Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập kinh tế là một xu hướng tất yếu và đang diễn ra rất mạnh mẽ,cùng với đó là sự phát triển ngày càng đa dạng của các loại hình sản xuất kinhdoanh, trong đó có lĩnh vực tài chính Tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộcnhiều vào sự phát triển của các doanh nghiệp Nằm trong guồng quay chungcủa sự phát triển nền kinh tế khu vực và thế giới - các doanh nghiệp ViệtNam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) cũng không tránhđược sự chi phối đó Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cácDNNVV thì nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất,giúp các DNNVV nắm bắt được các cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh
Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự tăng trưởng của DNVVN.Các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanhnghiệp này bởi các DNVVN chưa có uy tín trên thị trường cạnh tranh, chưatạo lập được khả năng trả nợ và các DNVVV luôn được xem là đối tượngkhách hàng chứa đựng quá nhiều rủi ro Với đặc điểm của các DNVVN làquy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu thấp, năng lực tài chính chưa cao, thiếu tài sảnthế chấp, khả năng xây dựng các dự án có tính khả thi còn yếu, số liệu thôngtin kế toán chưa đáng tin cậy… nên các doanh nghiệp rất khó tìm được ngườibảo lãnh cho mình trong quan hệ tín dụng Đó cũng là lý do mà các DNVVNkhó tiếp cận được vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại và đang là mộttrở ngại lớn cho các DNVVN hiện nay
Việc ngày càng mở rộng về quy mô của hệ thống các ngân hàng cộngvới môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc hỗ trợ phát triểnDNVVN là nhiệm vụ hết sức rất cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dàicủa nền kinh tế Không ngoại trừ xu thế đó, Ngân hàng nông nghiệp và pháttriển nông thôn tỉnh Quảng Bình (NHNo &PTNT) đã không ngừng hoàn thiện
và nâng cao chất lượng tín dụng, đa dạng hoá cung ứng sản phẩm dịch vụ
Trang 2bằng các chiến lược và chính sách ưu đãi nhằm thu hút khách hàng mới Việchướng các sản phẩm dịch vụ vào các DNVVN, đặc biệt là các sản phẩm chovay đối với doanh nghiệp đã đem lại cho NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bìnhdoanh số hoạt động đáng kể, điều này góp phần nâng cao vị thế và năng lựccạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tài chính nói chung và hệ thống cácngân hàng thương mại nói riêng.
Xuất phát từ kết quả đạt được và những gì chưa làm được và để địnhhướng cho thời gian tới NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình cần có những giảipháp như thế nào nhằm hướng việc cung ứng sản phẩm cho vay vào cácDNVVN một cách có hiệu quả hơn, quy mô hơn Tôi chọn nghiên cứu đề tài:
"
Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình".
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài chia thành 3 chương
Chương 1: Mở rộng hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVVN
-những vấn đề cơ bản
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại NHNo&
PTNT tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay DNVVN
tại NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình
Trang 3Chương 1
MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
tỷ trọng lớn như thế nhưng hầu hết các DNVVN đều có quy mô nhỏ cả về vốn
và lao động
Tuỳ theo đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNVVN được địnhnghĩa theo các cách khác nhau Tuy nhiên DNVVN được định nghĩa một cáchchung nhất: DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách phápnhân; kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận; có quy mô doanh nghiệp trong nhữnggiới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị giatăng thu được trong từng thời kỳ quy định của từng quốc gia (Nguồn: Giảipháp phát triển DNVVN ở Việt Nam của Nguyễn Đình Hương - Nhà xuất bảnthống kê 2002)
Ở Việt Nam, DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cáchpháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô vốn và lao động
Trang 4tuỳ theo quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từngthời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Theo quy định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001 thìDNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theopháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao độngtrung bình hàng năm không quá 300 người
1.1.2 Đặc điểm
- DNVVN có cơ cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt
Các DNVVN thường có cơ cấu tổ chức đơn giản, số lượng lao động ít
vì thế các doanh nghiệp này rất năng động linh hoạt, dễ chuyển hướng sảnxuất kinh doanh Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc thâmnhập được vào thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp nhiều thành công Lợinhuận của doanh nghiệp chỉ thu được tối đa khi sản phẩm hàng hoá đangtrong giai đoạn tăng trưởng, và khi sản phẩm hàng hoá đến giai đoạn suythoái, bị thị trường từ chối thì các DNVVN với quy mô vừa hoặc nhỏ sẽ dễdàng chuyển hướng sản xuất, lựa chọn mặt hàng kinh doanh có lợi nhất, phùhợp nhất với khả năng của mình Hơn nữa, những người điều hành quản lýdoanh nghiệp phần lớn là chủ sở hữu của doanh nghiệp hoặc là người góp vốnlớn nhất nên họ được toàn quyền ra tất cả các quyết định có liên quan đếndoanh nghiệp Cũng do hoạt động hẹp, chủ sở hữu vừa là người đầu tư vừa làngười quản lí nên các doanh nghiệp này được tự do hành động Sự gắn bó sátsao của chủ doanh nghiệp với quyền lợi của người lãnh đạo khiến họ phải tậptrung hết trí lực cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì họ có khảnăng tự quyết nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi, tạođiều kiện cho khả năng thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sựthay đổi của khoa học kĩ thuật Còn đối với các doanh nghiệp lớn, do quy môlớn cả về lao động và vốn nên thiếu sự linh động, khó phản ứng kịp thời vớinhững biến động của thị trường, mà hầu hết các doanh nghiệp này thường có
Trang 5chủ sở hữu là Nhà nước nên bị động trong sản xuất kinh doanh, chiến lượckinh doanh phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chínhphủ, vì thế có lúc mục tiêu lợi nhuận phải nhường chỗ cho mục tiêu phát triển.
- Mặc dù là nơi tạo việc làm chủ yếu trong mọi lĩnh vực Mỗi năm thu húthàng triệu lao động nhưng hầu hết chất lượng lao động trong các DNVVN rấtthấp vì các doanh nghiệp này thường tận dụng nguồn lao động rẽ tại địaphương, họ ít được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ do đó hiệu quả laođộng chưa cao Hơn nữa, các doanh nghiệp này có vốn ít nên hiếm có cácchương trình đào tạo giúp nâng cao tay nghề cho lao động của doanh nghiệp
- Nói đến DNVVN ở Việt Nam chủ yếu là nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Do tính lịch sử của quá trình hình thành
và phát triển các thành phần kinh tế nên hầu hết các DNVVN ở nước ta đềuthuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Vì vậy, đặc điểm và tính chất củacác doanh nghiệp thuộc khu vực này mang tính đại diện cho DNVVN
- Các DNVVN phong phú với đủ mọi loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nêncác DNVVN cung cấp một khối lượng sản phẩm đa dạng cho xã hội Đặc biệttrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì sự phát triểncủa các DNVVN là cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hoá thay thế hàngnhập khẩu Nhờ quy mô nhỏ, chi phí sản xuất kinh doanh thấp vì tận dụngđược nguồn lao động, nguyên vật liệu rẻ tại địa phương, nên các DNVVN cókhả năng chuyên môn hoá sâu, có thể sản xuất một mặt hàng thay thế nhậpkhẩu có chất lượng tốt, giá thành phù hợp với sức mua của nhân dân từ đógóp phần ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Các DNVVN ở Việt Nam thường có công nghệ lạc hậu, thủ công
Hầu hết các DNVVN ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu từ
15-20 năm nên sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghệ thấp, hàm lượng
Trang 6chất xám ít, giá trị thương mại và sức cạnh tranh kém so với sản phẩm cùngloại của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Tình trạng máy móc thiết
bị, công nghệ lạc hậu đã và đang là nguyên nhân chính của tình trạng lãng phítrong sử dụng nguyên nhiên vật liệu và ô nhiễm môi trường…
Do chủ yếu tận dụng nguồn lao động tại địa phương với trình độ kỹthuật tay nghề thấp nên khả năng tiếp cận với những công nghệ máy móc hiệnđại là rất khó Hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, khảnăng huy động vốn lại ít nên thường gặp khó khăn trong việc đầu tư đổi mớicông nghệ
- Trình độ quản lý của chủ DNVVN bị hạn chế, thiếu thông tin trong khi đólại khó có khả năng thu hút các nhà quản lý và lao động giỏi Do khả năng tàichính có hạn, DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin thịtrường, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến cũng như ít có khảnăng mua sắm những thiết bị hiện đại Mặt khác, phần lớn các DNVVN đượcthành lập do sự góp vốn của những người có vốn, khả năng quản lý của họ cóhạn nên thường gặp lúng túng khi có biến động lớn trên thị trường Các nhàquản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo, thiếu sự hiểu biết đầy đủ về quản lýdoanh nghiệp trong khi điều kiện hội nhập và cạnh tranh Hơn nữa do quy môsản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, các DNVVN khó có thể trả lươngcao cho người lao động nên khó có khả năng thu hút những người lao động cótrình độ cao trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp
- Các DNVVN có năng lực tài chính thấp
Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự tăng trưởng của DNVVN.Khi mới thành lập, phần lớn các DNVVN thường gặp phải vấn đề về vốn Cácnhà đầu tư, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanhnghiệp này bởi các DNVVN chưa có uy tín trên thị trường cạnh tranh, chưatạo lập được khả năng trả nợ Vốn chủ sở hữư thấp, năng lực tài chính chưacao, nếu chưa tạo được năng lực bằng uy tín kinh doanh và hiệu quả sử dụng
Trang 7vốn thì doanh nghiệp rất khó tìm được người bảo lãnh cho mình trong quan
hệ tín dụng Vì thế DNVVN rất khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng của cácNgân hàng thương mại Muốn vay vốn được từ nguồn tín dụng của các ngânhàng thương mại thì các DNVVN phải tạo lập được dự án đầu tư có tính khảthi nhưng do trình độ, khả năng quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệpthấp, khả năng dự báo trước những sự biến động của ngành, của nền kinh tếkém nên việc xây dựng các kế hoạch tài chính, phương án sản xuất kinhdoanh của không ít DNVVN còn yếu trong khi dịch vụ tư vấn hỗ trợ doanhnghiệp lại chưa phát triển Mặt khác, không ít các DNVVN lập báo cáo tàichính chưa rõ ràng, không minh bạch do yếu kém về quản trị doanh nghiệpnên các báo cáo tài chính không đáp ứng được yêu cầu Bên cạnh đó vẫn cònnhững doanh nghiệp lập báo cáo chỉ để đối phó với cơ quan Thuế nên đã cốtình làm giảm khấu hao tài sản, tăng nợ… Một số doanh nghiệp còn làm tráichức năng, trái pháp luật, sử dụng giấy tờ giả để lừa cơ quan quản lý Nhànước trong việc xin hoàn thuế hoặc góp vốn liên doanh, liên kết… Do nguồntài chính hạn hẹp, quá trình tích tụ và tập trung vốn thấp, khả năng xây dựngcác dự án khả thi yếu, nhiều doanh nghiệp còn hoạt động kinh doanh theothương vụ, không có chiến lược phát triển cụ thể nên mức độ rủi ro cao, trongkhi các báo cáo tài chính không đủ sức thuyết phục do chưa chấp hành tốtcông tác kế toán, một số doanh nghiệp chưa nhận thức đúng, đầy đủ nghĩa vụ
và trách nhiệm pháp lý trong việc đăng ký kinh doanh nên việc tiếp cận vốntín dụng từ các kênh thương mại cũng như ưu đãi đều rất hạn chế Như vậyvới quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính lại khó khăn nêntiềm lực tài chính của các DNVVN đã thấp lại càng thấp hơn, do đó khả năngcạnh tranh của các DNVVN trên thị trường không cao lắm
Với những đặc điểm nổi bật của các DNVVN ở Việt Nam như trên,cộng với môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc hỗ trợ phát triển
Trang 8DNVVN là nhiệm vụ hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dài củanền kinh tế
1.1.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế quốc dân
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNVVN có thể giữ nhữngvai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồngnhư: giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, giữ vai trò ổn định nền kinh tế,làm cho nền kinh tế năng động, tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợquan trọng, là trụ cột của kinh tế địa phương… Trong bối cảnh cạnh tranh gaygắt như hiện nay để góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế thì yêu cầu các nước, đặc biệt là các nước đangphát triển cần có các chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN Có như vậy mớihuy động được tối đa nguồn lực xã hội, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp lớnphát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Điều đó được thểhiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Về số lượng: Các DNVVN là bộ phận kinh tế chiếm ưu thế
tuyệt đối, có mặt ở hầu hết mọi thành phần kinh tế với đủ các loại hình kinhdoanh đa dạng Ở nước ta các DNVVN chiếm tỷ trọng trên 90% tổng số cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế, con số này còn ở mức cao hơn ở một số nướcphát triển như Đức, Nhật Đối với một số nước Châu Á như Singapo, Malaixia,Hàn Quốc… các DNVVN chiếm từ 81- 98% tổng số doanh nghiệp (Nguồn:Thông tin DNVVN - www.smenet.com.vn) Như vậy, mới chỉ nhìn vào nhữngcon số này chúng ta đã thấy được vai trò của các DNVVN trong nền kinh tếquan trọng như thế nào Với số lượng như vậy, hàng năm các DNVVN đónggóp rất đáng kể vào GDP của cả nước (khoảng 25% GDP), giải quyết việc làmcho hàng vạn lao động Nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì cóthể thấy rằng tiềm năng phát triển để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội
đã đề ra trong giai đoạn tới phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của các DNVVNchứ không chỉ phụ thuộc vào các chương trình dự án lớn
Trang 9Thứ hai, DNVVN đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động,
tạo công ăn việc làm với chi phí đầu tư thấp, giảm thất nghiệp góp phần ổn định và phát triển xã hội
Ở nước ta theo ước tính hàng năm các DNVVN thu hút khoảng 7,8triệu lao động tương đương với 26% lao động của cả nước; trong đó số laođộng được thu hút vào các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất(35,7%), sau đó đến các ngành thương mại - dịch vụ (19,5%), xây dựng(15,6%)… Con số này cho thấy vai trò của DNVVN lớn hơn rất nhiều so vớiDNNN trong việc thu hút lao động, tạo công ăn việc làm góp phần giải quyếttốt sức ép thất nghiệp đang ngày càng gia tăng
Thứ ba, Nhờ việc thu hút hàng triệu lao động mỗi năm các DNVVN đã
tạo ra nguồn thu nhập ổn định thường xuyên cho dân cư, góp phần quan trọngtrong việc tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theovùng, lãnh thổ
Phần lớn các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn thường chỉ tập trungđáp ứng nhu cầu của một nhóm khách hàng nhất định có mức thu nhập cao ởcác vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, dân cư đông đúc, thị trườngtiêu thụ rộng Vì thế họ đã bỏ qua đoạn thị trường rất quan trọng đó là bộ phậnkhách hàng có mức thu nhập thấp hơn nhưng lại chiếm tỷ trọng khá lớn trongnền kinh tế Đây là đoạn thị trường có tiềm năng rất lớn để cho các DNVVNxâm nhập, tạo chỗ đứng cho riêng mình nhưng đồng thời nó cũng giúp cân đốiđược khả năng cung cầu trong xã hội, đáp ứng được cho nhu cầu phần lớn cho
bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp, nâng cao mức sống cho họ Hơn nữa cácdoanh nghiệp lớn không đáp ứng được tất cả các yêu cầu của nền kinh tế nhưlưu thông hàng hoá, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ côngnghiệp… Trong khi đó các DNVVN với quy mô nhỏ; cấu tổ chức đơn giản,linh hoạt; mặt khác vốn của hầu hết các doanh nghiệp này là do những chủ thểkinh doanh tự nguyện bỏ ra, hoặc do các cổ đông đóng góp hoặc do liên doanh
Trang 10liên kết… vì thế họ có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có quyền quyếtđịnh ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ cũng như nhu cầuthị trường Đây là những điều kiện quan trọng giúp các DNVVN từng bướckhai thác những tiềm năng của các vùng miền mà các doanh nghiệp lớn khôngthể tiếp cận được; góp phần làm giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộphận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng của đấtnước, cải thiện mối quan hệ kinh tế giữa các khu vực khác nhau.
Thứ tư, DNVVN có vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn tài
chính của dân cư trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địaphương Để thành lập doanh nghiệp thuộc loại này thì chỉ cần một số vốn nhỏ
do đó đã tạo điều kiện cho dân cư tham gia đầu tư góp vốn Như vậy thông quaDNVVN những nguồn vốn nhỏ, tạm thời nhàn rỗi đã có khả năng được sinhlời Hơn nữa việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng Ngân hàng của DNVVN rất hạnchế, nguồn vốn hoạt động chủ yếu được huy động từ những nguồn thân quen
Vì thế DNVVN được tiếp xúc với người cho vay, người cho vay có khi là chủ
sở hữu doanh nghiệp, trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên việc
sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn Bên cạnh đó các DNVVN có thể tận dụng đượcnguồn lao động và nguyên liệu với giá rẻ, do đó làm giảm chi phí sản xuất, hạgiá thành sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêuthụ sản phẩm Như vậy, sự phát triển của các DNVVN đã tận dụng được tối đacác nguồn lực của xã hội, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động có trình độtay nghề thấp, góp phần làm ổn định và phát triển xã hội
Thứ năm, DNVVN có mặt trong rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác
nhau và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Nó có tácdụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển DNVVN làmột bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, là cơ sở đểhình thành nên các tập đoàn kinh tế lớn trong quá trình phát triển nền kinh tếthị trường Ngoài ra, các DNVVN cũng là đầu mối cung cấp đầu vào hay
Trang 11tham gia vào một khâu nào đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp lớn Chính điều này đã làm tăng khả năng hoạt động cho cácdoanh nghiệp trên thị trường, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các loại hìnhdoanh nghiệp, các thành phần kinh tế góp phần nâng cao năng lực cạnh tranhcho các doanh nghiệp.
