1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi ý yên tỉnh nam định

96 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và khai thác các CTTL phục vụ sản xuất nông nghiệp; Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác các CTTL ở huyện Ý Yên trong thời kỳ 2011 -

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Học viên cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hằng

Trang 4

ii

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Nguyễn Trọng Tư, người thầy trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Em xin chân thànhcảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Công trình nói riêng và các thầy

cô trường Đại học Thủy Lợi nói chung đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng em trong quá trình học tập

Qua đây tôi cũng xin cảm ơn toàn thể các bác, các cô chú, anh chị là cán bộ thủy nông công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Một thành viên (MTV) Khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) Ý Yên - tỉnh Nam Định đã hướng dẫn tận tình cho tôi những kiến thức về chuyên môn, giúp đỡ tôi trong việc khảo sát thực tế

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trang 5

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU ix

1 Tính cấp thiết của đề tài ix

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài ix

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu x

a Đối tượng nghiên cứu: x

b Phạm vi nghiên cứu: x

4 Phương pháp nghiên cứu x

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài xi

6 Kết quả dự kiến đạt được xi

7 Nội dung của luận văn xi

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1

1.1 Đặc điểm công trình thủy lợi 1

1.1.3 Đặc điểm của CTTL 4

1.1.4 Vai trò của công trình thủy lợi 6

1.2 Các nội dung quản lý công trình trong giai đoạn vận hành khai thác CTTL 9

1.3 Tình hình quản lý và khai thác công trình thủy lợi hiện nay 11

1.3.1 Hiện trạng các hệ thống CTTL ở nước ta 11

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý và khai thác CTTL ở nước ta 12

1.3.3 Kinh nghiệm Quản lý và khai thác CTTL của một số địa phương trong nước 21 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 24

2.1 Cơ sở pháp lý trong quản lý công trình thủy lợi 24

Những văn bản pháp quy về Quản lý hệ thống CTTL: 24 2.2 Các yêu cầu về quản lý công trình trong giai đoạn vận hành khai thác CTTL 25

Trang 6

iv

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý và khai thác CTTL 27

2.3.1 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp 27

2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 29

2.4 Một số mô hình quản lý CTTL 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TẠI CÔNG TY TNHH MTV KTCTTL Ý YÊN –TỈNH NAM ĐỊNH 35

3.1 Giới thiệu chung về công ty 35

3.1.2 Tổng quan về công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên 38

3.2 Tình hình quản lý và khai thác các công trình thuỷ lợi tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định 42

3.2.1 Thực trạng công tác quản lý, khai thác các CTTL tại Công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên 42

a Hiện trạng các CTTL do Công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên quản lý 42 3.3 Đánh giá về công tác quản lý và khai thác công trình thủy lợi 56

3.3.1 Kết quả đạt được 56

3.3.2 Những tồn tại 56

3.3.3 Những nguyên nhân dẫn đến xuống cấp của các CTTL ở các địa phương trong huyện 59

3.3.4 Các biện pháp cải thiện sự xuống cấp của các CTTL, nâng cao năng suất sản xuất nông nghiệp 61

3.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý và khai thác các công trình thuỷ lợi 62

3.4.1 Giải pháp về hoàn thiện cơ cấu, tổ chức bộ máy Quản lý và khai thác CTTL của Công ty 62

3.4.2 Giải pháp về hoàn thiện công tác lập, giám sát và đánh giá kết quả thựchiện kế hoạch sản xuất kinh doanh 63

3.4.3 Giải pháp về quản lý nước 66

3.4.4 Giải pháp về quản lý công trình 70

3.4.5 Giải pháp về ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác, học hỏi kinh nghiệm 76

3.4.6 Giải pháp về đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông 77

Trang 7

v

3.4.7 Giải pháp về quản lý kinh tế 77

3.4.8 Giải pháp xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng thủy lợi đáp ứng phát triển nền nông nghiệp đa dạng và hiện đại 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Hạn hán ở Đồng Bằng sông Cửu Long 14

Sơ đồi 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên 41

Sơ đồi 3.2Sơ đồ tổ chức hệ thống quản lý thủy lợi tại Công ty 42

Sơ đồi 3.3 Sơ đồ quy trình lập kế hoạch 65

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Dân số huyện Ý Yên giai đoạn 2011-2014 36 Bảng 3.2Tình hình khai thác trạm bơm trên địa bàn huyện giai đoạn 2014 - 2016 46-51 Bảng 3.3 Hệ thống các công trình được đầu tư nâng cấp, sửa chữa trên địa bàn huyện

do Công ty quản lý giai đoạn 2014-2016 51-53 Bảng 3.4Tình hình kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn do Công ty thực hiện đến năm 2016 55

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTTL Công trình thủy lợi

KTCTTLKhai thác công trình thủy lợi

Trang 11

ix

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chính vì vậy tài nguyên nước có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước Trong những năm qua công tác quản lý và khai thác thuỷ lợi đã thu được những thành tựu to lớn cho sản xuất nông nghiệp, dân sinh, giảm nhẹ thiên tai góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Hiệu quả kinh tế, xã hội mà các công trình thủy lợi (CTTL) mang lại hết sức to lớn, nhưng phần lớn hệ thống công trình thủy lợi mới chỉ khai thác được 50 - 60% năng lực thiết kế, thậm chí có những công trình chỉ mới khai thác được 30% Mặt khác, khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các chủ thể kinh tế ở nông thôn nước ta đã có những thay đổi căn bản; từ vị trí là đối tượng bị điều hành trong quá trình sản xuất hộ, nông dân đã trở thành chủ thể kinh tế độc lập

Ý Yên là huyện trọng điểm về sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nam Định nên các công trình thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư xây dựng Trong những năm qua hệ thống các công trình thuỷ lợi đã góp phần nâng cao năng xuất cây trồng, vật nuôi, phục vụ dân sinh và các ngành kinh tế khác Tuy nhiên hiện nay công tác quản lý các CTTL còn nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến cho sản xuất và đời sống của nhân dân Đặc biệt, sau khi hoàn thành chuyển đổi đất nông nghiệp lần thứ hai, hệ thống kênh mương nội đồng

đã được tăng cường Vì vậy quản lý và khai thác các CTTL sao cho có hiệu quả đồng

bộ, là một việc làm hết sức cần thiết Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nên đề tài được chọn nghiên cứu là: “Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định.”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Thông qua đánh giá thực trạng quản lý và khai thác các CTTL tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định thời gian qua, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và khai thác tốt các công tác thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và

Trang 12

x

phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn nghiên cứu thời gian tới

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và khai thác các CTTL phục vụ sản xuất nông nghiệp;

Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác các CTTL ở huyện Ý Yên trong thời kỳ 2011 - 2016;

Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý và khai thác có hiệu quả các CTTL trên địa bàn huyện;

Trên cơ sở thực trạng quản lý khai thác CTTL và hiện trạng các CTTL trong huyện đề xuất phương án quản lý xây dựng, tu bổ bảo dưỡng CTTL để hoạt động có hiệu quả;

