và bảo trì sản phẩm của mình trong thời gian 10 năm Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm đã bắt buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng

1.4.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Mỹ

Việc quản lý xây dựng tại Mỹ do các Bang tự đảm nhiệm, chính quyền trung ương không tham gia Tại các Bang, việc quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền cấp quận, hạt hoặc thành phố thực hiện Ở nước Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý CLCT xây dựng với nội dung như sau:

+ Bên thứ nhất là nhà thầu, người sản xuất tự chứng nhận chất lượng của mình;

+ Bên thứ hai là sự chứng nhận của khách hàng về chất lượng của sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn và các quy định của công trình hay không;

+ Bên thứ ba là sự đánh giá độc lập của một tổ chức nhằm định lượng chính xác về tiêu chuẩn chất lượng, nhằm mục đích bảo hiểm hoặc khi giải quyết tranh chấp

Nguyên tắc QLCL xây dựng tại Mỹ là chủ công trình phải có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của địa phương trong toàn bộ quá trình xây dựng.Người có thẩm quyền kiểm tra và xác nhận công trình tuân thủ quy định về QLCL xây dựng trong quá trình thi công gọi là Giám định viên thuộc một trong ba thành phần sau

+ Cơ quan quản lý Nhà nước

+ Các tổ chức tư nhân, gọi là Tổ chức độc lập được công nhận

+ Các cá nhân được Nhà nước công nhận

Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ

1.4.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Singapore

Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc

sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc

Trang 28

Đối với quản lý chất lượng công trình, ngoài cơ quan của Nhà nước là Cơ quan Quản

lý xây dựng và Nhà ở, từ năm 1989, Singapore áp dụng hệ thống kiểm tra độc lập do các cá nhân hay tổ chức không thuộc cơ quan Nhà nước đảm nhiệm Luật pháp của nước này quy định chủ công trình phải thuê một Kiểm tra viên từ giai đoạn thiết kế; khi nộp hồ sơ để được cấp phép xây dựng, phải có báo cáo đánh giá của Kiểm tra viên đối với chất lượng thiết kế

Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án xây dựng Ngay

từ khi lập dự án, phải đảm bảo các yêu cầu về quy hoạch tổng thể, an toàn, phòng chống cháy nổ, giao thông, môi trường,… thì mới được các cơ quan hữu quan phê duyệt Trước khi triển khai thi công, các bản vẽ thi công phải được kỹ sư tư vấn giám sát kiểm tra và xác nhận là thiết kế đúng, đảm bảo chất lượng thiết kế

Nguyên tắc quản lý chất lượng xây dựng của chính quyền Singapore là CĐT phải chứng minh và đạt sự chấp thuận của chính quyền đối với sự tuân thủ pháp luật trong quá trình xây dựng thông qua các hình thức: Chấp thuận thiết kế kết cấu khi cấp phép xây dựng, chấp thuận cho thi công tiếp tại các điểm chuyển giai đoạn quan trọng của công trình, chấp thuận công trình hoàn thành đưa vào sử dụng

Chính quyền sẽ quản lý công trình trong suốt quá trình khai thác sử dụng và kiểm tra định kỳ công tác đảm bảo chất lượng của chủ sở hữu.Đối với các công trình là nhà ở

10 năm một lần và các công trình khác là 5 năm một lần.Có thể nói hệ thống Kiểm tra viên được ủy quyền đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát chất lượng từ khâu thiết kế đến thi công công trình

1.4.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Australia

Việc quản lý xây dựng tại Australia do các bang tự đảm nhiệm, không có sự can thiệp của chính quyền trung ương Tại các bang, công tác quản lý xây dựng cũng giao chó chính quyền địa phương Lực lượng quản lý xây dựng tại các địa phương gồm Giám sát viên của Nhà nước do các hội đồng địa phương tuyển dụng và Giám sát viên tư nhân Cả hai loại Giám sát viên này đều thực hiện quản lý xây dựng công trình qua các hình thức: Ban hành giấy phép xây dựng, kiểm tra quá trình thi công, ban hành giấy phép sử dụng

