1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp quản lý chi phí xây dựng hiệu quả trong giai đoạn thực hiện đầu tư của ban quản lý dự án vùng phân lũ hữu đáy

174 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN TUẤN KHANG NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC TƯỚI MÙA KIỆT CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN PHÙ HỢP

Trang 1

TRẦN TUẤN KHANG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC TƯỚI MÙA KIỆT CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN PHÙ HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG ÁN

ĐIỀU HÀNH CÁC HỒ THƯỢNG NGUỒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

TRẦN TUẤN KHANG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC TƯỚI MÙA KIỆT CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN PHÙ HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG ÁN

ĐIỀU HÀNH CÁC HỒ THƯỢNG NGUỒN

Chuyên ngành : Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước

Mã số : 60-62-30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS PHẠM VIỆT HÒA

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

Luận Văn”Nghiên cứu cơ sở khoa học và khả năng áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng cấp nước tưới mùa kiệt của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn”được thực hiện từ tháng 6 năm 2010 Ngoài sự cố gắng

của bản thân, tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy, cô giáo, gia đình

và bạn bè

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS.Phạm Việt Hoà, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Quy hoạch thuỷ lợi Việt Nam, Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải,Công ty KTCTTL Tỉnh Hưng Yên và các đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn

Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử

lý số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu xót của Luận văn là không thể tránh khỏi do đó tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, tháng 12 năm 2010

Trang 4

MỞ ĐẦU:

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Hệ thống Thuỷ lợi Bắc Hưng Hải là một hệ thống thuỷ lợi lớn vào bậc nhất nước ta , nằm ở giữa đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 214.932ha, diện tích phần trong đê là 185.600ha; diện tích đất canh tác toàn hệ thống khoảng 150.200ha bao gồm đất đai của toàn bộ tỉnh Hưng Yên (10 huyện, thành phố ), 7 huyện thị của Hải Dương, 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 2 quận, huyện của thành phố Hà Nội

Toàn bộ hệ thống thủy lợi của tỉnh Hưng Yên nằm trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Hưng Yên là một tỉnh mà sản xuất Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo bước chuyển biến căn bản nền sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn

Trong những năm gần đây việc xây dựng những hồ chứa nước trên thượng nguồn cộng với sự ảnh hưởng ngày càng rõ rệt do biến đổi khí hậu dẫn đến những năm gần đây mực nước sông Hồng xuống thấp kỷ lục trong vòng hơn 100 năm qua dẫn đến khả năng đảm bảo cấp nước tưới của hệ thống Bắc Hưng Hải bị ảnh hưởng rất lớn, hàng chục ngàn ha diện tích gieo trồng của hệ thống Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đứng trước nguy cơ bị hạn hán ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Vì vậy để đảm bảo việc cấp nước tưới cho hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên thì việc nghiên cứu cơ sở khoa học và áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng cấp nước tưới mùa kiệt cho hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn là rất cần thiết.

Trên đây là lý do chính và là sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:

khả năng cấp nước tưới mùa kiệt của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn“

Trang 5

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn, ứng dụng công nghệ tiên tiến để nghiên cứu

đề xuất và lựa chọn các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cấp nước tưới, khai thác,

sử dụng và phát triển bền vững nguồn nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải thuộc địa bàn tỉnh Hưng yên, góp phần cải tạo môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân tỉnh Hưng Yên

3 NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

+ Nghiên cứu xây dựng các giải pháp cấp nước và sử dụng nước trong mùa kiệt của hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án lựa chọn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá hiện trạng tình hình hạn hán của hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nghiên cứu đề xuất các phương án cấp nước phục vụ phát triển kinh tế -xã hội đặc biệt là cấp nước cho nông nghiệp của hệ thống dưới ảnh hưởng của điều hành hệ thống hồ thượng nguồn

4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

4.1 Cách tiếp cận

- Tiếp cận theo quan điểm của hệ thống

- Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, tổng hợp đa mục tiêu

- Tiếp cận theo mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững của hệ thống

- Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong dự án phát triển nguồn nước

- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu cho các ngành dung nước

- Tiếp cận công nghệ và phương tiện, kỹ thuật mới

Trang 6

4.2 Ph ương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu của luận văn đề tài áp dụng các

phương pháp nghiên cứu sau:

+ Kế thừa áp dụng có chọn lọc các sản phẩm khoa học, công nghệ hiện có trên thế giới và ở Việt Nam

+ Điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu (tài liệu hiện trạng và phương hướng phát triển dân sinh kinh tế - xã hội, hiện trạng các công trình thủy lợi trong vùng nghiên cứu)

+ Phương pháp phân tích thống kê các tài liệu dân sinh kinh tế, tài liệu khí tượng, thuỷ văn

+ Phương pháp tổng hợp địa lý xây dựng sơ đồ mạng thuỷ lực, phân tích đánh giá tài nguyên nước và sự biến đổi của chúng theo không gian bằng phương pháp phân vùng hay hệ số tham số tổng hợp

+ Phương pháp phân tích hệ thống đánh giá về tài liệu, đặc trưng của vùng nghiên cứu

+ Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc phân tích tính toán)

+ Phương pháp sử dụng mô hình toán, thủy lực và thủy văn

+ Nghiên cứu đề xuất được các giải pháp cấp nước mùa kiệt cho các ngành kinh tế trong mùa kiệt của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án được lựa chọn

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

1.1.1 Vị trí và giới hạn

Hưng Yên là một tỉnh thuộc trung tâm đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh - Bắc Ninh - Vĩnh Phúc - Hà Tây), trong phạm vi toạ độ:Vĩ độ Bắc từ

36' Kinh độ Đông từ 105P

0 P

53' đến 106P

0 P

09'

Hình 1.1 : Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên Được giới hạn bởi:

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và Thành phố Hà Nội

- Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, Hà Nam

- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

Trang 8

- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây và tỉnh Hà Nam

Tỉnh Hưng Yên được chia thành 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã gồm các huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ và thị xã Hưng Yên với tổng diện tích tự nhiên 923,09kmP

2 P

, dân số 1.134.119 người

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình tỉnh Hưng Yên có hướng dốc chung từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông Nhìn chung địa hình phức tạp cao độ đất đai không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao thấp xen kẽ nhau như làn sóng

Về cao độ toàn tỉnh, sơ bộ đánh giá như sau:

+ Cao độ trung bình từ +2,0 đến + 4,5m chiếm 70%

+ Cao độ thấp nhất từ +1,2 đến +1,8m chiếm 10%

+ Cao độ cao nhất từ +5 đến +7m chiếm 20%

Địa hình cao tập trung chủ yếu ở phía Tây Bắc tỉnh gồm các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Văn Lâm, địa hình thấp tập trung ở các huyện: Phù Cừ, Tiên

Lữ, Ân Thi

Do điều kiện địa hình phức tạp, ruộng đất cao thấp chênh lệch lớn và xen kẽ nhau nên việc tưới, tiêu gặp rất nhiều khó khăn Tình trạng mới nắng đã hạn, mới mưa đã úng xảy ra thường xuyên gây ảnh hưởng lớn đến thời vụ năng suất cây trồng và chi phí quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi rất lớn Đất đai trong tỉnh tuy phì nhiêu, màu mỡ nhưng phần lớn là chua và phèn

1.1.3 Đặc điểm địa chất

Tỉnh Hưng Yên nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng được cấu tạo bằng các trầm tích bở rời thuộc kỷ Đệ tứ , chiều dày từ 150m đến 160m

Theo thứ tự địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau:

- Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130m đến 140m với các trầm tích vụn thô gồm sạn, sỏi, cát thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính xét bột Bao gồm các lớp:

+ Tầng bồi tích sông, thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75 đến 80m, nằm chính hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực

Trang 9

+ Tầng bồi tích sông kiểu hỗn hợp, thành phần là cát, sét, sét cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50 đến 60m nằm chỉnh hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực

- Các trầm tích Holoxen, bề dày 5 đến 30m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bố trên mặt địa tầng bao gồm các lớp:

1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng

Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa của các con sông trong khu vực bồi đắp, thành phần cơ giới của đất từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua và nghèo lân, có thể chia ra 8 loại chính sau:

1 - Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi màu nâu thẫm trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt rất thích hợp cho trồng màu và lúa cao sản Tập trung ở các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động

2 - Đất phù sa ít được bồi của hệ thống sông Hồng Tập trung ở ngoài đê sông Hồng, sông Luộc thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Thị xã, Tiên Lữ

3 - Loại đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng Tập trung ở ngoài đê sông Hồng, sông Luộc thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Thị xã, Tiên Lữ

4- Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Thái Bình Tập trung ở các huyện Văn Lâm, Mỹ Hào, Phù Cừ, Ân Thi

5- Đất phù sa glây của hệ thống sông Hồng Tập trung ở các huyện Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Yên Mỹ, Phù Cừ

6- Đất phù sa glây chua của hệ thống sông Hồng có ở các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ

7- Đất phù sa úng nước mưa mùa hè, phân bố rải rác ở các huyện

8- Đất phù sa loang lổ đỏ vàng, phân bố ở Phù Cừ

Nhìn chung, đa phần các loại đất ở Hưng Yên có độ phì khá, thích hợp để canh tác nhiều loại cây trồng cả ngắn ngày và lâu năm Tài nguyên đất của Hưng Yên cơ bản đáp ứng với yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp thâm canh cao với cơ cấu sản phẩm đa dạng Đây là cơ sở khá thuận lợi để Hưng Yên chuyển đổi

cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển nông sản hàng hoá, nâng cao hiệu quả

kinh tế và hiệu quả sử dụng đất

Trang 10

1.1.5 Đặc điểm khí tượng

1.1.5.1 Mạng lưới trạm khí tượng - thuỷ văn

Bảng 1.1: Mạng lưới trạm khí tượng, thủy văn

1 Hưng Yên Hồng H, Q 1955 - nay Di chuyển trạm nhiều lần

2 Triều Dương Luộc H, Q 1990 - nay Từ 1979 ngừng đo Q

1.1.5.2 Đặc điểm khí hậu

Hưng Yên thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàng năm chia hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều Mùa đông lạnh, ít mưa

từ tháng 11 đến tháng 3

bổ thành 2 mùa: Mùa mưa là thời kỳ có lượng mưa tháng ổn định trên 100mm và bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 hoặc 11 với tổng lượng mưa bình quân

cả mùa là từ 1.200 đến 1.400mm, chiếm 80 đến 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa từ 24 đến 87mm, chiếm 10 đến 20% tổng lượng mưa năm Lượng mưa ở Hưng Yên biến động khá mạnh theo các tháng, mức độ biến động phụ thuộc vào thời gian và cường độ hoạt động của các hệ thống gió mùa và các kiểu nhiễu động thời tiết Hàng năm ở Hưng Yên có khoảng

100 đến 150 ngày mưa Trong cùng một tỉnh song số ngày mưa mỗi nơi một khác, ở thị xã Hưng Yên có số ngày mưa là 100 đến 145 ngày Trong mùa đông, trung bình một tháng có 8 đến 10 ngày mưa, mùa hạ trung bình một tháng có 13 đến 15 ngày

Trang 11

mưa Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 1 và tăng dần đến tháng 4, tháng 8 là tháng có nhiều ngày mưa và lượng mưa nhiều nhất

Chế độ mưa không những biến động về thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, mà còn rất mạnh mẽ về lượng mưa Năm mưa nhiều lượng mưa lớn gấp 3 lần năm mưa ít

Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình tháng tại các trạm

tỉnh như sau: Hưng Yên 377,9mm, Bần 281,1mm Trong các tháng mùa mưa, nhất

là tháng 7 và 8 thường có những đợt mưa kéo dài 3, 5, 7, 10 ngày hoặc hơn nữa, sinh ra lũ lớn và úng lụt nghiêm trọng như các năm 1963, 1968, 1971, 1973, 1979,

1996 Lượng mưa 1, 3, 5 ngày lớn nhất ứng với tần suất khác nhau ở các trạm xem bảng 1.3

Bảng 1.3 Lượng mưa 1,3,5, ngày lớn nhất ứng với các tần suất

Đơn vị: mm

C và khá đồng nhất trên địa bàn tỉnh, phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp quanh năm, tuy nhiên do sự chi phối mạnh mẽ của hoàn lưu cực đới

Trang 12

nên hàng năm nhiệt độ tại Hưng Yên phân hoá thành hai mùa có tính chất khác hằn nhau: Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25P

0 P

C, mùa đông rét lạnh, nhiệt

độ trung bình dưới 20P

0 P

C

Bảng 1.4: Nhiệt độ trung bình tháng, cao nhất tuyệt đối, thấp nhất tuyệt đối

tại trạm khí tượng Hưng Yên

80% Biên trình ngày của độ ẩm hơi ngược pha với nhiệt độ, ban ngày độ ẩm thấp, đêm cao, giá trị lớn nhất tại thời điểm 4 đến 6 giờ sáng, nhỏ nhất tại thời điểm 12 đến 15 giờ

Bảng 1.5 Độ ẩm tương đối trung bình tháng tại Hưng Yên

Đơn vị: %

Hưng Yên 85,6 86,8 90,2 90,6 87,4 84,4 85,2 88,8 88 83,7 83 83,3 86,4

nhất là ở Hưng Yên và tăng dần lên các huyện phía Bắc Mùa hè lượng bốc hơi nhiều, chiếm 55 đến 60% lượng bốc hơi cả năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 10, 11 và nhỏ nhất là tháng 3

Bảng 1.6 Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm tại trạm Hưng Yên

Đơn vị: mm

Hưng Yên 65,6 50,6 49,8 55,8 82,1 89,3 95 73,7 71,5 85,1 85 79,8 73,6

Các tháng giữa mùa đông, gió có thành phần Bắc (Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc) chiếm tần suất từ 40 đến 65%, trong đó hướng Bắc xuất hiện nhiều hơn cả Tuy vậy trong

Trang 13

mùa đông gió Đông Nam vẫn có tần suất lớn (đầu mùa 15 đến 25%, giữa mùa 25 đến 45%, cuối mùa 50 đến 65%) vì khi không khí lạnh suy yếu, tín phong lại phát huy tác dụng

Về mùa hạ gió Đông Nam lại thịnh hành với tần suất 32 đến 65% Ngoài ra gió Tây Nam tuy xuất hiện với tần suất 5% nhưng có ảnh hưởng xấu tới người, cây trồng và vật nuôi vì tính chất khô nóng Bảng (1.7) cho thấy tần suất các hướng gió

Tây Nam Tây

Tây Bắc

Lặng gió

Bảng 1.8 Tốc độ gió tại trạm Hưng Yên

Đơn vị: m/s

TB tháng 1,57 1,57 1,43 1,36 1,43 1,14 1,07 1,14 1,07 1,14 1,14 1,29

Trang 14

6 - Bão và áp thấp nhiệt đới: Hưng Yên không tiếp giáp với biển, không bị bão đổ

bộ trực tiếp, do vậy sức gió khi vào đến đây đã giảm đi đáng kể Tuy vậy, tốc độ gió trong cơn bão có năm tới 35m/s Mưa to do ảnh hưởng của bão gây ngập lụt khá nghiêm trọng, lượng mưa do bão chiếm tỷ trọng lớn tới 15 đến 20% tổng lượng mưa cả năm, tháng 8 lượng mưa do bão chiếm tới 30 đến 50% tổng lượng mưa tháng

1.800 giờ, xấp xỉ số giờ nắng ở các nơi khác thuộc đồng bằng Bắc bộ, mùa nóng số giờ nắng nhiều hơn mùa lạnh Các tháng V, VI, VII số giờ nắng tới 200 đến 230 giờ

có năm tới 280 đến 300 giờ, trong khi các tháng mùa lạnh, số giờ nắng chỉ có 45 đến 95 giờ mỗi tháng