Thứ sáu, DNVVN góp phần hình thành và phát triển đội ngũ các nhà
kinh doanh năng động, sáng tạo Cùng với việc phát triển các DNVVN là sựxuất hiện của nhiều nhà kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, đây là lực lượng rấtcần thiết góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở nước ta phát triển Đội ngũcác nhà kinh doanh hiện nay ở Việt Nam còn rất khiêm tốn cả về số lượng vàchất lượng do chế độ cũ để lại Trong nhiều năm đổi mới đã xuất hiện nhiềugương mặt trẻ điển hình, năng động và sáng tạo trong quá trình điều hành,quản lý DNVVN Với chính sách hỗ trợ các DNVVN sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho đội ngũ các nhà kinh doanh trẻ phát huy năng lực của mình đóng gópvào sự phát triển chung của xã hội
Thứ bảy, Sự phát triển của các DNVVN tạo ra môi trường cạnh tranh
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn Sự tham gia của rấtnhiều các DNVVN vào quá trình sản xuất kinh doanh làm cho số lượng vàchủng loại sản phẩm tăng lên rất nhanh Kết quả làm tăng tính cạnh tranh trênthị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp thường xuyên đổi mớimặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với môi trường cạnhtranh Những yếu tố đó tác động lớn làm cho nền kinh tế phát triển năng động
và hiệu quả hơn
Với vai trò to lớn của các DNVVN trong nền kinh tế quốc dân thì việckhuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp này là một giải pháp quan trọng đểthực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010, đặc biệt là thựchiện chương trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đâycũng là một trong các giải pháp đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền
Trang 12kinh tế nước ta Vì vậy, Chính phủ cần đưa ra các chính sách phát triển hợp lýtạo điều kiện tốt nhất để các DNVVN phát huy được tối đa vai trò của mìnhtrong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụnggiao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thờigian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
1.2.2 Vai trò của NHTM trong hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động mang tính chất sống còn đối với hầu hết các ngânhàng thương mại Đây không chỉ là khoản sử dụng vốn lớn nhất của ngân hàng,
mà còn là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất trong tất cả các tài sản có sinh lợi.Hơn thế nữa, chính chức năng cho vay này có thể dẫn đến những rủi ro lớnnhất mà các ngân hàng nói chung phải chấp nhận Sự sụp đổ của một ngânhàng thương mại thường có liên hệ với những vấn đề tồn tại trong danh mụccác khoản cho vay hơn là từ sự thua lỗ ở các loại tài sản có khác Phần lớn quỹcủa ngân hàng đều được dùng để cho vay; mức doanh lợi chủ yếu được sảnsinh từ các khoản cho vay, và gánh nặng rủi ro kinh doanh cũng tập trung ởđây
Cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với từng chủ thể kinh tế cũng như đốivới nền kinh tế đất nước và nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thựchiện chức năng xã hội của ngân hàng trong nền kinh tế Cho vay là lý do tồntại cơ bản đối với ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là nhu cầu cầnthiết của tất cả các chủ thể và thành phần khác nhau trong nền kinh tế Việcđáp ứng nhu cầu tín dụng này có thể được xem như là một cam kết hay nghĩa
vụ xã hội của ngân hàng trong khuôn khổ của khả năng sinh lợi và rủi ro Hệthống ngân hàng cung cấp tín dụng để hỗ trợ cho việc mua hàng hóa và dịch
vụ và để hỗ trợ cho đầu tư (như xây dựng nhà cửa, xa lộ, cầu cống và những
Trang 13công trình kiến trúc khác, cũng như để mua máy móc và thiết bị) Đầu tư làmgia tăng năng suất các nguồn của cải xã hội và tạo ra mức sống cao hơn cho
cá nhân và gia đình Khi tín dụng ngân hàng khan hiếm và chi phí cao thì chitiêu trong nền kinh tế chậm lại và nạn thất nghiệp thường gia tăng Các biếnđộng về tín dụng ngân hàng cũng có tác động lên lạm phát Điều này không
có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì tiền gửi ngân hàng là một trong những thànhphần lớn nhất của cung tiền tệ được sử dụng bởi công chúng và những thayđổi về cung tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với những thay đổi về giá cả hàng hóa
và dịch vụ trong nền kinh tế Còn tiền gửi vào ngân hàng lại có mối liên hệvới các khoản cho vay của ngân hàng Các khoản cho vay gần như luôn luônđược thực hiện bằng cách nâng số dư tài khoản của khách hàng nếu nhưkhách hàng đó có sẵn tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, hoặc bằng cách mởmột tài khoản tiền gửi cho số tiền vay nếu người vay là một khách hàng mới.Như vậy, khi một ngân hàng cho một cá nhân hoặc doanh nghiệp vay, thì nótạo ra trên sổ sách của nó một tài khoản tiền gửi dành cho quyền lợi của người
đi vay, nghĩa là ngân hàng mở rộng cung tiền tệ bằng cho vay
Hoạt động cho vay có tính phức tạp, vì chức năng cho vay đóng vai trò
cơ bản đối với các ngân hàng, và mức độ rủi ro ở từng khoản cho vay cónhiều khác biệt Ngân hàng phải đánh giá lợi tức mang lại và những đặc điểmrủi ro của các khoản cho vay và phải thẩm định mức độ hấp hẫn tương đốigiữa các loại cho vay khác nhau
1.2.3 Các phương thức cho vay của NHTM đối với các DNVVN
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụnglàm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xácđịnh và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất địnhhoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
Trang 14để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
dự án đầu tư phục vụ đời sống
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổchức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồngtài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xácđịnh và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra đểtrả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kếtđảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụngnhất định Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực củahạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
- Cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tíndụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạnmức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máyrút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khicho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàngphải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về pháthành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngânhàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toáncủa mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định
1.3 Mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Khái niệm mở rộng cho vay DNVVN
Mở rộng cho vay là thuật ngữ phản ánh quy mô cho vay của các Ngân
Trang 15hàng thương mại được mở rộng với điều kiện có thể, song phải đảm bảo mức
độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động cho vay mang lại
Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN phản ánh mức sinh lời và độ antoàn của ngân hàng trong công tác cho vay đối vơi DNVVN
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, để quyết định bỏ vốn tàitrợ vào một dự án nào đó các ngân hàng phải đứng trước hai sự lựa chọn là lợinhuận và rủi ro Mức rủi ro càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn Vì thếđứng trước một quyết định cho vay, ngân hàng có thể theo đuổi mục tiêu lợinhuận cao hay thấp, song phải xác định được mối liên hệ giữa rủi ro và sinhlợi để đảm bảo
Đối với bất kỳ một ngân hàng nào thì cho vay bao giờ cũng được coi làhoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời cũng tiềm ẩnnhiều rủi ro đe doạ hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì thế, mở rộng hoạtđộng cho vay cùng với nâng cao hiệu cho vay trong hoạt động kinh doanh tạicác ngân hàng thương mại luôn là một yêu cầu bức xúc, là điều kiện tiênquyết quyết định sự tồn tại và phát triển không chỉ riêng cho bản thân mỗingân hàng mà còn cho cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
1.3.2 Tác dụng của mở rộng hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVVN
DNVVN đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, hiện nay các DNVVN đang gặpphải nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và chịu áp lực cạnh tranh gaygắt trên thị trường Các DNVVN phát triển trong điều kiện năng lực tài chính,quy mô nhỏ bé nên việc tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng và các tổchức tài chính có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao sức mạnh tàichính và khả năng cạnh tranh cho các DNVVN