Để trở thành Giám sát viên xây dựng đều phải đạt các yêu cầu theo quy định và được cấp đăng ký tại cơ quan quản lý hành nghề xây dựng của bang Tùy theo năng lực, kinh nghiệm, Giám sát viên được phân thành 2 loại là Giám sát viên bậc 1 và bậc 2 Giám sát viên bậc 1 được kiểm tra tất cả công trình xây dựng, không biệt loại và quy

mô, Giám sát viên bậc 2 chỉ được kiểm tra các công trình từ 3 tầng trở xuống, có tổng diện tích sàn dưới 2000m2

Trang 29

Ngay từ khi xin phép xây dựng , CĐT phải chọn một Giám sát viên xây dựng để tiến hành công tác kiểm tra trong suốt quá trình thi công tại những bước chuyển giai đoạn quan trọng CĐT phải trả phí cho công tác kiểm tra này như một dịch vụ bắt buộc để xác nhận việc xây dựng của mình tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng công trình

1.4 6 Quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Nhật Bản

Tại Nhật Bản có 4 loại văn bản pháp quy quy định chi tiết về quản lý chất lượng xây dựng và an toàn đó là:

- Đạo Luật đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng công trình công cộng cho các cơ quan Chính phủ và chính quyền địa phương Nội dung chủ yếu không phải về chất lượng công trình xây dựng mà là tiêu chuẩn hóa công tác đấu thầu của các dự án xây dựng

- Đạo Luật nghành xây dựng cho các công ty xây dựng

- Luật đẩy mạnh cách thức đấu thầu và thực hiện hợp đồng cho các công trình công cộng dành cho các cơ quan Chính phủ và chính quyền địa phương

- Luật kế toán cho các cơ quan Chính phủ

Sau đây là một số hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Nhật Bản Chủ đầu tư chỉ chịu trách nhiệm thực hiện các dự án theo đúng chuyên nghành của mình và rất ít khi quản lý các dự án đa nghành nghề

Mỗi dự án, CĐT tổ chức lập một chỉ dẫn kỹ thuật và Sổ tay hướng dẫn về chất lượng thi công và quản lý an toàn

Các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong thiết kế, thi công, giám sát được quy định trong hợp đồng hoặc trong Chỉ dẫn kỹ thuật

Phân loại và phân cấp công trình do các Bộ, nghành quyết định

Quy định về trình tự các công tác Khảo sát xây dựng, Thiết kế xây dựng và Thi công thông thường được đưa thành các quy tắc nội bộ hay Hướng dẫn kỹ thuật, chứ không thành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định

Quy định về điều kiện năng lực các chủ thể tham gia xây dựng trong Nghị định không bao gồm các đơn vị tư vấn và nhà thầu Vì họ cho rằng các đơn vị này là các thực thể riêng và trách nhiệm của các đơn vị này nằm trong phạm vi điều chỉnh của hợp đồng Mặt khác tư vấn chỉ là trợ giúp cho CĐT và BQLDA CĐT không ủy thác hay giao phó quyền cho tư vấn mà tư vấn có vai trò là người cung cấp thông tin để CĐT ra quyết định Có nghĩa là CĐT và BQLDA phải chịu trách nhiệm về việc quản lý và giám sát dự án xây dựng của mình

1.5 Kết luận Chương I

Trang 30

Trong chương 1 của luận văn, Tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng, với những quan điểm

và lý luận thực tiễn về quản lý chất lượng các công trình xây dựng nói chung và công trình thủy lợi nói riêng cho ta thấy được đặc điểm, nội dung, phương pháp và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng các công trình xây dựng nói chung và công trình thủy lợi nói riêng trong quá trình tạo ra một sản phẩm công trình Quản lý chất lượng công trình là vấn đề then chốt trong hoạt động xây dựng và được thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án dầu tư xây dựng Công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở nước ta nói chung đã có hiệu quả thiết thực, chất lượng các công trình thủy lợi ngày một nâng cao và được kiểm soát tốt hơn

Tuy nhiên trong quá trình quản lý chất lượng thi công công trình Tràn xả lũ Hồ chứa nước Đạ Lây đã xuất hiện một số hạng mục có chất lượng chưa đạt yêu cầu Như đã nói ở trên do đặc điểm của công trình xây dựng có rất nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng mà một trong những yếu tố rất quan trọng đó là yếu tố quản

lý chất lượng thi công công trình chưa tốt vì vậy cần phải nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý chất lượng thi công công trình sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế

Trang 31

2) Quy định vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng được phân cấp, làm rõ gồm: Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh, quận, huyện Tránh được tình trạng nhiều cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng khi công trình sự cố không có đơn

vị chịu trách nhiệm sẽ gây thiệt hại cho xã hội Trong đó cơ quan chuyên môn về xây dựng là các cơ quan trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc UBND cấp huyện;

3) Chủ đầu tư vốn ngân sách Nhà nước và vốn Nhà nước là cơ quan, tổ chức, được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn NSNN, người quyết định đầu tư giao BQLDA chuyên ngành hoặc khu vực làm chủ đầu tư; trường hợp không có BQLDA thì người quyết định đầu tư lựa chọn cơ quan, tổ chức đủ điều kiện làm chủ đầu tư Khắc phục tình trạng nhiều chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện và quản lý các dự án

4) Bảo hiểm bảo hành là loại bảo hiểm mới được quy định trong Luật xây dựng 2014; Theo quy định thì 3 loại bảo hiểm bắt buộc: Bảo hiểm công trình trong thời gian thi công xây dựng; Nhà thầu tư vấn Khảo sát, Thiết kế mua bảo hiểm trách nhiệm nghề

Trang 32

nghiệp đối với công trình cấp II, Nhà thầu thi công phải mua bảo hiểm cho người lao động;

5) Về thẩm quyền thẩm định dự án: Dự án quan trọng quốc gia do Hội đồng thẩm định nhà nước; đối với các dự án sử dụng vốn NSNN thì do Cơ quan chuyên môn về xây dựng (CQCM) chủ trì thẩm định; Vốn nhà nước ngoài NSNN: thì cơ quan chuyên môn

về xây dựng thẩm định TKCS; Cơ quan chuyên môn thuộc người quyết định đầu tư chủ trì thẩm định thiết kế phần công nghệ, các nội dung khác của dự án; Đối với dự án vốn khác: cơ quan chuyên môn về xây dựng về XD thẩm định Thiết kế cơ sở công trình cấp I, đặc biệt, công trình công cộng có ảnh hưởng an toàn, môi trường; cơ quan chuyên môn về xây dựng của người quyết định đầu tư (QĐĐT) thẩm định công nghệ, các nội dung khác của dự án Các dự án còn lại do người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định;

6) Về Thẩm quyền thẩm định thiết kế xây dựng, TKBVTC và dự toán: Dự án sử dụng vốn vốn NSNN: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT (3 bước), TKBVTC (2 bước), dự toán, người QĐĐT phê duyệt thiết kế, dự toán, riêng đối với TKBVTC, dự toán (Trường hợp thiết kế 3 bước) do chủ đầu tư phê duyệt; Dự án sử dụng vốn Nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT (3 bước), TKBVTC (2 bước), dự toán, riêng phần thiết kế công nghệ do Cơ quan chuyên môn của người QĐĐT thẩm định, người QĐĐT phê duyệt TKKT, dự toán (3 bước), Chủ đầu tư phê duyệt TKBVTC, dự toán (3 bước, 2 bước); Dự án sử dụng vốn khác: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT, TKBVTC đối với công trình cấp I, đặc biệt, công trình công cộng gây ảnh hưởng an toàn, môi trường cộng đồng, riêng phần thiết kế công nghệ, dự toán do Cơ quan chuyên môn của người Quyết định đầu tư thẩm định, Thiết kế, dự toán do người quyết định đầu tư và chủ đầu tư phê duyệt; 7) Về thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng: Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công (có sử dụng vốn nhà nước) thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công 2013; Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước đầu tư kinh doanh thì người đại diện của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quyết định đầu tư; Đối với dự án sử dụng vốn khác thì chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư

8) Quy định mới về việc lấy ý kiến quy hoạch xây dựng: Cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có liên quan

về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng

9) Quy định mới về Giấy phép quy hoạch xây dựng: Theo đó, Giấy phép quy hoạch xây dựng là văn bản do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư

Trang 33

trong khu chức năng đặc thủ để làm căn cứ lập quy hoạch chi tiết hoăc lập dự án khi chưa có quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết;