1.1.6 Đặc điểm thủy văn

1.1.6.1.Mạng lưới sông ngòi :

Sông ngòi Hưng Yên có thể chia thành 2 loại: các sông chính bao ngoài và các sông trong nội đồng

- Sông Luộc dài 63km chảy dọc theo ranh giới phía nam của tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hải Dương Đoạn bao quanh Hưng Yên dài khoảng 20km, sông rộng trung bình 150 đến 250m, sâu 4 đến 6m cao độ đáy (-1,0) ÷ (-5,0 ) m, Sông chảy quanh

co uốn khúc, lòng sông hẹp nhưng có bãi khá rộng, vào mùa lũ, lũ của sông Hồng truyền tải một phần qua sông luộc sang sông Thái Bình với lưu lượng khoảng 2000

Trang 15

Sông nội vùng: Các sông nội đồng: Kim Sơn, Cửu An, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt là các trục tưới tiêu rất quan trọng trong hệ thống tưới tiêu của hệ thống

thuyền Cầu Cất, là trục dẫn nước tưới chính cho hệ thống và cùng với sông Đình Đào là trục tiêu Chính phía Bắc cho hệ thống Bắc Hưng Hải

dài 25km là sông dẫn nước chủ yếu cho tiểu khu tây nam Cửu An lấy nước của sông Kim Sơn qua cống Lực Điền

Cửu An Là con sông dẫn nước tưới quan trọng, lấy nước từ sông Kim Sơn qua cống Tranh tưới cho tiểu khu Bình Giang- Bắc Thanh Miện, đông nam Cửu An và một phần tiểu khu tây nam Cửu An

- Sông Đình Đào: đoạn sông từ Bá Thuỷ đến Ngọc Lâm dài 33km Là con

sông nối sông Kim Sơn với Cửu An, vai trò của sông này cũng như sông Điện Biên và Tây Kẻ Sặt, là trục tiêu chính phía Bắc, tiêu nước từ sông Kim Sơn và sông Tràng Kỷ đổ vào dẫn xuống ngã ba Cự Lộc rồi đổ ra Cầu Xe,

An Thổ

là 2 cửa tiêu quan trọng nhất của của khu Bắc Hưng Hải trong mùa mưa lũ

trục tiêu chính nam hiện nay

- Sông Trà ng Kỹ: Là sông tưới tiêu kết hợp, có nhiệm vụ dẫn nước tưới cho

phần phía Đông của tiểu khu Gia Thuận, một phần tiểu khu Bắc Kim Sơn và phần phía bắc của tiểu khu Cẩm Giàng

Quỳnh

Trang 16

- Sông Cầu Bây: Là trục dẫn nước tưới tiêu kết hợp của tiểu khu Gia Lâm lấy

nước từ sông Kim Sơn và tiêu vào sông Kim Sơn đều qua cống Xuân Thuỵ

- Sông Hoà Bình: Là trục dẫn nước tưới chính cho tiểu vùng tây nam Cửu An, sông nối với sông Cửu An bằng các con sông Bản Lễ - Phượng Tường, Nghĩa Trụ

1.1.6.2 Dòng chảy năm

Cũng như lượng mưa năm, dòng chảy phân phối không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 10 chiếm 80% lượng dòng chảy năm Lượng dòng chảy tháng 8 lớn nhất chiếm 24% lượng dòng chảy năm, còn lượng dòng chảy nhỏ nhất là tháng 3 chỉ chiếm 1,2 đến 2,2% lượng dòng chảy năm Mùa lũ kéo dài 5 tháng nhưng lượng nước chiếm tới 80% lượng dòng chảy năm, mùa kiệt kéo dài 7 tháng và 3 tháng kiệt nhất chỉ chiếm 4,2% lượng dòng chảy năm

1.1.6.3 Dòng chảy lũ

Dòng chảy các sông nội đồng chịu ảnh hưởng của dòng chảy các sông lớn như sông Hồng, sông Luộc

1.1.6.4 Tần suất xuất hiện đỉnh lũ và thời gian xuất hiện đỉnh lũ

Đỉnh lũ mỗi năm lớn nhỏ khác nhau, song đỉnh lũ hầu như năm nào cũng vượt báo động 1

Mùa lũ thường xảy ra chung với mùa mưa (tháng 6 đến tháng 10) Lũ lớn thường xảy ra vào các tháng 7, 8, 9 trùng với thời gian có nhiều mưa to, tức là trùng với thời gian thường xảy ra úng vụ mùa Mực nước lũ ngoài sông là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc tiêu úng Khả năng tiêu tự chảy hoặc tiêu bằng bơm nhiều hay ít và do mức độ úng nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào mục nước lũ ngoài sông thấp hay cao Mực nước1,3,5,7 ngày max tại các trạm dọc sông xem Bảng 1.9

Trang 17

Bảng 1.9 Mực nước1,3,5,7 ngày max tại các trạm dọc sông

Trạm Thời đoạn Loại H (cm) Mực nước (P%)

Do hai nguyên nhân chủ yếu là được tăng cường lượng nước vào mùa cạn do tác dụng của các công trình thuỷ lợi như hồ Hoà Bình và do diễn biến lòng sông nên

tỷ lệ lưu lượng phân qua Thượng Cát trên sông Đuống và Triều Dương trên sông Luộc tăng lên, do vậy tình hình cung cấp nước vào mùa cạn cho các sông nội đồng Hưng Yên được cải thiện đáng kể

Trang 18

Bảng 1.10 Mực nước 1,3,5,7 ngày thấp nhất năm tại các trạm theo từng thời đoạn

1989-nay

H1 min 63 79 76 71 64 57 52 43 H3 min 66 79 77 73 67 60 56 48 H5 min 69 81 79 75 70 64 60 53 H7 min 72 82 80 77 73 68 65 59

Hưng Yên

1962-1988

H1 min 73 96 91 82 72 63 58 51 H3 min 75 98 93 84 74 65 61 54 H5 min 77,5 100 95 86 77 68 64 57 H7 min 80 101 97 88 80 71 67 60

1989-nay

H1 min 88 107 104 98 90 80 74 62 H3 min 91 108 105 100 92 84 49 69 H5 min 94 110 107 102 95 87 82 73 H7 min 98 113 105 104 98 92 88 83

Sự biến đổi nhiều năm của lượng nước hoặc lưu lượng bình quân giữa mùa cạn của các năm trên các sông đều lớn hơn mức biến động của lượng nước hàng năm Sự biến đổi nhiều năm của lưu lượng bình quân tháng 3 cũng biến đổi mạnh hơn lưu lượng bình quân mùa cạn hàng năm

Về mùa cạn, triều ảnh hưởng lên tới gần trạm Hưng Yên trên sông Hồng ở mức biên độ thuỷ triều lớn nhất 0,5m

Như đã nêu ở phần đặc điểm khí tượng, tình hình hạn hán cũng thường xuyên xảy ra vào mùa cạn, mực nước sông xuống thấp vì vậy việc lấy nước tưới gặp nhiều khó khăn

1.1.6.6 Dòng chảy rắn

Trong 1 năm lượng ngậm cát biến đổi theo mùa Mùa lũ, lượng ngậm cát lớn

và mùa cạn, lượng ngậm cát bé Chênh lệch khá lớn, trong vùng nghiên cứu hiện nay không còn trạm nào còn tiến hành đo độ đục mà đã ngừng từ những năm 1980,

1981 Chỉ còn trạm Thượng Cát (Sông Đuống) và Sơn Tây (sông Hồng) là còn tiếp tục đo

Trang 19

Từ tháng 1 đến tháng 3 lượng ngậm cát các sông nhỏ và tương đối ổn định Tháng 7, 8 có lượng ngậm cát lớn trong đó tháng 8 lớn nhất có thể gấp 10 đến 40 lần lượng ngậm cát nhỏ nhất