Có thể nói hầu hết các dịch vụ ngân hàng (huy động vốn, cho vay, đầu
tư, thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính, tư vấn, quản lý tài sản…) đã đến
Trang 16với cộng đồng các doanh nghiệp Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất, bức xúc nhấtcủa DNVVN hiện nay vẫn là thiếu vốn bởi năng lực vốn nội tại của các doanhnghiệp này hạn chế trong khi tiếp cận vốn ngân hàng còn gặp rất nhiều ràocản Nguyên nhân là phần lớn DNVVN thành lập với số vốn nhỏ, hoạt độngchưa ổn định, một số DNVVN sau một thời gian kinh doanh đã rút lui, thaytên đổi chủ (doanh nghiệp ma) gây nên tâm lý lo ngại cho các NHTM khi tiếpcận đối tượng khách hàng này Hiệu quả sản xuất kinh doanh DNVVN bị hạnchế, khả năng sinh lời thấp, hoàn trả vốn khó khăn tạo cho các ngân hàng tâm
lý ngại tiếp cận Một bộ phận nhỏ DNVVN hoạt động mang tính lừa đảo; các
dự án sản xuất kinh doanh thiếu tính khả thi, thiếu tính chiến lược kinh doanh,chưa tạo lập được uy tín đối với ngân hàng do đó các NHTM ngại tiếp cận vớiloại hình kinh doanh này vì độ rủi ro quá cao Hơn nữa, rất nhiều NHTM hiệnnay, đặc biệt là các NHTM Nhà nước còn chưa tạo điều kiện thuận lợi chocác DNVVN tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng Các ngân hàng cònthiếu thông tin về DNVVN, mặt khác năng lực thẩm định dự án còn nhiều hạnchế nên họ chưa sẵn sàng tiếp cận với bộ phận khách hàng quá rủi ro này
Như vậy, với thực trạng đó thì việc mở rộng hoạt động cho vay cácDNVVN là một sự cần thiết bởi nếu có chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp sẽtạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì hoạt động cho vaycủa ngân hàng cũng sẽ có hiệu quả Việc mở rộng cùng với nâng cao hiệu quảcho vay DNVVN không chỉ mang đến cho ngân hàng nguồn thu nhập cao,tránh được rủi ro cho ngân hàng mà còn tạo điều kiện cho các DNVVN tiếpcận được nguồn vốn lớn phục vụ cho sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩynền kinh tế phát triển
1.3.2.1 Đối với Ngân hàng thương mại
- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN làm tăng doanh thu và lợi nhuậncho ngân hàng
Trang 17DNVVN là bộ phận khách hàng lớn, chiếm trên 90% tổng số doanhnghiệp trong cả nước, DNVVN trở thành một bộ phận tiềm năng lớn để chocác NHTM tiếp cận với đối tượng khách hàng này Việc mở rộng hoạt độngcho vay giúp cho các NHTM đánh giá được từng đối tượng khách hàng, phânloại được từng đối tượng khách hàng giúp ngân hàng tránh được rủi ro vàchính điều đó cũng làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng Các NHTM trong quátrình đánh giá hiệu quả cho vay sẽ phân loại từng đối tượng khách hàng, từ đó
có các chính sách ưu đãi về lãi suất và điều kiện vay vốn đối với từng doanhnghiệp để khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm dịch vụ củamình làm tăng thu nhập cho ngân hàng
- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN giúp ngân hàng nâng cao hiệuquả cho vay hoàn thiện hơn
Mở rộng cho vay DNVVN giúp ngân hàng chú trọng kiểm soát tốt hơnrủi ro từ hoạt động cho vay Thông qua việc xác định được những nguyênnhân chủ yếu tác động đến hiệu quả cho vay DNVVN, ngân hàng sẽ hoànthiện hơn trong công tác cho vay Từ đó giúp ngân hàng rút ra những kinhnghiệm trong phân tích đánh giá khách hàng, trong quá trình thực hiện nghiệp
vụ như đưa ra các cơ cấu nợ hợp lý, đưa ra mức lãi suất và thời hạn nợ phùhợp với từng đối tượng khách hàng… đồng thời cũng giúp các ngân hàng thuthập được nhiều thông tin hơn về khách hàng, giúp cho việc kinh doanh cóhiệu quả hơn Ngoài ra, để hoạt động cho vay thực sự mang lại hiệu quả hơnnữa thì bên cạnh các sản phẩm tín dụng truyền thống các NHTM cần pháttriển các dịch vụ đi kèm Có như vậy thì số lượng sản phẩm dịch vụ của ngânhàng cũng gia tăng phong phú hơn, tạo điều kiện cho ngân hàng nâng caonăng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính
1.3.2.2 Đối với doanh nghiệp
- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN giúp các doanh nghiệp tiếp cậnđược nguồn vốn tín dụng ngân hàng thuận lợi hơn
Trang 18Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN buộc các ngân hàng phải đưa rađược các biện pháp phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra nhưng vẫn đemđến cho ngân hàng mức lợi nhuận có thể chấp nhận được Tức là ngân hàng
đã sẵn sàng đương đầu với những rủi ro có thể xảy ra khi cho vay DNVVN, vìvậy các DNVVN có cơ hội tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng quan trọngnày Trong quá trình hoạt động sản xuất của mình, vốn là một trong nhữngyếu tố quan trọng nhất của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ làm ăn hiệu quảhơn nếu có một cơ cấu vốn tối ưu Đặc điểm nổi bật nhất của các DNVVN làvốn chủ sở hữu thấp nên vốn vay là nguồn vốn cực kỳ quan trọng Có thể vayvốn dưới nhiều hình thức khác nhau như thông qua tín dụng ngân hàng, tíndụng thương mại hoặc phát hành trái phiếu, hoặc thông qua các quỹ hỗ trợ…Nhưng hầu hết các DNVVN lại không đủ điều kiện để phát hành trái phiếu,các quỹ hỗ trợ chưa được quan tâm vì thế nguồn vốn vay từ các NHTM đượcxem là nguồn vô cùng quan trọng đối với các DNVVN Khi DNVVN tiếp cậnđược nguồn vốn ngân hàng thì quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp trởnên thuận lợi hơn, cùng với đó hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ đem lạihiệu quả hơn Tuy nhiên, cả ngân hàng và doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹtrước khi quyết định cho vay và vay, cần xác định tỷ lệ vốn vay hợp lý đểtránh được rủi ro cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng không bỏ qua cơ hộikinh doanh của doanh nghiệp
- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN giúp các doanh nghiệp nâng caohiệu quả trong sản xuất kinh doanh
Khi đi vay doanh nghiệp phải chịu áp lực trả nợ khi đến hạn Do đó,buộc các doanh nghiệp phải tính toán chính xác chi phí sản xuất kinh doanh,tốc độ quay vòng của vốn, giá thành sản phẩm… sao cho sau một chu kỳ sảnxuất kinh doanh doanh nghiệp không chỉ thu đủ để trả nợ ngân hàng mà còn cólợi nhuận mang lại Để làm tốt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả nănghạch toán kinh doanh, tổ chức kinh doanh, sử dụng vốn một cách có hiệu quả
Trang 19- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN buộc công tác hạch toán kế toáncủa các doanh nghiệp phải rõ ràng minh bạch hơn.
Các báo cáo tài chính là những tài liệu quan trọng không thể thiếutrong hồ sơ xin vay vốn của các doanh nghiệp Thông qua đó ngân hàng cóthể phân tích, thẩm định, đánh giá năng lực tài chính cũng như khả năng kinhdoanh của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cho vay hay không Nếu cácbáo cáo thiếu tính minh bạch, không rõ ràng, không chứng minh được khảnăng tài chính lành mạnh của doanh nghiệp thì sẽ gây khó khăn cho doanhnghiệp trong việc vay vốn Vì thế, doanh nghiệp khi đi vay cần phải đáp ứngđầy đủ và chính xác các yêu cầu của ngân hàng để việc vay vốn dễ dàng,thuận lợi hơn, tiết kiệm được thời gian, đảm bảo kịp thời nguồn vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra đúng dự định
- Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN làm tăng khả năng cạnh tranh và
uy tín cho các doanh nghiệp
Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN giúp các doanh nghiệp tiếp cận dễdàng hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao sức mạnh tài chính và khảnăng cạnh tranh Nhờ nguồn vốn vay đó doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vớicông nghệ sản xuất hiện đại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộngcác quan hệ hợp tác từ đó tạo uy tín lớn cho doanh nghiệp trên thương trường
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Việc mở rộng hoạt động cho vay không những tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn mà còn giúp cho hoạt động của ngânhàng mang lại thu nhập đáng kể Điều đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Mặt khác, mở rộng hoạt động cho vay buộc các NHTM phải có một cơcấu vốn, một chính sách tín dụng hợp lý nhằm giải quyết các mối quan hệcung cầu trong nền kinh tế một cách phù hợp và hiệu quả; đồng thời cũng tạo
Trang 20điều kiện để mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, giảmđược lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội.