10) Bổ sung thêm các trường hợp được miễn cấp Giấy phép xây dựng: Nhà ở riêng lẻ

ở nông thôn ; công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sản dưới 500m2; Công trình chỉ lập báo cáo KTKT ở nông thôn khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng

11) Về Hình thức tổ chức quản lý dự án:

Hình thành 02 loại Ban quản lý dự án là Ban QLDA chuyên ngành và Ban QLDA khu vực để quản lý các dự án vốn NSNN, vốn NN theo chuyên ngành; Các ban này sẽ được giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLDA, thực hiện tư vấn QLDA đối với dự án khác

Ban QLDA một dự án: Được thành lập để thực hiện 01 dự án sử dụng vốn nhà nước

có quy mô nhóm A có công trình cấp đặc biệt, công nghệ cao hoặc dự án quốc phòng,

an ninh

Thuê tư vấn QLDA: vốn nhà nước ngoài NSNN, đặc thù, đơn lẻ

Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn: sửa chữa, cải tạo nhỏ, DA có sự tham gia của cộng đồng

Đặc biệt là Luật Xây dựng mới quy định Ban QLDA, tư vấn QLDA phải có điều kiện năng lực, trong đó Giám đốc quản lý dự án, cá nhân trực tiếp tham gia quản lý dự án phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô, loại dự án

12) Điều chỉnh dự án: Theo quy định mới, khi chỉ số giá do Bộ xây dựng, Sở Xây dựng công bố lớn hơn chỉ số giá lập dự phòng trượt giá thì dự án sẽ được điều chỉnh 13) Về Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức, cá nhân phân thành 3 hạng: 1, 2, 3

Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng hạng 1 do Bộ Xây dựng cấp, các hạng còn lại

Trang 34

quan chuyên môn thuộc Bộ xây dựng, Sở Xây dựng, tổ chức Xã hội – nghề nghiệp có

đủ điều kiện theo quy định của Chính Phủ có thẩm quyền sát hạch cấp chứng chỉ 15) Cấp giấy phép hoạt động cho nhà thầu nước ngoài: Nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam phải được cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cấp giấy phép hoạt động Tránh tình trạng nhà thầu, cá nhân nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam nhưng không được kiểm soát

Trên đây là những điểm mới cơ bản của Luật Xây dựng 2014 Như vậy, theo Luật Xây dựng 2014, quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; về quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam đã được quy định rõ ràng, cụ thể hơn Qua các nội dung mới của Luật Xây dựng cũng thể hiện quan điểm của Quốc hội trong việc quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình

2.1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng CTXD

2.1.2.1 Nghị định số 46/2015/ NĐ - CP [2]

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ – CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, thay thế Nghị định số 15/2013/NĐ - CP và Nghị định số 114/2010/NĐ - CP, để thống nhất và đồng bộ trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cả trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng và bảo trì công trình xây dựng phù hợp với quy định của Luật Xây dựng

2014

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế như việc phân loại, phân cấp công trình xây dựng (có sự chồng chéo trong việc xác định loại công trình Kè bảo vệ bờ sông, bờ biển); quy định về nghiệm thu công việc xây dựng, kiểm tra công tác nghiệm thu trong thi công xây dựng và nghiệm thu để đưa công trình vào sử dụng của cơ quan quản lý chuyên ngành; Tuy nhiên, quy định bảo hành công trình xây dựng còn cứng nhắc, gây khó khăn cho một số nhà thầu thi công xây dựng công trình; chưa rõ các quy định, chế tài về xử lý công trình có dấu hiệu nguy hiểm, công trình hết niên hạn sử dụng; thiếu các quy định về đánh giá an toàn đối với các công trình quan trọng quốc gia

Một số nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng như trách nhiệm của CĐT, nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn về xây dựng cũng được làm

rõ thêm Nghị định cũng phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa CĐT và các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng

Trang 35

Một số nét chính cơ bản của Nghị định 46/2015/NĐ-CP:

1) Về tên gọi: Nghị định này quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây

dựng (bổ sung bảo trì cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Nghị định)

