L ỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Bá Uân và những ý kiến quý báu về chuyên môn của các thầy cô gi
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Nguyễn Trung Kỳ
Lớp cao học: 23QLXD13
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài luận văn: “Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng
t ại Chi cục Đê điều và PCLB Nghệ An”
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết
quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ
một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Trong quá trình làm học viên có tham
khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài
Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Hà N ội, ngày tháng năm 2017
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn
tận tình của PGS.TS Nguyễn Bá Uân và những ý kiến quý báu về chuyên môn của các
thầy cô giáo trong Khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các cán
bộ tại Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An Nghệ An Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn “Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng
dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Đê điều và PCLB Nghệ An”, chuyên ngành Quản lý xây dựng
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp trong Chi cục nơi tác
giả công tác, phòng Quản lý xây dựng công trình và các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Do trình độ, kinh nghiệm cứu còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu ngắn nên
Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà N ội, ngày tháng năm 2017
Trang 3M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
5.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết quả dự kiến đạt được 3
7 Nội dung của luận văn 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY D ỰNG 5
1.1 Công trình xây d ựng và chất lượng công trình xây dựng 5
1.1.1 Công trình xây d ựng 5
1.1.2 Ch ất lượng công trình xây dựng [1] 5
1.2 Đê điều và vai trò của hệ thống đê điều 7
1.2.1 Khái ni ệm công trình đê điều 7
1.2.2 Phân lo ại và phân cấp công trình đê điều [2] 8
1.2.3 Đặc điểm của công trình đê điều 10
1.2.4 Vai trò c ủa công trình đê điều 12
1.3 Nhân t ố ảnh hưởng đến chất lượng công trình đê điều 13
1.3.1 Nhân t ố chủ quan 13
1.3.2 Nhân t ố khách quan 15
1.4 Tình hình xây d ựng và quản lý hệ thống đê điều ở Việt Nam 17
1.4.1 L ịch sử hình thành hệ thống đê điều ở Viêt Nam 17
1.4.2 H ệ thống tổ chức bộ máy đê điều qua các thời kỳ [3] 21
1.4.3.Tình hình đầu tư xây dựng các công trình đê điều qua các thời kỳ 25
1.4.4 Các s ự cố về đê điều ở Việt Nam và nguyên nhân 26
K ết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CH ẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 30
2.1 Cơ sở lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm 30
2.1.1 Ch ất lượng sản phẩm 30
2.1.2 Qu ản lý chất lượng sản phẩm 31
2.2 Qu ản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 33
2.2.1 Khái ni ệm về chất lượng dự án đầu tư xây dựng 33
2.2.2 Các ch ức năng cơ bản của quản lý chất lượng [5] 33
2.2.3 Các phương thức quản lý chất lượng [6] 35
2.2.4 Các nguyên t ắc quản lý chất lượng [7] 41
2.2.5 N ội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 42
2.2.6 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây d ựng công trình đê điều 44
2.3 Công tác qu ản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 45
Trang 42.3.1 Qu ản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát [8] 45
2.3.2 Qu ản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế [9] 47
2.3.3 Qu ản lý chất lượng trong giai đoạn thi công [10] 49
2.3.4 Qu ản lý chất lượng trong giai đoạn khai thác và sử dụng 51
2.4 Nh ững căn cứ pháp lý cho việc quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 52
2.4.1 Nh ững quy định pháp luật của Nhà nước 52
2.4.2 Nh ững văn bản pháp quy của tỉnh Nghệ An 54
K ết luận chương 2 54
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CHI CỤC ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB NGH Ệ AN – ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN: CỦNG CỐ, NÂNG CẤP TUY ẾN ĐÊ TẢ LAM 55
3.1 Gi ới thiệu khái quát về Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An 55
3.1.1 Quá trình hình thành và t ổ chức bộ máy quản lý 55
3.1.2 Nh ững dự án tiêu biểu đã quản lý thực hiện 58
3.2 Th ực trạng công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục 61 3.2.1 Công tác qu ản lý chất lượng trong giai đoạn chuẩn bị dự án 61
3.2.3 Công tác qu ản lý chất lượng trong giai đoạn thanh quyết toán và bảo hành công trình 69
3.2.4 Đánh giá chung về công tác kiểm soát chất lượng dự án của Chi cục 70
3.3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng– Áp dụng cho dự án:Củng cố, nâng cấp tuyến đê Tả Lam 73
3.3.1 Định hướng trong công tác quản lý chất lượng dự án của Chi cục 73
3.3.2 Gi ới thiệu về gói thầu dự án: Củng cố, nâng cấp tuyến đê Tả Lam đoạn từ Nam Đàn đến Rào Đừng 74
3.3.3 M ột số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng dự án: Củng cố, nâng c ấp tuyến đê Tả Lam đoạn từ Nam Đàn đến Rào Đừng 77
K ết luận chương 3 93
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Hệ thống đê ở đồng bằng sông Hồng và Thái Bình 18
Hình 1.2: Đê sông Hồng đoạn phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội 20
Hình 1.3: Đê biển Cát Hải, Hải Phòng 21
Hình 1.4: Một số hình ảnh về trận vỡ đê sông Hồng năm 1971 27
Hình 1.5: Một số hình ảnh về vỡ đê Rú Trí ở Hà Tĩnh 27
Hình 1.6: Một số hình ảnh về sự cố sạt, trượt, lỡ 28
Hình 2.1: Sơ đồ đảm bảo chất lượng 38
Hình 2.2: Mô hình đảm bảo chất lượng 38
Hình 2.3: Kiểm soát chất lượng toàn diện - TQC 40
Hình 2.4: Sơ đồ quản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát 45
Hình 2.5: Sơ đồ quản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát 47
Hình 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Chi cục 58
Hình 3.2: Sơ đồ các nhóm giải pháp 77
Hình 3.3: Bộ máy quản lý thực hiện dự án tổ chức theo 3 cấp độ 83
Hình 3.4: Quy trình phê duyệt kế hoạch biện pháp thi công tại ban QLDA 86
Trang 6DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân cấp đê sông theo số dân được bảo vệ 9
Bảng 1.2: Phân cấp đê sông theo lưu lượng lũ thiết kế 9
Bảng 1.3: Phân cấp đê sông theo độ ngập sâu trung bình 9
Bảng 1.4: Phân cấp đê biển và đê cửa sông theo số dân được bảo vệ 9
Bảng 1.5: Phân cấp đê biển và đê cửa sông theo độ ngập sâu 10
Bảng 1.6: Phân cấp đối với đê bao, đê bối và đê chuyên dùng 10
Bảng 1.7: Hệ số an toàn về ổn định của đê 10
Bảng 1.8: Độ cao gia tăng an toàn của đê 11
Bảng 3.1 Đề xuất dự kiến một số kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực 82
Bảng 3.2: Bảng xác định “danh mục ưu tiên” 91
Bảng 3.3: Bảng kết quả sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các giải pháp 92
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXD Công trình xây dựng
CLCTXD Chất lượng công trình xây dựng
DAĐTXD Dự án đầu tư xây dựng
