Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: NSLĐ là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian, tăng NSLĐ không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩ
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Lê Thành Đạt
Trang 2Tác giả xin chân thành cám ơn PGS TSKH Nguyễn Trung Dũng, người trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Thuỷ lợi
đã giảng dạy và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học và luận văn
Đồng thời, xin dành sự biết ơn tới gia đình, Bố, Mẹ và đồng nghiệp trong cơ quan vì những chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Vì thời gian thực hiện Luận văn có hạn nên không thể tránh được những sai sót, Tôi xin trân trọng và mong được tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 3
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Khái niệm và phân loại năng suất lao động 11
1.1.1Khái niệm về năng suất lao động 11
1.1.2Phân loại năng suất lao động 12
1.2 Chỉ tiêu tính về năng suất lao động 15
1.2.1Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật 15
1.2.2Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị 17
1.2.3Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng thời gian lao động 19
1.3 Năng suất lao động và một số vấn đề liên quan 20
1.3.1Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kinh tế 20
1.3.2Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh 20
1.3.3Mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động với tăng trưởng kinh tế và việc làm
22
1.3.4Mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động và tăng tiền lương 22
1.4 Những nhân tố tác động tới năng suất lao động 24
1.4.1Các yếu tố liên quan tới cơ chế và chính sách 24
1.4.2 Các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển và sử dụng tư liệu sản xuất 26
1.4.3Các yếu tố gắn với bản thân người lao động 26
1.4.4Các yếu tố gắn với tổ chức lao động 28
1.4.5Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên 31
1.5 Tình hình về năng suất lao động ở Việt Nam và trong ngành thủy lợi 32
1.5.1Năng suất lao động ở Việt Nam so với các nước trong khu vực 32
Trang 4iv
1.5.2Năng suất lao động trong ngành nông nghiệp 36
1.5.3Năng suất lao động trong ngành thủy lợi 38
1.6 Tổng quan các đề tài có liên quan 39
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY TNHH MTV THỦY LỢI TÂY NAM NGHỆ AN 41
2.1 Giới thiệu về khu vực quản lý của Công ty thủy lợi Tây Nam Nghệ An 41
2.1.1Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2Điều kiện kinh tế xã hội 43
2.2 Giới thiệu khái quát về công ty 48
2.2.1Quá trình thành lập 48
2.2.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ 49
2.3Tổng quan kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây 51 2.3.1Công tác quản lý công trình 52
2.3.2Công tác quản lý kinh tế và vốn nhà nước giao 54
2.4 Phân tích thực trạng và nguyên nhân về năng suất lao động của công ty và các cụm trạm 58
2.4.1Tính toán và phân tích năng suất lao động của toàn công ty 58
2.4.2Tính toán và phân tích năng suất lao động của các Xí nghiệp 58
2.4.3Đánh giá và phân tích về NSLĐ của Công ty 65
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY TNHH MTV THỦY LỢI TÂY NAM NGHỆ AN 66
3.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An trong những năm tới 66
3.2 Những cơ hội và thách thức cho việc tăng năng suất lao động ở công ty 68
3.2.1Những thách thức 68
3.2.2Những khó khăn 70
3.3 Giải pháp nâng cao năng suất lao động của công ty 71
3.3.1Giải pháp về công tác quản lý tài chính, kỹ thuật của hệ thống 71
3.3.2Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức thủy nông cơ sở 74
Trang 5v
3.3.3Cơ chế chính sách và quy chế hoạt động cho các tổ chức thủy nông cơ
sở 763.3.4 Đề xuất tính định biên cho công ty thủy nôngError! Bookmark not
defined.
Kết luận chương 3 80TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á THPT DTNT
Địa phương
Trang 8
vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Đồ thị 1 2: Giá trị gia tăng/lao động nông nghiệp của một số nước trong khu vực
(USD/người/năm) 37
Hình 2 1: Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An 41
Hình 2 2 Cổng vào Công ty TNHH một thành viên thủy lợi Tây Nam Nghệ An 49
Hình 2 3 Văn phòng Công ty TNHH một thành viên thủy lợi Tây Nam Nghệ An 49
Đồ thị 2 1: Diện tích tưới qua các mùa vụ từ năm 2005-2017 56
Đồ thị 2 2: Diện tích tưới tiêu 2 vụ lúa và 3 vụ lúa trong năm của Công ty giai đoạn 2005-2017 57
Đồ thị 2 3: Năng suất lao động 2 vụ lúa của Công ty thủy lợi Tây Nam giai đoạn 2005-2017 58
Đồ thị 2 4: Năng suất lao động 3 vụ lúa của Công ty thủy lợi Tây Nam giai đoạn 2005-2017 59
Đồ thị 2 5: Năng suất lao động và tiền lương 60
Đồ thị 2 6: Số nhân viên và năng suất lao động của Công ty thủy lợi Tây Nam từ năm 2005-2017 61
Đồ thị 2 7: Diện tích tưới và doanh thu của công ty từ năm 2005-2017 62
Đồ thị 2 8: Năng suất lao động doanh thu bình quân đầu người của công ty 63
Đồ thị 2 9: Năng suất lao động 2 vụ lúa và GDP 64
Đồ thị 2 10: Năng suất lao động 3 vụ lúa và GDP 64
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1: Tổng hợp trình độ chuyên môn cán bộ công ty 50Bảng 2 2 Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2017 52Bảng 2 3: Cơ cấu vốn chủ sở hữu năm của công ty TL Tây Nam, 2013-2017 54Bảng 2 4: Doanh thu của công ty thủy lợi Tây Nam Nghệ An từ năm 2015 đến năm
2017 và dự kiến năm 2018 55Bảng 2 5: Cơ cấu doanh thu của công ty Thủy lợi Tây Nam 56Bảng 2 6: Tổng quan về tình hình phát triển doanh thu, nhân lực và NSLĐ trong giai đoạn 2005-2017 của Công ty TL Tây Nam Nghệ An trong bối cảnh phát triển kinh tế của đất nước và tỉnh 53
Trang 108
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trước thách thức toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và mối quan hệ quốc tế Để nền kinh tế tại Việt Nam có thể phát triển và đứng vững trên thị trường quốc tế, một trong những vấn đề rất quan trọng mà nước ta cần đặc biệt chú ý quan tâm đó là tăng năng suất lao động Năng suất lao động đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Trải qua 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Nền kinh tế liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, từ một quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình và một nền kinh tế thị trường năng động Kinh tế vĩ mô
cơ bản duy trì ổn định; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm Tuy nhiên, trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém nội tại Tăng trưởng kinh tế tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng có xu hướng chậm lại; chất lượng tăng trưởng thấp, thiếu bền vững; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao Nguyên nhân là do mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của nước ta có một số bất cập, không còn khả năng duy trì tăng trưởng cao và bền vững Tăng trưởng chủ yếu nhờ vào tăng vốn đầu tư, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn thấp; năng suất lao động còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực.Thực tế cho thấy việc tăng trưởng theo chiều rộng đang bị thu hẹp dần, thậm chí có yếu tố đã tận khai, nhưng động lực của tăng trưởng theo chiều sâu (hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp) lại chưa cải thiện nhiều Chính vì thế, để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trung tâm là cải thiện năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai
Không tránh khỏi tình trạng của hiện trạng nước ta, ngành thủy lợi nói chung và công
ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An nói riêng cũng đang gặp nhiều vấn đề về
Trang 119
công tác tăng năng suất lao động Xuất phát từ thực tế đó, học viên tiến hành thực hiện
đề tài “Nghiên cứu giải pháp tăng năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An”
1 Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là đánh giá được thực trạng năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An, các ảnh hưởng đến năng suất lao động tại công ty Trên cơ sở đó nghiên cứu ra những giải pháp tương ứng, phù hợp với điều kiện thực tế của công ty nhằm tăng năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người lao động và các vấn đề liên quan tới công tác tăng năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về thời gian: Đề tài dự kiến nghiên cứu từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018
b Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam Nghệ An
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cách tiếp cận
Tìm hiểu các văn bản pháp luật liên quan đến năng suất lao động
Tìm hiểu về các chỉ tiêu, phân loại, đánh giá về năng suất lao động
Tình hình năng suất lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thủy lợi Tây Nam Nghệ An
Trang 1210
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các nghiên cứu thực hiện trước đây, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có cả trong và ngoài nước)
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra, nghiên cứu thực tế
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, dữ liệu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về tăng năng suất lao động, kết quả
đạt được có giá trị sử dụng trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu về công tác tăng suất lao động
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, khả
thi cho Công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Nam trong công tác tăng năng suất lao động nhằm hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
5 Kết quả dự kiến đạt được
- Kết quả nghiên cứu luận văn đạt được gồm:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về năng suất lao động
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Nam Nghệ An
- Đánh giá các ảnh hưởng đến năng suất lao động hiện tại từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục
- Nghiên cứu giải pháp để tăng năng suất lao động góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững tại công ty
Trang 1311
1.1 Khái niệm và phân loại năng suất lao động
1.1.1 Khái niệm về năng suất lao động
Theo Karl Marx thì NSLĐ là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích” NSLĐ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định
Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, là lượng lao động để tạo ra đầu ra đó NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Theo quan điểm tiếp cận mới về NSLĐ do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất châu Âu đưa ra: NSLĐ là một trạng thái tư duy Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài người
Như vậy, với quan niệm truyền thống, NSLĐ chỉ thuần túy thể hiện mối tương quan giữa “đầu vào” và “đầu ra” Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầu vào thì có thể nói NSLĐ cao hơn Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng Còn theo quan niệm mới thì NSLĐ đươc hiểu rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng thời với tăng chất lượng đầu ra Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản xuất một khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất lượng cao hơn Với quan niệm như vậy, năng suất có thể hiều là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà không tổn hại đến chất lượng NSLĐ không chỉ phụ thuộc vào số lượng
mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năng suất
và chất lượng được xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất lượng người ta phải hy sinh năng suất và ngược lại, để có năng suất cao phải hy sinh chất lượng
Trang 1412
Nhưng ngày nay, năng suất và chất lượng đã trở thành đồng hướng thống nhất với nhau NSLĐ cao phải tạo ra những sản phẩm và dịch cụ có các đặc tính kinh tế kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và những đỏi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất
Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: NSLĐ là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian, tăng NSLĐ không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ ra được mối quan hệ giữa năng suất - chất lượng - cuộc sống - việc làm và sự phát triền bền vững
1.1.2 Phân loại năng suất lao động
1.1.2.1 Căn cứ vào tính chất
Tổng năng suất
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả các yếu tố sản xuất Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà không đi sâu phân tích đóng góp của từng yếu tố riêng và được tính theo công thức sau:
= / ( + + + ) Trong đó:
là tổng năng suất
là tổng đầu ra
là nhân tố lao động
là nhân tố đầu vào
là nguyên liệu thô
là những hàng hóa và những dịch vụ khác
Năng suất bộ phận
Trang 1513
Chỉ tiêu này thường dùng để đánh giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng biệt
Năng suất bộ phận = đầu ra (gộp hoặc ròng)/(một nhân tố)
Có hai loại năng suất bộ phận quan trọng nhất là năng suất lao động và năng suất vốn
Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
Đây là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng tổng hợp các yếu tố đầu vào
về bản chất, TFP là năng suất đuợc tạo nên do tác động của các nhân tố vô hình (thay đổi cơ cấu sản xuất, đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng lao động, cải tiến quản lý
và cải tiến tổ chức ) thông qua sự biến đổi của các nhân tố hữu hình (đặc biệt là lao động và vốn) Đó là kết qủa sản xuất tạo ra thêm ngoài phần đóng góp của các yếu tố sản xuất được sử dụng
Theo quan điểm phát triển, TFP phản ánh hiệu suất đích thực của nền kinh tế Một nền kinh tế phát triển khi đạt được tổng mức đầu ra lớn hơn tổng mức đầu vào Song nếu mức lớn hơn đó chỉ dựa vào đơn thuần vào sự gia tăng của các yếu tố đầu vào thì nền kinh tế đó tuy phát triển song chưa có hiệu suất Do vậy, một nền kinh tế phát triển có hiệu suất khi tổng mức tăng của đầu ra lớn hơn rất nhiều so với tổng các phần tăng của các yếu tố đầu vào
1.1.2.2 Căn cứ vào phạm vi
Năng suất lao động cá nhân
Là sức sản xuất của cá nhân người lao động, được đo bằng tỷ số số lượng sản phẩm hoàn thành với thời gian lao động để hoàn thành số sản phẩm đó
Năng suất lao động cá nhân là thước đo tính hiệu quả lao động sống, thường được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động Năng suất lao động cá nhân có vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất Việc tăng hay giảm năng suất lao động cá nhân phần lớn quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, do đó hầu hết các doanh nghiệp đều chấp nhận trả công theo năng suất lao động cá nhân hay mức độ thực hiện của từng cá nhân từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống của người lao động
Trang 1614
Năng suất lao động cá nhân cùng năng suất lao động của một nhóm lao động trong doanh nghiệp là cơ sở quan trọng nhất, là chìa khoá cho năng suất lao động xã hội, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của mỗi nước