2) Về kết cấu, bố cục: Nghị định bao gồm 57 Điều, 8 chương và 02 Phụ lục (so với 8 Chương và 48 Điều và 01 Phụ lục của Nghị định số 15/2013/NĐ-CP) gồm: Quy định chung, QLCL Khảo sát, QLCL Thiết kế, QLCL Thi công XD, bảo trì CTXD (bổ sung

do Nghị định này thay thế Nghị định bảo trì), Sự cố CTXD, QLNN về CLCTXD, Điều khoản thi hành

3) Về nội dung: Trên cơ sở căn cứ các nội dung Luật Xây dựng 2014 và kết quả tổng kết quá trình thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP, về cơ bản Nghị định kế thừa các nội dung ưu việt của Nghị định 15/2013/NĐ-CP, bổ sung các nội dung hướng dẫn về bảo trì công trình xây dựng hiện nay đang quy định tại Nghị định 114/2010/NĐ-CP ngày 06/12/2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng vào Nghị định này Đồng thời, Nghị định còn bổ sung các nội dung còn hạn chế, các quy định mới cần quản lý nhưng chưa được thể hiện trong Nghị định 15/2013/NĐ-CP, đưa một số nội dung quy định trong các Thông tư hướng dẫn Nghị định 15/2013/NĐ-CP đã đi vào cuộc sống và vận hành tốt để giảm các nội dung hướng dẫn trong các Thông tư, nhằm tăng cường tính ổn định của hệ thống pháp luật

Từ các nội dung nêu trên, Nghị định được soạn thảo theo trình tự công việc từ giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công đến bảo trì công trình xây dựng Quy định trách nhiệm của từng chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình trong từng giai đoạn Sự thay đổi của Nghị định này phù hợp hơn với thực tế và giúp các chủ thể năm bắt ngay các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư xây dựng

Căn cứ Nghị định này thì việc quản lý chất lượng công trình xây dựng phải tuân thủ theo 06 nguyên tắc cơ bản sau:

Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định này

và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận

Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng

và quy định của pháp luật có liên quan

Trang 36

Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật

Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật

Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng trên chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện

So với những quy định cũ trước đây, Nghị định 46/2015/NĐ-CP có một số điều sửa đổi bổ sung chính như:

Trong việc phân loại và phân cấp công trình xây dựng, so với Nghị định 15 thì có bổ sung thêm loại công trình “Công trình quốc phòng, an ninh” (Khoản 1 Điều 8);

Về trình tự quản lý chất lượng khảo sát xây dựng được rút gọn gồm 04 bước (Nghị định 15/2013/NĐ-CP quy định 07 bước), bao gồm: 1 Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng; 2 Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng; 3 Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng; 4 Nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát xây dựng;

Chủ đầu tư có thể thuê đơn vị tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra phương án

kỹ thuật khảo sát xây dựng làm cơ sở cho việc phê duyệt; và có thể thuê đơn vị tư vấn

có đủ điều kiện năng lực để kiểm tra báo cáo kết quả khảo sát xây dựng làm cơ sở cho việc quyết định nghiệm thu (Khoản 3 Điều 13 và Điểm b Khoản 1 Điều 16)

Điều kiện nghiệm thu công trình được cơ quan cảnh sát phòng cháy và chữa cháy ra văn bản nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy (Điểm c Khoản 2 Điều 31)

Nghị định quy định thêm nội dung về bảo trì công trình xây dựng (tại các Điều từ 37 đến 43) Trình tự thực hiện bảo trì công trình xây dựng gồm: 1 Lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng 2 Lập kế hoạch và dự toán kinh phí bảo trì công

Trang 37

trình xây dựng 3 Thực hiện bảo trì và quản lý chất lượng công việc bảo trì 4 Đánh giá an toàn chịu lực và an toàn vận hành công trình.5 Lập và quản lý hồ sơ bảo trì công trình xây dựng;

Nghị định phân công lại trách nhiệm quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng Cụ thể chuyển từ ngành Giao thông vận tải, ngành Công thương về ngành Xây dựng quản lý đối với một số loại công trình như công trình công nghiệp vật liệu xây dựng, công trình công nghiệp nhẹ; công trình giao thông trong đô thị trừ công trình đường sắt, công trình cầu vượt sông và đường quốc lộ (Khoản 1 và điểm a Khoản 4 Điều 51);