GPMB Giải phóng mặt bằng
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 9PH ẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với sự hội nhập và phát triển của đất nước, lĩnh vực xây dựng cơ bản càng được chú trọng và đầu tư để diện mạo đất nước ngày càng không ngừng đổi mới
Vì vậy công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng cần được quan tâm, góp
phần nâng cao hiệu quả đầu tư cho mỗi dự án, công trình
Chất lượng công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh
mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là
yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển của mỗi quốc qia Do vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm
Công trình xây dựng có đặc điểm là nguyên chiếc, đơn nhất, cố định không thể di dời
và vốn có hạn Trên thực tế đã xảy ra không ít sự cố liên quan tới chất lượng công trình xây dựng mà hậu quả của chúng là vô cùng to lớn, chẳng hạn như vụ sập cầu Cần Thơ với 54 người thiệt mạng và hàng chục người bị thương, gây thiệt hại không nhỏ cho nhà nước và xã hội Chính vì thế vấn đề chất lượng công trình cần được quan tâm
và siết chặt quản lý hơn nữa trong những đơn vị quản lý nhà nước lẫn doanh nghiệp Trước bối cảnh đó, Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An cần tìm kiếm
những cách thức tổ chức và quản lý khác nhau để tồn tại và phát triển đặc biệt trong công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng Cùng những phân tích trên và
những kiến thức được học tập ở nhà trường, kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại cơ quan, tác giả chọn đề tài luận văn với tên gọi: “Đề xuất giải pháp quản
lý ch ất lượng dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Ngh ệ An”
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở lý luận và thực tiễn
nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý chất lượng các dự án xây dựng tại Chi cục
Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An
Trang 103 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học:Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn
đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ sở lý luận về chất lượng và công tác quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình của các cơ quan nhà nước
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là những tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình
b Ý nghĩa thực tiễn:Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp của
đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị gợi mở trong việc tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng không chỉ cho Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An mà còn cho các cơ quan quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực xây dựng
a Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu của đề tàilà công tác quản lý chất
lượng trong các dự án đầu tư xây dựng của Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An
b Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài:Phạm vi về mặt không gian và nội dung là đề tài
tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác quản lý chất lượng các dự án xây dựng công trình đê điều do Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An làm chủ đầu tư.Phạm vi về mặt thời gian là luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích
thực trạng công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng của Chi cục từ năm
2010 đến năm 2015 và đề xuất giải pháp quản lý chất lượng cho giai đoạn 2016 đến năm 2020
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp điều tra thu thập thông tin;
Trang 11+ Phương pháp kế thừa, áp dụng mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tin Internet nhưng có chọn lọc;
+ Phương pháp thống kê, phân tích tính toán, tổng hợp số liệu;
+ Phương pháp khảo sát thực tế;
+ Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy như: Nghị định, Thông tư, Luật xây dựng của nhà nước;
+ Phương pháp tiếp cận thông tin dự án
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phải nghiên cứu, giải quyết được
những vấn đề sau:
+ Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng Những kinh nghiệm có được trong quá trình quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng ở nước ta và trên thế giới trong thời gian qua
+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án chất lượng dự án đầu tư xây
dựng của Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An
+ Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi
nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng, áp dụng cụ thể cho dự án: “ Củng cố, nâng cấp tuyến đê Tả Lam đoạn từ Nam Đàn đến Rào Đừng ”
Ngoài Phần mở đầu,Kết luận kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được cấu trúc thành 03 chương với nội dung chính như sau:
+ Chương 1: Tổng quan về chất lượng công trình xây dựng;
+ Chương 2: Cơ sở lí luận về quản lý chất lượng và quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều;
Trang 12+ Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng
tại Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Nghệ An – Áp dụng cho dự án “ Củng cố, nâng cấp tuyến đê Tả Lam”
Trang 13CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY
1.1.2 Ch ất lượng công trình xây dựng [1]
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn
phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh
tế.Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng
Từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xâydựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như:công năng, độ
Trang 14tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình) Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó
Một số vấn đề cơ bản trong đó là:
+ Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hìnhthành ý tưởng
về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chấtlượng khảo sát, chất lượng thiết kế
+ Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng củanguyên vật
liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình
+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng cáccông việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
+ Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đốivới đội ngũ công nhân,
kỹ sư xây dựng
+ Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ
mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử
dụng
+ Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi
trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng
+ Vấn đề môi trường: Cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tớicác yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tácđộng của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án
Trang 151.2 Đê điều và vai trò của hệ thống đê điều
1.2.1 Khái ni ệm công trình đê điều
Theo Luật Đê điều, số 79/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 thì đê là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật
Đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình
phụ trợ, với khái niệm như sau:
+ Đê sông là đê ngăn nước lũ của sông
+ Đê biển là đê ngăn nước biển
+ Đê cửa sông là đê chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển
+ Đê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt
+ Đê bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông
+ Đê chuyên dùng là đê bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt
+ Kè bảo vệ đê là công trình xây dựng nhằm chống sạt lở để bảo vệ đê
+ Cống qua đê là công trình xây dựng qua đê dùng để cấp nước, thoát nước hoặc kết
hợp giao thông thuỷ
+ Công trình phụ trợ là công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ đê điều, bao gồm công trình tràn sự cố; cột mốc trên đê, cột chỉ giới, biển báo đê điều, cột thủy chí, giếng giảm áp, trạm và thiết bị quan trắc về thông số kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đê; điếm canh đê, kho, bãi chứa vật tư dự trữ phòng, chống lũ, lụt, bão, trụ sở Hạt quản lý
đê, trụ sở Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão; công trình phân lũ, làm chậm lũ; dải cây chắn sóng bảo vệ đê
+ Chân đê đối với đê đất là vị trí giao nhau giữa mái đê hoặc mái cơ đê với mặt đất tự nhiên được xác định tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mốc chỉ
giới hành lang bảo vệ đê Chân đê đối với đê có kết cấu bằng bê tông hoặc vật liệu khác
là vị trí xây đúc ngoài cùng của móng công trình
Trang 16+ Cửa khẩu qua đê là công trình cắt ngang đê để phục vụ giao thông đường bộ, đường
sắt
+ Công trình đặc biệt là công trình liên quan đến an toàn đê điều, bao gồm công trình
quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, công trình ngầm phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội, hệ thống giếng khai thác nước ngầm; cửa khẩu qua đê, trạm bơm, âu thuyền; di tích lịch sử, văn hóa, khu phố cổ, làng cổ; cụm, tuyến dân cư trong vùng dân cư sống chung với lũ và trên các cù lao
1.2.2 Phân lo ại và phân cấp công trình đê điều [2]
1.2.2.1 Phân lo ại
Đê được phân loại thành đê sông, đê biển, đê cửa sông, đê bối, đê bao và đê chuyên dùng theo quy định tại Điều 3 của Luật Đê điều với khái niệm đã được nêu tại mục 1.2.1
Ranh giới giữa đê sông và đê cửa sông là tại vị trí mà độ chênh cao do nước dâng truyền vào xấp xỉ bằng 0,5m, ứng với trường hợp mực nước trong sông là mực nước thiết kế đê, phía biển là triều tần suất 5% và bão cấp 9
Ranh giới giữa đê cửa sông và đê biển là tại vị trí mà độ cao sóng xấp xỉ bằng 0,5m, ứng với trường hợp mực nước trong sông là mực nước thiết kế đê, phía biển là sóng bất lợi tương ứng triều tần suất 5% và bão cấp 9
1.2.2.2 Phân c ấp
Căn cứ vào số dân được đê bảo vệ; tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế -
xã hội; đặc điểm lũ, bão của từng vùng; diện tích và phạm vi địa giới hành chính; độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; lưu lượng lũ thiết
kế, mà xác định cấp đê như sau:
+ Đoạn đê hữu sông Hồng từ K47+980 đến K85+689, thuộc địa bàn thành phố Hà Nội được xếp vào cấp đê đặc biệt
+ Đối với đê sông
Trang 17Bảng 1.1: Phân cấp đê sông theo số dân được bảo vệ
Diện tích bảo vệ khỏi
ngập lụt (ha)
Số dân được đê bảo vệ (người)
Trên 1.000.000
1.000.000 đến trên 500.000
500.000 đến trên 100.000
100.000 đến trên 10.000
Dưới 10.000
Bảng 1.2: Phân cấp đê sông theo lưu lượng lũ thiết kế
Bảng 1.3: Phân cấp đê sông theo độ ngập sâu trung bình
Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực
+ Đối với đê đối với đê biển và đê cửa sông
Bảng 1.4: Phân cấp đê biển và đê cửa sông theo số dân được bảo vệ
Diện tích bảo vệ khỏi
ngập lụt (ha)
Số dân được đê bảo vệ (người)
Trên 200.000
200.000 đến trên 100.000
100.000 đến trên 50.000
50.000 đến 10.000
Dưới 10.000
Trang 18Bảng 1.5: Phân cấp đê biển và đê cửa sông theo độ ngập sâu
Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước
+ Đối với đê bao, đê bối, đê chuyên dùng:
Bảng 1.6: Phân cấp đối với đê bao, đê bối và đê chuyên dùng
Đê bao, đê
1.2.3 Đặc điểm của công trình đê điều
+ Lưu lượng cũ thiết kế của từng tuyến đê thực hiện theo quy hoạch phòng chống lũ
của tuyến sông có đê do cấp có thẩm quyền phê duyệt, theo quy định tại Điều 12 của
Luật Đê điều.Các tuyến đê phải bảo đảm an toàn ứng với mực nước lũ thiết kế đê được
cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Hệ số an toàn về ổn định của đê:
Bảng 1.7: Hệ số an toàn về ổn định của đê
+ Cao trình đỉnh đê được xác định theo công thức:CTĐĐ = MNTKĐ + ∆h
Trong đó:- CTĐĐ: cao trình đỉnh đê (m);
- MNTKĐ: mực nước lũ thiết kế đê;
- ∆h: độ cao gia thăng an toàn;
+ Độ cao gia tăng an toàn của đê (chưa bao gồm độ cao sóng leo, nước dâng)
Trang 19Bảng 1.8: Độ cao gia tăng an toàn của đê
+ Bề rộng mặt đê và độ dốc mái đê:
- Chiều rộng mặt đê và độ dốc mái đê được lựa chọn phải thỏa mãn yêu cầu đảm bảo
ổn định, có xét đến yêu cầu cứu hộ đê và các yêu cầu khác
- Trong điều kiện thông thường (thiết kế định hình): chiều rộng mặt đê cấp đặc biệt,
cấp I, cấp II, và cấp III có bề rộng 6m; đê cấp IV, cấp V ≥ 3m Độ dốc mái đê phía sông ms = 2, mái đê phía đồng mđ = 3
- Nếu đê có yêu cầu kết hợp giao thông, thì bề rộng mặt đê lấy theo yêu cầu của giao thông
+ Cơ đê và đường hành lang chân đê:
- Việc bố trí cơ, xác định cao trình và bề rộng mặt cơ cần thông qua tính toán ổn định mái dốc, ổn định thấm để xác định
- Mái đê phía đồng của những tuyến đê có chiều cao trên 5m nên bố trí cơ để tăng hệ
số an toàn ổn định chống trượt và chống thấm Bề rộng của cơ nên lấy từ 3m đến 5m
- Khi có kết hợp giao thông trên cơ thì chiều rộng mặt cơ xác định theo yêu cầu giao thông
- Nếu bố trí cơ đê phía sông thì cần xem xét đến chiều rộng để kết hợp việc trồng cây
chắn sóng
- Đối với những tuyến đê đi qua khu dân cư, nên bố trí đường hành lang chân đê kết
hợp giao thông khu vực và chống vi phạm, chiều rộng đường hành lang nên chọn 5m + Việc kết hợp giao thông phải phù hợp với quy hoạch giao thông của khu vực
+ Trong điều kiện phù hợp, có thể bố trí đê phi tiêu chuẩn, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu phòng, chống lụt, bão kết hợp giao thông đô thị, bảo vệ môi trường
Trang 20+ Tường chắn: Đối với những đoạn đê có sử dụng kết cấu tường chắn thì cần có kết
cấu hợp lý, đảm bảo an toàn về trượt, lật và chiều dài đường viền thấm
1.2.4 Vai trò c ủa công trình đê điều
Do sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tình hình thời tiết diễn biến bất thường, thiên tai lũ, bão xảy ra trái quy luật, mùa khô mực nước xuống rất thấp gây tác động xấu đến mực nước ngầm, mùa lũ mưa lớn tập trung nên lũ có biên độ cao Tác động điều tiết của các hồ chứa làm mực nước thay đổi không theo quy luật tự nhiên, quá trình lũ kéo dài,