Mở rộng hoạt động cho vay DNVVN tạo đà cho việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, tăng uy tín cho ngân hàng; đồng thời góp phần kiềm chế vàđẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tiền tệ
Mở rộng hoạt động cho vay sẽ thúc đẩy sự phát triển các DNVVN; gópphần quan trọng trong việc thực hiên các quy hoạch, chương trình phát triểnkinh tế của đất nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,xoá đói giảm nghèo, khơi dậy các tiềm năng phát triển của địa phương, cungcấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội…
Như vậy, có thể nói mở rộng hoạt động cho vay DNVVN của NHTM
có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với bản thân của ngân hàng vàdoanh nghiệp mà cho cả nền kinh tế Mở rộng hoạt động cho vay giúp ngânhàng nâng cao mức thu nhập đồng thời giúp cho các DNVVN khắc phục đượcnhững nhược điểm về vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nănglực cạnh tranh trên thị trường từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và
ổn định xã hội
1.3.3 Nội dung mở rộng cho vay đối với các DNVVN
Thiếu vốn là tình trạng thường xuyên xảy ra trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của các DNVVN Do đó, mở rộng cho vay tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinhdoanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị… Việc phân phối tín dụng đã góp phầnđiều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế tạo cho quá trình sản xuất được liên tục
Hiện nay, với sự xuất hiện hàng loạt các loại hình ngân hàng khác nhaunhư: ngân hàng hợp danh, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh… Điều nàydẫn đến áp lực cạnh tranh, đòi hỏi các ngân hàng phải luôn luôn chú trọng tìm ranhững giải pháp nhằm thắng trong cạnh tranh, nâng cao uy tín trên thị trường
Trang 21Cho nên, mở rộng cho vay không những thu hút khách hàng mới mà còn phảigắn liền với chất lượng tín dụng, đảm bảo nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả.
Trên cơ sở đó, nội dung mở rộng cho vay đề cập tới một số vấn đề cầnphải thực hiện như:
1.3.3.1 Mở rộng phương thức cho vay
Việc mở rộng phương thức cho vay vừa phải chặt chẽ về pháp lý, phù hợpvới pháp luật nhưng an toàn về tài sản, đơn giản về thủ tục, linh hoạt chủ độngcho khách hàng DNVVN tuỳ chọn cho mình một phương thức vay vốn thuậntiện trong giao dịch cũng như trong việc sử dụng vốn Để phù hợp với cơ chế tíndụng trong nền kinh tế thị truờng, việc mở rộng các phương thức cho vay khôngnhững tận dụng các ưu điểm của từng phương thức mà còn tạo điều kiện chodoanh nghiệp có cơ hội lựa chọn, đáp ứng nhu cầu phong phú của doanh nghiệp
Chẳng hạn:
+ Mở rộng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD)
Ưu điểm nổi bật nhất của việc cho vay theo HMTD là đáp ứng được vốntín dụng kịp thời, đơn giản hoá trong các khâu lập hồ sơ cho vay, hồ sơ thế chấptài sản đối với khách hàng vay vốn ngắn hạn, có nhu cầu vốn thường xuyên, sảnxuất kinh doanh ổn định, phương thức luân chuyển vốn không phù hợp vớiphương thức cho vay từng lần
+ Cho vay thấu chi: Đây là phương thức cho vay tốt vì nó tiết kiệm đượcchi phí thời gian thủ tục, DN chủ động về nhu cầu vốn kinh doanh Phươngthức này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả ngân hàng và DN, bởi vì DN muốnvay theo phương thức này phải đều mở tài khoản thanh toán tại NHNo, do đóNHNo có thể kiểm soát được tình hình thu chi của doanh nghiệp để có quyếtđịnh đúng đắn có cho vay tiếp hay không, đồng thời DN sử dụng tiền vay mộtcách chủ động kịp thời và linh hoạt
+ Cho vay trả góp: Rất thích hợp với các DNVVN, vừa đơn giản lại ít rủi
ro bởi vì món vay được thực hiện trên những đảm bảo chắc chắn về nguồn trả nợ
Trang 22+ Cho vay khấu trừ chứng từ: Khi mà thị trường chứng khoán nước tađang dần phát triển, các luật về lưu thông hối phiếu và kỳ phiếu được ban hànhthì nghiệp vụ chiết khấu chứng từ là nghiệp vụ được áp dụng phổ biến Hiệnnay, một số NHTM có cơ chế hướng dẫn nghiệp vụ này nhưng thực tế các ngânhàng cơ sở chỉ cho vay chiết khấu những chứng từ có thời hạn là ngắn.
Như vậy, Trong tương lai gần, khi có đầy đủ các phương tiện, trình độ củacán bộ tín dụng được nâng cao và khả năng áp ứng về tín dụng tốt hơn, NHNonên triển khai đáp ứng đầy đủ tất cả các phương thức cho vay cho từng loại hìnhDNVVN nói chung và cho từng DN nói riêng
1.3.3.2 Mở rộng sản phẩm cho vay
Mở rộng cho vay DNVVN với đầy đủ các loại vốn ngắn, trung, dài hạnđáp ứng mọi nhu cầu vay vốn nhằm thu hút các dự án, các chương trình kinh tếtrọng điểm của tỉnh Đồng thời có chính sách thích hợp đúng đắn đối với cácdịch vụ cơ bản (nghiệp vụ huy động vốn, dịch vụ cho vay, dịch vụ thanh toán)thì chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính sách giao tiếp khuếch trươngmới có điều kiện thực hiện hiệu quả Ngoài ra, phát triển các dịch vụ ngoại vi,đây là dịch vụ mang tính bổ trợ, bổ sung làm tăng thêm giá trị của dịch vụ cơbản và có thể tạo ra sự khác biệt giữa các ngân hàng trên cùng địa bàn
1.3.3.3 Mở rộng điều kiện cho vay
DNVVN thường có quy mô hoạt động nhỏ, trình độ quản lý còn hạnchế, hệ thống sổ sách không rõ ràng, nhu cầu món vay nhỏ…Nên, mở rộngđiều kiện cho vay là yêu cầu rất cần thiết giúp các DNVVN tiếp cận vốnNHNo một cách dễ dàng hơn
+ Đổi mới quy trình cho vay: nhằm giảm bớt các thủ tục, nội dungkhông cần thiết; chỉnh sửa những quy định không phù hợp với thực tiễn, cácquy định cần rõ ràng để tránh tình trạng hiểu sai hoặc có tình vận dụng Cụthể hoá thể lệ, chế độ mà NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam ban hành bằngmột quy trình cho vay riêng đối với các đối tượng khách hàng khác nhau, đặc
Trang 23biệt là đối với các DNVVN nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với đặc điểmcủa chi nhánh.
+ Linh hoạt trong việc thực hiện cơ chế lãi suất cho vay phù hợp với cơchế thị trường
Lãi suất có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bạitrong kinh doanh của ngân hàng Vì thế, lãi suất cho vay của ngân hàng phảicăn cứ vào rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải, không nên phân biệt lãi suấtcho vay doanh nghiệp lớn và với lãi suất cho vay DNVVN Cùng với việcphân loại khách hàng để có chính sách lãi suất phù hợp, tạo sự khác biệt tronglãi suất nhằm thu hút các DNVVN vay vốn tại ngân hàng Bên cạnh đó, ngânhàng có thể cùng thoả thuận với khách hàng để có một lãi suất thống nhất,phù hợp cho cả doanh nghiệp và ngân hàng Ngoài ra, cần áp dụng lãi suấtcho vay ưu đãi đối với DNVVN có quan hệ lâu dài, có uy tín với NHNo vàđối với DNVVN vay lần đầu có thể áp dụng giảm lãi suất để thu hút thêmkhách hàng mới đến với ngân hàng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.1 Các nhân tố khách quan
- Môi trường pháp lý
Các yếu tố pháp lý trong nền kinh tế là điều kiện không thể thiếu đểđảm bảo cho sự phát triển xã hội Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đốivới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, nó ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay của ngân hàng Pháp luật ban hànhkhông hợp lý, đồng bộ sẽ gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp cũng như hoạt động của ngân hàng Ngược lại, hệ thống phápluật đồng bộ và hợp lý sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, bình đẳng chomọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh; bảo
Trang 24vệ quyền lợi hợp pháp cho ngân hàng và cả khách hàng, tiết kiệm được thờigian và chi phí cho ngân hàng và doanh nghiệp…
Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành bổ sung, sửa đổi nhiềuvăn bản pháp luật có liên quan đến quan hệ cho vay của NHTM như: Luật các
tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, Nghị định số 90/2001/ NĐ-CP ngày23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Quyết định số193/2001/TT-BTC ngày 29/09/2001 về thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng chocác DNVVN, Thông tư số 01/2006/TT-NHNN ngày 20/02/2006 của Ngânhàng Nhà nước về hướng dẫn một số nội dung về thành lập quỹ bảo lãnh tíndụng cho các DNVVN…
- Môi trường kinh tế
Sự phát triển kinh tế của đất nước có tác động rất nhiều đến hoạt độngcho vay bởi nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào sựtăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định sẽ tạo điềukiện cho môi trường kinh doanh phát triển, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tănglên, đó cũng là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất; do
đó nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp cũng được tăng lên tương ứng tạo điềukiện cho các NHTM mở rộng hoạt động cho vay Khi nền kinh tế tăng trưởng
ổn định làm cho giá cả ổn định, tình trạng lạm phát ở mức kiểm soát sẽ tạođiều kiện cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động và tránh được nhữngthiệt hại cho ngân hàng do sự mất giá của đồng tiền từ đó tạo điều kiện nângcao hiệu quả cho vay của ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế trong giaiđoạn trì trệ, suy thoái, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, quy mô sản xuất bị thuhẹp, nhu cầu đầu tư bị giảm mạnh, thua lỗ kéo dài dẫn đến các khách hàngcủa ngân hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, hiệu quả cho vay của ngânhàng bị giảm sút
- Môi trường chính trị - xã hội