Ngoài ra, một trong những điểm mới của Nghị định này là bổ sung quy định khống chế mức tiền bảo hành Tại khoản 7 Điều 35, cụ thể: 3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I; 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại; và đối với các công trình sử dụng vốn khác, có thể tham khảo các mức bảo hành tối thiểu nêu trên để áp dụng

2.1.2.2 Nghị định số 59/2015/NĐ - CP [3]

Theo đó, Nghị định quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng năm

2014 về điều kiện năng lực hoạt đông xây dựng của cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động xây dựng Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Nghị định này

và pháp luật về quản lý sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

Nghị định 59 quy định việc phân loại dự án được dựa trên quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm 4 loại: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự

án nhóm B và dự án nhóm C

Trường hợp phân loại theo nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án sử dụng nguồn vốn khác Bên cạnh đó, quản lý thực hiện dự án phù hợp với loại nguồn vốn sử dụng để đầu tư xây dựng Cụ thể, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được quản lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để bảo đảm mục tiêu đầu tư, chất lượng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án Dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP (Public - Private Partner) có cấu phần xây dựng được quản lý như đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Trang 38

Bên cạnh đó, những dự án sau chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm công trình sử dụng cho mục đích tôn giáo và công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng Ngoài ra, Nghị định 59/2015/NĐ-CP còn quy định về thẩm quyền thẩm định dự án cũng như cách thức lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trình tự xây dựng, quản lý, thực hiện và nghiệm thu dự án… Nghị định quy định cụ thể điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được phân làm 3 hạng (Chứng chỉ hành nghề Hạng 1 do Bộ xây dựng cấp, Chứng chỉ hành nghề Hạng 2 và Chứng chỉ hành nghề hạng 3 do Sở Xây dựng cấp) Về thời hạn

và lệ phí cấp Giấy phép hoạt động xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại Khoản 3 Điều 72 Nghị định này xem xét hồ sơ để cấp Giấy phép hoạt động xây dựng cho nhà thầu nước ngoài trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày nhận

đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 72 Nghị định này Trường hợp không cấp, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động xây dựng phải trả lời bằng văn bản cho nhà thầu

và nêu rõ lý do Khi nhận Giấy phép hoạt động xây dựng, nhà thầu nước ngoài phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính Giấy phép hoạt động xây dựng hết hiệu lực trong các trường hợp: Hợp đồng thầu đã hoàn thành và được thanh lý; Hợp đồng không còn hiệu lực khi nhà thầu nước ngoài bị đình chỉ hoạt động, giải thể, phá sản hoặc vì các lý do khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước

mà nhà thầu có quốc tịch

2.1.2.3 Nghị định số 42/2017/NĐ - CP [4]

Nghị định này quy định về sửa đổ, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ - CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Nghị định sửa đổi cũng nhiều nhưng ở đây tác giả chỉ nêu một số điều như sau: Dự án đầu

tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án

Dự án theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công, bao gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C

Nghị định sửa đổi, bổ sung về Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng sử dụng vốn khác

Bên cạnh thay đổi, bổ sung các công tác từ phân loại đầu tư, thẩm quyền lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, tiền khả thi ….thì Nghị định cũng sửa đổi bổ sung các điều về quản lý chất lượng công trình như sửa đểu 54 về chứng chỉ quản lý dự án, đều 57 quy định chung về năng lực hoạt động, điều 66 về Chứng chỉ năng lực của tổ

Trang 39

chức giám sát thi công xây dựng điều 66a Chứng chỉ năng lực của tổ chức kiểm định

xây dựng

2.2 Thực tiễn về công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng

2.2.1 Một số nội dung về quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng

Để đảm bảo chất lượng cho công trình xây dựng, nếu chỉ tập trung vào giai đoạn thi công thì hoàn toàn bị động Một công trình xây dựng được thi công đúng với thiết kế, chưa chắc chất lượng đã tốt, nếu như phương án thiết kế không đảm bảo cho công trình có chất lượng Ví dụ cụ thể, quá trình khảo sát không đảm bảo yêu cầu các bước của tiêu chuẩn khảo sát thiết kế công trình thủy lợi, các số liệu về địa chất công trình, thủy văn, địa chất thủy văn thiếu chính xác, dẫn đến trong quá trình thi công đã phát hiện nề móng yếu, kết quả là công trình phải tạm ngưng thi công một thời gian để bổ sung gia cố xử lý cọc xi măng cho Tràn xả lũ và phần cống thuộc dự án Hồ chứa nước