vi phạm lấn chiếm bãi sông, lòng sông để xây dựng công trình, phát triển kinh tế, quá trình tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, phát triển sản xuất, đổ vật liệu, xây dựng nhà cửa trên đê, khai thác cát lòng sông không có quy hoạch Hệ thống đê điều là công trình đất, nên chịu tác động lớn của các yếu tố trên, kết quả là mỗi mùa lũ đến, hệ thống đê điều vẫn xuất hiện rất nhiều sự cố ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn đê Hiện nay và mãi mãi về sau, đê vẫn là biện pháp chống lũ chủ yếu và có hiệu quả nhất Để khắc phục các khâu yếu của hệ thống đê cần phải kiểm tra và đánh giá: mặt cắt đê tiêu chuẩn đối
với từng cấp đê để có kế hoạch củng cố; củng cố đê đảm bảo an toàn chống lũ theo tiêu chuẩn thiết kế của từng cấp đê
Đê điều là công trình quan trọng được xây dựng, tu bổ và bảo vệ qua nhiều thế hệ
nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và của nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, gắn với quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia Trong quá trình phát triển của đất nước, tác động trực tiếp
của con người, của thiên nhiên đối với đê ngày càng tăng và có diễn biến ngày càng
phức tạp, yêu cầu đảm bảo an toàn đối với hệ thống đê điều ngày càng cao Trong
những năm gần đây, tình hình thời tiết, khí tượng, thuỷ văn thay đổi bất thường và rất
phức tạp, làm cho công tác dự báo gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy để chủ động trong công tác phòng chống lụt bão, cần phải có giải pháp công trình phù hợp để chủ động trong công tác phòng chống lụt bão Hệ thống đê điều ở nước ta đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ tài sản, mùa màng và tính mạng của người dân Bởi vậy, ngay
từ khi hòa bình lập lại Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đầu tư cho hệ thống công trình đê điều, cùng với đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề Công tác PCLB và giảm nhẹ thiên tai, trong thời gian qua cũng nhận được sự quan tâm đặc
Trang 21biệt của Đảng và Nhà nước, đã được đầu tư nhiều công trình hồ chứa lớn thượng nguồn tham gia chống lũ cho hạ du; nhiều hệ thống đê được nâng cấp và xây mới góp
phần giảm số người chết và thiệt hại kinh tế
Biến đổi khí hậu sẽ tạo ra các trạng thái khí hậu cực đoan, thiên tai sẽ xuất hiện nhiều hơn, không tuân theo quy luật thường có, đặc biệt vấn đề nước biển dâng sẽ trở thành thách thức đối với Việt Nam Nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng từ 0,3 – 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân Mưa tập trung trong
thời gian ngắn, lũ lụt, hạn hán kéo dài; tần suất xuất hiện nhiều hơn, sự an toàn của các
hồ chứa bị đe dọa Hệ thống đê hiện tại có nguy cơ tràn và vỡ đê ngay cả khi không có các trận bão lớn Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao làm chế độ dòng chảy ven bờ thay đổi gây xói lở bờ Đối với hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao, mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, kéo theo mực nước các con sông dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ làm cho đỉnh
lũ tăng thêm, uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc Ngoài ra
hệ thống đê điều góp phần hình thành mạng lưới giao thông quan trọng, giúp tăng lưu lượng giao thông: Mục tiêu ban đầu của công trình đê điều chỉ nhằm ngăn và chống lũ
bảo vệ các khu vực được hưởng lợi từ công trình mang lại Nhưng do quá trình phát triển của xã hội, công trình từng bước được đầu tư để cải tạo, nâng cấp và nhu cầu khai thác lợi dụng tổng hợp Công trình đê không chỉ là công trình bằng đất thực hiện mục tiêu phòng chống lũ mà còn phải là công trình văn hóa phù hợp với cảnh quan chung
và đặc biệt mặt đê được kết hợp làm đường giao thông Hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, những vùng ven đê tập trung nhiều dân cư sinh sống, phương tiện giao thông cũng thay đổi và tăng lên không
Trang 22+ Trong thời gian gần đây nhiều công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực phía Trung Quốc đã được xây dựng trên các tuyến sông chính của nước ta, tuy nhiên chúng ta không có đầy đủ các thông số về các công trình này như quy trình vận hành, xả lũ,… hơn nữa, việc thay đổi dòng chảy và biến đổi lòng dẫn, tình hình KTXH trong vùng có nhiều thay đổi Chính vì thế việc quy hoạch hợp lý và thiết kế các chỉ tiêu kĩ thuật để đảm bảo chống lũ cho hệ thống đê điều hết sức cần thiết và quan trọng
+ Trong quá trình thi công xây dựng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình như con người, máy móc, công nghệ, tổ chức thi công, chất lượng nguyên vật liệu,…
- Trình độ người lao động được phản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm Ngoài ra, người lao động còn được đánh giá thông qua sự hiểu biết, nắm vững về phương pháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụng của máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ và các điều kiện đảm bảo an toàn trong công ty Theo quan điểm quản trị chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù công nhân là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là người phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm sản xuất ra Các chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập ra dựa trên những nghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo công ty.Quan điểm của họ có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàn công ty
- Đối với mỗi công ty, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định tới chất lượng công trình Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng công trình Việc áp dụng công nghệ vào thi công công trình phải phù hợp với tình hình thực tế cũng như yêu cầu của Chủ đầu tư
- Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể có được những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu sản
Trang 23xuất không bảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu
- Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù có ở trình
độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khi nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của công ty Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong công ty đóng một vai tròn hết sức quan trọng.Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng một trong những nhân tố
cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của công ty Điều này gắn liều với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kếhoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến
+ Theo thời gian cũng như do các yếu tố khác, các công trình đê điều đã bị hư hại nhiều Chính vì vậy, công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình đê điều được thực hiện hàng năm là hết sức cần thiết Trên cơ sở đánh giá hiện trạng đê điều và đề nghị của địa phương, Vụ Quản lý Đê điều đã phân bố kinh phí thực hiện công tác này để đảm bảo chất lượng công trình đê điều
1.3.2 Nhân t ố khách quan
+ Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến chất lượng công trình, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời Trong công tác thi công công trình trình đê điều bị phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố điều kiện tự nhiên như mực nước thủy triều hoặc mực nước sông lên xuống, công tác đắp đất cần thời tiết thuận lợi,…