Có rất nhiều nhân tố tác động đến năng suất lao động cá nhân, tuy nhiên các nhân tố chủ yếu là các yếu tố gắn với bản thân người lao động: (kỹ năng, kỹ xảo, cường độ lao động, thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm…), dụng cụ lao động Sự thành thạo, sáng tạo trong sản xuất của người lao động và mức độ hiện đại của công cụ lao động
sẽ quyết định năng suất lao động cá nhân cao hay thấp
Ngoài ra các nhân tố gắn với quản lý con người và điều kiện lao động thì đều ảnh hưởng đến năng suất lao động cá nhân Vì thế muốn tăng năng suất lao động cá nhân thì phải quan tâm đến tất cả các yếu tố tác động đến nó
Năng suất lao động xã hội
Là mức năng suất của tất cả các nguồn lực của một doanh nghiệp hay toàn xã hội Năng suất lao động xã hội được đo bằng tỷ số giữa đầu ra của doanh nghiệp hoặc của
xã hội với số lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động xã hội có sự tiêu hao của lao động sống và lao động quá khứ Lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay trong quá trình sản xuất, lao động quá khứ là sản phẩm của lao động sống đã được vật hoá trong các giai đoạn sản xuất trước kia (biểu hiện ở máy móc, nguyên vật liệu)
Như vậy, khi nói đến hao phí lao động sống là nói đến năng suất lao động cá nhân, còn hao phí lao động sống và lao động vật hoá là năng suất lao động xã hội Qua đó ta thấy giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Năng suất lao động cá nhân là tiền đề cho năng suất lao động xã hội Tuy nhiên giữa năng suất lao động cá nhân và lao động xã hội không phải lúc nào cũng cùng chiều Nếu giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội tăng đều tăng, đây là mối quan hệ cùng chiều mong muốn vì năng suất lao động cá nhân
Trang 17hệ năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội cùng chiều thì quan hệ giữa lao động sống và lao động quá khứ phải thường xuyên có sự thay đổi Lao động sống giảm nhiều hơn lao động quá khứ tăng lên Muốn như vậy phải thường xuyên nâng cao trách nhiệm đối với doanh nghiệp đối với người lao động, cần phải có biện pháp khuyến khích và kỹ luật nghiêm ngặt, phải gắn lợi ích của người lao động với lợi ích của doanh nghiệp để người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn nữa và tuân thủ
kỷ luật trong lao động
1.2 Chỉ tiêu tính về năng suất lao động
1.2.1 Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật
Chỉ tiêu này dùng sản lượng bằng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu thị năng suất lao động của một công nhân
= ⁄ Trong đó:
: Mức NSLĐ của một công nhân
: Tổng sản lượng tính bằng hiện vật
: Tổng số công nhân
Sản lượng hiện vật tức là đo khối lượng hàng hoá bằng đơn vị vốn có của nó Ví dụ như quạt đo bằng chiếc; xi măng đo bằng tấn, kg, bao … tuỳ theo từng loại sản phẩm
Trang 1816
- Ưu điểm: Chỉ tiểu này biểu hiện mức năng suất lao động một cách cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của giá cả - có thể so sánh mức năng suất lao động các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau theo một loại sản phẩm được sản xuất ra
Ví dụ: Công nhân A quét vôi 5 h được 22 m2 Công nhân B quét vôi 6 h được 26
m2.Vậy năng suất lao động của công nhân A là 4,4 m2/h ; năng suất lao động của công nhân B là 4,33 m2/h Có thể thấy ngay năng suất lao động của công nhân A cao hơn năng suất lao động của công nhân B
- Nhược điểm: Chỉ dùng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể tính chung cho tất cả nhiều loại sản phẩm Trong thực tế hiện nay ít có những doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm có một quy cách, mà các doanh nghiệp thường sản xuất nhiều loại sản phẩm
: thành phẩm nên chỉ tính được thành phẩm, không tính được chế phẩm, sản phẩm dở dang đang trong quá trình sản xuất nên không phản ánh đầy đủ sản lượng của công nhân
- Phạm vi áp dụng:
+ Phạm vi áp dụng hạn hẹp chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đồng nhất (ngành than, dệt, may, dầu khí, nông nghiệp …)
+ Trong doanh nghiệp thì chỉ áp dụng cho một bộ phận
- Khắc phục nhược điểm: sử dụng chỉ tiêu hiện vật – quy ước, quy đổi tức là quy đổi tất cả các sản phẩm tương đối đồng nhất về một loại sản phẩm được chọn làm sản phẩm quy ước
Ví dụ: Các loại máy kéo có mã lực khác nhau thì có thể quy đổi về cùng mã lực
Mã lực (ML) Số lượng Hệ số quy đổi (quy đổi về loại 30
ML) Số sản phẩm đã quy đổi
Trang 1917
Tổng sản phẩm đã quy đổi là 220 loại 30 ML
Chỉ tiêu hiện vật quy đổi chỉ khắc phục được một phần nhược điểm
1.2.2 Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị
Chỉ tiêu này quy tất cả sản lượng về tiền của tất cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất ra, để biểu thị mức năng suất lao động
: Tổng số công số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân
- Trong phạm vi doanh nghiệp
: là giá trị tổng sản lượng, giá trị gia tăng hay doanh thu
+ Giá trị tổng sản lượng là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra được bao gồm cả chi phí và lợi nhuận
+ Giá trị gia tăng: là giá trị mới sáng tạo ra
+ Doanh thu là giá trị sau khi bán sản phẩm
: người lao động trong doanh nghiệp, ngày, giờ, phút, ngày- người, giờ người
Ưu điểm: Chỉ tiêu này có thể dùng nó tính cho các loại sản phẩm khác nhau kể cả sản phẩm dở dang Khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu NSLĐ tính bằng hiện vật Nhược điểm:
+ Không khuyến khích tiết kiệm vật tư, và dùng vật tư rẻ Nơi nào dùng nhiều vật tư hoặc vật tư đắt tiền sẽ đạt mức Snăng suất lao động cao hơn
Trang 2018
+ Chịu ảnh hưởng của của cách tính tổng sản lượng theo phương pháp công xuởng Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của bản thân doanh nghiệp
+ Chỉ dùng trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi hoặc ít thay đổi vì cấu thành sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức và tôc độ tăng năng suất lao động Khi thay đổi từ sản phẩm hao phí sức lao động ít mà giá trị cao sang sản xuất sản phẩm hao phí sức lao độngcao mà giá trị thấp thì năng suất lao động giảm và ngược lại năng suất lao động tăng
- Phạm vi áp dụng: chỉ tiêu này có phạm vi sử dụng rộng rãi, từ các doanh nghiệp đến ngành và nền kinh tế quốc dân Có thể dùng để so sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất các ngành với nhau
- Khắc phục:
+ Để khắc phục sự sai lệch do sự biến động của giá cả mang lại thì ta dùng giá cố định
Có thể dùng giá thời kỳ trước hoặc giá hiện hành để tính năng suất lao động
+ Để khắc phục trường hợp có sự thay đổi kết cấu các mặt hàng thì ta dùng hệ số lao động để loại bỏ các yếu tố khách quan
= =
: Hệ số lao động
ℎ1: Hao phí lao động sau khi thay đổi kết cấu để tạo để tạo ra 1000 đ
ℎ0: Hao phí sức lao động trước khi thay đổi kết cấu để tạo ra 1000 đ
: Năng suất lao động thực tức là năng suất lao động sau khi đã loại bỏ tác động khách quan
: Năng suất lao động hiện hành, năng suất lao động chưa loại bỏ tác động khách quan
Trang 2119
1.2.3 Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng thời gian lao động
Chỉ tiêu này dùng thời gian hao phí cần thiết để sản xuất ra ra một đơn vị sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động
Công thức: t =
Trong đó:
t: Lượng lao động hao phí của sản phẩm ( tính bằng đơn vị thời gian )
: Thời gian lao động đã hao phí
: Số lượng sản phẩm theo hiện vật
Lượng lao động này tính được bằng cách tổng hợp chi phí thời gian lao động của các bước công việc, các chi tiết sản phẩm (đơn vị tính bằng giờ, phút) Và được chia thành + Lượng lao động công nghệ: ( ) bao gồm chi phí thời gian của công nhân chính, hoàn thành các quá trình công nghệ chủ yếu
+ Lượng lao động chung: ( ) chi phí thời gian của công nhân hoàn thành quá trình công nghệ cũng như phục vụ quá trình công nghệ Công thức tính:
L = + ( là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ)
+ Lượng lao động sản xuất: (Lsx) chi phí thưòi gian lao động của công nhân chính và công nhân phụ trong toàn doanh nghiệp.công thức tính:
= + + ( là lượng lao động phục vụ sản xuất)
: Năng suất lao động
+ Lượng lao động đầy đủ: ( đđ) bao gồm hao phí lao động trong việc chế tạo sản phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp
Ưu điểm: + Phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm về thời gian lao động để sản xuất ra một sản phẩm
Trang 2220
Nhược điểm: tính toán khá phức tạp, không dùng để tính tổng hợp được NSLĐ bình quân của một ngành hay một doannh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau
1.3 Năng suất lao động và một số vấn đề liên quan
1.3.1 Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào Hiệu quả là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề Hiệu quả của các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà bao gồm cả các kết quả xã hội
mà nó mang lại Hiện nay, theo khái niệm của các nước, khái niệm năng suất rộng hơn
và sẽ bao trùm cả hiệu quả Năng suất được hiểu hai mặt là hiểu quả và tính hiệu quả Hiệu quả là nói về mức độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu quả của việc khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn Tính hiệu quả chủ yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức độ thỏa mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo các yêu cầu về xã hội
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và nguồn lực để tăng lợi nhuận lẫn việc mở rộng số lượng và chủng loại hàng hóa, nâng cao không ngừng chất lượng và dịch vụ của hàng hóa nhằm tăng thỏa mãn của hàng hóa đối với người tiêu dùng và cả xã hội Nâng cao tăng năng suất cần thiết phải bảo đảm sử dụng nhiều lao động hơn với chất lượng lao động cao hơn
1.3.2 Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh
Giữa NSLĐ và tính cạnh tranh có mối quan hệ rất chặt chẽ Khi tài sản và quá trình đuợc quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được năng suất cao Chi phí cho đơn vị sản phẩm thấp nhưng lại đáp ứng được và vượt mức đòi hỏi của khách hàng Cạnh tranh ở đây là khả năng của một nuớc hoặc một doanh nghiệp Cạnh tranh đuợc thể hiện truớc hết ở mặt giá cả thấp, chất luợng sản phẩm cao Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ảnh khả năng cạnh tranh là chi phí lao động trong một đơn vị GDP hoặc trong giá trị gia tăng Trong mối quan hệ giữa NSLĐ và cạnh tranh thì NSLĐ là cơ sở cho cạnh tranh lâu dài và bền vững, biểu hiện:
Trang 23Theo quan điểm truyền thống, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào những lại thế so sánh về nguồn lực và tài nguyên Nhưng ngày nay, điều đó không thể giải thích được cho những nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh cao Vì vậy, khả năng cạnh tranh phải được tạo ra từ việc nâng cao NSLĐ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài sản và các quá trình
Mối quan hệ giữa tăng NSLĐ và tăng khả năng cạnh tranh là mối quan hệ nhân quả Tăng NSLĐ là cơ sở để tăng khả năng cạnh tranh, ngược lại, tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng sức mạnh kinh tế của các nước, GDP trên đầu người tăng lên, tiêu chuẩn sống được nâng cao, tăng khả năng đầu
tư vào tài sản và quá trình Điều đó lại tạo điều kiện cho tăng NSLĐ và nó lại tiếp tục làm tăng khả năng cạnh tranh Đây là mối quan hệ trong trạng thái động phát triển không ngừng
Có thể nói rằng, năng suất thấp đồng nghĩa với lãng phí, giảm quy mô kinh doanh Việc tăng NSLĐ sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận, thu nhập của nguời lao động, các điều kiện sống và làm việc tốt hơn Tăng NSLĐ là kết quả của giảm giá nhằm bù đắp phần tăng chi phí, duy trì lại nhuận, tăng cạnh tranh
Sự thay đổi lại nhuận phụ thuộc vào hai nhân tố: tăng NSLĐ bù đắp giá và giảm giá trị đồng tiền Nhưng lại thế do giảm giá trị đồng tiền sẽ không tồn tại được lâu và mất đi nhanh chóng Vì vậy, để đảm bảo tồn tại và phát triển (tức là tăng khả năng cạnh tranh) thì cần không ngừng tăng NSLĐ
Trang 24Chẳng hạn GDP có thể được viết dưới dạng:
Ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua đẳng thức sau:
Tăng trưởng GDP = Tăng NSLĐ + Tăng việc làmNhư vậy, có thể thấy tăng NSLĐ là nguồn gốc cơ bản của tăng trưởng kinh tế Nó đóng góp quan trọng trong việc nâng cao tiềm lực kinh tế của một nước trên thế giới
Sự thay đổi NSLĐ không chỉ phản ánh sự thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn làm chuyển dịch sự phân phối lao động giữa các khu vực, đặc biệt từ những khu vực có năng suất thấp tới những khu vực có năng suất cao và ngược lại Khi NSLĐ tăng làm tăng đầu ra trên một lao động đuạc gọi là sự tác động của năng suất và sự dịch chuyển việc làm giữa các khu vực kinh tế được gọi là tác động chuyển dịch của việc làm Tăng NSLĐ có tác động rất lớn đến chuyển đổi cơ cấu kinh
tế theo hướng sử dụng các nguồn lực ngày càng có hiệu quả hon
1.3.4 Mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động và tăng tiền lương
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ bản và là thước
đo hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp, về nguyên tắc, tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Bởi vì:
Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh
Trang 2523
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức chi phí lao động bình quân cho một đơn vị sản phẩm (ULC) Nâng cao năng suất lao động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm
ULC = tổng chi phí lao động/tổng sản phẩm
Chia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC = (tổng chi phí lao động/lao động)/ (tổng sản phẩm/lao động)
= Mức tiền lương bình quân/năng suất lao động
Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của tổng năng suất chung
Một mặt, tăng năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động như nâng cao trình độ lành nghề, nâng cao kiến thức, tổ chức kỷ luật, sáng tạo Tuy nhiên, năng suất lao động cá nhân và xã hội còn tăng lên do các nhân tố khách quan khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ) Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có khả năng khách quan lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân
Do yêu cầu của tích luỹ
Yêu cầu tốc độ tăng tiền lương thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động còn thể hiện mối quan hệ lớn nhất trong xã hội Đó là quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng Chúng ta biết rằng, phát triển kinh tế dựa trên hai yếu tố là tăng số thời gian làm việc và tăng năng suất lao động thông qua việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật Điều này đòi hỏi sản phẩm làm ra không phải đem toàn bộ dùng để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải tích lũy càng cao thì tốc độ tăng năng suất lao động càng cao
Trang 2624
Tóm lại, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì cần duy trì tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Nhưng mối quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây
∆ = ( − 1)( − 1) Trong đó: ∆ : số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% NSLĐ tăng lên
: chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC
: Là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC
1.4 Những nhân tố tác động tới năng suất lao động
1.4.1 Các yếu tố liên quan tới cơ chế và chính sách
Trong số các chính sách về tiền lương,chính sách về tiền lương tối thiểu rất quan trọng,nó là trung tâm trong các mối liên hệ có liên quan đến tiền lương,tiền lương tối thiểu có ảnh hưởng rất lớn đến tiền lương bình quân của người lao động theo công thức:
TLBQ = TLnún X (K X (H
Trong đó:
TLBQ là tiền lương bình quân
TLnún là tiền lương tối thiểu (K là hệ số điều chỉnh bình quân
(H là hệ số cấp bậc bình quân
Theo công thức trên,khi tiền lương tối thiểu tăng thêm một lượng ít thì tiền lương bình quân tăng thêm được một lượng gấp (K lần ,cho thấy việc đưa ra và điều chỉnh mức lương tối thiểu là rất quan trọng Tiền lương tối thiểu mà phù họp sẽ có tác động tốt đến người lao động với ý nghĩa làm một khoản thu nhập chính, từ đó bảo đảm được năng suất lao động ổn định và tăng lên Nêu tiền lương tối thiểu quá thấp, dẫn đến tiền
Trang 2725
lương bình quân thấp, tiền lương không còn là khoản thu nhập chính của người lao động và mất tác dụng kích thích người lao động làm việc, tăng năng suất lao động Nếu tiền lương tối thiểu quá cao, gây ra sự đảo ngược hay quan hệ không họp lý giữa tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động, từ đó ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế nói riêng, của xã hội nói chung Ngoài ra, việc chi trả cho tất cả cho các lao động trong tổ chức một cách công khai cũng có tác động đến tâm lý lao động rất nhiều, việc công khai đó giúp người lao động cảm thấy sự công bằng giữa những người lao động và giữa làm và hưởng của mình với người khác, từ đó tạo sự phấn khởi trong lao động, giúp cho tăng năng suất lao động
Các chính sách về tiền thưởng hay các hình thức thưởng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tăng năng suất lao động Theo thuyết động cơ của Taylor, tiền là động cơ khiến con người làm việc, tuy Taylor có mặt hạn chế vì ông coi tiền là động cơ duy nhất và ví người lao động như cái máy mà tiền là năng lượng đế nó hoạt động nhưng ông đã đúng khi coi tiền là động cơ của lao động Con người lao động do nhiều động
cơ nhưng tiền là động cơ chính, động cơ chủ yếu Đối với người lao động mục đích
của họ là thu nhập, tiền thưởng là một khoản tiền làm tăng thu nhập, tiền thưởng cũng chính là động cơ lao động của họ, nó nằm bên cạnh, xếp sau tiền lương Trong các hình thức thưởng, thưởng giảm tỉ lệ hỏng có tác dụng làm tăng năng suất lao động Giảm tỉ lệ sản phẩm hỏng có nghĩa là tăng sản phẩm đạt tiêu chuẩn lên, tức là tăng năng suất lao động Thưởng hoàn thành vượt mức năng suất lao động, điều này có tính chất khuyến khích tăng năng suất lao động rất rõ ràng, nếu người lao động đạt được nhiều sản phẩm hơn so với tiêu chuẩn trong một đơn vị thời gian hay lượng thời gian hao phí đế sản xuất ra một đơn vị sản phẩm là ít hơn so với tiêu chuẩn thì họ sẽ được hưởng vì tính rõ ràng này nên rất có tác dụng tăng năng suất lao động của người lao động Ngoài ra còn có thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, tuy những hình thức thưởng này không có tác dụng trực tiếp đến tăng năng suất lao động nhưng từ việc thưởng này cũng tạo động cơ để người lao động làm việc tốt hơn
Trang 2826
1.4.2 Các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển và sử dụng tư liệu sản xuất
Trong đó khoa học kỹ thuật, công sản xuất có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, đây là yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động Trình độ
kỹ thuật của sản xuất được biểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình
độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động, các quá trình công nghệ sản xuất Ngày nay, ai cũng thừa nhận máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ làm tăng năng suất lao động Thật vậy sự phát triển của lực lượng sản xuất thường bắt đầu từ sự thay đổi của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy cũ
Tính năng nâng cao trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động được thể hiện
ở chỗ: Nó ứng dụng rộng rãi các nguyên vật liệu mới, có những tính năng cao hơn, giá
rẻ hơn, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm lao động, trong một đơn vị thời gian sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn Nó không chiụ tác động các giới hạn sinh lý như con người, cho nên khả năng tăng năng suất lao động lớn
Một nguyên nhân làm cho năng suất lao động xã hội ở Việt Nam còn thấp là do trình
độ ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn thấp, lao động thủ công còn nhiều
Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển sản xuất và tăng năng suất lao động Cơ sở vật chất - kỹ thuật đó biểu hiện thông qua các ngành năng lượng, cơ khí, luyện kim, hoá học, giao thông vận tải và hệ thống thông tin, liên lạc Đó là các yếu tố gắn với sự phát triển kinh tế, muốn tăng nhanh năng suất lao động xã hội cần phải đặc biệt quan tâm
1.4.3 Các yếu tố gắn với bản thân người lao động
Lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác động đến năng suất lao động Năng suất lao động của mỗi quốc gia, ngành và doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào trình
độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, năng lực của đội ngũ lao động
Trình độ văn hoá: Là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và xã hội
Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độ văn hóa sẽ
có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng chính
Trang 2927
xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất
Trình độ chuyên môn: Là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, có
khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Sự hiểu biết
về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với năng suất lao động của con người.Trình độ văn hoá tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất Trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động không chỉ giúp cho người lao động thực hiện công việc nhanh mà góp phần nâng cao chất lượng thực hiện công việc
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại
Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động
Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm, thậm chí dẫn đến tai nạn lao động
Thái độ lao động: Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của người lao
động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó có ảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việc của người tham gia lao động nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, cả khách quan và chủ quan
Trang 3028
- Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao động mà tổ
chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mực đạo đức xã hội Nó bao gồm các điều khoản quy định hành vi lao động trong lĩnh vực có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ như số lượng, chất lượng công việc, an toàn vệ sinh lao động, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luật lao động, các hình thức xử lý vi phạm kỷ luật…
- Tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ khát khao, hy
vọng của người lao động trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổ chức, nếu người lao động thấy được vai trò, vị thế, sự cống hiến hay sự phát triển, thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thì họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức Đây là cơ sở để nâng cao tính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
- Sự gắn bó với doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp ngoài mục đích lao động để kiếm
sống họ còn coi tổ chức như một chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần Nếu quá trình lao động và bầu không khí trong tập thể lao động tạo ra cảm giác gần gũi, chan hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa những người công nhân, tạo cảm giác làm chủ doanh nghiệp, có quyền quyết định đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra tính độc lập tự chủ sáng tạo, được quan tâm chăm lo đến đời sống và trợ giúp khi gặp khó khăn… thì người lao động sẽ có lòng tin, hy vọng, sự trung thành và gắn bó với doanh nghiệp
- Cường độ lao động cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động và từ đó ảnh hưởng tới năng suất lao động
1.4.4 Các yếu tố gắn với tổ chức lao động
Trình độ và khả năng tổ chức lao động của mỗi doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới năng suất lao động thông qua việc xác định phương hướng phát triển, phân công lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng, tổ chức phục vụ nơi làm việc…
Trang 3129
Phân công lao động: “Là sự chia nhỏ toàn bộ các công việc được giao cho từng người
hoặc tưng nhóm người lao động thực hiện”
oVề bản chất thì đó là quá trình gắn từng người lao động với những nhiệm vụ phù hợp với khả năng của họ Thực chất của phân công lao động là sự tách biệt, cô lập các chức năng lao động riêng biệt và tạo nên các quá trình lao động độc lập và gắn chúng với từng người lao động, đấy chính là sự chuyên môn hoá cho phép tạo ra những công cụ chuyên dùng hợp lý và hiệp tác lao động có tác dụng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng năng suất lao động
Tiền lương, tiền thưởng: Đây là một yếu tố quan trọng góp phần tạo động lực thúc
đẩy người lao động làm việc nâng cao năng suất lao động Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của người lao động Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của tất cả mọi người lao động Mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
- Tiền lương: “Là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
theo giá trị sức lao động đã hao phí trong những điều kiện xã hội nhất định trên cơ sở
thoả thuận của hai bên trong hợp đồng lao động Số tiền này nhiều hay ít còn phụ
thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả làm việc, trình độ hay kinh nghiệm làm việc… trong quá trình lao động Nhưng cái mà người lao động các loại hàng hoá dịch vụ cần thiết mua được từ số tiền đó, chính là tiền lương thực tế Tiền lương phản ánh đóng góp nhiều cho xã hội và càng thể hiện giá trị xã hội trong cuộc sống của người lao động Do vậy tiền lương thoả đáng sẽ là động lực để người lao động làm việc hiệu quả
và đạt năng suất lao động cao
- Tiền thưởng: Là số tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động trong
những điều kiện đặc biệt theo sự thoả thuận của hai bên hoặc theo sự tự nguyện của bên sử dụng lao động trong các trường hợp như: khi công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiết kiệm được nguyên vật liệu, có những sáng kiến sáng tạo trong hoạt động lao động… Nếu tiền thưởng đảm bảo gắn trực tiếp với thành tích của người lao động, gắn với hệ thống chỉ tiêu được nghiên cứu, phân loại cụ thể và mức thưởng có giá trị tiêu dùng trong cuộc sống thì tiền thưởng sẽ là công cụ để người sử dụng lao động
Trang 32Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Nơi làm việc là không gian sản xuất được trang bị máy
móc thiết bị, phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để người lao động hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất đã định, là nơi diễn ra các quá trình lao động Nơi làm việc là nơi thể hiện rõ nhất khả năng sáng tạo và nhiệt tình của người lao động.Tổ chức phục vụ nơi làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lao động của con người Nơi làm việc được tổ chức một cách hợp lý và phục vụ tốt góp phần bảo đảm cho người lao động có thể thực hiện các thao tác trong tư thế thoải mái nhất, để tiến hành sản xuất với hiệu quả cao, nâng cao năng suất lao động
Thái độ cư xử của người lãnh đạo: Lãnh đạo là việc định ra chủ trương, đường lối,
nguyên tắc hoạt động của một hệ thống các điều kiện môi trường nhất định Lãnh đạo
là một hệ thống các tổ chức bao gồm người lãnh đạo, người bị lãnh đạo, mục đích của
hệ thống, các nguồn lực và môi trường
Người lãnh đạo là một trong các yếu tố quan trọng của hệ thống lãnh đạo, là người ra mệnh lệnh, chỉ huy điều khiển những nguời khác thực hiện các quyết định đề ra nhằm đảm bảo giải quyết tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hoạt động và hoàn thiện bộ máy quản lý Người lãnh đạo có vai trò rất quan trọng trong tổ chức, họ quản lý tập thể bằng quyền lực và uy tín của mình Quyền lực là những quyền hạn của người lãnh đạo trong khuôn khổ quyền hạn của nhà nước hoặc tập thể trao cho người lãnh đạo Uy tín là khả năng thu phục các thành viên dưới quyền, nó gắn liền
Trang 3331
với những phẩm chất tài và đức của người lãnh đạo Phong cách, phương pháp cũng như thái độ của người lãnh đạo quyết định đến sự phát triển của các tổ chức Với phong cách uy quyền tức là người lãnh đạo hành động độc đoán, khi ra quyết định không tham khảo ý kiến của bất kỳ ai, dẫn đến việc ra lệnh cứng nhăc, không tôn trọng
ý kiến của tập thể thì nhân viên thường không làm việc tự giác và độc lập, không phát huy được tính sáng tạo và hứng thú trong lao động, cuối cùng có tác động xấu đến tập thể Với phong cách dân chủ tự do tức là người lãnh đạo trao quyền chủ động sáng tạo, độc lập tối đa và tự do hành động cho nhân viên để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để họ có ý kiến đóng góp và tham gia vào quá trình xây dựng, phát triển tổ chức Việc lựa chọn phong cách này hay phong cách lãnh đạo khác có một ý nghĩa quan trọng đối với việc cũng cố giáo dục tập thể lao động Mỗi phong cách lãnh đạo có đặc thù riêng và thích ứng với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Phong cách lãnh đạo khác nhau tạo ra thái độ của người lãnh đạo khác nhau Thái
độ của người lãnh đạo ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa người lãnh đạo với tập thể, đóng vai trò to lớn trong việc xây dựng và cũng cố tâp thể vững mạnh từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc và năng suất lao động Vì vậy người lãnh đạo phải hiểu rõ bản chất và vận dụng các phong cách lãnh đạo trong những hoàn cảnh cụ thể, chính xác và hiệu quả
Bầu không khí của tập thể: Tập thể lao động là nhóm người mà tất cả các thành viên
trong quá trình thực hiện những trách nhiệm của mình hợp tác trực tiếp với nhau, luôn
có sự liên quan cà tác động qua lại lẫn nhau Mức độ hoạt động, hoà hợp về các phẩm chất tâm lý cá nhân của mọi người trong tập thể lao động được hình thành từ thái độ của mọi người đối với công việc, bạn bè, đồng nghiệp và người lãnh đạo tạo nên bầu không khí của tập thể Trong tập thể lao động luôn có sự lan truyền cảm xúc từ người này sang người khác, nó ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý, thái độ đối với lao động, với ngành nghề và với mỗi thành viên Từ đó ảnh hưởng tới năng suất lao động