Trang 25Một quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định và phát triển sẽtạo điều kiện thuận lợi và yên tâm cho các nhà đầu tư Xã hội có ổn định thìnền kinh tế mới phát triển được, bất cứ một sự biến động nào về chính trị hay
xã hội cũng đều gây ra sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế Do đó, nó có tácđộng đáng kể tới các hoạt động của cả ngân hàng và doanh nghiệp
- Các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước
Các chủ trương chính sách của Nhà nước có tác động rất lớn đối vớihoạt động cho vay của Ngân hàng bằng việc Nhà nước đưa ra những địnhhướng, chính sách, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là chính sáchtiền tệ quốc gia Bởi hoạt động cho vay của NHTM chịu tác động trực tiếp từcác công cụ của chính sách tiền tệ như: tỷ lệ dự trử bắt buộc, nghiệp vụ thịtrường mở, chính sách chiết khấu và tái chiết khấu… Ngoài ra, các chính sáchkinh tế vĩ mô như chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu… có tác độngđến mọi mặt của toàn bộ nền kinh tế, vì thế nó tác động trực tiếp đến cácdoanh nghiệp Nếu như các chính sách này không tạo điều kiện thuận lợi chocác nhà đầu tư, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanhthì chắc chắn hiệu quả cho vay của các NHTM cũng sẽ bị giảm sút
- Các yếu tố bất khả kháng
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể phải đốimặt với những yếu tố bất khả kháng như: thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, hoặcnhững thay đổi ở tầm vĩ mô… vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫnngười cho vay Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tụcđến người vay, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay Trongnhiều trường hợp người vay có thể dự báo, thích ứng hoặc khắc phục đượcnhững khó khăn; đôi khi người vay bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợcho ngân hàng đúng hạn đủ cả gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của nhữngyếu tố bất khả kháng đối với người vay là rất nặng nề, khả năng trả nợ của họ
bị suy giảm Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng
Trang 261.4.2 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
Là những nhân tố vô cùng quan trọng quyết định đến hoạt động chovay của các NHTM Bao gồm:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động chovay của ngân hàng Dựa trên cơ sở đưa ra các chiến lược kinh doanh đúng đắnthì ngân hàng mới có những kế hoạch triển khai phù hợp cho từng thời kỳnhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu đặt ra Những kế hoạch có ảnh hưởngtrực tiếp tới hiệu quả cho vay như: kế hoạch tăng trưởng tín dụng, kế hoạchhuy động vốn, kế hoạch Maketing ngân hàng…
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một NHTM là hệ thống các biện pháp liênquan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạchđịnh của ngân hàng đó
Chính sách tín dụng phản ánh hoạt động tài trợ của ngân hàng, trởthành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăngcường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chungtrong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.Chính sách tín dụng bao gồm: chính sách khách hàng, chính sách quy mô vàgiới hạn tín dụng, chính sách về lãi suất và phí suất tín dụng, chính sách vềthời hạn và kỳ hạn nợ, chính sách về tài sản đảm bảo… Các chính sách nàyđảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, có ý nghĩa quyết định thànhcông hay thất bại của hoạt động tín dụng nói chung và của hoạt động cho vaynói riêng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng vayvốn, đảm bảo khả năng sinh lời trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật,đường lối chính sách của Nhà nước Như vậy, một chính sách tín dụng hợp lý
Trang 27sẽ đảm bảo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi vay vốn cũng như đảmbảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
- Phân tích tín dụng
Tín dụng là hoạt động sinh lời cao nhất song cũng là hoạt động rủi ronhất của NHTM Rủi ro này do rất nhiều nguyên nhân, có thể gây ra tổn thấtlàm giảm thu nhập của ngân hàng Do vậy, các ngân hàng cần cân nhắc kỹlưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi đưa ra quyết định cho vay
Đó chính là quá trình phân tích tín dụng Phân tích tín dụng phải được thựchiện trước, trong và sau khi cho vay Đây là một công việc hết sức quan trọngquyết định đến chất lượng của hoạt động cho vay Nếu việc phân tích tín dụngkhông thực hiện đầy đủ thì ngân hàng không nắm được những thông tin vềkhách hàng, không xác định được những rủi ro có thể xảy ra Do vậy, hiệuquả cho vay của ngân hàng có thể sẽ bị giảm sút
- Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là thứ tự các bước mà cán bộ tín dụng và nhữngngười có liên quan, có thẩm quyền cần thực hiện trong quá trình cho vay Nóđược bắt đầu từ khi tiếp xúc khách hàng để chuẩn bị lập hồ sơ vay vốn chođến khi thu hồi được hết nợ và lưu lại các thông tin về khách hàng
Hiệu quả cho vay có được đảm bảo hay không phụ thuộc nhiều vào quytrình tín dụng của ngân hàng Việc thực hiện tốt các nội dung, quy định trongtừng bước cùng với với việc phân tích tín dụng hiệu quả sẽ giúp ngân hàngtránh được rủi ro cũng như nâng cao được hiệu quả cho vay
Trong quy trình cho vay, ngân hàng cần chú ý đến một số bước quantrọng như: tiếp xúc tìm hiểu khách hàng, thẩm định, phân tích hồ sơ vay vốn,kiểm tra sử dụng vốn vay, thu nợ gốc và lãi
+ Tiếp xúc tìm hiểu khách hàng là một khâu quan trọng trong quá trìnhcho vay Trong giai đoạn này nhân viên ngân hàng cần thu thập được đầy đủthông tin; có được những thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực để có được
Trang 28những đánh giá đầy đủ và tổng thể về khách hàng làm cơ sở cho việc quyếtđịnh cho vay và đề xuất hạn mức cho vay đối với khách hàng.
+ Thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn phải đảm bảo phân tích chínhxác tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, của các dự án đầu tư củadoanh nghiệp cũng như khả năng sinh lời của dự án và hiệu quả kinh tế mà dự
án mang lại… Hơn nữa, còn đảm bảo đánh giá đúng tình hình hoạt động sảnxuất kinh doanh, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp
+ Kiểm tra sử dụng vốn vay: là bước giúp ngân hàng nắm được diễnbiến của khoản vốn đã cung cấp cho khách hàng để ngân hàng có những điềuchỉnh, can thiệp kịp thời, sớm ngăn ngừa được rủi ro có thể xảy ra Việc lựachọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sử dụng vốn giúp ngânhàng thiết lập được hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, tránh được tổn thất chongân hàng
+ Thu hồi nợ gốc và lãi: là khâu rất quan trọng, cho biết hoạt động chovay của ngân hàng có thực sự mang lại lợi nhuận cho ngân hàng hay không?
Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những biểu hiện bấtlợi có thể xảy ra do doanh nghiệp mang lại và đưa ra những biện pháp xử lýkịp thời sẽ làm giảm tối thiểu những khoản nợ quá hạn, hạn chế đến mức thấpnhất những tổn thất cho ngân hàng
- Hệ thống thông tin tín dụng
Hệ thống thông tin hữu hiệu, nắm bắt kịp thời chính xác luồng thôngtin về khách hàng là điều kiện để xem xét và đưa ra quyết định cho vay, đềphòng được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của ngânhàng
Đối với các NHTM, việc xây dựng hoàn chỉnh một hệ thống thông tintín dụng với nhiều kênh, nhiều nguồn cung cấp, xử lý thông tin kịp thời… làmột trong những điều kiện quyết định sự thành công trong công tác kinhdoanh và nâng cao hiệu quả cho vay của NHTM
Trang 29- Hiệu quả công tác huy động vốn
Một trong những chức năng quan trọng của ngân hàng đó là chuyển tiếtkiệm thành đầu tư Do đó, ngân hàng có thực hiện tốt công tác huy động vốnthì mới mở rộng được hoạt động cho vay Nếu ngân hàng có một chính sáchtín dụng hợp lý, có chiến lược khách hàng tốt, thu hút được nhiều khách hàngvay vốn có uy tín thì sẽ mang lại cho ngân hàng nguồn thu nhập đáng kể
- Công tác thanh tra, kiểm tra
Công tác này phải được thực hiện song song kết hợp giữa thanh tra kiểm tra ngân hàng và kiểm tra, giám sát doanh nghiệp Việc thanh tra, kiểmtra phải được thực hiện một cách khách quan, trung thực có như vậy mới giúpngân hàng tránh được những rủi ro do yếu tố chủ quan mang lại
Trình độ của cán bộ ngân hàng
Con người là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào, hoạt động cho vaycủa ngân hàng cũng không nằm ngoài sự tác động đó Hiệu quả cho vay caohay thấp phụ thuộc khá nhiều vào công tác tuyển chọn và đào tạo đội ngũ cán
bộ của mỗi NHTM Một NHTM với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độchuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt thì sẽ thực hiện các nghiệp vụ ngânhàng nói chung và nghiệp vụ cho vay nói riêng một cách hệ thống, chuyênnghiệp và đạt hiệu quả cao hơn
Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Đặc điểm chung của các DNVVN hiện nay là năng lực tài chính yếukém, thiếu tài sản thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh chưa có tính khảthi cao, thông tin kế toán chưa đáng tin cậy, trình độ quản lý của chủ doanhnghiệp yếu kém nên nhiều doanh nghiệp chưa đủ sức để cạnh tranh trên thịtrường Điều này có thể dẫn đến việc sản xuất kinh doanh không hiệu quả,ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng làm cho hoạt động cho vay của
Trang 30ngân hàng không có hiệu quả Ngoài ra, do quy mô vốn nhỏ, doanh nghiệpthiếu tài sản thế chấp để vay vốn hoặc có nhưng không đủ điều kiện.