Trang 24+ Nhiều hoạt động kinh tế của con người đã gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình
đê điều như hiện tượng xâm lấn hành lang đê điều xảy ra trên nhiều tuyến đê, khai thác
vật liệu xây dựng trái phép gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng sông và hệ thống đê điều, vi phạm quá tải trọng trên tuyến đê kết hợp đường giao thông… Do sự chưa quyết liệt của chính quyền địa phương cũng như lực lượng thanh tra nên tình trang trên đang khá phổ biến, tại nhiều tỉnh thành có đê
+ Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước: Cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: thắt chặt vốn vay, các quy định trong hệ thống tài chính ngân hàng, việc điều chỉnh tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong lĩnh vực xây dựng thường xuyên thay đổi Bên cạnh đó, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trong nước
và trên thế giới gây khó khăn đến việc cung cấp nguồn vốn cho chủ đầu tư, cho nhà thầu thi công Tất cả các vấn đề này đã ảnh hưởng trực tiếp hay phần nào gián tiếp đến kinh tế của chủ thể tham gia thi công xây dựng công trình khi mà kinh tế là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp: giá nguyên liệu đầu vào tăng, giá cả thị trường tăng trong khi nguồn vốn đầu tư bị khống chế trong giai đoạn lập dự án đầu tư; khi xảy ra phát sinh vốn đầu tư vượt khả năng kiểm soát của chủ đầu tư, có liên quan đến các chủ thể tham gia thì dẫn đến việc xảy ra tiêu cực trong thi công (Họ sẽ tính tới việc cắt bớt, hay loại bỏ một số bước khi thi công…) Các chủ thể không thể tồn tại độc lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh
tế, xã hội.Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ và chất lượng trong thi công
+Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật: Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã
hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ
trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong lĩnh vự xây dựng đã tạo ra những thay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác
và vận hành công nghệ có hiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ
Trang 25thuật thì thời gian để chế tạo công nghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút
ngắn lại Sự ra đời của một công nghệ mới thường đồng nghĩa với chất lượng sản
phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ không thể ngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều
1.4.1 L ịch sử hình thành hệ thống đê điều ở Viêt Nam
Theo sử sách ghi chép lại, các vùng đất ven sông là nơi tập trung dân cư đầu tiên của
xã hội loài người, ví dụ vùng ven sông Nin ở Ai Cập, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Hằng ở Ấn Độ và vùng ven sông Hồng ở Việt Nam… Dòng sông và vùng bãi bồi ven sông đã đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người Sông cung cấp nước ăn và sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là đường thủy thuận tiện cho giao lưu giữa vùng này với vùng khác Những yếu tố thuận lợi trên đã dần dần lôi kéo ngày càng nhiều dân cư đến sinh sống trên vùng bãi ven sông Tuy vậy các vùng bãi ven sông đều là vùng trũng, thấp, vì vậy những người đến cư trú trên vùng bãi ven sông đã phải đối phó với lũ tràn hàng năm Ban đầu để tránh lũ, người dân chọn các bãi cao hoặc làm nhà sàn để ở và sản xuất nông nghiệp Thường chỉ trồng một vụ trong mùa khô Mùa lũ khi nước ngập bãi, đàn gia súc chăn nuôi được chuyển đến những vùng cao và dân chuyển sang nghề đánh cá Ít lâu sau tuyến đê bao được xây dựng nhằm ngăn lũ để gieo trồng thêm vụ hoa màu thứ hai và kéo dài thời gian chăn thả gia súc Mới đầu đê bao chỉ ngăn được lũ nhỏ, sau để nâng cao dần để chống chọi với lũ lớn Nhiều năm liền bãi không bị ngập, dân bắt đầu trồng cây lâu năm và xây nhà ở vững chãi, ổn định trên đất bãi ven sông Quá trình này kéo dài trong nhiều thế
kỷ
Nước ta hiện có hơn 5.000km đê các loại Có đê sông cái, sông con, đê chính, đê quai Những năm gần đây, hệ thống đê biển phát triển khá mạnh Do đặc điểm địa hình và khí hậu hệ thống đê chủ yếu tập trung ở miền Bắc và miền Trung Trong đó con đê sông Hồng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự trường tồn của cả vùng châu thổ
Trang 26Bắc bộ rộng lớn, dân cư đông đúc, kinh tế phát triển Trên nhiều phương diện có thể coi con đê sông Hồng là biểu tượng của hệ thống đê điều Việt Nam
Hình 1 1: Hệ thống đê ở đồng bằng sông Hồng và Thái Bình
Hệ thống đê sông ở Châu thổ sông Hồng Việt Nam đã có lịch sử trên 2 ngàn năm.Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm 521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn) Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở nhất là Cao
Biền, giữa thế kỷ thứ 9: “Sử chép rằng Cao Biền đào sông, khơi ngòi, mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam Nhiều đoạn đê, nhất là đoạn đê trên vùng gần Hà Nội hiện nay được đắp để chống lụt lội” Cao Biền ra lệnh dân thiết lập đê quanh thành Đại La với tổng số chiều dài 8,500 thước, cao 8 thước Đê Cơ Xá
là con đê đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi ngập lụt Nhà vua ra lệnh đắp đê trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu bây giờ) dài 30 km.Dưới đời nhà Trần,những con đê được đắp chỉ cốt giữ cho nước lũ không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ lúa chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng Tháng 3 năm Mậu Thân (1248), vua Trần Thái Tông sai quan ở các lộ đắp đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biển, gọi là Dỉnh Nhỉ Đê hay Đê Quai Vạc Lại đặt
Trang 27quan để coi việc đê, gọi là Hà Đê chánh phó sứ hai viên Hể chỗ nào mà đê đắp vào ruộng của dân, thì nhà nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp
đỡ dân chúng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Tân Mão, Kiến Trung năm thứ
7 (1231): Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào (là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu” Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập
những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương Có thể nói rằng hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm
Thiết lập đê biển được ghi trong lịch sử đầu tiên là vào cuối nhà Trần, Hồ Quý Ly cải
tổ lại điền địa “Khi trước những nhà tôn thất cứ sai đầy tớ ra chỗ đất bồi ở ngoài bể, đắp đê để một vài năm cho hết nước mặn, rồi khai khẩn thành ruộng Nay ngoại trừ bậc đại vương, công chúa ra, thứ dân không được có hơn 10 mẩu” Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra quan “Hà Đê” để lo đê điều và quan Khuyến Nông để phát triển nông nghiêp Dưới triều Lê sơ (1428-1527) những con đê lớn hơn được đắp mới,
và tân tạo hệ thống đê cũ trên hai bờ sông Nhị Hà bằng đá vững chắc Kết quả trái
