Đối với các kiểu ngưỡng này, khi cao trình đặt ngưỡng và kích thước cửa tháo nước đã xác định, nếu muốn tăng năng lực tháo lũ thì cần phải tăng chiều cao cột nước trên ngưỡng tràn.. vào
Trang 1LỜI TÁC GIẢ
Với sự giúp đỡ của phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học, Khoa Công trình trường Đại học thuỷ lợi, Tổng Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam - CTCP, cùng các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đến nay Luận văn Thạc sĩ kỹ
thuật chuyên ngành Xây dựng công trình thủy với đề tài: “Nghiên cứu năng lực tháo
và điều tiết lũ qua đập tràn zích zắc ” đã được hoàn thành
Tác giả xin cảm ơn chân thành đến KS Đinh Sỹ Quát, người trực tiếp nghiên cứu tính toán áp dụng hình thức tràn Piano trong công trình Văn Phong, cùng các cơ quan đơn vị và các cá nhân đã truyền đạt kiến thức, cho phép sử dụng tài liệu đã công
bố cũng như sự giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo Tổng Công ty tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam – CTCP, Công ty tư vấn 11 cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua
Đặc biệt tác giả xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Quốc, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả có được kết quả như hôm nay chính là nhờ sự chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cũng như sự động viên cổ vũ của cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong những năm qua
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của các Quý vị quan tâm và bạn bè đồng nghiệp
Luận văn được hoàn thành tại phòng đào tạo đại học và sau đại học, Trường Đại học Thủy lợi
Hà Nội, Tháng 09 năm 2011
Tác giả
Trang 21.2.1 Ngưỡng tràn zíc zắc kiểu truyền thống 18
Chương 3 LẬP CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG THÁO QUA
3.1.1 Nguyên lý cơ bản điều tiết lũ bằng hồ chứa và cơ sở phân tích
3.1.2 Các dạng đường xả lũ khi tràn chính và tràn phụ cùng tham gia
Trang 33.1.2.1 Công trình xả lũ chính là tràn tự do 55 3.1.2.2 Công trình xả lũ chính là tràn có cửa van điều tiết khống chế lưu
3.3 Lựa chọn phương pháp tính điều tiết lũ và lập chương trình HMD
v1.0 xác định quy mô công trình tháo lũ 67 3.3.1 Lựa chọn phương pháp tính toán điều tiết lũ 67 3.3.2 Thuật toán và sơ đồ khối của chương trình 67
Chương 4 ÁP DỤNG CHƯƠNG TRÌNH HMD 1.0 TÍNH TOÁN ĐIỀU TIẾT LŨ
CHO MỘT SỐ HỒ CHỨA CÓ THỂ ÁP DỤNG NGƯỠNG TRÀN
4.1 Giới thiệu về một vài công trình áp dụng 77 4.1.1 Công trình thủy lợi hồ chứa nước Ẳng Cang 78 4.1.2 Công trình thủy lợi hồ chứa nước Tân Giang 81
4.2 Tính toán xác định quy mô tràn zích zắc cho các công trinh trên 87 4.2.1 Tính toán một số phương án công trình xả lũ cho hồ chứa nước
Trang 4Hình 1-27: Thi công tràn phím đàn- ống dẫn khí đặt dưới console hạ lưu 26
Trang 5Hình 2-2: Cấu tạo tràn labyrinth kiểu ngưỡng răng cưa 33
Hình 2-4: Đường cong hệ số lưu lượng với hình dạng đỉnh ngưỡng 3/4
Hình 2-5: Ảnh hưởng chảy ngập đến lưu lượng 37 Hình 2-6: Mặt bằng, cắt ngang tràn PK-A (L=W+8H; N=L/W=6) 39 Hình 2-7: Mặt bằng, cắt ngang tràn PK-B (L=W+6H; N=L/W=6) 41 Hình 2-8: Đồ thị so sánh khả năng xả của đập tràn kiểu Creager và kiểu
Hình 2-18: Vận hành của PKW với sự tắc nghẽn của vật nổi 49 Hình 2-19: Hệ số lưu lượng phụ thuộc vào sự có mặt của vật nổi 49
Hình 2-21: Mô hình thí nghiệm mặt cắt tràn loại PKB, ô ra có dạng bậc
thang áp dụng tại Thủy điện Dăk my2 - Quảng Nam 50 Hình 3-1: Sơ đồ thiết lập phương trình điều tiết lũ 54 Hình 3-2: Tổ hợp các hình thức kết cấu của tràn chính và tràn phụ 55 Hình 3-3: Đường quá trình xả lũ khi tràn chính và tràn phụ đều không có
Hình 3-4: Đường quá trình xả khi tràn chính tự do và tràn phụ kiểu tấm
Hình 3-5: Đường quá trình xả khi tràn chính tự do và tràn phụ kiểu tấm
Trang 6Hình 3-6: Đường quá trình xả khi tràn chính là tràn tự do và tràn phụ kiểu
Hình 4-1: Đường đặc tính quan hệ Z~V hồ chứa Tân Giang 83 Hình 4-2: Điều tiết lũ qua tràn Ẳng Cang với lũ thiết kế P=1% 87 Hình 4-3: Điều tiết lũ qua tràn Ẳng Cang với lũ thiết kế P=0-2% 88 Hình 4-4: Điều tiết lũ qua tràn zich zắc Ẳng Cang (kiểu ngưỡng răng cưa)
Trang 7Hình 4-12: Mô hình tràn Tân Giang sau khi nâng cấp tạo phần tràn tự do
thành tràn zích zắc kiểu phím đàn piano loại A 94 Hình 4-13: Điều tiết lũ qua tràn Tân Giang với mô hình lũ kiểm tra tần suất
Hình 4-14: Điều tiết lũ qua tràn Tân Giang với mô hình lũ kiểm tra tần suất
Hình 4-15: Điều tiết lũ qua tràn Ophixerop Nậm Bú có kết hợp tháo lũ với
cống xả sâu qua mô hình lũ thiết kế tần suất P=1% 96 Hình 4-16: Điều tiết lũ qua tràn Ophixerop Nậm Bú có kết hợp tháo lũ với