Qua bảng thống kê ta nhận thấy rằng nhờ sự điều tiết của hồ Hoà Bình mà lưu lượng nước về mùa kiệt tăng, mùa lũ giảm và do vậy lượng ngậm cát cũng thay đổi tương ứng

Lượng ngậm cát nhỏ nhất và lớn nhất trong một tháng chênh nhau 10 đến 15 lần, cá biệt có thể lên tới 100 lần Lượng cát bùn tập trung vào mùa lũ tới 90% và trong mùa lũ chủ yếu là hai tháng 7, 8 chiếm tới 60 đến 70% lượng cát bùn cả năm Tổng lượng cát bùn biến đổi trong năm cũng tương tự như biến đổi của lượng nước nhưng mức độ tập trung của cát bùn cao hơn về mùa lũ

Qua bảng thống kê lượng chuyển cát, độ đục trên thấy rõ ảnh hưởng của hồ Hoà Bình Từ sau 1990, khi hồ Hoà Bình bắt đầu đi vào hoạt động lượng cát bùn giảm rõ rệt

1.1.6.7 Mặn:

ở một vị trí nhất định trên sông, độ mặn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như lưu lượng thượng du, thuỷ triều ở biển, mưa, gió nhiệt độ, tác động của con người và sự thay đổi địa hình sông Về mùa cạn nếu lấy độ mặn 1%o làm giới hạn có thể sử dụng để tưới ruộng thì toàn bộ hệ thống sông của Hưng Yên không bị ảnh hưởng của mặn Đây là một điểm rất thuận lợi cho việc lấy nước sông phục vụ tưới

1.1.6.8 Thuỷ triều:

Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều Thời gian trung bình một con triều trong mùa cạn là 25h, thời gian triều lên khoảng 11h và thời gian triều xuống là 13h Độ lên thuỷ triều là chênh lệch mực nước đỉnh triều và chân triều, cứ khoảng 15 ngày có 1

kỳ nước cường và 1 kỳ nước ròng Trong năm mực nước triều trung bình tháng lớn nhất thường vào tháng 10 và thấp nhất vào tháng 3 Mực nước biển cao nhất và thấp nhất đã xảy ra ở mỗi trạm có khác nhau Chênh lệch triều lớn nhất ở Hòn Dấu là 3,94 (23/8/1968) ứng với chu kỳ xích vĩ của mặt trăng, chế độ triều cũng có chu kỳ nhất định do thiên văn quyết định, khoảng 16,25m năm có một thời kỳ triều mạnh nhất, một thời kỳ triều yếu nhất

Trang 20

Mùa lũ triều không ảnh hưởng lên tới Hưng Yên Mùa cạn nước thượng nguồn về nhỏ, mực nước trong sông xuống rất thấp Do ảnh hưởng của thuỷ triều trong những pha triều lên mực nước được nâng cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy nước tưới ruộng

Mặt khác, do sự dao động của mực nước trong vùng chịu ảnh hưởng của thuỷ triều có chu kỳ, vì thế có thể chủ động được kế hoạch tưới Như trên đã phân tích trong mùa cạn nước sông Hưng Yên không bị ảnh hưởng của mặn, do vậy nhờ việc theo dõi sát các con triều, việc tưới tiêu sẽ trở nên thuận lợi hơn nhiều

1.1.6.9 Nguồn nước ngầm:

Qua khảo sát trữ lượng nước ngầm của tỉnh là tương đối lớn, chất lượng nước tốt tập trung ở phía Bắc của tỉnh Nguồn nước ngầm hiện nay được khai thác một phần sử dụng trong sinh hoạt của nhân dân, công nghiệp, khai thác đóng chai ở Như Quỳnh huyện Văn Lâm Khối lượng khai thác nước ngầm của toàn tỉnh tính đến nay khoảng 19.000mP

3 P

/ngàyđêm, tập trung chủ yếu ở nhà máy nước An Vũ - thị xã Hưng Yên 5.000mP

3

P

/ngàyđêm, Phố Nối 6.000mP

3 P

/ngàyđêm Các điểm cấp nước Tiên Quán, thị trấn Khoái Châu, Ngọc Thanh, thị trấn Trần Cao, Thụy Lôi, nhà máy nước Lavie, ngoài ra còn có khoảng 15.000 giếng khoan ở các hộ gia đình

1.2 Hiện trạng và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng

1.2.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội

1.2.1.1 Hiện trạng chung nền kinh tế

Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020” thì nhịp tăng giá trị sản xuất bình quân trong giai đoạn 2001-2005 trên địa bàn tỉnh đạt 17,4% hàng năm Trong đó, giá trị sản xuất khối ngành nông nghiệp - thuỷ sản tăng bình quân 5,2%/năm, giá trị sản xuất khối ngành công nghiệp tăng bình quân 24,7%/năm, giá trị sản xuất khối ngành dịch

vụ tăng bình quân 15%/năm

GDP trên địa bàn tỉnh cũng có xu hướng phát triển không ngừng Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP trong giai đoạn 2001-2005 đạt 12,3%/năm, năm 2001 đạt 10,9% tăng lên 12,9% năm 2005

Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong những năm qua có bước chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp

Trang 21

Bảng 1.11 Cơ cấu GDP theo từng ngành kinh tế của tỉnh

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010

1.2.1.2 Hiện trạng nông nghiệp

Những năm qua, nông nghiệp Hưng Yên đã có sự phát triển tích cực trên cơ

sở chú trọng khai thác và phát huy lợi thế sinh thái nông nghiệp của địa bàn nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng màu mỡ và trù phú, đồng thời là bộ phận hợp thành của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Nhờ vậy đã tạo được sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển hàng hoá: diện tích gieo trồng các cây ngắn ngày như cây công nghiệp, rau, đậu, thực phẩm và cây hàng hoá khác (hoa, cây cảnh, dược liệu ), diện tích cây ăn quả lâu năm, quy mô đàn gia súc, gia cầm, thuỷ sản đã có sự tăng trưởng đáng kể Trong thời kỳ 2001-2005 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp –thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,42%/năm tăng lên 5,2%/năm giai đoạn 2005-2010s, giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp (theo giá hiện hành) năm 2005 chiếm 30,5% GDP của tỉnh

Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Hưng Yên năm 2010chỉ đạt 1,6 triệu USD, chiếm tỷ trọng nhỏ (0,6%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Các nông sản xuất khẩu chính là dưa chuột, cà chua, cải xa lát, nhãn, vải quả khô, long nhãn

1 Hiện trạng sử dụng đất

Theo báo cáo kiểm kê sử dụng đất năm 2010 của tỉnh Hưng Yên, năm 2010 đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh hiện có là 56.413ha chiếm 61% diện tích tự nhiên, trong đó đất trồng cây hàng năm 52.525 ha chiếm 86% đất nông nghiệp, đất lúa 46.240ha chiếm 75,8% đất nông nghiệp, đất cây lâu năm là 3.888ha chiếm 6,4%

Trang 22

đất nông nghiệp, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4.541ha chiếm 7,4% đất nông nghiệp Đất bằng chưa sử dụng là 508ha chiếm 0,5% diện tích tự nhiên

- Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của tỉnh Hưng Yên xem bảng 1.12 phụ lục 1

- Bảng tổng hợp diện tích đất bãi toàn tỉnh phân theo các huyện xem bảng 1.13 phụ lục 1

Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 537.090 tấn (riêng thóc là 506.847 tấn), là tỉnh đạt chỉ tiêu cao về an toàn lương thực, với mức bình quân 474 kg/người Tuy nhiên diện tích lúa chiêm xuân, lúa mùa đều giảm qua các năm do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá Các loại cây trồng có giá trị khác như: cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc sản đều tăng khá Riêng diện tích, năng suất, sản lượng cây đậu tương vụ đông tăng mạnh

Theo niên giám thống kê năm 2010 của tỉnh thì diễn biến diện tích, năng suất

và sản lượng cây trồng của các huyện qua 3 năm 2008 - 2010 được thống kê ở bảng 1.14 phụ lục 1

3 Chăn nuôi

Trong thời kỳ 2005-2010, ngành chăn nuôi của Hưng Yên đã giữ được sự tăng trưởng giá trị sản xuất ổn định với tốc độ tăng khá cao, bình quân 9,6% Tuy nhiên, tỷ trọng của chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chưa cao chiếm 29% năm 2010, tăng 5% so với năm 2005

Chăn nuôi đại gia súc: Đàn trâu có xu hướng giảm trong giai đoạn

2005-2010 Năm 2010, tổng đàn trâu của tỉnh còn 3.305 con, giảm 1.517 con so với năm

2005 Cùng với quá trình phát triển cơ giới hoá trong nông nghiệp vai trò cày kéo của đại gia súc đang giảm (đặc biệt là đàn trâu) Đàn bò có xu hướng tăng nhanh trong những năm qua Đàn bò đang được chuyển dần sang chăn nuôi hướng thịt

Chăn nuôi gia cầm cũng phát triển mạnh, tăng bình quân 2,8%/năm trong giai đoạn 2005-2010 Diễn biến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh

ở bảng 1.15

Trang 23

Bảng 1.15 Diễn biến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh Hưng Yên

Những năm gần đây, sản xuất thuỷ sản có sự chuyển biến khá tích cực Gía

trị sản xuất thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,3%/năm trong giai đoạn

2005-2010 Sản lượng thuỷ sản tăng bình quân 12,6% trong giai đoạn 2005-20010

đưa sản lượng thuỷ sản năm 2010 đạt 12.704 tấn tăng 5.124 tấn so với năm 2005

Sản xuất giống thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao 25,6%/năm trong giai đoạn

2008-2010 bảng 1.16

Bảng 1.16 Một số chỉ tiêu ngành thủy sản tỉnh Hưng Yên

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010

1.2.1.3 Hiện trạng công nghiệp

Giai đoạn 2005-2010 giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Hưng Yên đã tăng

trưởng mạnh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với công nghiệp của cả nước,

vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng kinh tế Hà Nội Năm 2005, giá trị sản xuất

công nghiệp của tỉnh Hưng Yên chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất công nghiệp

0,28% so với cả nước, 1,61% so với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, 2,23% so với

Trang 24

vùng kinh tế Hà Nội, đến năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng trưởng đạt

tỷ trọng 1,84% so với cả nước, 8,36% so với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, 11,01% so với vùng kinh tế Hà Nội

Theo số liệu của niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010, tỉnh Hưng Yên có 16.641 cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bao gồm: 8 cơ sở thuộc khu vực quốc doanh, 16.600 cơ sở ngoài quốc doanh và 33 cơ

sở có vốn đầu tư nước ngoài Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh Hưng Yên được thống kê ở Bảng 1.17 - Phụ lục 1

2

P

cao gấp 3 lần trung bình của cả nước

+ Trên địa bàn tỉnh có các tuyến giao thông quan trọng gồm 3 tuyến quốc lộ: đường 5, đường 39, 38

+ Có 10 tuyến đường tỉnh lộ gồm: 39B, 195, 199, 200, 205, 205C, 206, 196, 204,

209 và đường huyện lộ, đường đô thị và đường nông thôn Đến nay 100% số xã trong tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm

- Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng (Qua tỉnh Hưng Yên dài 17km)

- Giao thông đường thuỷ:

+ Sông do Trung ương quản lý: tuyến sông Hồng, sông Luộc (dài 92km trong địa phận tỉnh Hưng Yên) Sông Hồng đoạn qua địa phận Hưng Yên dài 64km, sông Luộc đoạn qua địa phận Hưng Yên dài 28km Luồng lạch trên sông khá ổn định, đảm bảo độ sâu 1,5 - 3m

+ Sông do địa phương quản lý; Sông đào Bắc Hưng Hải đoạn qua địa phận tỉnh dài 34km, sông rộng trung bình 40-50m, sâu 1,8-2m Sông Cửu Yên đoạn qua địa phận tỉnh dài 23km, sông rộng trung bình 30-40m, sâu 1,8-2m Sông Chanh dài

Trang 25

27km, sông rộng trung bình 50m, sâu 1,8-2m, cả 3 sông này xà lan trọng tải 150 tấn

đi lại được Sông Điện Biên dài 22km, sông rộng trung bình 20m, sâu 1,2-1,5m Sông Tam Đô dài 7km, sông rộng trung bình 50m, sâu 1,0-1,5m, xà lan trọng tải 70 tấn đi lại được

2 Điện

Hệ thống cung cấp điện của Hưng Yên tương đối phát triển so với nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng Nguồn cung cấp điện năng chủ yếu của tỉnh là nhận điện từ lưới điện quốc gia cấp điện áp 220kv và 110kv, tỉnh Hưng Yên không có nhà máy điện riêng Lưới điện trên địa bàn có 72km đường dây cấp điện áp 220kv, 121,3km đường dây cấp điện áp 110kv và 536km đường dây cấp điện áp 35kv Hiện tại, 100% số xã của tỉnh đã được cấp điện, khu vực thành phố 100% số hộ có điện, khu vực nông thôn số hộ có điện chiếm trên 99,95%

3 Các ngành dịch vụ

Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, đạt tốc độ tăng trưởng 15,7%/năm, hệ thống thương nghiệp đang được sắp xếp lại Xuất khẩu tăng mạnh, giá trị xuất khẩu của tỉnh tăng từ 22 triệu USD năm 2005 lên 210 triệu USD năm 2010 Một số khách sạn, di tích văn hoá lịch sử đang được xây dựng và tôn tạo lại, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển ngành du lịch trong những năm tới

1.2.2 Phương hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng

1.2.2.1 Dự báo dân số và nguồn nhân lực

Nhờ vào những thành quả trong công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt trong giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm Dự kiến trong giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân trên địa bàn tỉnh khoảng 0,9%/năm Đến năm 2015, dự báo dân số trên địa bàn tỉnh khoảng 1.183.000 người Giai đoạn 2015-2020 dự kiến tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm khoảng 0,8 – 1,0%/năm, dự báo dân số trên địa bàn tỉnh năm 2020 khoảng 1.300.000 người

Trên cơ sở xu hướng phát triển của lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh trong các giai đoạn phát triển vừa qua, dự báo dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh đến năm 2015 dự kiến là 775.000 người, chiếm 62,5% dân số tỉnh Dân số trong độ tuổi

Trang 26

lao động của tỉnh đến năm 2020 dự kiến là 800.000 người, chiếm 61,5% dân số tỉnh

1.2.2.2.Phương hướng tổng thể :

1 C ác chỉ tiêu kinh tế

Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020” nhịp độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2006 - 2010 đạt 13,5%/năm, trong đó ngành công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 19,8%, dịch

vụ tăng bình quân 14,3% và ngành nông nghiệp-thuỷ sản tăng bình quân 3,1%/năm Giai đoạn 2011-2015 đạt 13,2%/năm, trong đó ngành công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 16,8%, dịch vụ tăng bình quân 12,8% và ngành nông nghiệp-thuỷ sản tăng bình quân 3,1%/năm

Sản lượng lương thực quy thóc đến năm 2015 dự báo đạt 528.950tấn, đến năm

2020 đạt 510.744 Bình quân lương thực đầu người ước đạt 447kg/người năm 2015 và 410kg/người vào năm 2020

Tỷ trọng GDP các khối ngành: Năm 2015 Năm 2020 + Ngành nông nghiệp: 20% 12,6%

2 Mục tiêu về xã hội

Đảm bảo việc làm ổn định cho khoảng 95% số lao động trong tỉnh Tạo thêm 2,2 vạn việc làm mới hàng năm Nâng tỷ lệ lao động được đào tạo lên trên 45% vào năm 2015, 50% vào năm 2020

Đến năm 2015, 100% các đô thị (thị xã, thị trấn), các khu công nghiệp và khoảng 85% khu vực nông thôn được dùng nước sạch Từ 2020 toàn bộ dân cư trong tỉnh được dùng nước sạch

Đến năm 2020 hoàn thành chương trình kiên cố hoá các cơ sở y tế giáo dục với phương tiện kỹ thuật hiện đại và thuận tiện, về cơ bản không còn tình trạng trẻ

em suy dinh dưỡng Ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các bệnh dịch, bệnh

xã hội

1.2.2.3 Phương hướng phát triển nông nghiệp

1 Nông nghiệp:

Trang 27

Thực tế hiện nay và trong những năm tới nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính của Hưng Yên, đóng vai trò hết sức quan trọng để ổn định đời sống và tạo cơ

sở cho công nghiệp phát triển Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo bước chuyển biến căn bản nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm và đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của tỉnh thời kỳ 2006 - 2010 đạt 5% năm và thời

kỳ 2011 - 2020 là 4 đến 4,5%/năm

Tập trung chỉ đạo để chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong toàn tỉnh theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại Với tỷ lệ giữa các ngành trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ: 51%-45%-4% vào năm 2015 và 44%-50%-6% vào năm 2020

Diện tích đất trồng lúa năm 2015 là 31.960 ha giảm 13.242ha so với năm

2010, trong đó diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao chiếm khoảng 50% tổng diện tích trồng lúa toàn tỉnh Trong bối cảnh diện tích lúa ngày càng bị thu hẹp, dân số tiếp tục gia tăng, yêu cầu sử dụng lương thực của thị trường có xu hướng đòi hỏi chất lượng cao, định hướng phát triển sản xuất lương thực cần đảm bảo sự tăng trưởng cả về chất và lượng, trên cơ sở khai thác hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cách tăng vụ, tăng năng suất và tăng cơ cấu sản xuất lúa chất lượng cao Diện tích lúa còn lại chiếm khoảng 50% diện tích lúa canh tác sẽ được đầu tư phát triển theo hướng lúa cao sản Phương hướng sử dụng đất tỉnh Hưng Yên đến năm

2015 xem trong bảng 1.18 phần phụ lục 1

Phát triển cây ăn quả là một trong những thế mạnh của Hưng Yên kể cả về điều kiện tự nhiên cũng như về thị trường tiêu thụ, đặc biệt là nhãn, vải thiều Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, phát triển mạnh cây ăn quả trên cơ sở chuyển đổi một phần diện tích đất canh tác lúa, màu, vườn tạp hiệu quả thấp sang trồng cây ăn quả Về chủng loại, nhãn là cây đặc sản của tỉnh và là cây chủ lực trong các cây ăn quả của tỉnh, chiếm 65% diện tích cây ăn quả tập trung, vải chiếm 15%, cam và cây

ăn quả có múi chiếm 15% còn lại là các cây ăn quả khác Vùng trồng nhãn tập trung

ở địa bàn ven sông Hồng, sông Luộc của huyện Khoái Châu, Kim Động, Thị xã

Trang 28

Hưng Yên, Tiên Lữ, vùng trồng vải ở Phù Cừ, Ân Thi, Tiên Lữ, Cam, bưởi, quýt, táo ở Văn Giang, Văn Lâm, Khoái Châu

Bảng 1.19 Dự báo diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng tỉnh Hưng Yên

đến năm 2015, 2020

1 Diện tích gieo trồng lúa ha 73.000 64.102

3 Cây rau, đậu các loại ha 15.000 16.498

8 Sản lượng lương thực quy thóc Tấn 528.950 510.744

về chất, đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng hàng hoá với chất lượng sản phẩm cao và đa dạng

Bảng 1.20 : Dự kiến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh Hưng Yên

Trang 29

Phương thức phát triển chú trọng đa dạng hoá cả trên diện tích mặt nước tập trung lẫn kết hợp trong các mô hình vườn quả - cá, ruộng - cá, VAC, chú trọng gắn thuỷ sản với chăn nuôi lợn để tận dụng nguồn thức ăn, mặt nước Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thuỷ sản nhất là ở các địa bàn ven đô thị, khu công nghiệp, các địa bàn phát triển thuỷ sản trọng điểm là Khoái Châu, Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động

Bảng 1.21 :Dự kiến phát triển ngành thủy sản tỉnh Hưng Yên đến năm 2015, 2020

6 P

Nguồn: Quy hoạch tổng thể PTKTXH tỉnh Hưng Yên đến năm 2020

1.2.2.4 Phương hướng phát triển công nghiệp

- Phát triển công nghiệp tỉnh phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế

xã hội của tỉnh, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng kinh tế Hà Nội, phù hợp với

quy hoạch phát triển công nghiệp của vùng và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp Gắn phát triển công nghiệp với việc hình thành các khu công nghiệp và đô thị mới làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của tỉnh

Trang 30

Định hướng phát triển khu cụm công nghiệp đến 2020, toàn tỉnh có 14 khu công nghiệp, diện tích 7 khu công nghiệp tập trung trên 100ha, mỗi huyện có từ 1 đến 2 khu công nghiệp làng nghề Trong đó tóm tắt một số khu công nghiệp của tỉnh như sau:

Bảng 1.22 : Bảng tổng hợp dự kiến quy hoạch phát triển khu công nghiệp trên địa

* Đường bộ: Đường 5 cao tốc: Giai đoạn 2000-2015, Trung Ương sẽ đầu tư

xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng Đoạn đi qua Hương Yên dài 21km Đường gồm 6 làn xe, là đường cao tốc loại A, mặt đường rộng 22,5m, dự kiến hoàn thành năm 2013

Đường vành đai IV Hà Nội: Theo dự kiến hướng tuyến qua sông Hồng vào địa phận Hưng Yên ở khu vực xã Mễ Sở - giao với đường quốc lộ 5, với chiều dài 14km, quy mô mặt cắt ngang từ 6-8 làn xe

Trang 31

Quốc lộ 39 mới: Điểm đầu giao với quốc lộ 39 cũ, chạy dọc sông Điện Biên cắt đường 5 cao tốc Chiều dài dự kiến 41km

Phấn đấu 100% các tuyến đường tỉnh cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III đồng bằng, 100% các tuyến đường huyện cải tạo nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV đồng bằng, 100% đường thôn, đường xã rải nhựa hoặc bê tông xi măng

* Đường sông: Cải tạo, nâng cấp tuyến đường thuỷ qua hệ thống sông đào Bắc

Hưng Hải đảm bảo thông suốt từ sông Hồng đến sông Thái Bình.Cảng sông Hồng: Năng lực thông qua 350.000 tấn, trọng tải cho phép 1.000 tấn.Cảng Triều Dương: Năng lực thông qua 300.000 tấn, trọng tải cho phép 400 tấn

* Đường sắt:Dự kiến kiến xây dựng đường sắt đôi tuyến Hà Nội – Hải Phòng

tốc độ cao Tại ga Lạc Đạo xây bãi tập trung container rộng 10ha

Lưới 110KV: Xây dựng mới 18 Km đường dây 110KV, xây dựng mới 4 trạm

110 KV với tổng công suất 206 MVA

Lưới điện trung thế : Đến năm 2015 phần lớn sử dụng cấp điện áp trung thế là

22 KV, phần còn lại sử dụng cấp điện áp 35 KV Xây dựng mới 69,5 Km đường dây trung thế 35Kv, 227,2 Km đường dây trung thế 22 KV

Lưới hạ thế : Xây dựng mới 1.150 Km đường dây 0,4 KV Sản lượng điện

phân phối đến 2015 đạt 1.644 triệu kwh, bình quân đầu người 1.373kwh/người Đến

2020 đạt 3.466 triệu kwh, bình quân đầu người 2.876kwh/người Phấn đấu đến năm

2020 đạt 100% số hộ được dùng điện lưới quốc gia

3 Đô thị

Trang 32

Đô thị mới Văn Giang (đô thị loại IV, thị xã thuộc tỉnh) Quy mô dân số năm

2020 khoảng 6 vạn người, dự án đang lập quy mô 495ha

* Đô thị thuộc huyện:

Các thị trấn huyện lỵ: Là các đô thị trung tâm huyện, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trung tâm công nghiệp của mỗi huyện Các thị trấn huyện

lỵ và thị trấn trực thuộc huyện đều là đô thị loại V

Tất cả có 11 thị trấn huyện lỵ của 9 huyện trong tỉnh, riêng huyện Văn Giang

1.3 Hiện trạng các công trình tưới của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trện địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.3.1 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải

1.3.1.1 Sơ lược quy hoạch thủy lợi năm 1956-1958 vùng Bắc Hưng Hải

- Vùng nghiên cứu được bao bọc bởi 4 sông lớn: sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc, sông Thái Bình bao gồm các huyện: Gia Lâm thuộc Hà Nội; huyện Gia Lương, Thuận Thành thuộc Bắc Ninh; huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện,

Trang 33

Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh giang và thị xã Hải Dương thuộc Hải Dương và 10 huyện thị thuộc Hưng Yên (trừ diện tích đất ngoài đê sông Hồng và sông Thái Bình)

- Nội dung chủ yếu của quy hoạch hệ thống Bắc Hưng Hải năm 1956 đến

1958 do Trung Quốc giúp ta xây dựng được Chính Phủ phê duyệt năm 1958 như sau:

* Về tưới

- Bảo đảm cung cấp nước cho 150.200ha canh tác với tần suất bảo đảm P = 75%, hệ số tưới q = 0,69 l/s/ha, hệ số lợi dụng kênh mương ηR K R = 0,85, lưu lượng thiết kế QTK = 122mP

3 P

/s

- Xây dựng cống Xuân Quan: QTK = 92mP

3 P

/s tưới cho 113.200ha

- Xây dựng cống Nghi Xuyên: QTK = 30mP

3 P

/s tưới cho 37.000ha

- Cải tạo mở rộng, nạo vét hệ thống sông nội địa (hai trục chính và các nhánh) để dẫn nước đến các tiểu khu, xây dựng các cống điều tiết Kênh Cầu, Bá Thuỷ trên sông Kim Sơn (kênh chính Bắc) cống điều tiết Neo trên sông Cửu An (kênh chính Nam), xây dựng 26 trạm bơm cố định và các trạm bơm thuyền ở ven 2 trục chính

1.3.1.2 Quy hoạch hoàn chỉnh thủy nông 1973 – 1975 :

Quy hoạch hoàn chỉnh thuỷ nông 1973 - 1975 được Bộ Thuỷ lợi (cũ) và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (cũ) phê duyệt khu Bắc Hưng Hải Riêng tỉnh Hưng Yên được phân làm 4 tiểu khu như sau:

Tiểu khu Châu Giang: Tổng diện tích 21.001ha, trong đó diện tích canh tác 14.266ha gồm diện tích của 3 huyện: Văn Giang, Khoái Châu, 6 xã Yên Mỹ, Kênh Đông 5.906ha, kênh Tây 8.360ha, hệ số tưới q = 0,7 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,44 l/s/ha

Tiểu khu Bắc Kim Sơn: Tổng diện tích 21.398ha, trong đó diện tích canh tác 16.046ha gồm 11 xã huyện Văn Lâm, 13 xã huyện Mỹ Hào, 10 xã huyện Yên Mỹ, 1/5 xã Bắc Sơn huyện Ân Thi, một phần nhỏ huyện Văn Giang và một phần đất đai tỉnh Hải Dương với hệ số tưới mặt ruộng q = 0,742 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,78 l/s/ha

Tiểu khu Ân Thi - đường 39: Tổng diện tích 16.880ha, trong đó diện tích canh tác là 13.340ha gồm 19 xã thuộc huyện Ân Thi, 2 xã thuộc huyện Yên Mỹ, 3

Trang 34

xã thuộc huyện Khoái Châu, Kim Động, 2 xã thuộc Phù Cừ, 1 xã thuộc Bình Giang với hệ số tưới q = 0,74 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,78 l/s/ha

Tiểu khu Tây Nam Cửu An: Tổng diện tích tự nhiên 20.285ha, diện tích canh tác 15.913ha bao gồm 5 xã huyện Kim Động, 2 xã huyện Ân Thi, 12 xã huyện Phù Cừ, 21 xã huyện Tiên Lữ, toàn bộ thị xã Hưng Yên hệ số tưới q = 0,7 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,91 l/s/ha

Ngoài phân khu để tính toán quy hoạch này còn xác định nhiệm vụ chính như sau:

* Tưới

- Nâng mức bảo đảm tưới lên 85% đối với toàn hệ thống Bắc Hưng Hải

- Về công trình đầu mối chưa đặt vấn đề làm thêm cống Nghi Xuyên nhưng yêu cầu phải bảo đảm đủ nguồn nước tưới, tận dụng khai thác để tưới cho toàn bộ diện tích thuộc lưu vực, nạo vét hệ thống trục dẫn nước đến các trạm bơm tưới Tính toàn thời kỳ tưới dưỡng là tháng 3, tần suất P = 85% tại thượng lưu Xuân Quan +1,85m, hạ lưu +1,75m Kênh Cầu thượng lưu +1.293m, hạ lưu +1,285m; Lực Điền +1,18m; Cống Tranh +1,08m; Trương Xá +1,023m; Bằng Ngang +0,908m; Tam Đô +0,913m; Cầu Trang +0,832m; Trà Phương +0,88m; Bích Trang +0,865m; Tòng Hoá +0,841m Với mực nước này toàn bộ diện tích trong tỉnh đều phải tưới bằng bơm Trên cơ sở đó kiểm tra, hoàn thiện các trạm bơm đã xây dựng và bổ sung thêm máy, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương để bảo đảm tưới 50.877ha đất canh tác trong đê, mức tưới ải toàn hệ thống cũng như các khu là 1.650mP

3 P

/ha, vùng Khoái Châu, Văn Giang là 1.800mP

3 P

/ha, hệ số tưới ải vụ chiêm xuân q = 0,95 l/s/ha

- Mực nước tưới thiết kế vụ chiêm xuân ở sông Hồng tại Xuân Quan và Nghi Xuyên tính bình quân tuần 10 ngày như sau:

Bảng 1.23: Mực nước thiết kế trạm Xuân Quan, Nghi Xuyên

Trang 35

- Mưa vụ chiêm xuân tính từ tháng 1 đến tháng thứ 4 của các trạm trong tỉnh như sau:

Bảng 1.24: Lượng mưa vụ xuân tại trạm Hưng Yên và Bần

1.3.1.3 Bổ sung quy hoạch thủy lợi giai đoạn 1990 đến 1993

- Giai đoạn 1990 đến 1993 Viện Quy hoạch và Quản lý nước (cũ) này là Viện quy hoạch Thuỷ lợi đã tính toán mực nước tưới, tiêu, hệ số tưới, tiêu cho các tiểu khu thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải trên cơ sở các chỉ tiêu do Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (cũ) đề nghị như đã nói ở phần trên

- Giai đoạn này cũng nêu ra sự cần thiết phải nạo vét sông trục Bắc Hưng Hải và đã có luận chứng kinh tế kỹ thuật về nạo vét sông trục Bắc Hưng Hải để xin vốn ADB, dự án đã được thực hiện

1.3.1.4 Bổ sung quy hoạch thủy lợi tỉnh Hưng yên đến 2010

Năm 2001 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã lập dự án bổ sung quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Hưng Yên đến 2010 và đưa ra phương án cụ thể như sau:

Trang 36

+ Xây dựng 13 trạm bơm tưới, tiêu

+ Nâng cấp và cải tạo 58 trạm bơm tưới, tiêu

+ Nạo vét 22 sông trục chính

+ Đắp đê sông Bắc Hưng Hải

+ Tiếp tục triển khai chương trình kiên cố hoá kênh mương

Thực hiện bổ sung quy hoạch này, đến nay đã xây dựng được các trạm bơm tưới, tiêu kết hợp như: La Tiến (5 x 8.000 và 2 x 1.400m3/h), trạm bơm tiêu Bá Đông (6 x 4.000m3/h) trạm bơm tiêu Tống Phan B (6 x 2.500m3/h), các trạm bơm trên vừa được xây dựng năm 2005 và 2006 đã phát huy hiệu quả tốt

Năm 2005 vừa khôi phục lại cống Võng Phan hiện tại cũng đã phát huy hiệu quả tốt, với nhiệm vụ tạo nguồn cấp nước tưới cho 2.800ha của huyện Phù Cừ, Tiên

Lữ

1.3.1.5 Kết quả thực hiện quy hoạch cho đến nay

- Qua quá trình thực hiện các quy hoạch đã lập trước đây và các quy hoạch

bổ sung, đến nay tỉnh Hưng Yên đã có hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh

- Các cống lớn đầu mối và điều tiết trục chính đã được xây dựng (trừ cống Nghi Xuyên) như: Xuân Quan, Báo Đáp, Kênh Cầu, Lực Điền, Cống Tranh cùng với các cống trục nhánh, đầu kênh và hàng ngàn các cống nhỏ khác

- Với hàng trăm km đê Trung ương và đê địa phương, 12 tuyến kè chỉnh trị sông, bảo vệ đê đã góp phần bảo vệ tốt cho sản xuất và cơ sở hạ tầng của tỉnh

- Hệ thống tưới tiêu động lực với hàng trăm trạm bơm bao gồm hơn một nghìn máy các loại đã bảo đảm tưới ổn định cho 47.191ha đất canh tác

- Hệ số tưới đã đạt và vượt hệ số tưới thiết kế q = 1,15 l/s/ha

- Bảo đảm diện tích tiêu động lực 62.146 ha trong tổng số 81.882ha diện tích trong đê với hệ số tiêu đạt được từ 6,27 đến 8,59 l/s/ha

1.3.2.Tình hình hạn hán của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên những năm gần đây :

Trang 37

Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu

và Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với lượng mưa trên lưu vực ít nên tình trạng hạn hán kéo dài

Tình trạng hạn trong vùng trong các năm gần đây đã xảy ra gây nhiều thiệt hại cho các ngành đặc biệt là nông nghiệp mặc dù các công trình thủy lợi đã hoạt động hết công suất, công tác chỉ đạo chống hạn thực hiện tích cực với một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Tình hình thời tiết lượng mưa ít cộng với khí hậu khô hanh kéo dài, lượng bốc hơi mặt ruộng lớn

- Công trình đầu mối bị bồi lấp, xuống cấp, lượng nước lấy vào không đáp ứng được nhu cầu nước trong vùng

- Nhu cầu nước tăng cao nhất là thời kỳ đổ ải

- Kênh dẫn nước bị bồi lắng, lấn chiếm, hư hòng nên khả năng dẫn nước kém

- Mực nước sông ngoài hạ thấp nên một số trạm bơm, cống hoạt động kém hiệu quả và thậm chí không hoạt động được Đợt hạn năm 2004, 2005 mực nước sông Hồng xuống tới 1,47 m

Vì các nguyên nhân trên nên trong một số năm gần đây tình trạng hạn hán diễn ra gây nhiều thiệt hại cho nông nghiệp, môi trường trong vùng bị ô nhiễm Mặc

dù đã có các giải pháp chống hạn:

- Lấy nước ngược từ cống Cầu Xe, An Thổ đã giải quyết được một phần diện tích như năm 2005 lượng nước này đã giải quyết được cho 45% diện tích trong toàn vùng tuy nhiên chất lượng nguồn nước này rất kém và bị nhiễm mặn

- Với công tác chỉ đạo chống hạn như trữ nước trong lòng kênh, hồ, ao để tưới cho đợt hạn; chuyển đổi cây trồng, mùa vụ

- Lơi dụng lượng nước điều tiết từ hồ Hòa Bình lấy nước vào trong hệ

thống

Diện tích hạn năm 2003 lên đến 3.071 ha, năm 2004 là 3.294 ha, năm 2005

Trang 38

Dưới đây là thống kê tình trạng hạn hán trong những năm gần đây ( từ năm

2001 đến năm 2005) của hệ thống Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bảng 1.25

Bảng 1.25 : Diện tích hạn từ năm 2006- 2010 theo các huyện

Đơn vị: ha

Năm Toàn

tỉnh

TX Hưng Yên

Văn Lâm

Văn Giang

Mỹ Hào

Yên

Mỹ

Khoái Châu Ân Thi

Kim Động

sử dụng nguồn nước

Trong những năm gần đây mực nước sông Hồng xuống thấp kỷ lục trong hơn 100 năm qua, hiện nay và trong tương lai do dân số phát triển và việc phát triển kinh tế xã hội thì nhu cầu dùng nước cho sản xuất nông nghiệp và dùng trong các ngành kinh tế ngày càng tăng Bên cạnh đó khi phát triển kinh tế thì nhu cầu dùng điện ngày càng tăng, trong thời gian mùa kiệt thì lượng nước về các hồ thượng nguồn như Hòa Bình và Thác Bà rất ít nên việc phát điện cũng gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy việc nghiên cứu cơ sở khoa học và khả năng áp dụng vào thực tiễn để giải quyết được mâu thuẫn giữa phát điện với nhu cầu cấp nước nhằm nâng cao khả năng cấp nước cho hệ thống ở hạ du nói chung và hệ thống thủy lợi Bắc

Trang 39

Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nói riêng trong mùa kiệt phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn

1.3.3 Phân khu và tiểu khu thủy lợi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên

Hiện nay hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên đã dược phân chia thành các tiểu khu thuỷ lợi như sau:

Được giới hạn phía Bắc huyện Thuận Thành - Bắc Ninh và Gia Lâm - Hà Nội Phía tây nam là sông Kim Sơn phía đông là huyện Cẩm Giàng - Hải Dương Với tổng diện tích tự nhiên 20.988ha, diện tích canh tác 12.166,5 ha Bao gồm các huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, một phần Yên Mỹ

Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Bắc Kim Sơn xem bảng 1.26 phụ lục 1

Giới hạn phía Bắc sông Kim Sơn, phía đông sông Tây Kẻ Sặt, phía tây sông Điện Biên, phía nam sông Cửu An

Với tổng diện tích 17.520,6ha, diện tích canh tác 11.416,4ha Bao gồm một phần các huyện: Ân Thi, Yên Mỹ, Phù Cừ, Kim Động, Khoái Châu

Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Ân Thi- Đường

39 xem bảng 1.27 phụ lục 1A

Giới hạn phía Bắc sông Cửu An, phía nam sông Luộc, phía Đông sông Tây

Kẻ Sặt, phía Tây sông Hồng

Với tổng diện tích 31.753ha, diện tích canh tác 17.317,7ha Bao gồm một phần các huyện: Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Khoái Châu và toàn bộ thị xã Hưng Yên, huyện Tiên Lữ

Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Tây Nam Cửu

An xem bảng 1.28 phụ lục 1A

Trang 40

Được giới hạn phía Bắc sông Kim Sơn, phía Nam sông Cửu An, phía tây là sông Hồng, phía đông sông Điện Biên

Tổng diện tích 22.048ha, trong đó diện tích canh tác 11.625ha Bao gồm một phần các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Yên Mỹ và toàn bộ huyện Văn Giang

Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Châu Giang xem bảng 1.29 phụ lục 1A

Hình 1.2 Bản đồ hiện phân vùng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải

1.3.4 Tình hình thiên tai trong T ỉnh

Trong khu vực có lũ, bão, úng ngập, mưa lớn và khô hạn là những thiên tai thường xảy ra hàng năm

Những năm gần đây do ảnh hưởng sự biến động của thời tiết và tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu nên về mùa kiệt thường xảy ra hạn hán do mực nước sông ngoài thấp, ít mưa nên một số trạm bơm không hoạt động được do thiếu nước bơm tưới Do thời tiết có nhiều biến động, kết hợp với sự tác động của con người đến

Ngày đăng: 22/03/2021, 20:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w