Đạ Lây Vì vậy, để quản lý chất lượng công trình xây dựng được tốt, cần quản lý toàn diện tất cả các giai đoạn của dự án

Hình 2.1 Các bước trong quản lý chất lượng công trình

2.2.1.1 Quản lý CLCTXD trong giai đoạn thực hiện đầu tư

Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, có 3 việc quan trọng quyết định đến chất lượng của công trình xây dựng: Khảo sát và thiết kế công trình; đấu thầu lựa chọn nhà thầu; Thi công xây dựng Để công trình có chất lượng tốt cần phải quản lý tốt 3 vấn đề trên

1) Khảo sát và thiết kế công trình

Những tài liệu hợp pháp dùng để thiết kế: Các tài liệu về thăm dò, khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn, khí tượng và các tài liệu khác khi dùng để thiết kế phải do tổ chức

có tư cách pháp lý về các lĩnh vực nêu trên cung cấp

QLCL khảo sát,

thiết kế

QLCL giai đoạn thi công

QLCL trong bảo hành công trình

QLCL trong bảo trì công trình

Trang 40

Việc thiết kế phải tuân theo quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng do Nhà nước ban hành Nếu áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng của nước ngoài, thì phải được Bộ xây dựng chấp thuận bằng văn bản

Mặc dù quy định rất chặt chẽ như vậy, nhưng trong quá trình thực hiện, rất nhiều đơn

vị, cá nhân đã khảo sát qua loa, không đúng quy trình kỹ thuật, vì lợi nhuận nhiều đơn

vị tư vấn khảo sát đã bỏ qua một số mũi khoan theo đề cương nhiệm vụ được duyệt và hợp đồng khảo sát thiết kế với chủ đầu tư, dùng phương pháp nội suy để có các số liệu

về địa chất Từ đó dẫn đến rất nhiều số liệu khảo sát không phản ánh thực tế địa chất khu vực dự án, dẫn đến người thiết kế tính toán dựa trên những số liệu không chính xác, (Trong công tác này hầu hết lại không được Ban QLDA nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ) Các giải pháp thiết kế đưa ra ở một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung; thậm chí khi đưa vào sử dụng sụp lún, phá hoại tốn nhiều chi phí trong quản lý vận hành khai thác

2) Đấu thầu xây lắp

Việc đấu thầu để lựa chọn được nhà thầu xây lắp là một bước tiến bộ trong tổ chức xây dựng, nó phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, nếu không lựa chọn nhà thầu có năng lực, kinh nghệm trong xây lắp, mà chỉ thiên về giá rẻ sẽ gây ra những hậu quả xấu cho công trình xây dựng Thực tế trong một thời gian dài trước đây cho thấy rất nhiều nhà thầu bỏ giá rất thấp, gây nên tình trạng phá giá trên thị trường xây dựng; có những gói thầu xây lắp hạ đến hơn 25% giá gói thầu, gói thầu tư vấn hạ đến 30% giá gói thầu (Dự án kè Kiên cố hoá kênh Nam Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ) , tạo một sự cạnh tranh thiếu minh bạch và công bằng Vấn đề này làm

rộ lên dư luận xã hội một thời gian dài; tại sao các dự án đầu tư quan trọng của Quốc gia cứ vào tay các nhà thầu giá rẻ Trung Quốc, hậu quả là dự án chậm tiến độ, phải bổ sung, phát sinh khối lượng; điều chỉnh tổng mức đầu tư, điều chỉnh tiến độ và ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, và chậm bàn giao dự án đưa vào sử dụng để phát triển đất nước (dự án đường sắt trên cao Cát Linh Hà Đông, dự án chống ngập khu vực Nhiêu

hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được đánh giá trước và nhà thầu nào đáp ứng về kinh

Ngày đăng: 22/03/2021, 21:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w