cống xả sâu qua mô hình lũ thiết kế tần suất P=0,2% 96 Hình 4-17: Hình dạng một đơn nguyên tràn zích zắc kiểu piano loại B 97 Hình 4-18: Bố trí mô phỏng ngưỡng zích zắc kiểu piano loại B cho tràn Nậm
Hình 4-19: Điều tiết lũ qua tràn Nậm Bú có kết hợp tháo lũ với cống xả sâu
Hình 4-20: Điều tiết lũ qua tràn Nậm Bú có kết hợp tháo lũ với cống xả sâu
Trang 8Bảng 2-1 Một số sơ đồ và công thức tính toán lưu lượng qua tràn 28
Bảng 2-3 So sánh đập tràn zích zắc kiểu A với đập tràn Crigiơ, đập thành
Bảng 4-3 Quan hệ Q = f(Z) hạ lưu hồ chứa nước Ẳng Cang 81
Bảng 4-4 Đường quá trình lũ hồ chứa nước Tân Giang 82
Bảng 4-6 Đường quá trình lũ hồ chứa nước Nậm Bú 86
Bảng 4-7 Bảng quan hệ Z-F-V hồ chứa Nậm Bú
Trang 9MỞ ĐẦU
I- T ính cấp thiết của đề tài
Công trình tháo lũ một phần không thể thiếu được trong cụm công trình đầu mối, nhằm xả nước lũ thừa của hồ chứa, đảm bảo an toàn cho đập chắn Với vai trò
như vậy, công trình tháo lũ phải được chú ý đặc biệt trong thiết kế, thi công, quản lý và vận hành
Ở nước ta, đập tràn tháo lũ mặt (chảy tự do hoặc có cửa van điều tiết), thường được thiết kế theo dạng ngưỡng đỉnh rộng, hoặc ngưỡng thực dụng kiểu Crigiơ-Ofixerop Đối với các kiểu ngưỡng này, khi cao trình đặt ngưỡng và kích thước cửa tháo nước đã xác định, nếu muốn tăng năng lực tháo lũ thì cần phải tăng chiều cao cột nước trên ngưỡng tràn Điều này có nghĩa là tăng cột nước siêu cao, tức là tăng dung tích trữ lũ, dẫn đến phải nâng cao cao trình đỉnh đập, làm tăng diện tích ngập lụt của lòng hồ, vì thế công tác đền bù và tái định cư gặp nhiều khó khăn
Chúng ta biết, theo quan hệ giữa cao trình mực nước trong hồ và thể tích hồ chứa (V = f(Z)), ở phần trên cao của bụng hồ, cứ mỗi mét chiều cao cột nước thì thể tích nước trong hồ sẽ lớn hơn rất nhiều so với phần bụng hồ ở dưới thấp Như vậy, nếu chúng ta tìm được kiểu đập tràn mới có năng lực tháo nước lũ lớn hơn nhiều so với các kiểu truyền thống, thì ứng với việc giữ nguyên cao trình đỉnh đập không tràn (khi sử dụng đập tràn kiểu truyền thống), chúng ta có thể nâng cao trình mực nước dâng bình thường lên, và như vậy nâng cao được dung tích hữu ích Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có thể làm thay đổi các quan điểm cũ, cho phép chúng ta lựa chọn được phương án có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tốt hơn trong thiết kế Đối với các hồ chứa đã xây dựng, nếu áp dụng một kiểu đập tràn mới có năng lực tháo nước lũ lớn hơn nhiều so với các kiểu truyền thống, có thể cho phép cải tạo công trình tháo lũ để nâng cao dung tích hữu ích của hồ chứa
Đập tràn kiểu mới có ngưỡng zích zắc đã được áp dụng ở nhiều nước trên với tỷ
lệ 1/1000 đập lớn và làm giảm được dung tích siêu cao (Vsc) 100-109 m3 trên toàn thế
giới, đem lại hiệu quả tăng năng lực tháo nước lũ thừa của hồ chứa, nâng cao an toàn cho đập chắn, nâng cao dung tích hữu ích, giảm diện tích ngập lụt và đền bù Pháp, Angêri, Trung Quốc là những nước khởi đầu, đã và đang tiếp tục nghiên cứu để áp dụng loại đập tràn này Ở Việt Nam, tràn zích zắc đã được nghiên cứu và ứng dụng
Trang 10vào một số công trình như tràn sông Móng, đập dâng Văn Phong, tràn Nậm Bú, tràn Tiên Thành v.v…
Tiếp cận với thành tựu nghiên cứu về đập tràn zichzắc trên thế giới (labyrinth weir, hoặc key piano weir - gọi theo tiếng Anh) và trong nước, việc nghiên cứu ứng dụng những thành tựu này trong thiết kế những công trình tháo nước đã, đang và sẽ xây dựng là một vấn đề rất cần thiết Sự phát triển của công nghệ tin học, đặc biệt là sự
ra đời của nhiều ngôn ngữ lập trình bậc cao cùng với nhiều phần mềm tính toán mạnh giúp cho những kỹ sư có thêm nhiều công cụ, nhiều phương pháp giải quyết những bài toán trong thiết kế với độ chính xác cao Do vậy, việc nghiên cứu thiết lập một chương trình tính toán khả năng tháo và điều tiết lũ qua tràn zích zắc xuất phát từ bài toán điều tiết xác định quy mô công trình xả với hình thức tràn này là điều hết sức cần thiết Nội dung của luận văn thạc sỹ này nghiên cứu lập một chương trình tính toán khả năng tháo và điều tiết lũ qua tràn zích zắc với mục đích cung cấp thêm một công
cụ cho các kỹ sư thiết kế công trình thuỷ lợi và mong muốn hình thức tràn zích zắc này ngày càng được ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế
II- Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc sử dụng một ngôn ngữ lập trìnht lập chương trình tính toán thiết
kế tràn zích zắc cho một số hình thức tràn zích zắc thông dụng hiện nay- Trên cơ sở các số liệu đầu vào, chương trình sẽ cung cấp cho người thiết kế các kết quả tính toán