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và khai thác các CTTL của huyện trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi tại công

ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên – huyện Ý Yên – tỉnh Nam Định

b Phạm vi nghiên cứu:

Công tác quản lý, khai thác CTTL tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên – tỉnh Nam Định những năm gần đây và các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, khai thác CTTL trong những năm tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tổng hợp các phương pháp:

 Phương pháp so sánh, thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu

 Phương pháp khảo sát thực tế

 Phương pháp đánh giá thực tế

Trang 13

xi

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, khai thác CTTL tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định có thể giúp cho Công ty nâng cao năng lực quản lý, khai thác, cải thiện chất lượng công trình

6 Kết quả dự kiến đạt được

Đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn còn bao gồm 3 chương có nội dung chính như sau:

 Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và khai thác công trình thủy lợi

 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và khai thác công trình thủy lợi tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định

 Chương 3: Đánh giá và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi tại công ty TNHH MTV KTCTTL Ý Yên - tỉnh Nam Định

Trang 14

1

THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 Đặc điểm công trình thủy lợi

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Là một nước nông nghiệp, từ hàng nghìn năm nay, cuộc sống của người dân Việt Nam gắn liền với các công việc về thủy lợi Trong những năm qua, công trình thủy lợi đã có những đóng góp quan trọng cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nhất là phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái Chính vì thế công tác thủy lợi rất được quan tâm, chú trọng và là một trong những đề tài được các tác giả quan tâm

Các tài liệu tiêu biểu về quản lý khai thác CTTL:

Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Vấn đề TLP, quá trình thực hiện ở nước ta, kinh nghiệm một số nước khác và kiến nghị giải pháp

Nghị định số 67/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ CTTL

Nguyễn Bá Tuyn (1998), Quản lý khai thác CTTL, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội

đã tham gia nghiên cứu việc khai thác các CTTL tác động đến sản xuất nông nghiệp Nghị định số 154/2008/NĐ – CP của Chính Phủ về việc miễn TLP cho nông dân Quyết định 785/QĐ-BNN-TCTL 2014 Kế hoạch nâng cao hiệu quả quản lý khai thác CTTL

Tác giả PGS.TS Đoàn Thế Lợi Nghiên cứu thuỷ lợi phí (TLP) và chính sách TLP trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; Nghiên cứu mô hình quản lý thuỷ lợi hiệu quả và bền vững phục vụ nông nghiệp và nông thôn

Trang 15

1.1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.1.2.1 Khái niệm thủy lợi

Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Cụ thể, thủy lợi là việc sử dụng nước để tưới cho các vùng đất khô nhằm hỗ trợ cho cây trồng phát triển hoặc cung cấp nước tưới cho cây trồng vào những thời điểm có lượng mưa không đủ cung cấp Ngoài ra, thủy lợi cũng có một vài ứng dụng khác trong sản xuất cây trồng, trong đó bao gồm bảo vệ thực vật tránh được sương giá, khống chế cỏ dại phát triển trên các cánh đồng lúa và giúp chống lại sự cố kết đất Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể [1]

Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm

an ninh nguồn nước [2]

Như vậy hiểu theo nghĩa chung nhất thì thủy lợilà những hoạt động liên quan tới việc cấp, tưới, tiêu và thoát nước, những biện pháp nhằm khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng

Trang 16

3

1.1.2.2 Công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phụcvụ quản lý, khai thác thủy lợi

Hệ thống CTTL bao gồm các CTTL có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác

và bảo vệ trong một khu vực nhất định.Hệ thống CTTL bao gồm: CT đầu mối, mạng lưới kênh mương, các CT trên kênh

CTTL đầu mối là CTTL ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích trữ, điều hòa,phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của hệ thống tiêu, thoát nước

Mạng lưới kênh mương: Hệ thống bao gồm nhiều cấp kênh mương to nhỏ thành một mạng lưới dẫn nước từ công trình đầu mối đến từng công trình cấp nướccó độ dốc đảm bảo dẫn nước tự chảy thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước, tiêu nước Mạng lưới kênh mương được chia thành các cấp kênh khác nhau: Kênh chính (kênh cấp I) dẫn nước từ đầu mối cấp vào các kênh nhánh (cấp II) Kênh nhánh cấp II cấp nước vào kênh nhánh cấp III Kênh nhánh cấp III cấp nước vào kênh nội đồng Kênh mương tiêu là kênh mương làm nhiệm vụ tiêu thoát nước chống sói lở, ngập úng

Các CT trên kênh: Công trình dùng để lấy nước, dẫn nước, điều tiết dòng chảy và phân phối nước trên hệ thống kênh bao gồm cống đầu kênh, cổng điều tiết, tràn ngang, tràn dọc, dốc nước, bậc nước, kênh chuyển nước, xiphong, cống luồn

1.1.2.3 Quản lý công trình thủy lợi và khai thác công trình thủy lợi

Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm:

“Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể

Quản lý CTTL là hoạt động quản lý giữa chủ thể quản lý và các CTTL Chủ quản lý CTTL là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi được

Trang 17

1.1.3 Đặc điểm của CTTL

Hệ thống CTTL phục vụ cho nhiều đối tượng Ngoài nhiệm vụ chính là phục vụ cho nhu cầu tưới tiêu nông nghiệp thì nhiệm vụ cung cấp nước cho các khu công nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, tiêu nước cho các khu dân cư và khu công nghiệp, giao thông, du lịch,

Các công trình thủy lợi phải thường xuyên đối mặt trực tiếp với sự tàn phá của thiên nhiên, trong đó có sự phá hoại thường xuyên và sự phá hoại bất thường Công trình thủy lợi là kết quả tổng hợp và có mối quan hệ mật thiết hữu cơ về lao động của rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực, bao gồm từ các công tác quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công, đến quản lý khai thác (Quản lý và khai thác)

Chứa đựng rất nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau Ngoài công tác quản lý và sử dụng, các CTTL còn mang tính chất quần chúng Đơn vị quản

lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương để làm tốt việc điều hành tưới, tiêu, thu TLP, tu sửa bảo dưỡng công trình và bảo vệ công trình Do đó, đơn vị quản lý khai thác các CTTL không những phải làm tốt công tác chuyên môn mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia khai thác và bảo vệ công trình trong

hệ thống

Vốn đầu tư thường là rất lớn theo điều kiện cụ thể của từng vùng Hệ thống CTTL có giá trị lớn tuy nhiên vốn lưu động ít, lại quay vòng chậm Để có kinh phí hoạt động, có những lúc các đơn vị quản lý công trình thường phải vay ngân hàng và trả lãi cao Các

Trang 18

Hệ thống CTTL nằm rải rác ngoài trời, trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động của con người