Các DNVVN chủ yếu tận dụng nguồn lao động tại địa phương nêntrình độ chuyên môn, tay nghề của lao động thấp, kể cả chủ doanh nghiệp.Nên nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được các phương án sản xuất kinhdoanh, các dự án đầu tư có tính khả thi cao để thuyết phục các ngân hàng bỏvốn đầu tư làm cho hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng kém hiệu quả.Đặc biệt trình độ yếu kém của doanh nghiệp trong dự đoán các vấn đề kinhdoanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây lì…
là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay củangân hàng Rất nhiều khách hàng sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu đượclợi nhuận cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạnứng phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua chuộc… Nhiều doanhnghiệp đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kỹlưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắcphục khó khăn trong kinh doanh Trong trường hợp còn lại nhiều doanhnghiệp kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn Họ
hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt
Sử dụng vốn là một trong những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất nhiềuđến hiệu quả cho vay của ngân hàng Doanh nghiệp sử dụng vốn của ngânhàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đíchxin vay, thậm chí có một số doanh nghiệp còn sử dụng vốn vay ngắn hạn đểđầu tư vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản… làm cho vốn đầu tưcủa ngân hàng đứng trước rủi ro lớn, hiệu quả cho vay của ngân hàng bị giảmsút
Như vậy, DNNVV là đối tượng khách hàng lớn và đầy tiềm năng manglại cho các ngân hàng nguồn thu nhập đáng kể Hoạt động cho vay củaNHTM có hiệu quả hay không không những phụ thuộc vào khả năng, trình độ
Trang 31chuyên môn của ngân hàng mà còn phụ thuộc nhiều vào bản thân các doanhnghiệp Doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả, thực hiện đúng nguyên tắc vayvốn thì cùng với đó hoạt động cho vay của ngân hàng mới có hiệu quả Điều
đó thể hiện chất lượng của hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng được biểuhiện cụ thể qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: kết quả kinh doanh, dư
nợ, nợ quá hạn… và được trình bày cụ thể ở nội dung của chương tiếp theo
Chương 2
THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Khái quát chung về NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình
NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình là chi nhánh thành viên thuộcNHNo&PTNT Việt Nam, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Tổchức tiền thân của NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình ngày nay là Ngân hàngPhát triển Nông thôn tỉnh Bình Trị Thiên, thành lập ngày 26/03/1988 theoNghị định số 53/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướngChính phủ) Sau khi có quyết định tách tỉnh Bình Trị Thiên thành ba tỉnh(Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ) ngày 01/01/1989, NHNo&PTNTtỉnh Quảng Bình được thành lập Đến ngày 14/11/1990 có chỉ thị số 400/CTcủa Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đổi tên thànhNgân hàng Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng uỷ quyền, Thống đốc Ngân hàngNhà nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàngNông nghiệp Quảng Bình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Quảng Bình, có trụ sở tại Số 2 - Mẹ Suốt - TP Đồng Hới * Tel: (052)
822647 - 827151 * Fax : (052) 822647 - 823117
Trang 32Từ khi được thành lập đến trước ngày 01/10/1998, NHNo&PTNT tỉnhQuảng Bình được tổ chức và hoạt động theo Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xãtín dụng và Công ty tài chính ban hành ngày 23/05/1990 và Điều lệ Ngânhàng Nhà Nước Việt Nam do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành theoquyết định số 250/QĐ ngày 11/11/1992.
Từ ngày 01/10/1998 đến nay, NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình được tổchức và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X tại kỳ họp thứ 2 thông qua ngày121/12/1997(Chủ tịch nước ký quyết định công bố ngày 26/12/1997 có hiệulực kể từ ngày 01/10/1998) và Điều lệ tổ chức, hoạt động do Thống đốc Ngânhàng Nhà nước phê chuẩn ngày 22/11/1997
NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình là doanh nghiệp nhà nước hạng đặcbiệt được tổ chức và hoạt động theo mô hình chi nhánh thuộc Tổng công tyNhà nước do Hội đồng quản trị lãnh đạo và Tổng giám đốc điều hành.NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc cócon dấu riêng và bảng cân đối tài khoản riêng; đại diện theo uỷ quyền củaNHN0&PTNT Việt Nam, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp và chịu
sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với NHNo&PTNT Việt Nam
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT
Quảng Bình
2.1.2.1 Chức năng của NHNo&PTNT Quảng Bình
Trực tiếp thực hiện kinh doanh tiền tệ đa năng, chủ yếu là huy độngnguồn vốn, cho vay nội, ngoại tệ và các dịch vụ ngân hàng đối với kháchhàng trong và ngoài nước theo phân cấp của NHNo&PTNT Việt Nam
Tổ chức kiểm tra, kiểm toán nội bộ theo uỷ quyền của Tổng Giám đốcNHNo&PTNT Việt Nam
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc NHNo Việt Namgiao
Trang 332.1.2.2 Nhiệm vụ của NHNo&PTNT Quảng Bình
Trước hết nhiệm vụ của ngân hàng là phải huy động vốn:
- Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳhạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước cả bằngnội tệ và ngoại tệ
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng…
- Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư từ Chính phủ, NHNN và các tổ chức cánhân trong và ngoài nước
- Vay vốn của NHNN, các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước
Cho vay: Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình thuộc mọithành phần kinh tế
Thanh toán: Thanh toán không dùng tiền mặt (chuyển khoản) và thanh toán bằng tiền mặt
Kinh doanh ngoại hối
tổ chức kinh tế khác khi được NHNo Việt Nam cho phép
Quản lý nhà khách, nhà nghỉ và đào tạo tay nghề trên địa bàn (nếu được Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp giao)
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Trang 34Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Quảng Bình
Dưới NHNo Tỉnh còn có 10 NHNo loại III và 11 phòng giao dịch trực thuộc
Giám đốc
Phòng
Tổ chức Cán bộ
Phòng
Kế hoạch
Phòng Tín dụng, thẩm định
Phòng Kiểm tra - KTNB
Phó Giám đốc
Phòng Điện toán
Trang 35Hiện nay NHNo Quảng Bình có 345 Cán bộ công nhân viên.
Trụ sở chính tại Thành phố Đồng Hới (NHNo Cấp I)
6 NHNo loại III tại 6 huyện, 4 NHNo loại III trên địa bàn Thành phố Đồng Hới trực thuộc NHNo tỉnh
11 NHNo liên xã trực thuộc NHNo huyện (phòng giao dịch) Tất cảcác NHNo cấp II và phòng giao dịch đều nhận khoán theo cơ chế 496A
Lãnh đạo NHNo tỉnh: 1 Giám đốc, 2 phó Giám đốc giúp việc Giám đốc, 8phòng nghiệp vụ tham mưu: Phòng Tổ chức cán bộ, phòng Tín dụng, phòng
Kế hoạch, phòng Kế toán-Ngân quỹ, phòng Thanh toán quốc tế, phòng Kiểmtra kiểm toán nôị bộ, phòng Điện toán, phòng Hành chính
2.1.3 Các hoạt động chủ yếu của NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình
Trang 36Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHNo Quảng Bình qua các năm
n v : Tri u ng Đơn vị : Triệu đồng ị : Triệu đồng ệu đồng đồng
2005
Năm 2006
Năm 2007
So sánh 2006/2005 2007/2006 Chênh
lệch
Tỷ lệ
%
Chênh lệch
Tỷ lệ
% Tổng nguồn vốn huy động 663.224 812.731 1.189.328 149.507 22,54 376.597 246,62
Trang 37Mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế còn nghèonhưng nguồn vốn huy động của NHNo Quảng Bình vẫn tăng đều qua cácnăm
Cụ thể, năm 2007 đạt 1.189,328 tỷ đồng, tăng 376,597 tỷ đồng so với năm
2006, so với kế hoạch trung ương giao đạt 100% Năm 2006 đạt 812,731 tỷđồng, tăng 149,507 tỷ đồng so với 2005
Xét về nguồn vốn huy động: Qua bảng 2.1, ta thấy rõ nguồn vốn huyđộng từ tiền gửi của các TCKT và tiền gửi tiết kiệm tăng trưởng khá nhanhqua các năm, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm Điều này khẳng định tầm quantrọng, tính ổn định của nguồn tiết kiệm từ dân cư trong hoạt động của ngânhàng hiện tại cũng như trong các năm tiếp theo Cụ thể, Năm 2007 so với
2006 tiền gửi của các TCKT tăng 116,320 tỷ đồng (+ 112,91%), chiếm tỷtrọng 18,44% tổng nguồn vốn huy động; tiền gửi tiết kiệm tăng 212,979 tỷđồng (+41,85%) chiếm tỷ trọng 60,7% tổng nguồn vốn huy động Năm 2006
so với 2005 tăng 16,281 tỷ đồng (+18,77%) đối với tiền gửi của các TCKT,tăng 147,141 tỷ đồng (+40,67%) đối với tiền gửi tiết kiệm Cùng với đó, tiềngửi của KBNN cũng tăng đáng kể, đặc biệt là trong năm 2007, chiếm tỷ trọng9,43% tổng nguồn vốn huy động; điều này có được là do tiền gửi tiết kiệmcủa KBNN là nguồn huy động có chi phí thấp nên NHNo&PTNT Quảng Bìnhluôn duy trì ở mức cao Ngoài ra, các nguồn huy động khác cũng tăng nhưngkhông đáng kể, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động Hơn nữa,điểm đáng chú ý ở đây là nguồn vốn huy động từ việc phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu lại có xu hướng giảm qua các năm Điều đó cho thấy ngân hàng chưađặc biệt chú trọng vào hình thức huy động này
Xét về cơ cấu loại tiền: nét nổi bật đó là huy động ngoại tệ quy đổi đềutăng qua các năm; năm 2007 đạt 83 tỷ đồng, tăng 17,672 tỷ đồng (+27,05%)
so với năm 2006 và chiếm tỷ trọng 6,98% tổng nguồn vốn huy động; năm
2006 đạt 65,328 tỷ đồng, tăng 37,897 tỷ đồng (+138,15%), chiếm tỷ trọng
Trang 388,04% tổng nguồn vốn huy động Tuy còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn nhưngcũng đủ để nói lên nỗ lực đáng kể của NHNo&PTNT Quảng Bình Có đượcđiều đó là do các năm ngân hàng đã có những chính sách lãi suất áp dụng đốivới việc huy động ngoại tệ được cải thiện, nâng cao hơn, hấp dẫn hơn vàmang tính cạnh tranh.
Để phấn đấu đạt được kết quả như trên thì trong những năm qua NHNoQuảng Bình đã có những chính sách, giải pháp cụ thể:
- Quan tâm đến mạng lưới huy động vốn, ngoài hệ thống NHNo cáccấp phủ tới tận các phường xã còn có hàng trăm tổ nhóm vay vốn làm côngtác vận động tiết kiệm, có giao chỉ tiêu cho từng đơn vị, từng nhân viên cán
bộ ngân hàng
- Thực hiện tốt khâu tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch
- Thực hiện thu hút khách hàng tiền vay, làm tốt các khâu dịch vụ đãgóp phần gián tiếp thu hút khách hàng mở tài khoản
- Đa dạng hoá các loại tiền gửi tiết kiệm, mở ra nhiều hình thức tính lãiphù hợp với nhu cầu, thị hiếu của các tầng lớp dân cư
- Nhận định tình hình, xu thế lãi suất của từng thời kỳ để có những biệnpháp huy động kịp thời, chỉ đạo theo từng địa bàn có cạnh tranh hay không đểđiều hành áp dụng linh hoạt lãi suất phù hợp với từng địa bàn
- Chú trọng tập trung khai thác các khách hàng lớn như: Hệ thống Bảohiểm y tế, BH xã hội, các đơn vị thuộc Tổng công ty, các đơn vị khác… đặcbiệt là tiền gửi Kho bạc Nhà nước
Trang 39trong việc tạo ra doanh thu tài chính, tổng dư nợ của NHNo&PTNT tỉnh QuảngBình tăng đều qua các năm NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình đã đáp ứng nhucầu vay vốn của mọi thành phần kinh tế và các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.Chi nhánh cũng đặc biệt chú trọng cấp tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèotạo điều kiện cho những khách hành này có vốn để sản xuất kinh doanh Kháchhàng đến giao dịch với ngân hàng ngày càng đông cho thấy uy tín cũng nhưkhả năng cho vay của ngân hàng tại địa phương là tương đối cao.
Bảng 2.2: Tổng doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ qua các năm
n v : Tri u ngĐơn vị : Triệu đồng ị : Triệu đồng ệu đồng đồng
TT Chỉ tiêu Năm 2005 Năm
2006 Năm 2007
So sánh 2006/2005 2007/2006 Chênh
lệch
Tỷ lệ
%
Chênh lệch
Tỷ lệ
%
I Doanh số cho vay 600.620 658.828 1.540.527 58.208 9,7 881.699 133,83
II Doanh số thu nợ 476.840 604.160 1.167.353 127.320 26,7 563.193 93,22 III Dư nợ 977.720 1.119.204 1.490.499 141.484 14,47 371.295 33,17 Trong đó : Nợ xấu 21.329 41.064 44.524 19.735 92,53 3.460 8,43
Nguồn số liệu: Các báo cáo tổng kết hàng năm của phòng Tín dụng
Qua số liệu bảng 2.2 ta thấy cả doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ qua các năm đều tăng với tỷ lệ khá cao và đạt 100% kế hoạch NHNo Việt Nam giao.Đặc biệt tăng nhanh với con số khá lớn là năm 2007 Chứng tỏ việc tăngtrưởng tín dụng của NHNo Quảng Bình vừa thực hiện được mục tiêu kinhdoanh là tích cực mở rộng tín dụng nhằm đưa dư nợ bình quân cán bộ tíndụng từ 3,2 tỷ năm 2006 tiến tới kịp với bình quân toàn ngành (9 tỷ/người)
và đến 31/12/2007 đạt 4,3 tỷ/người, vừa thực hiện được mục tiêu tài chính (vì97% doanh thu từ tín dụng) nhưng cũng góp phần tích cực phục vụ phát triểnkinh tế tỉnh nhà, nhất là thị phần nông nghiệp - nông thôn tại Quảng Bình
Trang 40Ngoài ra, ta thấy tỷ lệ nợ xấu vẫn tăng đều qua các năm Năm 2007 đạt44,524 tỷ đồng, tăng 3,460 tỷ đồng (+8,43%) so với năm 2006, chiếm 2,99%tổng dư nợ Năm 2006 đạt 41,064 tỷ đồng, tăng 19,735 tỷ đồng (+92,53%) sovới năm 2005, chiếm tỷ trọng 3,67% tổng dư nợ Xét về hình thức thì chỉ tiêunày tăng là chưa tốt về chất lượng tín dụng, nhưng ở đây thực chất là do chủtrương xữ lý tình huống của NHNo Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng tíndụng trước khi cổ phần hoá, còn việc tỷ lệ nợ xấu chiếm 2,99% (năm 2007);3,67% (năm 2006) so với tổng dư nợ là hợp lý vì NHNo Việt Nam đưa ra chỉtiêu này là dưới 5% theo thông lệ thế giới.
2.1.3.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và Thanh toán quốc tế
Công tác thanh toán là một trong những nhiệm vụ cốt lõi của công tác kếtoán, là cơ sở để tăng trưởng một số mặt hoạt động của đơn vị như: nguồn vốn,tăng thu từ hoạt động thanh toán, cũng cố uy tín của ngân hàng trên địa bàn
Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết quả hoạt động kinh doanh củaNHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình nhưng việc triển khai, mở rộng các hoạt độngkinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế đối với NHNo&PTNT QuảngBình là một bước tiến về chất trong hoạt động, góp phần nâng cao vị thế củangân hàng trên địa bàn; đồng thời góp phần thực hiện ttốt định hướng hoạtđộng ngân hàng đa năng, hiện đại, phù hợp với tiến trình hội nhập của ViệtNam vào khu vực và thế giới