về xác định quy mô tràn trong các trường hợp làm việc có và không có kết hợp với các công trình tháo khác
III- Cách tiếp cận, phương pháp và đối tượng nghiên cứu
1- Cách tiếp cận
Nghiên cứu thông qua các tài liệu về tràn zích zắc ở trong nước và nước ngoài
Tìm hiểu qua một số các công trình tràn zích zắc đã và đang được áp dụng
2- Phương pháp nghiên cứu
Dùng các lý thuyết về tính toán năng lực tháo với công trình tháo nước là tràn zích zắc trên thế giới, kết hợp với các phương pháp tính toán điều tiết xác định quy mô tràn để
giải quyết vấn đề nghiên cứu đã đưa ra
3- Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng vào một số công trình tràn trong nước đã được xây dựng hoặc sẽ xây dựng trong tương lai
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI ĐẬP TRÀN TRÊN THẾ GIỚI
Đập và hồ chứa có những đóng góp rất lớn tới môi trường và sự phát triển kinh tế của khu vực Trong đó công trình xả lũ nơi đầu mối hồ chứa đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện dự án Hầu hết quy mô các công trình xả lũ được nghiên cứu lựa chọn sao cho thoả mãn các điều kiện:
- Xả lũ được thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất các ảnh hưởng xấu đến chế độ thủy lực của dòng chảy ở hạ lưu
- Nâng cao vừa đủ đầu nước trước đập để có thể dẫn nước vào kênh đảm bảo tưới
tự chảy cho phần lớn diện tích đất canh tác của khu tưới
- Diện tích ngập lụt ít nhất
- Thi công thuận lợi, quản lý vận hành dễ dàng
- Có khối lượng xây dựng và giá thành hợp lý
- Phù hợp với cảnh quan môi trường
Đập dâng tràn là biện pháp công trình để dâng cao mực nước trong sông suối phục vụ tưới tự chảy cho khu vực nhỏ lân cận mà vốn đầu tư không cao, xây dựng không phức tạp như biện pháp hồ đập
Hình 1-1: Các đại lượng đặc trưng của đập tràn
Với: b: Chiều rộng đập tràn: là chiều dài đoạn tràn nước
P1: Chiều cao của đập so với đáy kênh hoặc sông thượng lưu
P: Chiều cao của đập so với đáy hạ lưu
H: Cột nước tràn: là chiều cao mặt nước thượng lưu so với đỉnh đập
δ: Chiều dày đỉnh đập
hh: Chiều sâu cột nước hạ lưu
Trang 12hn: Độ ngập hạ lưu: là chiều sâu từ mặt nước hạ lưu đến đỉnh đập (khi nước
hạ lưu cao hơn đỉnh đập), hn = hh - P
Người ta phân loại các dạng công trình xả lũ theo các tiêu chí sau:
1) Phân loại theo hình dạng kích thước mặt cắt ngang tràn:
Theo cách phân loại này đập tràn có thể chia ra làm 3 loại sau đây:
a Đập tràn thành mỏng (hình 1-1)
Khi chiều dày của đỉnh đập δ < 0.67H, làn nước ngay sau khi tràn qua mép thượng lưu của đỉnh đập thì tách rời khỏi đỉnh đập, không chạm vào toàn bộ mặt đỉnh đập, do đó hình dạng và chiều dày của đập không ảnh hưởng đến làn nước tràn và lưu lượng tràn
c) Đập tràn thực dụng có cửa van điều tiết lưu lượng
Trang 133) Phân loại theo dạng tuyến đập trên mặt bằng:
a Ngưỡng tràn trên mặt bằng có dạng đường thẳng
- Đập tràn thẳng hoặc tràn chính diện (hình 1-5a)
4) Phân loại theo ảnh hưởng của mực nước hạ lưu đối với dòng chảy:
a Đập tràn không ngập, lúc đó Q và H đều không phụ thuộc vào hn
b Đập tràn chảy ngập: Khi mực nước hạ lưu cao hơn đỉnh đập đến mức độ ảnh
hưởng đến hình dạng làn nước tràn và năng lực tháo nước của đập
Trang 14Ngoài ra đập tràn cửa chữ nhật còn phải căn cứ vào quan hệ giữa chiều dài tràn nước của đập với chiều rộng lòng dẫn ở thượng lưu mà chia ra hai loại là: đập không
có co hẹp bên và đập có co hẹp bên
5) Phân loại theo hình thức kết cấu, vật liệu làm đập:
Đối với đập dâng tràn thường được phân loại theo các hình thức sau:
a Đập gỗ tràn nước: Theo kết cấu có các loại:
- Đập cọc gỗ (Hình 1-6a) : Dùng cọc gỗ kết hợp với vật liệu đất đá
- Đập tường chống: Bản chắn nước và các tường chống đều bằng gỗ
- Đập cũi gỗ (Hình 1-6b): Dùng cũi gỗ trong đó chứa đất, cát, đá để tạo thành đập Vật liệu gỗ tuy sẵn có nhưng loại đập này không nên khuyến khích phát triển nhất
là trong điều kiện diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp hiện nay
b Đập đá tràn nước: Sử dụng vật liệu đá kết hợp với một phần vật liệu khác như
đất, bê tông Do khối đá đổ thân đập có chuyển vị nên mặt tràn thường bị biến dạng sau mùa lũ cần phải tu sửa lại
- Đập trên nền đất (Hình 1-7a): có mặt tràn nước thoải
- Đập trên nền đá (Hình 1-7b): có mặt tràn dốc hơn, ở đỉnh và chân mái hạ lưu có khối bê tông giữ ổn định, mặt tràn được xây bằng tấm bê tông hoặc đá xây
1:3
11.25 2.5
12.25 3.5
Trang 15§¸ x©y
Hình 1-8: Đập dâng phân theo vật liệu làm đập
- Đập xen cốp: gồm bản mặt và các vách dọc ngang bằng đá xây phía trong chất đầy bằng vật liệu tại chỗ như: đất, cát, sỏi, đá
- Đập đá xếp bọc bê tông: phần lõi là khối đá xếp