Hiệu quả của CTTL hết sức lớn lao và đa dạng, có loại có thể xác định được bằng tiền hoặc khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không xác định được Riêng về lĩnh vực tưới tiêu thì hiệu quả thực hiện ở mức độ tưới hết diện tích, tạo khả năng tăng vụ, cấp nước kịp thời đảm bảo yêu cầu dùng nước của một số loại cây trồng, chi phí quản

lý thấp, tăng năng suất và sản lượng cây trồng… góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân nông thôn

Việc quản lý và sử dụng các CTTL của cộng đồng này có ảnh hưởng tới việc quản lý

và sử dụng các công trình của cộng đồng khác Các CTTL phải được quy hoạch và thiết kế xây dựng mang tính hệ thống đòi hỏi phải dựa trên những cơ sở khoa học cùng với thực tế của từng địa phương và cần một lượng vốn lớn Bên cạnh những quy hoạch

và thiết kế xây dựng cần có sự tham gia của chính cộng đồng hưởng lợi trực tiếp từ các công trình đó và có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn cũng như việc điều hành thực hiện quản lý các CTTL đó, có như vậy các CTTL sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng mới mang lại hiệu quả cao như mong đợi cũng như đúng với năng lực thiết kế ban đầu

Trang 19

Nước ta có hệ thống thủy lợi tương đối phát triển, góp phần quan trọng để tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu

Hiện nay, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở vùng Đông Nam Á có hệ thống thủy lợi phát triển tương đối hoàn chỉnh, với hàng ngàn hệ thống CTTL lớn, vừa

và nhỏ để cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, phòng chống lũ lụt, úng ngập, hạn hán, góp phần bảo vệ môi trường Theo thống kê của Tổng cục Thủy lợi, tính đến năm

2014, cả nước đã xây dựng được 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê các loại Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên Ngoài ra, còn

có khoảng hơn 755.000 máy bơm vừa và nhỏ do hợp tác xã và hộ nông dân mua sắm Tổng diện tích đất trồng lúa được tưới đạt trên 7,3 triệu ha Trong đó, diện tích vụ Đông Xuân là 2,99 triệu ha, vụ Hè Thu là 2,05 triệu ha và Mùa là 2,02 triệu ha Ngoài

ra, các hệ thống thủy lợi còn tưới cho 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp; tạo nguồn nước cho 1,3 triệu ha đất gieo trồng; cung cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt

và công nghiệp; ngăn mặn cho 0,87 triệu ha; cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha và tiêu nước cho trên 1,72 triệu ha đất nông nghiệp Các hệ thống CTTL đã hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp

Nông nghiệp nước ta đã từng bước hình thành những vùng sản xuất chuyên canh hoá, chuyển dần từ tự cấp, tự túc sang sản xuất nông sản hàng hoá với quy mô lớn, điển hình là hai vùng trọng điểm lúa của nước ta là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng; vùng chuyên canh cây cà phê, cao su và chè xuất khẩu, v.v

Hệ thống CTTL đã góp phần quan trọng trong phòng chống thiên tai, như: phòng

Trang 20

7

chống lũ, chống úng, ngập cho khu vực đô thị và nông thôn, chống hạn, xâm nhập mặn Cả nước đã xây dựng được khoảng 6.150 km đê sông, 2500 km đê biển;hệ thống các hồ chứa trên toàn quốc, trong đó có nhiều hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Tả Trạch,Dầu Tiếng, v.v ) đóng vai trò quan trọng cho phòng, chống lũ các lưu vực sông Hệ thống các trục tiêu lớn, các trạm bơm điện quy mô lớn đã được đầu tư, xây dựng đảm bảo chống ngập, úng cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn Những thành tựu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã đạt được trong thời kỳ đổi mới là cơ sở quan trọng để các Đại hội Đảng gần đây nhấn mạnh vai trò quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn bởi vì nó tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình CNH, HĐH nền kinh tế đất nước

Hệ thống thủy lợi đã góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt, bảo

vệ môi trường nước, phát triển dịch vụ, du lịch cho các vùng trên cả nước

Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới

Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch

Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn

đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất

Đi đôi với mở rộng diện tích tưới nước để đảm bảo nước ngọt quanh năm cho nhiều vùng rộng lớn ở cả đồng bằng, trung du, miền núi, tạo điều kiện phân bổ lại dân cư, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển thuỷ sản Ngoài việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống thủy lợi còn cung cấp nước sạch ở nông thôn,

đô thị, khu đô thị, khu công nghiệp,… Bên cạnh đó hệ thống thủy lợi còn đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thuỷ sản nội địa và tạo điều kiện cho mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản vùng nước ngọt, nước lợ

Trang 21

8

Các hồ đập được xây dựng ở mọi miền đã làm tăng độ ẩm, điều hoà dòng chảy, tạo điều kiện để ổn định cuộc sống định canh định cư để giảm đốt phát rừng Các trục kênh tiêu thoát nước của các hệ thống thuỷ nông đã tạo nguồn nước ngọt, tiêu thoát nước thải cho nhiều đô thị, thành phố

Song hành với hệ thống tưới, tiêu, đê điều và đường thi công, CTTL đã góp phần hình thành mạng giao thông thuỷ, bộ rộng khắp Các hồ chứa có tác động tích cực cải tạo điều kiện vi khí hậu của một vùng, làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai.Bên cạnh đó các hồ chứa có vai trò to lớn phát triển hệ thống thủy điện quốc gia, phục vụ phát triển đất nước

Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

 Hệ thống tổ chức quản lý thủy lợi từ Trung ương đến địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện

Bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương tương đối đồng

bộ, thống nhất để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi

Về quản lý các CTTL đầu mối lớn, hệ thống thủy lợi liên xã trở lên, cả nước hiện có

96 tổ chức quản lý khai thác CTTL là doanh nghiệp trực thuộc cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 7 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh

và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm Về quản lý các CTTL nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi (Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác

xã chuyên khâu thủy nông), Tổ chức hợp tác (Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác,Tổ, Đội thủy nông) và Ban quản lý thủy nông Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm 90% Tổ chức dùng nước

Trang 22

9

Công tác Quản lý và khai thác CTTL đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh Hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác CTTL cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh

Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước trong khu vực

Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới lịch sử văn hoá trong vùng

1.2 Các nội dung quản lý công trình trong giai đoạn vận hành khai thác

CTTL

1.2.1 Các bước quản lý CTTL

Quản lý CTTL là một nghệ thuật điều hành xây dựng hệ thống hoạt động nghiên cứu triển khai, thiết kế, duy tu bảo dưỡng CTTL và kết hợp tổng thể các nguồn nhân lực với các nguồn vật chất thông qua một chu trình khép kín của công trình, bằng việc sử dụng các kỹ năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu như thiết kế ban đầu và mục đích phục vụ của công trình, đồng thời nhằm bảo đảm phát huy hết năng lực và công suất làm việc của các CTTL Các CTTL cần được quản lý theo pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL Cần phải ban hành các luật cụ thể về khai thác sử dụng các CTTL để hướng các cá nhân, các công ty, doanh nghiệp có các hoạt động kinh doanh sản xuất phù hợp với mục đích bảo vệ công trình CTTL cần phải giao cho các tổ chức của địa phương đặc biệt quan tâm tới cộng đồng quản lý dưới các hình thức ban tự quản và nhóm sử dụng nước Mặt khác, phải điều tra hiện trạng các CTTL, lên quy hoạch duy

Trang 23

10

tu bảo dưỡng, sửa chữa và bảo vệ công trình Khẩn trương tiến hành các chương trình

dự án duy tu, sữa chữa, nâng cấp và làm mới các công trình để đảm bảo cho sự phát triển Các nội dung chính trong công tác quản lý và khai thác các CTTL đó là:

Lập kế hoạch: Là một hoạt động của quá trình quản lý mà con người cần hướng vào mục tiêu để đạt được mục đích chung của CTTL

Tổ chức: Là quá trình hoạt động liên quan đến mục tiêu, kế hoạch và xác định trao trách nhiệm quyền quản lý cho các tổ chức cá nhân để có hiệu quả nhất

Điều hành: Là những hoạt động để xác định phạm vi, quyền hạn ra quyết định, phân

bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng

1.2.2 Nội dung công tác quản lý CTTL

 Tổ chức bộ máy Quản lý và khai thác CTTL:

CTTL có vai trò đặc biệt quan trọng không những phục vụ trong sản xuất nông nghiệp

mà còn có vai trò lớn trong việc cung cấp nước, tiêu nước phục vụ đời sống nhân dân, cung cấp nước cho các ngành khác phát triển như công nghiệp, dịch vụ,… Nếu quản lý

và sử dụng không hợp lý, các CTTL có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội, đặc biệt là lũ lụt Chính vì thế, nhà nước cần có các quy định cụ thể trong việc tổ chức Quản lý và khai thác CTTL Như vậy, tổ chức Quản lý và khai thác CTTL của địa phương được giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm Quản lý và khai thác Tùy thuộc các địa phương khác nhau, công tác tổ chức Quản lý và khai thác CTTL khác nhau nhưng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan trực tiếp được

Ủy ban nhân dân tỉnh giao phó công tác tổ chức quản lý, vận hành các CTTL trên địa bàn tỉnh.Tổ chức quản lý CTTL có thể bao gồm nhiều bên liên quan khác nhau Khi

Trang 24

11

phân tích đánh giá công tác quản lý CTTL cần phải xác định cụ thể chức năng, phạm

vi và nhiệm vụ của tổ chức trong mối quan hệ chặt của các đơn vị khác

 Công tác quản lý CTTL:

Đo đạc, quan trắc, giám sát, kiểm tra, kiểm định, đánh giá an toàn CTTL;

Quản lý, tổ chức bảo trì, đầu tư nâng cấp, xây dựng mới, hiện đại hóa, xử lý khắc phục

sự cố CTTL, máy móc, thiết bị; cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ CTTL;

Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án ứng phó thiên tai và phương án bảo vệ CTTL;

Lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý CTTL

1.3 Tình hình quản lý và khai thác công trình thủy lợi hiện nay

1.3.1 Hiện trạng các hệ thống CTTL ở nước ta

Nước ta có hệ thống thủy lợi tương đối phát triển, góp phần quan trọng tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Đến nay, với sự đầu tư rất lớn của nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trên phạm vi toàn quốc, đã xây dựng được 904 hệ thống thủy lợi lớn và vừa có quy mô diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên, trong đó có 110 hệ thống thủy lợi lớn (diện tích phục vụ lớn hơn 2.000 ha) Đã xây dựng được 6.831 hồ các loại, với tổng dung tích trữ khoảng 50 tỷ m3, trong đó có 150 hồ thủy điện với tổng dung tích trữ khoảng 39,6 tỷ m3, 6.681 hồ thủy lợi với tổng dung tích 10,28 tỷ m3 Các hồ chứa

đã và đang phục vụ cho phát điện, cấp nước sinh hoạt, cấp nước cho các ngành kinh tế, bảo đảm tưới cho 800.000 ha đất canh tác Có 10.076 đập dâng các loại; 13.347 trạm bơm các loại, tổng công suất lắp máy phục vụ tưới là 250 MW, phục vụ tiêu là 300MW, trên 5.500 cống tưới, tiêu lớn (trong đó có trên 4.000 cống dưới đê) Có 6.151 km đê sông, 2.488 km đê biển, 25.869 km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở Đồng bằng sông Cửu Long; 254.815 km kênh mương các loại, đã kiên cố được 51.856 km Với các hệ thống thủy lợi hiện có, tổng năng lực tưới của các hệ thống bảo đảm cho khoảng 90% diện tích đất canh tác Tổng diện tích đất trồng lúa được tưới, tạo nguồn nước tưới đạt 7 triệu ha, trong đó vụ Đông Xuân 2,99 triệu ha, Hè Thu 2,05 triệu ha;

Trang 25

12

vụ Mùa 2,02 triệu ha Tỷ lệ diện tích được tưới tự chảy chiếm 61%, còn lại được tưới bằng bơm dầu, bơm điện và các hình thức khác Hàng năm, các hệ thống thủy lợi còn phục vụ tưới cho 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp [3] Nhiều hệ thống CTTL lớn, như: Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải, Núi Cốc,Cấm Sơn, Cửa Đạt, Sông Mực, Kẻ Gỗ, Tả Trạch, Phú Ninh, Định Bình, Đồng Cam,Sông Ray, Dầu Tiếng-Phước Hoà, Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ Giác Long Xuyên, Ômôn-Xà no, Nam Măng Thít, v.v… đã mang lại hiệu ích lớn cho đất nước Đặc biệt trong vòng 10 năm qua, nhiều hệ thống CTTL quy

mô lớn đã và đang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và vốn vay ODA như: các hồ chứa nước Cửa Đạt, Bản Mồng, Sông Sào, Ngàn Trươi, Rào Đá,

Đá Hàn, Thác Chuối, Tả Trạch, Định Bình, Vân Phong, Nước Trong, Tân Mỹ; hệ thống thủy lợi Phan Rí - Phan Thiết, Phước Hòa, Easup Thượng, Quản Lộ - Phụng Hiệp để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Hệ thống CTTL đã góp phần quan trọng trong phòng chống thiên tai như: phòng chống lũ, chống úng, ngập cho khu vực đô thị và nông thôn, chống hạn, xâm nhập mặn Cả nước đã xây dựng được khoảng 6150 km đê sông, 2500 km đê biển; hệ thống các hồ chứa trên toàn quốc, trong đó có nhiều hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Tả Trạch, Dầu Tiếng, v.v…) đóng vai trò quan trọng cho phòng, chống lũ các lưu vực sông Hệ thống các trục tiêu lớn, các trạm bơm điện quy mô lớn đã được đầu tư, xây dựng đảm bảo chống ngập, úng cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn Hệ thống thủy lợi đã góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt cho đô thị, khu công nghiệp, khu vực nông thôn trên cả nước Chỉ riêng hệ thống Dầu Tiếng-Phước Hòa đã quy hoạch, xây dựng để cấp nước cho 5 tỉnh, thành phố, gồm: Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh với lưu lượng khoảng 20 m3/s Các

hệ thống CTTL còn góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước, phát triển dịch vụ, du lịch

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý và khai thác CTTL ở nước ta

1.3.2.1 Thành tựu cơ bản trong quản lý và khai thác CTTL ở nước ta

 Tổ chức quản lý nhà nước

Trang 26

13

Bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương tương đối đồng

bộ, thống nhất để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi Ở Trung ương, đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN &PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bão) Ở cấp huyện, thành lập Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi Nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp việc cho các cấp lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành phục vụ phát triển kinh tế-xã hội

 Tổ chức quản lý và khai thác CTTL

Về quản lý các CTTL đầu mối lớn, hệ thống thủy lợi liên xã trở lên, cả nước hiện có

96 tổ chức Quản lý và khai thác CTTL là doanh nghiệp trực thuộc cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN & PTNT, 7 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm

Về quản lý các CTTL nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 Tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu là: Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi (Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), Tổ chức hợp tác (Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông) và Ban quản lý thủy nông Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm 90% Tổ chức dùng nước

Công tác Quản lý và khai thác CTTL đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh Hoạt động của các tổ chức Quản lý và khai thác CTTL cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh Một số đơn vị ở địa phương và Trung ương đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các CTTL, như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Thuận, Bình Thuận, TP

Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền Giang; Cty TNHH MTV Khai thác CTTL Bắc Nam Hà, v.v…

1.3.2.2 Hạn chế, tồn tại trong Quản lý và khai thác các CTTL ở nước ta

 Hiệu quả Quản lý và khai thác CTTL còn yếu kém

Trang 27

14

Mặc dù được đầu tư lớn nhưng công tác quản lý, vận hành hệ thống CTTL còn bộc lộ nhiều hạn chế, như:

Công trình xuống cấp nhanh, sử dụng nước lãng phí

Hệ thống tài chính yếu kém, chủ yếu dựa vào nguồn thu từ ngân sách nhà nước, phương thức cấp phát và nghiệm thu không dựa vào chất lượng dịch vụ tưới, tiêu

Tổ chức thủy nông cơ sở thiếu bền vững; thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa nạo vét kênh mương, dẫn đến công trình hư hỏng, xuống cấp nhanh

Quản lý an toàn hồ đập chưa được coi trọng đúng mức, nhiều hồ đập bị xuống cấp có nguy cơ mất an toàn, tổ chức quản lý hồ đập (đặc biệt là hồ đập nhỏ)

Trang 28

Tổ chức thủy nông cơ sở thiếu bền vững; năng lực của cán bộ quản lý yếu cả về tổ chức quản lý và kỹ thuật; tài chính của tổ chức thủy nông cơ sở rất khó khăn, theo báo cáo của địa phương, trên 52% tổ chức có nguồn thu chỉ đáp ứng 65-70% yêu cầu chi, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa nạo vét kênh mương, dẫn đến công trình hư hỏng, xuống cấp nhanh Một số địa phương có xu hướng giao công trình thủy lợi nội đồng cho Công ty khai thác CTTL quản lý, tiếp tục làm tăng gánh nặng đến ngân sách nhà nước

Quản lý an toàn hồ đập chưa được coi trọng đúng mức, nhiều hồ đập bị xuống cấp có nguy cơ mất an toàn, tổ chức quản lý hồ đập (đặc biệt là hồ đập nhỏ) chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực cảnh báo, dự báo sớm phục vụ chỉ đạo điều hành và vận hành hồ chứa còn yếu

 Thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu của nền nông nghiệp đa dạng và hiện đại Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún: Trong những năm gần đây, phong trào dồn điền đổi thửa đã được thực hiện ở nhiều nơi nhằm hình thành những thửa ruộng có diện tích đủ lớn để áp dụng phương thức sản xuất cơ giới hóa, hiện đại hóa Trong đó, có những địa phương đã tiến hành nhiều đợt dồn điền, đổi thửa, như ở Thái Bình đã thực hiện dồn điền đổi thửa hai lần vào các năm 1993 và 2012

Nhìn chung sự nhỏ lẻ, manh mún của ruộng đất có xu hướng tăng dần từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng cho đến miền núi và tình trạng này đến nay vẫn chưa hề có dấu hiệu được cải thiện đáng kể do dân số gia tăng nhưng đất nông nghiệp lại đang giảm đi, đặc biệt là ở hai vựa lúa lớn của cả nước

Trang 29

16

Hệ thống thủy nông chưa đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp: Các hệ thống kênh mương nội đồng hiện nay chủ yếu là kênh đất, làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp, không có cống điều tiết, hệ thống bờ lô, bờ thửa thiếu, không đáp ứng được nhu cầu giữ và ngăn nước Trong khi đó, ở nhiều nơi việc chuyển đổi cây trồng diễn ra mạnh mẽ, cây rau màu được đưa xuống ruộng lúa thay cây lúa Tuy nhiên hệ thống thuỷ nông của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng hoá cây trồng, thâm canh tăng vụ

Khả năng thích ứng của các hệ thống thủy nông trước tình hình hạn hán, xâm nhập mặn còn hạn chế:

- Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, từ 8/2012-3/2013 tình hình hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Trong đó, vùng Nam Trung Bộ có 17.277 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn (15.627 ha lúa; 300 ha cà phê và 1.350 ha cây trồng khác); khu vực Tây Nguyên có 39.964 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn (11.036 ha lúa; 23.921 ha cà phê; 5.007 ha cây trồng khác)

Tình trạng hạn hán tiếp tục xảy ra trong năm 2014 và đặc biệt là trong những ngày gần đây, hạn hán diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và Tây nguyên gây nên những thiệt hại nghiêm trọng Điển hình là tình hình thiệt hại do hạn hán gây ra trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận tính đến ngày 20/4/2015, trong vụ Đông Xuân 2014-2015, diện tích dừng không sản xuất do thiếu nước tưới là 6.100ha Trong

đó, cây lúa 3.214ha, cây màu ngắn ngày 2.886ha, gián tiếp gây thiệt hại trên 30 nghìn tấn lương thực và cây hoa màu khác làm giảm đáng kể sản phẩm xã hội do ảnh hưởng nắng hạn.Thiệt hại trực tiếp đối với sản xuất trên địa bàn tỉnh đã có 40,4ha lúa bị thiệt hại 100%, 3,1ha giảm năng suất 30%; 135ha cây rau màu giảm năng suất 50%; 03 ha cây ăn quả mất trắng và 77ha không đủ nước tưới làm giảm năng suất 50%;diện tích cây mía do nắng kéo dài thiệt hại trên 1.117ha; 68ha bắp bị thiệt hại 100%

Bên cạnh đó, ở khu vực Tây Nguyên, hạn hán cũng đang xảy ra hết sức nghiêm trọng Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và PTNT, đây là đợt hạn nghiêm trọng nhất trong 10 năm trở lại đây, chỉ riêng tỉnh Đắk Lắk, tính đến ngày 4/5/2015, đã có hơn

Trang 30

- Theo “Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, tính đến năm 2012, diện tích gieo trồng chè đạt 129 nghìn

ha, cà phê 622,1 nghìn ha, cao su 910,5 nghìn ha, hồ tiêu 58,9 nghìn ha, điều 235,9 nghìn ha, cây ăn quả 675,9 nghìn ha, mía 297,9 nghìn ha, cây rau, đậu 1.004,9 nghìn

ha nhưng diệntích được áp dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế

- Đầu tư hạ tầng thủy lợi cho phục vụ nuôi trồng thủy sản rất thấp, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu nuôi trồng thủy sản Chưa có quy hoạch khai thác nguồn nước(mặt, ngầm), hệ thống thủy lợi chưa đảm bảo cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, chưa quan tâm đến giải pháp xử lý nước thải từ khu nuôi trồng thủy sản

- Quản lý an toàn hồ đập còn nhiều bất cập: còn nhiều công trình hồ đập, nhất là các hồ đập nhỏ có nguy cơ mất an toàn, chưa hình thành các tổ chức cộng đồng quản

lý an toàn hồ đập nhỏ

1.3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác Quản lý và khai thác

các CTTL

 Nguyên nhân khách quan

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội gây ra (suy giảm chất lượng rừng, phát triển hồ chứa thượng nguồn, khai thác cát

và lún ở vùng hạ du; phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông cản trở thoát lũ ) tác động bất lợi cho hệ thống CTTL, đặc biệt hệ thống lấy nước dọc các sông lớn trên toàn quốc, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đòi hỏi yêu cầu cao hơn về thủy lợi; yêu cầu tiêu, thoát nước của nhiều khu vực tăng lên nhiều so với trước đây, nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp từ hệ thống CTTL tăng, mức đảm bảo an toàn tăng

Trang 31

18

Tổ chức sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả sản xuất thấp khiến nông dân chưa quan tâm nhiều đến thủy lợi

 Nguyên nhân chủ quan

Chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp trong quản lý khai thác CTTL

Hiện nay, trên 90% doanh nghiệp khai thác CTTL trên cả nước hoạt động theo phương thức giao kế hoạch công tác quản lý khai thác CTTL Cơ chế này một mặt thiếu công

cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, mặt khác hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân viên có xu thế ngày càng tăng; hệ thống CTTL bị xuống cấp nhanh; chất lượng cung cấp dịch vụ thấp; thiếu cơ chế để phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ

sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức Quản lý và khai thác để tăng nguồn thu Nhiều hệ thống CTTL có tiềm năng khai thác để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho nông nghiệp công nghệ cao… nhưng đã không được tận dụng triệt để Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản lý khai thác công trình

- Quản lý thủy nông cơ sở chưa phát huy được vai trò chủ thể và quyết định của người dân, sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương

Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy nông cơ sở còn mang nặng tính áp đặt, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân Đây là nguyên nhân quan trọng,

cơ bản nhất khiến nhiều tổ chức thiếu bền vững

Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm TLP của nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác CTTL là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí

Trang 32

19

Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm TLP là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cung cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí

Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý bất cập đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong Quản lý và khai thác CTTL Các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện, cơ chế để tham gia

Chính quyền xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý CTTL, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác CTTL trên địa bàn Nhiều CTTL phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự

Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước và quốc tế nhưng việc áp dụng và hiệu quả hạn chế: Khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn,

hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận Số lượng

đề tài khoa học công nghệ có kết quả ứng dụng vào sản xuất rất thấp (20-30%), hoặc chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp, còn nặng về công nghệ, xem nhẹ nghiên cứu nâng cao năng lực thể chế, làm luận cứ cho xây dựng cơ chế, chính sách Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về Quản lý và khai thác CTTL còn thấp

Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác Quản lý và khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành CTTL chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm

Trang 33

20

Cải cách thể chế, cải cách hành chính chậm, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao Quản lý và khai thác CTTL chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế bao cấp, với hình thức giao kế hoạch, theo cơ chế cấp phát-thanh toán không gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm nên việc hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, gây nên sự trì trệ, yếu kém trong quản lý khai thác CTTL Vai trò của các cơ quan chuyên ngành mờ nhạt trong khi cơ quan cấp phát không chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng, chưa tạo sự chủ động cho tổ chức Quản lý và khai thác CTTL Phân phối lương không dựa vào kết quả làm bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp

Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực để người dân tham gia xây dựng, quản lý khai thác CTTL nội đồng Thiếu cơ chế, động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao Thiếu thể chế ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động của nhà nước

Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động Quản lý và khai thác CTTL chưa phù hợp, nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao

Nhận thức về Quản lý và khai thác và bảo vệ CTTL còn hạn chế Nhận thức của một

số lãnh đạo quản lý và người dân chưa đúng, chưa đủ về các chính sách hiện hành trong Quản lý và khai thác và bảo vệ CTTL, đặc biệt là chính sách miễn, giảm TLP Phần lớn hiểu chính sách miễn, giảm TLP là bỏ TLP, trong khi đó thực chất đây là hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp cho người dân

và có nguồn kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình Do vậy, đã không phát huy được sự tham gia của người dân trong quản lý khai thác CTTL, đặc biệt là CTTL nội đồng

Các công trình xây dựng thiếu đồng bộ, hoặc chất lượng chưa đảm bảo phần lớn các công trình đều có đầu mối hoàn chỉnh nhưng phần kênh mương còn dở dang Trình độ quản lý và KTCT còn hạn chế, chưa chú trọng đến công tác duy tu, sửa chữa công trình theo định kỳ dẫn đến công trình xuống cấp theo thời gian

Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng chưa được coi trọng

Trang 34

21

1.3.3 Kinh nghiệm Quản lý và khai thác CTTL của một số địa phương trong nước

1.3.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình

Lựa chọn mô hình quản lý phù hợp để khai thác hiệu quả hệ thống CTTL cho phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh là vấn đề được thảo luận trong nhiều năm gần đây Thái Bình là tỉnh đầu tiên thực hiện phân cấp quản lý trong hoạt động khai thác CTTL

Ở đây, hệ thống thủy nông đã được quy hoạch cơ bản hoàn chỉnh từ năm 1975 Nguyên tắc thực hiện phân cấp rút ra từ tỉnh Thái Bình là: Phải giữ được sự ổn định trong quá trình bàn giao và sau khi bàn giao trong việc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, không cát cứ, cục bộ, củng cố mối quan hệ giữa công ty thủy nông với địa phương và Tổ chức hợp tác dùng nước; Bàn giao nguyên trạng công trình đồng loạt, nhanh gọn, đơn giản, dân chủ và đúng pháp luật giữa Công ty thủy nông cho Hợp tác xã dưới sự giám sát của Ban chỉ đạo tỉnh, huyện,

xã, phường, thị trấn; Việc sửa chữa, tu bổ công trình có thể thực hiện trước, trong, hoặc sau khi bàn giao nhưng phải đảm bảo hoạt động tại thời điểm bàn giao

Theo đó, hai Công ty KTTL Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình đã bàn giao 285 trạm bơm điện, 742 km sông dẫn nước vào trạm bơm, 216 cống đập nội đồng nhỏ trên kênh, 5.781 km kênh mương cấp 1, 2 sau trạm bơm cho các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn 7 huyện, thành phố (trừ Thái Thụy đã bàn giao từ 1994) Việc phân cấp công trình trạm bơm hoàn thành trong năm 2007 và phân cấp quản lý hệ thống sông trục hoàn thành trong năm 2009 Kết quả bước đầu cho thấy việc phân cấp quản

lã đã tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực Các CTTL từ đầu mối đến mặt ruộng đều có chủ quản lý thật sự Các địa phương chủ động điều phối nước tưới theo tiến độ mùa vụ cho từng khu vực, từng nhóm cây trồng (lúa, đậu phộng, cà chua…); khi có mưa lớn xảy

ra, việc tiêu nước chống úng cũng linh hoạt nên giảm được thiệt hại mùa màng nhiều hơn; chi phí điện giảm, tăng hiệu quả khai thác công trình

Bên cạnh những kết quả nói trên, quá trình thực hiện việc phân cấp như trên cũng cho thấy có một số vấn đề phát sinh cần giải quyết: Các công ty thủy nông phải tính đến việc sắp xếp lại lao động Trong trường hợp của tỉnh Thái Bình, các công nhân vận hành trạm bơm và đa số lao động gián tiếp dôi dư là những người còn trẻ, chưa đủ tiêu chuẩn giải quyết nghỉ theo chế độ, nên việc bố trí sắp xếp công việc mới để tránh gây

Trang 35

22

khó khăn cho họ cũng là vấn đề không dễ; Các Hợp tác xã nông nghiệp tuy nhận công trình bàn giao từ công ty thủy nông nhưng lại chưa chuẩn bị lực lượng đội ngũ kỹ thuật để vận hành nên cũng gặp khó khăn; Việc xác định cống đầu kênh chưa thật sự

rõ ràng nên khó cho việc xác định chi phí đầu tư tu bổ nâng cấp công trình sẽ lấy từ nguồn vốn do dân đóng góp hay từ nguồn TLP cấp bù; Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm khai thác và bảo vệ công trình chưa được coi trọng; chẳng hạn, việc cấp phép cho các hoạt động trong phạm vi khai thác và bảo vệ

hệ thống sông trục chỉ mới tiến hành trên một số sông trục chính, còn lại hầu như chưa được quản lý

1.3.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Nguyên

Theo báo cáo của Sở NN & PTNT, hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 1.214 CTTL lớn, nhỏ Trong đó có 413 hồ chứa nước, 409 đập dâng kiên cố, 109 CT phai đập, 283 công trình trạm bơm tưới Hệ thống công trình đảm bảo tưới được 94.116 ha trên tổng số 121.710 ha gieo trồng (đạt 77%) Trong đó: Diện tích tưới cho lúa: 66.037

ha và tổng số diện tích tưới cho cây trồng khác: 28.079 ha

Phân cấp Quản lý và khai thác: Từ năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đãphân cấp, giao cho Công ty TNHH Một thành viên khai thác thủy lợi Thái Nguyên quản l.74 CTTL (bao gồm 36 hồ chứa, 33 đập dâng, 4 trạm bơm tưới và 01 trạm bơm tiêu) Cònlại 1.140 danh mục CTTL được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thịxã quản lý Hiện tại Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Thái Nguyên với

số lượng 1.959 người (trong đó trình độ trên đại học 3 người, đại học 117 người, cao đẳng 7 người, trung cấp 89 người, sơ cấp 73 người còn lại là công nhân hợp đồng chưa qua đào tạo) Số CTTL được giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý và hệ thống kênh mương nội đồng được 296 tổ QLTN cơ sở trực tiếp quản lý vận hành khai thác

Tổng kinh phí thực hiện hỗ trợ TLP giai đoạn 2011 – 2014 là trên 270 tỷ đồng Chính sách TLP đã được tỉnh Thái Nguyên triển khai kịp thời, đúng đối tượng tạo điều kiện cho các địa phương tập trung hơn cho công tác đầu tư, Quản lý và khai thác các hệ thống CTTL, từ đầu mối đến kênh mương hiện có, đổi mới nâng cao năng lực quản lý điều hành nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các CT sau đầu tư; Tình trạng nợ đọng

Trang 36

23

TLP cũng hoàn toàn chấm dứt Thực hiện tốt công tác Quản lý và khai thác CTTL đã góp phần quan trọng đưa diện tích lúa và hoa mầu được đảm bảo tưới từ CTTL không ngừng tăng, từ 83.000 ha (năm 2010) lên 94.100 ha (năm 2014)

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ việc tổng hợp, nghiên cứu từ các tài liệu chương 1 đã hệ thống các đặc điểm của công trình thủy lợi, nội dung quản lý công trình và tình hình quản lý và khai thác các CTTL Bên cạnh đó tác giả đã so sánh kết hợp với thực tiễn của một số đơn vị để đưa

ra các nhận định, đánh giá về công tác quản lý các CTTL

Trang 37

24

KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

2.1 Cơ sở pháp lý trong quản lý công trình thủy lợi

Những văn bản pháp quy về Quản lý hệ thống CTTL:

Trong những năm vừa qua, Nhà nước và BNN&PTNT đang từng bước, cũng cố và hoàn thiện về khung pháp lý và các văn bản hành chính hỗ trợ cho công tác Quản lý và khai thác các hệ thống tưới tiêu như: Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012; Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/09/2017; Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008; Thông tư số 05/2018/TT-BNNPTNT ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định chi tiết một số điều của luật thủy lợi; Để thống nhất, hỗ trợ các chính sách trên Thông tư số 73/2018/TT-BTC ngày 15/08/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn sử dụng nguồn tài chính trong quản lý, khai thác CTTL sử dụng vốn nhà nước đã phản ánh được hoạt động của các đơn vị Quản lý và khai thác CTTL thông qua quản lý nguồn nước và quản lý hạch toán tài chính làm cơ sở cấp bù TLP Về quản lý hoạt động, tổ chức doanh nghiệp khai thác CTTL: Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng

10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã tạo hành lang pháp lý cho việc củng

cố và ổn định tổ chức của các doanh nghiệp Quản lý và khai thác CTTL Quyết định

số 2891/QĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác Quản lý và khai thác và bảo vệ CTTL Đây là những văn bản quan trọng, đã và đang được áp dụng thời gian qua, tạo

cơ sở pháp lý giúp các địa phương, các đơn vị Quản lý và khai thác CTTL triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, đồng thời tăng cường công tác Quản lý và khai thác CTTL

Chính sách TLP mới thực sự là một bước ngoặt trong công tác Quản lý và khai thác CTTL Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ CTTL, Nghị định lần này đã điều chỉnh mức thu phù hợp với chi phí thực tế phát sinh của các

Trang 38

25

đơn vị Quản lý và khai thác CTTL đồng thời thống nhất mức thu TLP cũng là mức cấp

bù đối với công trình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, đảm bảo 100% kinh phí miễn TLP tăng thêm cho các đơn vị thủy nông trung ương và các địa phương nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương… Với chính sách miễn TLP mới này sẽ là một trong những giải pháp tích cực đầu tư công vào nông nghiệp nông thôn, thực hiện chính sách tam nông theo Nghị quyết số 26/NQ-TW khóa

10 của Ban chấp hành trung ương Đảng là một trong những nhiệm vụ thiết thực phục

vụ cho chính sách an sinh xã hội, có những tác động mạnh mẽ về mặt chính sách vĩ mô nhằm khuyến khích người nông dân ở những vùng còn khó khăn, hạn chế về điều kiện sản xuất tích cực đầu tư hơn cho sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch sản xuất từ cây lúa sang các cây trồng vật nuôi khác có hiệu quả kinh tế cao

Trong những năm 2009-2012 gần 100 tiêu chuẩn kỹ thuật thủy lợi đã được BNN & PTNT chỉ đạo rà soát, bổ sung, nâng cấp, hoàn thiện, xây dựng mới và phổ biến thành các tiêu chuẩn quốc gia nhằm đáp ứng được đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hội nhập với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới cũng như đảm bảo việc thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu Bộ Nông nghiệp & Phát tiển nông thôn đang tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và ban hành một số văn bản quy định về công tác kiểm tra đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ tưới tiêu, chính sách tạo cơ chế chủ động cho doanh nghiệp trong Quản lý và khai thác CTTL

2.2 Các yêu cầu về quản lý công trình trong giai đoạn vận hành khai thác

CTTL

2.2.1 Về chất lượng công trình, vận hành khai thác

Về nguyên tắc chung khi đã xây dựng công trình thì tất yếu phải có tổ chức quản lý vận hành khai thác và duy tu thì mới sử dụng bền vững Cơ sở này đã được chứng minh bằng các số liệu về hiện trạng công trình, hơn nữa đặc điểm thủy lực của nước càng làm rõ hơn cơ sở khách quan là phải có các tổ chức quản lý vận hành CTTL phù hợp

Đảm bảo vận hành các công trình theo mục tiêu thiết kế, quy hoạch, quy trình, tiêu chuẩn hiện hành và các điều khoản trong các hợp đồng đặt hàng của cơ quan đại diện

Trang 39

26

chủ sở hữu CTTL Đặc biệt quan tâm nhiệm vụ quản lý vận hành, bảo vệ an toàn hành lang các tuyến kênh chính, cấp I, cấp II, đồng thời quy hoạch, bảo vệ các khu vực sử dụng làm bãi thải bùn nạo vét thuộc hành lang các tuyến kênh được giao quản lý Việc vận hành công trình thủy lợi phục vụ tưới, tiêu cho vùng lúa chuyên canh tập trung phải chủ động, bảo đảm số lượng, chất lượng nước, đáp ứng quy trình kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm, hiệu quả

Vận hành công trình thủy lợi phục vụ tưới, tiêu cho cây trồng cạn phải đáp ứng yêu cầu: Bảo đảm tưới, tiêu chủ động, số lượng, chất lượng nước, đáp ứng quy trình kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm, hiệu quả cho các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyển đổi từ đất trồng lúa sang cây trồng cạn; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; sử dụng kỹ thuật tưới phù hợp với từng loại cây trồng

để tiết kiệm nước; tích hợp tưới với các biện pháp canh tác tiên tiến

Vận hành công trình thủy lợi phục vụ cấp, thoát nước cho nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng yêu cầu: Bảo đảm hệ thống cấp, thoát nước chủ động, đáp ứng quy trình kỹ thuật nuôi trồng thủy sản tiên tiến, hiện đại đối với vùng nuôi trồng thủy sản thâm canh tập trung; bảo đảm số lượng, chất lượng nước cấp theo quy định đối với vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong việc cấp nước,

sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản

Việc vận hành công trình thủy lợi phục vụ tưới, tiêu, cấp, thoát nước cho các mục tiêu khác trong sản xuất nông nghiệp phải bảo đảm số lượng, chất lượng nước, tiết kiệm, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng nước

Vận hành công trình thủy lợi khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng Chủ quản lý công trình thủy lợi có trách nhiệm tổ chức lập phương án ứng phó với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng xảy ra trên địa bàn Khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng việc vận hành công trình thủy lợi phải được: Thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thủy lợi; khi xảy ra hạn hán, thiếu nước phải bảo đảm ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt

và nhu cầu thiết yếu của sản xuất nông nghiệp; khi xảy ra xâm nhập mặn phải thực hiện các giải pháp để giảm thiểu ảnh hưởng đến sinh hoạt, nhu cầu thiết yếu của sản

Trang 40

27

xuất và môi trường; khi xảy ra lũ, ngập lụt, úng việc vận hành phải bảo đảm an toàn cho công trình, đồng thời phải triển khai biện pháp ứng phó khác để giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản

2.2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Trong thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất tốt, đủ năng lực thì ngành đó, đơn vị đó hoạt động hiệu quả Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải tiến hành chặt chẽ: đúng trình độ, năng lực cán bộ, công chức đồng thời có

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mà cán bộ đang yếu, đang thiếu

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý và khai thác CTTL

2.3.1 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp

2.3.1.1 Nguồn nhân lực và công tác tổ chức bộ máy QLKT CTTL

Chất lượng nguồn nhân lực, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý của công ty và ở nhiều tổ chức, đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầu Công tác tổ chức quản trị thiếu khoa học nên chi phí cao, năng suất lao động thấp, bộ máy cồng kềnh, chi tiền lương chiếm phần lớn nguồn thu của doanh nghiệp Hầu hết các đơn vị QLKT CTTL đều là doanh nghiệp nhà nước vận hành theo cơ chế bao cấp đã hạn chế tính năng động và thiếu động lực phát triển

Đối với bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi, phân giao nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn nhiều bất cập, chồng chéo dẫn đến khó khăn trong điều hành chỉ đạo Một số địa phương vẫn còn có sự trùng lẫn giữa chức năng quản lý Nhà nước và quản lý sản xuất, chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công ích của nhà nước

Quản lý vẫn mang nặng tính quan liêu, mệnh lệnh, không phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chưa bám sát thực tiễn và chưa được coi trọng, các thủ tục hành chính còn rườm rà

Phương thức QLKT CTTL chậm đổi mới theo cơ chế thị trường Cơ chế quản lý mang tính “nửa thị trường, nửa bao cấp”, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp,

Ngày đăng: 22/03/2021, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w