ngược là sông Hồng trở nên hung dữ hơn, phá vỡ đê và gây ngập lụt triền miên trong thời nhà Nguyễn, nảy sinh nhiều ý kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê Giặc giã thường xuyên xảy ra trong thời Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, đê điều bị hư hại nhiều, mải tới thời Vua Gia Long (1802-1820), vua truyền cho các quan ở các trấn phải “xoi đào sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc Thành phải giữ gìn đê điều cho cẩn thận: chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào hư hỏng thì phải sửa chửa lại” Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã có công khẩn hoang vùng duyên hải Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương Ông đi kinh lý khắp bải bồi vùng duyên hải, tự vẽ bản đồ, phân phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang Chỉ trong 2 năm (1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) cùng hai tổng Hoàng Thu và Minh Nhất (ven bờ biển Thái Bình, Ninh Bình), khai khẩn tổng cộng được 37,770 ha đất Đây là vùng đất bồi, hàng năm tốc độ phù sa bồi tụ tiến ra biển từ
80 - 100 m Từ đó, cứ sau 20-30 năm, đê biển mới được xây đắp lấn ra biển Đến nay,
Trang 28178 năm sau, Kim Sơn đã tiến hành quai đê lấn biển sáu lần, tiến ra biển hơn 500 m, nhờ vậy diện tích hiện nay gấp gần 3 lần so với khi mới thành lập
Ngoài ra, từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đã đề xuất giải pháp phân lũ bằng cách khai đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức sông Thiên Đức thời bấy giờ) nối với sông Hồng ở phía thượng lưu để chuyển nhận nước từ sông Hồng giải tỏa áp lực lũ ở vùng Hà Nội Nhưng phải sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được thực hiện một phần
và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc Từ đó, sông Đuống trở thành đường thoát lũ quan trọng nhất của sông Hồng Hệ thống đê sông và đê biển được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp đô hộ và sau này Đến nay, hệ thống đê sông Hồng có tổng chiều dài 1.341km, nhưng mới chỉ có 37,709km đê hữu Hồng thuộc địa phận Hà Nội (đê cấp đặc biệt) và một đoạn ngắn liền kề với tỉnh Hà Tây (đê cấp 1) được nâng cấp tương đối hoàn chỉnh Dự án này thực hiện từ năm 1996 kết thúc năm 2002 nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB Một số đoạn đê khác đã có đường hành lang hai bên thân đê, mặt
đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông Phần còn lại của hệ thống đê sông Hồng (cả bên hữu và bên tả) hàng năm vẫn được duy tu, củng cố với một mức kinh phí eo hẹp Nhiều đoạn đê chưa bảo đảm tiêu chuẩn thiết kế, thậm chí mặt đê còn chưa được rải cấp phối
Hình 1 2: Đê sông Hồng đoạn phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội
Trang 29Hình 1 3: Đê biển Cát Hải, Hải Phòng
1.4.2 H ệ thống tổ chức bộ máy đê điều qua các thời kỳ [3]
1.4.2.1 Thời kỳ thuộc Pháp
Mặc dù Pháp sớm đầu tư khai thác hệ thống kênh mương để phục vụ hành quân và mở mang diện tích đất đai trồng lúa ở Nam Bộ, nhưng cũng như đối với các ngành nông, lâm nghiệp, sau khi thiết lập bộ máy toàn Đông Dương, Pháp mới xây dựng hệ thống
cơ quan quản lý thủy lợi, nằm trong hệ thống các cơ quan công chính Năm 1916, khi thành lập hệ thống tổ chức công chính ở Đông Dương, ở các xứ có Nha Công chính Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Dưới các Nha là các Sở ở các tỉnh, dưới Sở là các Ty quản lý theo khu vực Đến năm 1934, sau khi cải tổ hệ thống cơ quan công chính, tổ chức công chính chia thành các tổng nha và sở theo ngành và theo đia phương Thời
đó có sáu tổng nha gồm hai tổng nha đặc biệt và bốn tổng nha địa phương (Bắc Kỳ, trung Kỳ, Nam kỳ, Thủy nông và giao thong thủy Nam Đông Dương) Đồng thòi có ba
sở trong đó có một sở đặc biệt là Sở Mỏ và hai sở địa phương là Sở Công chính Cao Miên và Sở Công chính Lào Tổng nha Công chính Bắc Kỳ có năm sở, trong đó có một sở chuyên về trị thủy, hộ đê chống lụt, phụ trách nghiên cứu đào mới và bảo dưỡng các công trình liên quan đến chống lụt, chống mặn, tưới, cải tọa đất và giao thong trên sông; một sở phụ trách về hệ thống thủy nông, nghiên cứu và thi công những công trình thủy lợi trên ngân sách quốc trái; dưới sở có các công ty nông giang quản lý từng hệ thống Tổng nha Công chính Trung Kỳ có bốn sở là hai sở cầu đường
Trang 30và hai sở thủy nông; hai sở thủy nông phụ trách nghiên cứu và xây dựng công trình liên quan đến chống lụt, ngăn mặn, tưới và cải tạo đất, giao thong đường sông và các cảng trên sông Tổng nha Công chính Nam Kỳ không có nhiệm vụ thủy lợi vì đã có riêng Tổng nha Thủy nông và Giao thông thủy Nam Đông Dương Tổng nha Thủy nông và Giao thông thủy Nam Đông Dương phụ trách tất cả những việc nghiên cứu và xây dựng thủy nông và giao thông trên sông ở Nam Kỳ và Cao Miên
1.4.2.2 Thời kỳ 8/1945 đến 9/1955
Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Tuyên cáo thành lập Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ lâm thời gồm Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao và 14 thành viên phụ trách các Bộ trong đó có Bộ Giao thông Công chính Ngày 13/4/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, ban hành sắc lệnh số 50-SL, quy định về Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giao thông Công chính Theo đó, Ty Chuyên môn Công chính trực thuộc Bộ có nhiệm vụ nghiên cứu các công tác tân tạo: Kiểu lô,
đê điều, công trình thủy nông, đường xe lửa và xe điện, đường điện tín và điện thoại, việc ngăn ngừa bệnh sốt rét rừng, cấp phát thuốc, điện, dùng sức nước Ngày 3/5/1946,
Ty chuyên môn Công chính được tổ chức lại thành Nha Công chính Ngày 12/6/1951, tạm thời hợp nhất Nha Công chính và Nha Hỏa xa thành Nha Công chính – Hỏa xa Ngày 29/5/1953, Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính giao Nha Công chính phủ trách thủy nông, đê điều và vận tải Ngày 6/4/1955, thành lập Nha Thủy lợi thuộc bộ Giao thông Công chính Ngày 13/4/1955, Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính ra Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ của Nha Thủy lợi đó là: Nghiên cứu, xây dựng và quản lý các công trình trị thủy, đặc biệt là đê điều; nghiên cứu, xây dựng và quản lý các công trình đại và trung thủy nông, nhằm mục đích chống hạn, chống ngập
và chống mặn Bộ máy của Nha thủy lợi gồm sáu phòng: Kế hoạch tài vụ, thiết kế đo đạc, công trình, quản lý công trình, cán bộ tổ chức, hành chính quản trị
Trang 31nông, các công trình đê điều và trị thủy, hướng dẫn phát triển tiểu thủy nông để chống hạn, chống lụt, chống úng, chống nước mặn; lãnh đạo xây dựng các nhà máy, công thự, các công trình văn hóa xã hội; lãnh đạo xây dựng và quản lý nhà máy nước, đường sá, các công trình vệ sinh trong thành phố; lãnh đạo xây dựng các đô thị; quy định và lãnh đạo thực hiện thể lệ xây dựng Ngày 2/5/1956, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban chỉ huy chống lụt bão ở trung ương, các Liên khu, các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, các tỉnh, huyện xã có đê; Ban do Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc làm Phó trưởn ban, đại diện