e Đập cao su:
Thân đập là một túi cao su có thể bơm căng bằng nước hay không khí để tạo thành vật chắn nước.Thành túi được gắn chặt với bản đáy bằng BTCT tiếp giáp với nền Khi tháo lũ thì xả hết nước hay không khí để túi xẹp xuống bản đáy và nước chảy tràn tự do trên đó
Hình 1-9: Đập cao su 6) Phân loại theo phương thức giữ ổn định:
Theo cách thức giữ ổn định có các loại đập sau: Đập trọng lực, đập vòm, đập trụ chống
- Đập trọng lực giữ ổn định nhờ trọng lượng bản thân, đập có thể làm bằng bê tông, bê tông cốt thép, đá xây, đá đổ, đá bọc bê tông (hình 1-10)
- Đập vòm có thể bằng đá xây nhưng là đập rất thấp, phần lớn làm bằng bê tông, bê tông cốt thép (hình 1-11)
Các mặt cắt nằm ngang đập là những vòng vòm, chân tựa vào hai bờ do vậy yêu cầu về địa chất nơi xây dựng đập phải tốt thường là đá rắn chắc
Ngoài địa chất phải tốt thì địa hình cũng ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng xây dựng đập Lòng sông có mặt cắt chữ V là trường hợp địa hình lý tưởng nhất để xây dựng đập vòm
Trang 16- Đập trụ chống được tạo bởi các bản chắn nước nằm nghiêng và các trụ chống
để đỡ bản Đập có các hình thức sau: đập chắn nước và đập tràn nước
Hình 1-12: Các dạng đập trụ chống chắn nước a) Đập bản phẳng; b) Đập liên vòm; c) Đập to đầu
Hình 1-13: Các dạng mặt cắt đập trụ chống cho tràn nước 7) Theo hình thức điều tiết lưu lượng có cửa van hay không cửa van:
Ưu điểm của cửa van: Tháo cùng một lưu lượng thì loại không có cửa van cần một cột nước cao hơn Muốn giảm thấp MN trong hồ cần phải tăng chiều rộng đường tràn làm tăng khối lượng đập, giá thành công trình tăng lên; thêm nữa cửa van tạo khả năng tháo bùn cát hay vật nổi một cách dễ dàng
Tuy vậy, việc chế tạo, thi công và quản lý vận hành cửa van phức tạp Do vậy, cửa van thường chỉ áp dụng cho những công trình có mực nước, lưu lượng lớn và khu vực ngập ở thượng lưu lớn
Ở đập tràn thường sử dụng loại van trên mặt Đặc điểm của loại này là khi đóng đầu van nhô lên khỏi mặt nước
Trang 17hình thành dựa trên nguyên lý kéo dài ngưỡng tràn (chiều rộng tràn nước) để nâng cao đầu nước và tăng khả tháo nước khi cần Dựa trên nguyên lý này, người ta cải tạo
ngưỡng tràn truyền thống có phương vuông góc với phương dòng chảy thành một số hình thức khác như tràn ngưỡng xiên so với phương dòng chảy, tràn ngưỡng hình chữ
Z, tràn ngưỡng cong v.v…
Các hình thức công trình này ban đầu được ứng dụng rất hiệu quả vào một số công trình điều tiết trên kênh trong các hệ thống thuỷ nông nội đồng phục vụ cho việc dâng cao đầu nước tưới nhưng vẫn đảm bảo tháo lưu lượng thừa khi cần thiết
Hình 1- 15: Tràn mỏ vịt với nhiều răng tràn
trên sông
Hình 1-16: Tràn mỏ vịt kết hợp cống điều tiết và phân chia nước trên kênh
Trang 18Qua một thời gian ứng dụng hình thức đập tràn mới này, người ta đã cải tiến và phát triển thêm các hình thức tràn zích zắc khác áp dụng cho cả những công trình tháo lũ trong đầu mối hệ thống thuỷ lợi nhằm làm giảm giá thành đầu tư xây dựng công trình, giảm kinh phí vận hành quản lý và bảo dưỡng nhưng vẫn đảm bảo những mục tiêu mà
Ngưỡng tràn gồm những tường bê tông cốt thép thẳng đứng, tương đối mỏng, giống đập tràn thành mỏng đặt trên sàn phẳng và bố trí dạng răng cưa hình thang hay tam giác nên cho lưu lượng xả tràn lớn gấp đôi so với ngưỡng tràn thông thường kiểu Creager
Loại đập này có nhiều biến thái khác nhau, nhìn chung đều nhằm mục đích kéo dài ngưỡng tràn giống như hình 1-18
Trang 19- Loại hình thang (hình 1-6a): Hầu hết tràn labyrinth có hình dạng mặt bằng kiểu hình thang, thậm chí có tác giả còn định nghĩa “tràn labyrinth là tràn tự do có hình dạng mặt bằng là một số hình thang xếp liền kề” Kiểu hình thang khắc phục được nhược điểm của kiểu tam giác, tại vị trí góc hình tam giác thì được cắt đi (cắt tại vị trí nào xem phần sau), mục đích là cắt bỏ phần mà khả năng thoát không hiệu quả, đồng thời còn làm giảm chiều rộng đế móng
- Kiểu chữ nhật hay phím đàn piano (Hình 1-6c)
- Kiểu mỏ vịt (Hình 1-6d)
- Kiểu tràn xiên (Hình 1-6e)
- Kiểu tràn bên (Hình 1-6f)
3 Ứng dụng tràn labyrinth trên thế giới và ở Việt Nam:
Tràn labyrinth được xây dựng trên khắp thế giới, nước ứng dụng loại tràn này nhiều nhất là Mỹ và Bồ Đào Nha Tràn có lưu lượng thoát lớn nhất hiện nay là tràn Ute thuộc Mỹ Bảng 1-2 thống kê một số đập tràn labyrinth đã được xây dựng trên thế giới
Trang 20Bảng 1-1 Thông số cơ bản một số đập tràn labyrinth đã xây dựng trên thế giới
xd
Q m3/s
Agua
Brance Poutugal 124 1.65 3.5 12.5 28.0 2 Quintel et alAlfaiates Poutugal 1999 99 1.6 2.5 13.2 37.5 1 Quintel et alAlijo Poutugal 1991 52 1.23 2.5 8.7 21.05 1 MagallaesArcosso Poutugal 2001 85 1.25 2.5 13.3 16.68 1 Quintel et alAvon Australia 1970 1420 2.16 3.0 13.5 26.5 10 Darvis
Bartletts
Ferry USA 1983 5920 2.19 3.43 18.3 70.3 20 Mayer
Belia Zaire 400 2.00 3/2 18.0 31.0 2 MagallaesBeni
Bahdel Algeria 1944 1000 0.5 4 62.5 20 Afshar
Boardman USA 1978 387 1.77 2.76 18.3 53.5 2 Babb
Calde Poutugal 2001 21 0.6 2.5 7.4 28.19 1 Quintel et alCarty USA 1977 387 1.8 2.8/4.3 18.3 54.6 2 Afshar
Forestport USA 1988 76 1.02 2.94 6.10 21.9 2 Lux ( 1989 ) Garland
Canal USA 1982 25.5 0.37 1.40 4.57 19.6 3
Lux/Hinchlif
Genma Poutugal 115 1.12 3.0 12.5 30.0 2 Quintel et alHartezza Algeria 1983 350 1.9 3.5 9.7 28.6 3 Lux ( 1989 ) Hyrum USA 256 1.68 3.66 9.1 45.7 2 Lux ( 1989 )
Influente Mozamb
ique 1985 60 1.00 1.60 4.15 24.76 3 Magalhaes
Keddera Algeria 1985 250 2.46 3.5 8.9 26.3 2 Lux ( 1989 ) Kizileapinr Turkey 2270 4.6 4.0 75.4 263.9 5 Yildiz
Meteer USA 1972 239 1.83 4.57 5.49 17.6 4 CH2M HillNavet Trinidad 1974 481 1.68 3.05 5.49 12.8 10 Phelps
Trang 21Ohau Canal New
Zealand 1980 540 1.08 2.50 6.25 37.5 12 WalshPacoti Brazil 1980 3400 2.72 4.0 8.0 41.52 15 MagalhaesPisao Poutugal 50 1.0 3.5 8.0 200.0 1 Quintel et alQuincy USA 1973 26.5 2.13 3.96 13.6 26.5 4 MagalhaesRistschard USA 1555 2.74 3.05 83.8 411 9 VermeyenRollins USA 1841 2.74 3.35 472 9 Tullis
Saco Brazil 1986 640 1.5 45 248.5 Quin et alSDomings Poutugal 1993 160 1.84 3.0 7.5 22.53 2 MagalhaesSamRaybur
USCOLD ulletinSanta Justa Poutugal 285 1.35 3.00 10.5 67.4 2 Lux
Sarioglan Turkey 490.7 1.06 3.0 70 358.4 7 Yildiz
Sarno Algeria 1952 360 1.5 6.0 27.9 8 Afshar
Teja Poutugal 1995 61 1.05 2.0 12.0 36.0 1 Quintel et al
0 5.79 9.14 18.3 73.7 14 Lux Woronora Australia 1941 1020 1.36 2.13 13.41 31.23 11 Afshar
Flamingo USA 1990 1591 2.23 7.32 95.1 67.4 4 LasVegas,nv Tongue
Twin Lake USA 1989 570 2.74 3.35 8.31 34.05 4 Buffalo,
WY
Ở Việt Nam, đập tràn labyrinth bước đầu đang được nghiên cứu và áp dụng ở một số công trình như: Tràn xả lũ Sông Móng - Bình Thuận (hình 1-10), tràn xả lũ Phước Hòa -Bình Phước (hình 1-11 tràn xả lũ Tuyền Lâm, Lâm Đồng)… Một số thông
số cơ bản của tràn như sau:
Trang 22- Hình dạng ngưỡng tràn: Cần có chiều cao ngưỡng tràn đảm bảo sao cho H/P<0,9, do vậy thay thế tràn cũ có chiều cao ngưỡng, như là: tràn thực dụng, hình thang hoặc thành mỏng là thích hợp nhất
- Bộ phận thân dốc: Cần phải tạo ra sao cho phía sau ngưỡng tràn là dòng xiết
Trang 23- Bộ phận tiêu năng sau tràn: đơn giản và có thể tăng tỷ lưu lên hoặc mở rộng đuôi tràn
- Địa hình: Đối với tràn labyrinth, khẩu diện tràn nếu bằng khẩu diện tràn cũ khả năng tháo có thể lớn hơn từ 2 đến 5 lần tràn thẳng, do vậy không cần phải mở rộng mà vẫn có khả năng tháo với lưu lượng lớn hơn Như vậy thích hợp loại tràn khó mở rộng, địa hình sườn dốc đứng chẳng hạn
- Địa chất: Do cần phải có chiều cao ngưỡng tràn đảm bảo sao cho H/P<0,9, do vậy nếu cần phải đào sâu ngưỡng tràn thì địa chất nền có thể đào sâu được Đặc biệt bộ phận tiêu năng, do đảm nhận tiêu năng với tỷ lưu lớn hơn trước (trường hợp không mở rộng bộ phận sau tràn) thì nền phía sau tốt nhất là nền đá cứng chắc hoặc tiêu năng
bằng mũi phun
Tràn labyrinth đạt hiệu quả cao hơn các loại tràn có ngưỡng thẳng khi các yếu tố như: hình dạng tràn, địa hình, địa chất thuận lợi cho việc áp dụng như phân tích ở trên, khả năng điều tiết của hồ kém hoặc coi như bằng không, bộ phận tiêu năng đơn giản, hoặc không cần thiết (nền đá gốc chẳng hạn) Với khả năng tháo ưu thế, tràn labyrinth đã làm giảm đáng kể chiều cao cột nước tràn, giảm thời gian ngập do lũ và giảm diện tích ngập Nhược điểm của kiểu ngưỡng này là muốn tăng lưu lượng thì phải tăng chiều cao
tường và cần diện tích rộng trên sàn phẳng, do đó khó bố trí trên đỉnh đập trọng lực
1.2.2 Ngưỡng tràn zích zắc kiểu phím Piano: (Piano Keys Weir)
a)Toàn cảnh thượng lưu công trình b) Hạ lưu tràn xả lũ
Hình 1-22: Đập tràn phím Piano Maguga ở Xoa zi lân
Trang 24Hình 1-23: Đập tràn phím Piano Liege ở Bỉ
Hình 1-24: Đập tràn phím Piano Goulou ở Pháp
Hình 1-25: Mô hình đập tràn phím Piano Văn Phong ở Việt Nam
Năm 1999, nhóm của giáo sư F Lempérière (thuộc tổ chức Hydrocoop Cộng hoà Pháp ) đã tiến hành các nghiên cứu và tìm ra kiểu đập tràn mới này với kiểu thiết
kế đầu tiên đã được thử nghiệm vào ở phòng thí nghiệm L.N.H.E của Điện lực Pháp và vào năm 2002 ở trường đại học Roorke của Ấn Độ cùng với trường đại học Biskra của Algeria
Trang 25a) Mô hình nghiên cứu tràn phím đàn Piano
kiểu A b) Mô hình nghiên cứu tràn phím đàn
Piano kiểu B
Hình 1-26: Hai mô hình nghiên cứu đập tràn phím Piano của giáo sư F Lempérière
Từ năm 2000, nhiều nghiên cứu và thí nghiệm mô hình về tràn theo kiểu labyrinth có thể bố trí được trên đập trọng lực thông thường đã được thực hiện ở Pháp, Algeri, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Thụy Sỹ Một số kiểu đã được cố gắng tối
ưu về phương diện thủy lực cũng về phương diện kết cấu và thi công Hơn 100 kiểu dạng tràn đã được nghiên cứu và thí nghiệm, nhiều giải pháp có tính khả thi song các kiểu thuận lợi nhất đã được xây dựng trên hai nguyên lý sau:
- Các tường có dạng chữ nhật trên mặt bằng, tương tự như các phím đàn piano; cũng vì vậy kiểu tràn này được đặt tên là tràn phím đàn piano, gọi tắt là tràn phím đàn,
từ tiếng Anh là Piano Keys Weirs, viết tắt là P.K Weirs
- Các tường theo phương thẳng góc với dòng chảy đều được bố trí theo mặt dốc (nghiêng) Bố trí này tạo nên thuận lợi về phương diện thủy lực, nhất là trong trường hợp lưu lượng xả lớn, đồng thời lại giảm được chiều rộng đáy của kết cấu, và do vậy,
có thể bố trí tràn phím đàn trên các đập tràn ngưỡng đỉnh rộng hay đập bêtông trọng lực thông thường
Về điều kiện thi công, tràn phím đàn có thể được xây dựng bằng bê tông cốt thép đúc sẵn hoặc đổ tại chỗ Trong trường hợp tường thấp, có thể chọn chiều dầy tường từ yêu cầu sử dụng cốt thép Trường hợp H < 2 m, có thể sử dụng tường thép có các đai tăng cứng Chi phí xây dựng theo một mét chiều rộng tràn thường tỉ lệ với H
Trang 26Không nên bố trí kết cấu gia cường hay các thanh giằng tại các tường ở ô vào và
ô ra vì chúng có thể làm các vật nổi mắc lại
Có thể đưa khí vào bên dưới phần
console hạ lưu để tránh bị rung động
bằng các ống dẫn khí giản đơn
Do xảy ra cuốn khí mạnh nên dòng
chảy ra khỏi tràn phím đàn được tiêu
năng nhiều hơn và xói ở hạ lưu giảm
đáng kể, nhất là với các lưu lượng xả từ
trung bình trở xuống Hình 1-27: Thi công tràn phím đàn- ống dẫn
khí đặt dưới console hạ lưu
Bằng các phương pháp nghiên cứu từ lí luận đến thực tiễn như: phương pháp thí nghiệm mô hình, phương pháp giải tích, phương pháp phân tích thống kê, nước ta cũng đã xây dựng được các tiêu chuẩn, quy phạm trên các khâu thiết kế, thi công và quản lý vận hành đập Những tiêu chuẩn ngày một hoàn thiện minh chứng cho sự phát
triển của nền khoa học - kỹ thuật của nước ta
Một số vấn đề mới hiện nay đang được quan tâm như: Việc ứng dụng vật liệu
bê tông đầm lăn, vật liệu cao su, vật liệu composit… bên cạnh vật liệu đất đá và bê tông truyền thống; ngoài hình thức tràn đỉnh rộng, Ofixerov, hiện nay còn nghiên cứu
và áp dụng vào thiết kế thực tế nhiều hình thức khác như: WES, đặc biệt là hình thức tràn zichzắc, kiểu phím đàn piano và mỏ vịt… Một số nước trong đó có nước ta đã xây dựng được cơ sở lí luận, tiêu chuẩn tính toán thiết kế, nâng cấp và sửa chữa đập dâng
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN NĂNG LỰC THÁO
- Chiều rộng sông thượng lưu B
- Cột nước toàn phần trên đỉnh tràn Ho
- Chiều sâu ở hạ lưu hh
m: Hệ số lưu lượng phụ thuộc đặc tính, cấu tạo từng loại đập
ε: Hệ số co hẹp bên, phụ thuộc mức độ co hẹp h/B và hình dạng cửa vào trên mặt bằng
σn: Hệ số ngập (σn<1), phụ thuộc chủ yếu vào mức độ ngập, tức quan hệ giữa
hn và H
Các trị số m, ε, σn sẽ được xét riêng cho từng loại đập cụ thể
Một số công thức tính lưu lượng của dòng chảy qua một số loại mặt cắt đập thường gặp thể hiện ở bảng 2-1
Trang 28Bảng 2-1: Một số sơ đồ và công thức tính toán lưu lượng qua tràn
lượng
Hệ số lưu lượng thiết kế
Trang 297 0 1 0 1
1 = ÷
h d
mo=0.2÷0.45 (ε ≈ 0.9)
2.1.2 N gưỡng tràn Creager – Ofixerov:
Mặt cắt Creager - Ofixerov được các nhà khoa học Braxin nghiên cứu và công bố năm 1929 và được các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu và công bố năm 1945
Nguyên tắc thiết kế mặt cắt đập không có chân không là làm cho mặt cắt đập ăn khớp với mặt dưới của làn nước chảy qua đập tràn thành mỏng tiêu chuẩn, ứng với một cột nước Htk cho trước, gọi là cột nước thiết kế
Creager nghiên cứu đường cong nước rơi tự do từ đập tràn thành mỏng, vẽ quỹ đạo của hạt nước từ vị trí 2/3H, từ quỹ đạo đó lấy xuống một đoạn bằng 1/3 chiều dày
Trang 30làn nước thì được mặt dưới của làn nước tràn tự do và cho mặt đập hơi ăn lấn vào làn nước tràn tự do
Sau này, Ofixerov nghiên cứu và sửa chữa mặt cắt Creager, cải biến điều kiện thủy lực đưa ra mặt cắt gọi là kiểu mặt cắt Creager - Ofixerov (hình 1-16) và đưa ra bảng tra tọa độ của tràn ứng với cột nước Htk
A
B
E R
y
x
O' O
E' F A'
E
R y
x
O' O
E' B'
y' C'
Hình 2-1: Một số dạng mặt cắt đập tràn
* Khả năng tháo của tràn có ngưỡng thực dụng Ophixerop:
Lưu lượng chảy qua đập tràn có ngưỡng thực dụng tính theo biểu thức:
Ho: Cột nước trên đỉnh đập có kể đến lưu tốc đến gần
Muốn tính được Q theo (1-2) cần xác định được các hệ số m, σn, ε Các hệ số này được xác định bằng công thức thực nghiệm hoặc tra bảng
Nếu trên đỉnh đập có cửa van, khi cửa mở với độ mở a nào đó, lưu lượng tháo qua đập được tính theo biểu thức:
Q = εmBa 2g(Ho −αa) (2-3)
Trong đó:
Trang 31Khi cửa van mở hoàn toàn công thức tính lưu lượng trở về dạng (1-2)
* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tháo của tràn thực dụng:
1 Hệ số ngập σn :
Khi hạ lưu có nước nhảy xa thì hạ lưu luôn luôn không ngập σn=1 Nếu hạ lưu có nước nhảy ngập thì nước chảy qua đập tràn có thể ngập hoặc không ngập, khi đó σnphụ thuộc vào
o
n
H
h(với hn là chiều sâu nước ngập - khoảng cách từ mực nước hạ lưu đến đỉnh đập tràn, nếu mực nước hạ lưu thấp hơn đỉnh đập thì hn có trị số âm)
Rozannov đã thí nghiệm và xây dựng nên đường cong để xác định σn của đập tràn mặt cắt thực dụng
yζ
)1n(2
,0
Trang 32Trường hợp 1
b
H0 > thì hệ số ε được xác định theo các biểu thức thực nghiệm
(1-5), (1-6) trên nhưng thay 1
2.2 NGƯỠNG TRÀN ZÍCH ZẮC
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo và kích thước của tràn zích zắc:
Ngưỡng tràn gồm những tường bê tông cốt thép thẳng đứng, tương đối mỏng, được đặt trên sàn phẳng theo dạng răng cưa hình thang (hình.1-5) Tỷ số N=L/W thường bằng 4 (L là chiều dài ngưỡng theo tuyến răng cưa và W là bề rộng khoang
tràn) cho lưu lượng xả tràn lớn gấp đôi so với ngưỡng tràn thông thường kiểu Creager
Nhược điểm của kiểu ngưỡng tràn này là muốn tăng lưu lượng tràn thì phải tăng chiều cao tường và cần diện tích rộng cho sàn phẳng, khó bố trí trên đỉnh đập trọng lực Loại đập này có nhiều hình thái khác nhau, song nhìn chung đều giống nhau ở mục tiêu là nhằm kéo dài ngưỡng tràn
Trang 33Hình 2-2: Cấu tạo tràn labyrinth kiểu ngưỡng răng cưa
B : Chiều dài 1 cánh tường bên
D : Chiều dài tràn labyrinth, theo hướng dòng chảy về hạ lưu
n : Số răng tràn (trong hình 2-2 là 2)
Wc : Khẩu độ tràn
W : Chiều rộng chân 1 răng tràn
2a : Bề rộng đỉnh răng tràn
α: Góc hbởi tường nghiêng và phương dòng chảy ợp
t : Chiều dày tường tràn (hình 2-2)
R : Bán kính đỉnh tràn (hình 2-2)
P : Chiều cao tràn (hình 2-2)
Ho : Tổng chiều cao cột nước bao gồm cả cột nước tới gần
* Các kích thước của đập labyrinth được xác định như sau:
Chiều rộng mỗi răng tràn :
a.4Warctan −
Trang 34)a.2.(
2L
Chiều dài đập theo hướng dòng chảy:
2 2
2
2a W B
Cột nước trên đỉnh (cột nước tràn):
g.2
V.HH
2
o
α+
- Loại có ngưỡng dạng ¼ đường tròn
- Loại có ngưỡng ½ đường tròn
- Loại có ngưỡng dạng đặc biệt
Hiện nay đang được sử dụng nhiều nhất là loại tràn có ngưỡng ¼ đường tròn Các công thức tính toán sau này cũng chủ yếu nghiên cứu từ dạng này
2.2.2 Các kết quả nghiên cứu về năng lực tháo của ngưỡng tràn zích zắc
- Dòng chảy qua đập tràn labyrinth có những đặc điểm khác biệt so với dòng chảy qua đập tràn đỉnh thẳng Với tràn đỉnh thẳng, tất cả các đường dòng vuông góc với với đỉnh tràn và là dòng chảy 2 chiều Với tràn labyrinth được đặt không vuông góc với dòng chảy, các đường dòng là dòng 3 chiều Phía dưới lớp nước dòng chảy vuông góc với ngưỡng, tại mặt thoáng các đường dòng hướng theo chiều chảy hạ lưu
- Dòng chảy qua đập tràn labyrinth càng phức tạp hơn với hiện tượng giao thoa của các tia nước từ các đỉnh nhọn của tràn Hiện tượng này là do các tia nước của 2
Trang 35tường bên kề nhau sẽ tương tác với nhau và làm giảm lưu lượng tràn (sau này sẽ được phản ánh trong hệ số lưu lượng) Cấp độ ảnh hưởng càng tăng nếu chiều cao cột nước trên đỉnh tràn tăng, khi tăng đến 1 giá trị nhất định dòng chảy qua tràn labyrinth cũng chỉ tương đương với các loại tràn thẳng khác
Từ các kết quả nghiên cứu xác định lưu lượng từ mô hình vật lý của ông
- Công thức tính lưu lượng qua tràn: Tullis và nnk (1995) đưa ra công thức tính lưu lượng dựa vào tổng cột nước thượng lưu:
2 / 3 2 3
2 L g H C
(2− 7)
- Xây dựng các đường cong mẫu xác định lưu lượng từ mô hình
Xuất phát từ đường họ đường cong mẫu (hình 2-4), Tullis cho ra được phương trình tính hệ số lưu lượng (Cd)
4 0 5
3 0 4
2 0 3 0 2
=
P
H A P
H A P
H A P
H A A
C d
(2− 8) Trong đó các số hạng A1, A2, A3, A4, A5 được đưa ra trong Bảng 2-2
Hình 2-4 : Đường cong hệ số lưu lượng với hình dạng đỉnh ngưỡng 3/4 đường
tròn, mặt bằng ngưỡng tam giác
Tràn thẳng α=350
Trang 36Bảng 2-2: Hệ số của đường cong mẫu
số Ho/P ≤ 0,7
Với độ ngập lớn thì dùng Ct = 0,76
- Một số nguyên tắc thiết kế lựa chọn các thông số kết cấu:
+ Tỷ số cột nước thượng lưu 0 , 9
Do hệ số lưu lượng giảm khi cột nước thượng lưu tăng nên tràn zích zắc được ứng dụng hợp lý nhất khi cột nước tràn thấp
+ Tỷ số theo phương đứng: Theo Lux (1989) 2 2,5
a4W( −
- Chảy ngập: Nếu mực nước tràn ở khoảng giữa đập vượt quá cao độ đỉnh tràn thì
sẽ bị ngập Chảy ngập sẽ làm giảm lưu lượng dòng chảy qua đập Độ ngập (hd) được định nghĩa là chênh lệch của mực nước hạ lưu ngay sau đập với đỉnh đập Với đập tràn đỉnh nhọn, lưu lượng chảy ngập Qs cho bởi công thức Villemonte (1947);
Trang 375 6 7 8 9
W/P=3.5 L/W=6
0.000
385 , 0 2 / 3
u d
385 , 0 2 / 3
u
d s
h
PP
h1Qh
h1QQ
Qs : Lưu lượng khi chảy ngập
Q : lưu lượng trong trường hợp không kể ảnh hưởng ngập
hu : Cột nước thượng lưu trên đỉnh đập
hd : Cột nước hạ lưu trên đỉnh đập
sẽ bị giảm Hình 2-5 biểu thị ảnh hưởng của chảy ngập đến lưu lượng Tuy nhiên khi
hd/P xấp xỉ h/P công thức (2-9) khác với kết quả quan sát Sự khác biệt này cần có những nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của ngập đối với tràn labyrinth
Hình 2-5: Ảnh hưởng chảy ngập đến lưu lượng
* Nhận xét:
Ta thấy khả năng thoát của tràn labyrinth có thể gấp từ 2 đến 5 lần các tràn có ngưỡng thẳng do vậy có thể tăng mức độ an toàn hồ chứa hoặc nâng cao khả năng tích nước của hồ Tuy vậy các điều kiện ràng buộc về các yếu tố thuỷ lực cũng rất khắt khe, như là cột nước tràn thấp, dòng chảy sau tràn là dòng xiết, khả năng điều tiết hồ chứa
Trang 38v.v… đến các yếu tố về mặt cấu tạo tràn như là giới hạn về tỷ số giữa chiều cao tràn với cột nước trên tràn, giới hạn góc tường bên, chiều dài vùng xáo trộn v.v… là hết sức phức tạp
2.2.3 Điều kiện ứng dụng :
- Hình dạng ngưỡng tràn: Cần có chiều cao ngưỡng tràn đảm bảo sao cho H/P<0,9, do vậy thay thế tràn cũ có chiều cao ngưỡng, như là: tràn thực dụng, hình thang hoặc thành mỏng là thích hợp nhất
- Bộ phận thân dốc: Cần phải tạo ra sao cho phía sau ngưỡng tràn là dòng xiết
- Bộ phận tiêu năng sau tràn: đơn giản và có thể tăng tỷ lưu lên hoặc mở rộng đuôi tràn
- Địa hình: Đối với tràn labyrinth, khẩu diện tràn nếu bằng khẩu diện tràn cũ khả năng tháo có thể lớn hơn từ 2 đến 5 lần tràn thẳng, do vậy không cần phải mở rộng mà vẫn có khả năng tháo với lưu lượng lớn hơn Như vậy thích hợp loại tràn khó mở rộng, địa hình sườn dốc đứng chẳng hạn
- Địa chất: Do cần phải có chiều cao ngưỡng tràn đảm bảo sao cho H/P<0,9, do vậy nếu cần phải đào sâu ngưỡng tràn thì địa chất nền có thể đào sâu được Đặc biệt bộ phận tiêu năng, do đảm nhận tiêu năng với tỷ lưu lớn hơn trước (trường hợp không mở rộng bộ phận sau tràn) thì nền phía sau tốt nhất là nền đá cứng chắc hoặc tiêu năng bằng mũi phun
Tràn labyrinth đạt hiệu quả cao hơn các loại tràn có ngưỡng thẳng khi các yếu tố như: hình dạng tràn, địa hình, địa chất thuận lợi cho việc áp dụng như phân tích ở trên, khả năng điều tiết của hồ kém hoặc coi như bằng không, bộ phận tiêu năng đơn giản, hoặc không cần thiết (nền đá gốc chẳng hạn) Với khả năng tháo ưu thế, tràn labyrinth
đã làm giảm đáng kể chiều cao cột nước tràn, giảm thời gian ngập do lũ và giảm diện tích ngập Nhược điểm của kiểu ngưỡng này là muốn tăng lưu lượng thì phải tăng chiều cao tường và cần diện tích rộng trên sàn phẳng, do đó khó bố trí trên đỉnh đập
trọng lực
WEIR):
2.3.1 Mặt cắt điển hình và khả năng tháo của tràn phím đàn:
Nhóm của F Lempérière đã nghiên cứu 2 dạng tràn phím đàn:
Trang 39- Loại A (PKA): máng tràn (thường đối xứng) ở cả 2 phía thượng và hạ lưu (Hình
+ Tỷ số giữa chiều dài phím đàn trên /dài tràn N=6
+ Phần công xôn thượng và hạ lưu có cùng độ dốc 2/1 (H/V) Chiều rộng của phím vào (Inlet) bằng 1.2 lần chiều rộng phím ra (outlet)
+ Chiều rộng đáy phím đàn “b” bằng 1/2 chiều rộng đỉnh “a” Chiều cao lớn nhất của tường “H” bằng a/4
Bẳng các thí nghiệm thuỷ lực, F Lempérière và nhóm cộng sự đã xây dựng được một bảng kết quả so sánh về khả năng tháo (biểu thị qua lưu lượng đơn vị và cột nước trên tràn) giữa đập tràn phím đàn Pianô, đập tràn Crigiơ và đập tràn thành mỏng Những kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2-3
Trang 40Bảng 2-3 So sánh đập tràn zích zắc kiểu A với đập tràn Crigiơ, đập thành mỏng với cùng bề rộng tràn nước
2.Lưu lượng đơn vị đập tràn
zích zắc theo phương vuông
3.Lưu lượng đơn vị đập tràn
zích zắc theo bề rộng tràn
4.Lưu lượng đơn vị của đập
tràn Crigiơ theo Bthẳng của
5.Lưu lượng đơn vị của tràn
thành mỏng theo Bthẳng của
6.Độ chênh lưu lượng đơn vị
của tràn zích zắc theo phương
vuông góc với dòng chảy và
8.Độ chênh lưu lượng đơn vị
của tràn zích zắc theo phương
vuông góc với dòng chảy và