và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4.5 Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên
Thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động Nó tác động đến năng suất lao động một cách khách quan và không thể phủ nhận Thời tiết và khí hậu
Trang 3432
của các nước nhiệt đới khác với các nước ôn đới và hàn đới, do đó ở các nước khác nhau có những thuận lợi và khó khăn khác nhau trong sản xuất Và ở mỗi một ngành sản xuất thì nó tác động khác nhau Trong nông nghiệp thì độ phì nhiêu của đất, của rừng, của biển khác nhau sẽ đưa lại năng suất khác nhau Trong công nghiệp khai thác
mỏ thì các vấn đề như hàm lượng của quặng, độ nông sâu của các vỉa than, vỉa quặng, trữ lượng của các mỏ đều tác động đến khai thác, đến năng suất lao động Con người
đã có nhiều hoạt động nhằm hạn chế các tác động có hại của thiên nhiên đến sản xuất
và đạt được kết quả rõ rệt như trong dự báo thời tiết, trong diệt trừ côn trùng phá hoại mùa màng Tuy nhiên, vẫn chưa khắc phục được hết Vì thế yếu tố thiên nhiên là yếu
tố quan trọng, cần phải đặc biệt tính đến trong các ngành như nông nghiệp, khai thác
và đánh bắt hải sản, trồng rừng, khai thác mỏ và một phần nào trong ngành xây dựng
1.5 Tình hình về năng suất lao động ở Việt Nam và trong ngành thủy lợi
1.5.1 Năng suất lao động ở Việt Nam so với các nước trong khu vực
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm
2017 ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương 4.166 USD/lao động) Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-2017 tăng 4,7%/năm
NSLĐ của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm[1], là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN Tính chung giai đoạn 10 năm 2007-2016, NSLĐ theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP 2011) của Việt Nam tăng trung bình hàng năm 4,2%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Xin-ga-po (1,5%/năm); Ma-lai-xi-a (1,9%/năm); Thái Lan (2,5%/năm); In-đô-nê-xi-a (3,5%/năm); Phi-li-pin (2,8%/năm) Tuy nhiên, mức NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực Tính theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7,0% mức năng suất của Xin-ga-po; 17,6% của Ma-lai-xi-a; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của In-đô-nê-xi-a và bằng 56,7% NSLĐ của Phi-li-pin Đáng chú ý là chênh lệch về NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng Điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức năng suất lao động của các nước
Trang 3533
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến NSLĐ của Việt Nam thấp và còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực ASEAN, trong đó phải kể đến các nguyên nhân chính sau đây:
- Thứ nhất, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy theo hướng tích cực nhưng còn
chậm, các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ “mũi nhọn” như tài chính, tín dụng, du lịch còn chiếm tỷ trọng thấp Số liệu thống kê cho thấy, năm
2016 tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP của Việt Nam là 16,3%, trong khi tỷ lệ này của Thái Lan là 8%; Ma-lai-xi-a 9%; Phi-li-pin 10%; In-đô-nê-xi-a 14%; riêng Xin-ga-po, tỷ trọng ngành nông nghiệp rất nhỏ, các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm gần 100% GDP
- Thứ hai, lao động trong khu vực nông nghiệp còn lớn, trong khi NSLĐ ngành nông
nghiệp thấp Những năm qua, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy đã giảm từ 49,5% năm 2010 xuống còn 40,3% năm 2017 [2] (trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,3 điểm phần trăm), nhưng vẫn lớn hơn rất nhiều so với các nước
trong khu vực[3] Đến năm 2017, nước ta vẫn còn tới 21,6 triệu lao động làm việc
trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, trong khi NSLĐ khu vực này chỉ đạt 35,5 triệu đồng/lao động, bằng 38,1% mức NSLĐ chung của nền kinh tế; bằng 29,4% NSLĐ khu vực công nghiệp, xây dựng và bằng 31,3% NSLĐ các ngành dịch vụ Nếu tính theo
số giờ thực tế làm việc bình quân, NSLĐ theo giờ khu vực này cũng cải thiện không đáng kể, chỉ bằng khoảng 43,3% mức NSLĐ chung; bằng 37,4% NSLĐ khu vực công nghiệp, xây dựng và bằng 30,3% năng suất của khu vực dịch vụ
Thời gian qua, khu vực nông thôn đang có sự chuyển dịch lao động từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các ngành phi nông, lâm nghiệp, thủy sản Theo kết quả Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, ở khu vực nông thôn, số lao động hoạt động chính trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 giảm 8,24% so với năm 2011, trong khi lao động trong công nghiệp tăng 4,86%; xây dựng tăng 0,96%; vận tải tăng 0,94% Điều này đã góp phần nâng cao NSLĐ chung của nền kinh tế Tuy nhiên, thực tế lao động di chuyển ra khỏi ngành nông nghiệp chủ yếu lại chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có năng suất thấp hay các ngành dịch vụ có thu nhập thấp Ngoài ra, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
Trang 3634
nuôi, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn hạn chế, chưa tác động tăng năng suất nội ngành Như vậy, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản hiện chiếm tới 40,3% lao động của cả nước nhưng khu vực này mới chỉ tạo ra 15,3% GDP Đây có thể xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho NSLĐ của Việt Nam thấp
- Thứ ba, máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu Phần lớn doanh nghiệp
nước ta, đặc biệt là doanh nghiệp dân doanh đang sử dụng công nghệ tụt hậu 2-3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới, trong đó 76% thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ nhập từ nước ngoài thuộc thế hệ những năm 1960-1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang
Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đổi mới sáng tạo là động lực không có giới hạn của tăng trưởng, là chìa khóa giúp một số nước Đông Á vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” Tuy nhiên, công nghệ và sáng tạo vẫn là lĩnh vực có xếp hạng thấp trong
sơ đồ cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018, Việt Nam được xếp hạng chung là 55/137 quốc gia, trong khi các chỉ số cấu phần liên quan đến đổi mới sáng tạo lại thấp hơn nhiều (Năng lực hấp thụ công nghệ: 93; Chuyển giao công nghệ từ FDI: 89; Độ sâu của chuỗi giá trị: 106; Mức độ phức tạp của quy trình sản xuất: 87; Chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học: 90; Giáo dục và đào tạo ở cấp sau phổ thông: 68) Điều này cho thấy, Việt Nam cần tiếp tục kiến tạo môi trường thuận lợi cùng với các thể chế, chính sách mới cho khu vực doanh nghiệp để thúc đẩy quá trình nâng cao công nghệ và sáng tạo Đây được coi là một nội dung quan trọng của sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
- Thứ tư, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động còn thấp Đến cuối năm 2017,
chỉ có 21,5% lao động cả nước đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, trong đó khu vực nông thôn rất thấp, chỉ khoảng 13% Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp
lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao Kết nối cung cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập Tình trạng thất nghiệp ở nhóm lao động trẻ hoặc không phù hợp giữa công việc và trình độ đào tạo còn khá phổ biến Việc khai thác, sử dụng lao động đã làm việc và học tập ở nước ngoài trở về nước còn nhiều hạn chế[4] Bên cạnh đó, ý thức chấp hành kỷ luật lao động không cao; lao động thiếu các
Trang 3735
kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ hạn chế Đây chính là rào cản lớn cho việc cải thiện NSLĐ
- Thứ năm, trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất
cập; năng lực quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hạn chế; còn một số “điểm nghẽn” về cải cách thể chế và thủ tục hành chính Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)[5] cho tăng trưởng GDP của Việt Nam thời gian qua còn ở mức thấp, giai đoạn 2001-2010 chỉ đạt 4,3%, trong khi Hàn Quốc đạt 51,3%; Ma-lai-xi-a đạt 36,2%; Thái Lan đạt 36,1%, Trung Quốc đạt 35,2%; Ấn Độ đạt 31,1% Trong giai đoạn 2011-
2015, đóng góp của TFP được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp là 33,58%, trong khi đóng góp của vốn là 51,20% và đóng góp của lao động là 15,22% Tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP phản ánh trình độ, ý thức tổ chức và quản lý trong sản xuất kinh doanh của lao động Việt Nam còn ở mức thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện đại
- Thứ sáu, khu vực doanh nghiệp (khu vực có vai trò rất quan trọng trong nâng cao
NSLĐ của toàn nền kinh tế) chưa thực sự là động lực quyết định tăng trưởng NSLĐ của nền kinh tế Qua tính toán từ kết quả Điều tra doanh nghiệp cho thấy, NSLĐ bình quân toàn bộ khu vực doanh nghiệp[6] năm 2015 theo giá hiện hành đạt 254,6 triệu đồng/lao động, cao gấp 3,2 lần NSLĐ của toàn nền kinh tế nhưng tăng trưởng thấp hơn so với mức tăng NSLĐ chung: Bình quân giai đoạn 2011-2015, NSLĐ khu vực doanh nghiệp (theo giá hiện hành) tăng 5,1%/năm, trong khi năng suất lao động của toàn nền kinh tế tăng 9,5%/năm
Bên cạnh đó, tốc độ tăng năng suất lao động khu vực doanh nghiệp tăng thấp hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân một lao động khu vực doanh nghiệp Theo giá hiện hành, giai đoạn 2007-2013 tiền lương bình quân một lao động khu vực doanh nghiệp tăng 16,9%/năm, trong khi năng suất lao động bình quân khu vực này chỉ tăng 12,9%/năm Điều này cho thấy, tăng tiền lương chưa phản ánh tăng năng suất lao động; tiền lương tăng nhanh và cao hơn so với tăng năng suất lao động chủ yếu do tác động của chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu[7]
Trang 3836
Thực tế quy mô doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé, số doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, phần lớn doanh nghiệp chưa đạt được quy mô tối ưu (50-99 lao động) để có được mức NSLĐ cao nhất Số lượng doanh nghiệp lớn còn ít (chỉ chiếm 2,1%), doanh nghiệp chưa xâm nhập được vào các thị trường, trung tâm công nghệ của thế giới, do đó chưa thực hiện được chức năng cầu nối về công nghệ tri thức của thế giới vào thị trường trong nước
Trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn lạc hậu, doanh nghiệp tham gia các hoạt động liên quan đến sáng tạo còn hạn chế, trong khi qua nghiên cứu cho thấy những doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu và phát triển có mức NSLĐ cao hơn 19,3% so với các doanh nghiệp còn lại
Doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia sâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu, các doanh nghiệp nội địa hầu như chưa kết nối được vào chuỗi giá trị toàn cầu của các công ty/tập đoàn xuyên quốc gia lớn nên chưa tận dụng được tính lan toả của tri thức, công nghệ và năng suất lao động từ các công ty/tập đoàn xuyên quốc gia vào doanh nghiệp trong nước Qua nghiên cứu cho thấy những doanh nghiệp tham gia xuất, nhập khẩu
có NSLĐ cao hơn 35% so với doanh nghiệp không có hoạt động này Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước còn chưa quan tâm, chú trọng đến vấn đề định giá tài sản trí tuệ, thương hiệu, tài sản vô hình; việc phân bổ nguồn lực của các doanh nghiệp Nhà nước còn hạn chế
- Ngoài ra, một số yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến NSLĐ của Việt Nam thời
gian qua như: Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô kinh tế còn nhỏ, quá trình
đô thị hóa chậm
1.5.2 Năng suất lao động trong ngành nông nghiệp
Có nhiều cách hiểu khác nhau về năng suất lao động nói chung và năng suất lao động trong nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, cách tính năng suất lao động theo giá trị tăng thêm do một lao động tạo ra trong một năm được sử dụng nhiều hơn cả
Trang 39Đồ thị 1 1: Giá trị gia tăng/lao động theo ngành kinh tế ở Việt Nam (USD/người/năm)
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam thấp nhất so với năng suất của lao động chung của toàn nền kinh tế và thấp nhất trong số lao động lao động làm việc trong các ngành của nền kinh tế Không chỉ duy trì ở mức thấp mà tốc độ tăng của năng suất lao động nông nghiệp cũng rất thấp làm cho lao động nông nghiệp bị tụt lại phía sau
Đồ thị 1 2: Giá trị gia tăng/lao động nông nghiệp của một số nước trong khu vực
(USD/người/năm)
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Năng suất lao động trong nông nghiệp không chỉ thấp so với các ngành kinh tế khác trong nước mà so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam cũng rất thấp, thậm chí còn thấp hơn cả hai nước láng giềng là Lào và Campuchia
Trang 4038
1.5.3 Năng suất lao động trong ngành thủy lợi
Trong giai đoạn 2006-2011 Việt Nam có NSLĐ khá thấp, theo báo cáo của VNPI (2015): với mức 3.660 USD/người thì NSLĐ của Việt Nam chỉ xấp xỉ bằng 5% của Singapore, 20% của Malaysia, 35% của Thái Lan, 50% của Philippines và Indonesia Nếu so sánh trong nền kinh tế quốc dân thì NSLĐ trong các ngành nông lâm nghiệp và thủy sản có mức thấp nhất so với công nghiệp & xây dựng và dịch vụ (Hình 2)
Theo Hoàng Văn Thắng (2015) ngành thủy lợi cả nước hiện có 96 tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi (QLKT CTTL) là doanh nghiệp trực thuộc cấp tỉnh (gọi ngắn là công ty thủy nông), 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN-PTNT Về quản lý các CTTL nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình Hợp tác xã, Tổ chức hợp tác và Ban quản lý thủy nông Công tác quản lý khai thác CTTL đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh; tại một số địa phương đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của các CTTL Bên cạnh những thành tích cơ
bản này theo Phi Hùng (2015) và Kim Văn (2016): "Nhiều doanh nghiệp QLKT CTTL hoạt động theo phương thức giao kế hoạch, dẫn đến vừa thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, vừa hạn chế quyền hoạt động tự chủ của doanh nghiệp Do vậy, chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân có xu hướng ngày càng tăng; hệ thống công trình thủy lợi xuống cấp nhanh, chất lượng cung cấp dịch vụ thấp…" Xuất phát từ thực tế này, Nguyễn Trung Dũng (2018) đã phân
tích thực trạng về NSLĐ trong ngành thủy lợi được minh họa bằng các số liệu của 6 công ty thủy nông thuộc dự án VIAIP-WB7 (dự án WB7 về cải thiện nông nghiệp
có tưới) Một thực trạng về NSLĐ trong 10 năm qua được phân tích và từ đó đưa ra
cơ hội và thách thức trong tăng NSLĐ:
“Trong 10 năm qua kể từ khi tiến hành cấp bù TLP theo NĐ 115/2008/NĐ-CP thì công ty thủy nông đã hoạt động theo cơ chế "xin-cho" và "bao cấp", đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vốn đã có nề nếp từ lâu Thách thức lớn hiện nay là giải quyết những hậu quả tồn tại trong những năm qua do cơ chế để lại, cụ