Bộ Quốc phòng làm ủy viên, Bộ Thủy lợi và Kiến trúc đảm nhiệm thường trực Ban Trong cơ cấu Bộ có các cơ quan chuyên trách về thủy lợi là: Cục Công trình thủy lợi (gồm cả thủy nông, đê điều, xây dựng cơ bản), Cục Thiết kế Thủy lợi và các cơ quan quản lý tổng hợp
1.4.2.4 Thời kỳ 4/1958 đến 7/1960
Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã quyết định tách Bộ Thủy lợi và Kiến trúc thành hai Bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc Bộ Thủy lợi có nhiệm vụ: Điều tra nghiên cứu tình hình đê điều, các quy định về trị thủy, và khai thác nguồn nước thiên nhiên về hai mặt thủy lợi và điện lực; thiết kế, xây dựng, quản lý các công trình thủy lợi và điện lực; lãnh đạo thực hiện phòng và chống bão lụt, hạn hán, úng ngập, mặn,… Bộ máy tổ chức của Bộ gồm: Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch và Tài chính, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ
kỹ thuật, Vụ Thủy lợi, Cục Đê điều, Cục Công trình, Cục Khảo sát thiết kế, Cục Thủy văn, Cục Đầu tư
Trang 321.4.2.6 Thời kỳ12/1962 đến 12/1995
Ngày 28/12/1962, Hội đồng Chính phủ ra quyết định tách Tổng cục Điện lực ra khỏi
Bộ Thủy lợi và Điện lực để chuyển sang trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng, đổi tên Bộ Thủy lợi và Điện lực thành Bộ Thủy lợi Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trong mảng đê điều như sau:
+ Theo Nghị định 88-CP, ngày 6/3/1979: Quản lý công tác phòng chống lụt, quản lý dòng sông và công tác đê điều, nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, trước hết là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Tổ chức quản lý và chỉ đạo công tác phòng chống lũ, lụt, quản lý dòng sông và bảo vệ đê điều
+ Theo nghị định 63-CP, ngày 11/7/1194: Quản lý các công trình thủy lợi và công tác phòng, chống lụt bão, bảo vệ đê điều trong cả nước Xây dựng trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể và khu vực về phòng chống lụt bão và bảo vệ đê điều Xây dựng trình Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy, các chính sách, chế
độ, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức về phòng chống lụt bão và bảo vệ đê điều Thực hiện nhiệm vụ thường trực của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương
Về tổ chức bộ máy của Bộ có các đơn vị trực thuộc, trong đó có: Theo Nghị định
88-CP là Vụ phòng chống lũ lụt và Quản lý đê điều; theo Nghị định 63-88-CP là Cục Phòng chống lụt bão và Quản lý đê điều
1.4.2.7 Thời kỳ từ 1995 đến nay
Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Thủy lợi Về chức năng, nhiệm vụquản
lý nhà nước về thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai được quy định tai các Nghị định 73-CP (ngày 1/11/1995), Nghị định 86/2003/NĐ-CP (ngày 18/7/2003), Nghị định 01/2008/NĐ-CP (ngày 3/1/2008), Nghị định 199/2013/NĐ-CP (ngày 26/11/2013)
Về tổ chức bộ máy của Bộ có các đơn vị trực thuộc trong đó có: Theo Nghị định
73-CP là Cục phòng chống lụt bão và Quản lý đê điều (kiêm Văn phòng Ban Chỉ đạo
Trang 33phòng, chống lụt, bão; theo Nghị định 01/2008/NĐ-CP là Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão; đến 25/01/2010 hợp nhất Cục Thủy lợi, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão thành Tổng cục Thủy lợi Bộ máy đê điều ở địa phương trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh, thành; cụ thể đó là Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão; Các hạt quản lý đê, trạm thủy văn trực thuộc Chi cục
1.4.3 Tình hình đầu tư xây dựng các công trình đê điều qua các thời kỳ
Cho đến nay, chúng ta đã xây dựng được hệ thống đê có chiều dài 13.200 km, trong đó
đê sông 10.600km, 3000km đê biển và gần 23000km bờ bao ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Hệ thống đê điều, đặc biệt hệ thống đê sông Hồng và sông Thái Bình, có vị trí sống còn trong việc bảo vệ dân sinh và sản xuất Ngày nay, sau khi có hồ Hoà Bình với dung tích phòng lũ 4,9 tỷ m3 thì hệ thống đê sông Hồng có thể chống lũ với mức nước 13,3m tại Hà Nội Riêng đê Hà Nội có thể chống được mực nước 13,6m Hệ thống đê sông Thái Bình có thể chịu được mức nước lũ 7,21m tại Phả Lại Ngoài việc củng cố nâng cấp hệ thống đê sông, hệ thống đê biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tính từ Quảng Ninh đến Quảng Nam Đà Nẵng cũng đã nâng cấp, chống đỡ mực nước biển dâng tương ứng với bão cấp 9 Tính đến nay các tuyến đê biển, chống được thuỷ triều
ở mức +3,5m Hệ thống đê bao, bờ ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu bảo
vệ lúa hè thu, chống lũ đầu mùa tháng 8, được kiểm nghiệm qua nhiều năm đã bảo đảm cho chống ngập cho vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu
từ một vụ lúa nổi trở thành sản xuất 2 vụ đông - xuân, hè - thu Phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, nâng mức an toàn kỹ thuật của đê sông Hồng, sông Thái Bình và đê vùng Bắc khu 4 cũ chống đỡ an toàn với lũ lịch sử đã xảy ra
Để giảm bớt những hậu quả do thiên tai gây ra, Chính phủ đã phê duyệt 2 chương trình nâng cấp đê biển Đoạn từ Quảng Ninh - Quảng Nam từ năm 2006; chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ngãi - Kiên Giang từ năm 2009 đến năm 2020 với tổng mức đầu
tư gần 19.500 tỷ đồng Mức tối thiểu cũng phải chống được bão cấp 9 và thủy triều ứng với tần suất 5% Nhưng hiện nay, tiến độ củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ tỉnh Quảng Ngãi - Kiên Giang còn chậm do thiếu kinh phí Tổng kinh phí nhà nước để hoàn thiện tổng khối lượng công trình cho cả giai đoạn 2006 - 2010 chỉ khoảng 3.000
tỷ đồng, trung bình mỗi năm khoảng 600 tỷ đồng cho cả hệ thống đê biển kéo dài từ
Trang 34Quảng Ninh đến Quảng Nam Như vậy, chỉ đáp ứng đủ khoảng 25% tổng kinh phí cho xây dựng đê biển Vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt hai chương trình lớn, thứ nhất là chương trình nâng cấp đê biển, từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và Quảng Ngãi đến Kiên Giang Thứ hai là chương trình nâng cấp đê sông tại 19 tỉnh có đê trên cả nước được phân cấp, với tổng kinh phí là hơn 50 nghìn tỷ, kéo dài từ nay đến năm 2020 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chủ trương về đầu tư xây dựng cải tạo nâng cấp hệ thống đê điều trong thời gian tới sẽtheo hướng tập trung xây dựng các tuyến đê xung yếu, không đầu tư dàn trải và tiến tới xây dựng chính sách xã hội hóa các tuyến
đê biển Ngoài những chương trình Dự án nâng cấp đê sông, đê biển, hàng năm Chính phủ có các chương trình duy tu, bảo dưỡng, tu bổ đê điều thường xuyên với mức kinh phí là khoảng 200 tỷ đồng Với tổng chiều dài đê của nước ta như đã nêu, thì mức kinh phí này là mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% yêu cầu của mục tiêu
1.4.4 Các s ự cố về đê điều ở Việt Nam và nguyên nhân
1.4.4.1 Sự cố vỡ đê:
Ở việt Nam đã xảy ra nhiều trận vỡ đê nghiêm trọng gây thiệt hạt về mặt con người lẫn tài sản, vật chất Nguyên nhân chủ yếu xảy ra hiện tượng vở đê là mưa lớn, bão, lũ và hiện trạng đê điều ở Việt Nam bấy giờ còn yếu về mặt chất lượng lẫn cao trình Sau đây tôi xin đưa ra một số trận vỡ đê:
+ Trận lũ kinh hoàng tháng 8 năm 1971: Cơn lũ đã làm vỡ đê sông Hồng và 100000 người đã bị thiệt mạng Đây là cơn lũ lớn nhất trong vòng 250 năm nay ở miền bắc, và
số tổn thất nhân mạng vượt quá sức tưởng tượng so với các cơn lũ lịch sử vào năm
1999 ở miền trung và năm 2000 ở miền nam Trận lũ được liệt kê trong danh sách các trận lụt lớn nhất thế kỷ 20 của cơ quan Quản trị Hải dương và Khí tượng Hoa Kỳ Theo ghi chép của kỹ sư Nguyễn Gia Quang, nguyên cục phó Cục Đê điều, ghi lại: Năm đó mưa to từ nửa cuối tháng 8, trên diện rộng khiến lũ sông Đà, sông Thao, sông
Lô (ba nhánh chính của sông Hồng) đều lên, mưa không ngớt gần chục ngày trời Dòng sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội nước chảy cuồn cuộn, những xoáy nước to, hun hút xuống tận đáy, không bóng một con tàu, thuyền nào; vùng ngoài đê chìm trong biển nước, nhà cửa chỗ cao chỉ nhú thấy nóc… Sau khi làm vỡ tất hết các đê bối (đê nằm ngoài đê), lần lượt vỡ đê Lâm Thao, đê Lai Vu (Hải Dương), đê Nhất Trai
Trang 35(Thái Bình), đê Khê Thượng (Ba Vì, Hà Nội), đê Cống Thôn (Hà Nội), đê phao Tấn Phả (Thai Bình) được phá để phân lũ thì cùng ngày đê Thượng Vũ sông Kim Môn vỡ,…
Hình 1 4: Một số hình ảnh về trận vỡ đê sông Hồng năm 1971
+ Vỡ đê ở Hà Tĩnh năm 2010: Tuyến đê Rú Trí ngăn lũ sông Ngàn Sâu bảo vệ gần 20 ngàn người thuộc 4 xã của huyện Đức Thọ đã bị vỡ Tại hiện trường, đoạn đê bị vỡ có chiều dài hơn 30m Nước lũ thượng nguồn sông Ngàn Sâu đang dâng cao đổ về khiến khu vực đê bị vỡ hết sức nguy hiểm Dòng nước xoáy đổ ầm ầm xuống dưới chân đê
có thể cuốn phăng bất cứ thứ gì Đê vỡ đã cuốn trôi gần 1km đường sắt khiến đường ray tàu Bắc Nam bị biến dạng, sập sâu xuống dòng nước Nhiều cột điện chạy dọc đường ray bị nước cuốn trôi và gãy đổ
Hình 1 5: Một số hình ảnh về vỡ đê Rú Trí ở Hà Tĩnh
1.4.4.2 Sự cố sạt, trượt, lỡ đê:
Ngoài nguyên nhân là các hiện tượng thiên tai thì vấn đề chất lượng công trình đê điều
và vi phạm an ninh, an toàn đê điều cũng là những nguyên nhân dẫn đến các sự cố về
Trang 36đê điều Các công trình nâng cấp đê được thi công không đúng quy định, thiết kế về mẫu đất đắp, giật cấp, độ chặt K,…dẫn đến tình trạng sạt lỡ khi có mưa lớn Tình trạng khai thác cát trái phép trên sông cũng như các bến cát quá tải trọng cho phép, các hành
vi vi phạm hành lang đê điều dẫn đến các sự cố như sạt bờ kè,…Ngoài ra việc thay đổi dòng chảy, hệ lụy của biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng là một nguyên nhân Sau đây là một số hình ảnh về sự cố nêu trên:
Hình 1 6: Một số hình ảnh về sự cố sạt, trượt, lỡ
Trang 37và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đánh giá, tổng kết, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhân dân nhận thức sâu sắc, đầy
đủ hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi trong công tác phòng, chống lụt, bão, bảo
vệ đê điều, phát triển thủy lợi; nâng cao ý thức tự giác thực hiện pháp luật của Nhà nước; kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng xâm hại các công trình đê điều
Trang 38CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN
LÝ CH ẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU
2.1.1 Ch ất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Tuy nhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề không đơn giản.Đây là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Đứng ở những góc độ khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường
Quan niệm siêu việt cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của sản phẩm Quan niệm này mang tính trừu tượng, chất lượng sản phẩm không thể xác định được một cách chính xác Quan niệm xuất phát từ sản phẩm lại cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Chẳng hạn, theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm/dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, qui cách đã được xác
định trước, như: “Chất lượng là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn các yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”[4]
Trong nền kinh tế thị trường, đã có hàng trăm định nghĩa về chất lượng sản phẩm được đưa ra bởi các tác giả khác nhau Những khái niệm chất lượng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả Có thể xếp chúng trong một nhóm chung gọi là “ quan niệm chất lượng hướng theo thị trường”, đại diện cho nhóm này có một số các định nghĩa sau: Trong lĩnh vực quản trị chất lượng, tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu – European Organization For Quality
Control cho rằng: “Chất lượng là chất phù hợp đối với yêu cầu của người tiêu dùng”
Trang 39Philip B Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả chất lượng như sau: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814
– 1994 phù hợp với ISO/ DIS 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm
ẩn” Đối với nhà sản xuất: “Chất lượng có nghĩa là phải đáp ứng những chỉ tiêu kỹ thuật đề ra”
Nhìn chung, mọi định nghĩa tuy có khác nhau về câu chữ nhưng tựu chung đều nêu lên bản chất cuối cùng mà cả người sản xuất và người tiêu dùng đều quan tâm hướng tới
đó là “Đặc tính sử dụng cao và giá cả phù hợp” Thể hiện điều này, quan điểm đầy đủ hiện nay về chất lượng được tổ chức tiêu chuẩn thế giới ISO (International Organization for Standardization) định nghĩa: “Chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu” Yêu cầu là những nhu cầu hay mong
đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc
2.1.2 Qu ản lý chất lượng sản phẩm
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt các yếu
tố có liên quan chặt chẽ với nhau.Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng.Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng:
+ A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất, đảm bảo sản xuất có hiệu quả và thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng
+ A.V.Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ: “ Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu qủa của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng.”
Trang 40+ Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng: Quản lý chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống, đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động
+ Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chấtlượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
+ Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản
lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng
+ Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 “ Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.” Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
Như vậy, tuy tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, song nhìn chung có những điểm giống nhau như: Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường và chi phí tối ưu Thực chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cách khác quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tâm lý) Quản lý chất lượng
là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo