1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

1.4.2.1. Xác định đề tài nghiên cứu và lập đề cương nghiên cứu.

4 4,1K 51
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định đề tài nghiên cứu và lập đề cương nghiên cứu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 41,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giai đoạn thiết kế quy trình nghiên cứu, trong đó quan trọng là xây dựng hệ thống giải thuyết khoa học, xây dựng mô hình lí tưởng về đối tượng, thu thập xử lí thông tin lí luận, thu th

Trang 1

1.4.2 Qui trình nghiên cứu một đề tài khoa học giáo dục

Quy trình nghiên cứu một đề tài về PPDHHH nói riêng, về khoa học giáo dục nói chung, thường gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:

- Xác định đề tài nghiên cứu và lập đề cương nghiên cứu Đó là giai đoạn chuẩn

bị nghiên cứu

- Giai đoạn thiết kế quy trình nghiên cứu, trong đó quan trọng là xây dựng hệ thống giải thuyết khoa học, xây dựng mô hình lí tưởng về đối tượng, thu thập

xử lí thông tin lí luận, thu thập xử lí tài liệu thực tiễn

- Giai đoạn triển khai việc nghiên cứu (hay thi công sơ đồ logic của quy trình nghiên cứu đề tài), trong đó quan trọng là sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp, đặc biệt là thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả của thực nghiệm sư phạm và của cả công trình và trình bày công trình thành một văn bản khoa học

Nội dung cụ thể của từng giai đoạn:

1.4.2.1 Xác định đề tài nghiên cứu và lập đề cương nghiên cứu.

1.4.2.1.1 Xác định đề tài nghiên cứu.

Việc lựa chọn đúng đắn đề tài nghiên cứu có tác dụng rất quan trọng đến thành công của một công trình NCKH Đề tài nghiên cứu cần đạt các yêu cầu sau đây:

- Đề tài xuất phát từ nhu cầu bức thiết của thực tiễn giáo dục hay nội bộ khoa học giáo dục nhu cầu đó thường nảy sinh do mâu thuẩntong hoạt động thực tiễn hay lí luận dạy học, giáo dục Phải biết tập trung vào những vấn đề cấp bách trong những vấn đề cần giải đáp và chưa được giải đáp

- Đề tài có chứa đựng những điều còn chưa biết, còn hoài nghi Mỗi đề tài đều bao gồm một câu hỏi hay một hệ thống câu hỏi chưa được giải đáp hoặc được giải đáp chưa đầy

đủ Chúng phản ánh những hoài nghi, thắc mắc, những điều chưa rõ cần giải quyết Nêu tên một lĩnh vực hoạt động giáo dục (ví dụ: thí nghiệm Hóa học ở trờng phổ thông) chưa phải là đã tìm được một đề tài nghiên cứu chỉ khi nào nêu được câu hỏi, vạch rõ sự nghi vấn mới coi là xác định được đề tài Tuy nhiên khi viết công trình không nhất thiết phải viết dưới hình thức câu hỏi

- Đề tài hứa hẹn phát hiện những cái mới có tính qui luật Điều này nằm trong bản chất của việc nghiên cứu khoa học Đề tài khoa học về dạy học Hóa học phải hướng việc nghiên cứu vào sự phát hiện những cái mới, những mối liên hệ có tính qui luật trong hiện thực dạy học, trong quá trình dạy học và giáo dục Cái mới ở đây có những mức độ khác nhau: có thể là hoàn toàn mới, hoặc là một sự tổng hợp nhiều cái cũ, hay xen kẽ mới với những cái cũ Cái mới có thể là một lí thuyết mới, cũng có thể là một sự cụ thể hóa, một

sự vận dụng những kiến thức đã có vào một hoàn cảnh mới Chẳng hạn việc vận dụng

Trang 2

một cách sáng tạo những thành tựu khoa học kĩ thuật sẵn có trên thế giới vào điều kiện cụ thể của nước ta là một hướng cần được khuyến khích

- Để có thể nghiên cứu đi vào chiều sâu, có thể thu hẹp đề tài Thu hẹp đề tài là tạo điều kiện đi sâu, sãng tạo cái mới Chẳng hạn, vấn đề “Hoàn thiện hệ thống thí nghiệm Hóa học để nâng cao chất lượng dạy học ở trường PT” có thể được thu hẹp thành đề tài “Hoàn thiện phương pháp sử dụng hệ thống thí nghiệm Hóa học để nâng cao chất lượng dạy học

ở trường THCS” Sự thu hẹp đề tài có thể do những nguyên nhân khách quan (do việc thay đổi chương trình, sách giáo khoa Hóa học được bắt đầu thực hiện ở trường THCS trước khi thực hiện ở THPT…), nhưng cũng có thể do những nguyên nhân chủ quan (Chẳng hạn: sở trường, hứng thú, điều kiện công tác và năng lực của người nghiên cứu) Tuy vậy, yêu cầu đi sâu không mâu thuẫn với quan điểm nghiên cứu toàn diện Để giải quyết hợp lí mối quan hệ giữa bề sâu và bề rộng, người ta thường phối hợp giữa cá nhân

và tập thể Tập thể đảm nhiệm một đề tài hay một tuyến đề tài bao quát toàn diện một vấn

đề thực tiễn, trong đó mỗi cá nhân nghiên cứu một đề tài đi sâu vào một khía cạnh của vấn đề đó

1.4.2.1.2 Lập đề cương nghiên cứu.

Việc lập đề cương nghiên cứu cần được thực hiện ngay khi bắt đầu việc nghiên cứu, sau đó được hoàn chỉnh thêm trong quá trình nghiên cứu Đề cương sẽ giúp người nghiên cứu hình dung được toàn bộ những nét cơ bản của nôi dung và quá trình nghiên cứu: đề cương nghiên cứu chính là chương trình hành động khái quát của người nghiên cứu Đề cương nghiên cứu của một công trình khoa học thường gồm 8 nội dung chủ yếu sau:

- Lập luận xác định tính cấp thiết của đề tài

- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Giải thuyết khoa học

- Phương pháp nghiên cứu

- Dự kiến phần đóng góp mới của đề tài

- Dàn ý công trình nghiên cứu

- Dự kiến kế hoạch nghiên cứu, trong đó có kế hoạch thời gian

1.4.2.2 Thiết kế quy trình nghiên cứu

1.4.2.2.1 Xây dựng hệ thống giải thuyết khoa học.

Giải thuyết khoa học là lời tiên đoán khoa học, dự báo lời giải đáp cho mâu thuẫn được nêu ra trong đề tài; đó là sự phác thảo trên những nét cơ bản quy trình và hệ thống những kết luận giải định cho vấn đề nghiên cứu Đó cũng chính là giả định về bản chát của đối tượng nghiên cứu và là luận điểm chỉ dẫn con đường đi để khám phá đối tượng

Trang 3

Giải thuyết khoa học, với chức năng tiên đoán, có giá trị là cơ sở phương pháp luận, là công cụ lí thuyết giúp người nghiên cứu tác động vào đối tượng nghiên cứu, tìm

ra cấu trúc – chức năng của nó, vạch ra bức tranh toàn vẹn về bản chất của đối tượng

1.4.2.2.2.Vận dụng giả thuyết, tác động vào đối tượng nghiên cứu, xây dựng mô hình

lí tưởng về đối tượng.

Người nghiên cứu sử dụng giả thuyếtkhoa học như một công cụ phương pháp, tác động vào đối tượng, tìm ra quy luật về cơ chế vận hành của nó Từ đó thiết lập được mô hình lí tưởng của đối tượng về cấu trúc, về sự tương tác giữa các thành tố của nó, về quy luật của logic chuyển vận của đối tượng Đó là bức tranh về bản chất của đối tượng Đây

là bước “thực nghiệm khoa học trong tư duy” của người nghiên cứu

Trong quá trình này, người nghiên cứu phải căn cứ vào tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu mà lựa chọn nội dung, phương pháp nghiên cứu, cách thức tổ chức quy trình nghiên cứu, các phương tiện và công cụ nghiên cứu

1.4.2.3 Giai đoạn triển khai việc nghiên cứu.

1.4.2.3.1 Triển khai việc nghiên cứu tức là vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thích hợp để đạt được những mục đích và nhiệm vụ đề ra cho đề tài.

Trong giai đoạn chọn đề tài và lập đề cương, người nghiên cứu cũng đã sử dụng đến một số phương pháp NCKH như phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp quan sát….Nhưng ở giai đoạn triển khai nghiên cứu thì phải sử dụng phối hợp tất cả các phương pháp nghiên cứu khoa học thích hợp

Chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp trước hết là thích hợp với mục đích nghiên cứu, với tính chất của đề tài; đồng thời cũng cần thích hợp với điều kiện sử dụng phương pháp đó

Phải phối hợp và vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu vì mỗi phương pháp đều có chỗ mạnh, chỗ yếu, do đó cần vận dụng phối hợp những phương pháp khác nhau, lấy chỗ mạnh của phương pháp này khắc phục chỗ yếu của phương pháp kia

Các phương pháp NCKH thường được dùng trong các công trình nghiên cứu về dạy học Hóa học là: phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và xưởng trường, phương pháp chuyên gia

Với đề tài thuộc loại điều tra cơ bản, thường hay dùng phương pháp phỏng vấn, quan sát; với đề tài về cải tiến nội dung hay phương pháp dạy học thì phương pháp thực nghiệm sư phạm là quan trọng Phương pháp thực nghiệm sư phạm có nhiều ưu điểm nhưng nói chung đòi hỏi công phu, vì vậy không thể thực nghiệm tràn lan mà phải chọn

Trang 4

vấn đề then chốt để thực nghiệm, các vấn đề còn lại có thể được giải quyết bằng những phương pháp khác

1.4.2.3.2 Viết công trình nghiên cứu.

Theo dàn ý của công trình nghiên cứu trong đề cương nghiên cứu, sau khi đã được bổ sung và hoàn chỉnh trong quá trình triển khai, người nghiên cứu viết công trình nghiên cứu Nội dung công trình thường gồm các phần sau đây:

- Mở đầu

Nêu rõ lập luận xác định tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, giả thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.

Tổng quan những cơ sở lí luận của đề tài và tình hình nghiên cứu về đề tài ở trong nước và trên thế giới

Khi trình bày những tài liệu lí luận, chỉ nên viét về những gì cần thiết cho nhiệm

vụ nghiên cứu của đề tài dùng làm cơ sở cho thực nghiệm, làm tài liệu để khai quát, làm

đề tài bàn bạc, phê phán….Khi xử lí các tài liệu lí luận, ta cần phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để tìm ra ý mới Cái mới có thể là sự tổng hợp nhiều cái cũ, có thể là một

sự cụ thể hóa, một sự vận dụng kết quả của tác giả khác vào hoàn cảnh không hoàn toàn giống với hoàn cảnh của tác giả đó

- Nội dung và kết quả nghiên cứu Những đề xuất mới về lí luận hoặc thực tiễn.

Khi trình bày những tài liệu thực nghiệm, cần tìm cách trình bày một cách rõ ràng, sáng sủa, khái quát như dùng bảng, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị….Cần giải thích kết quả thực nghiệm bằng lí luận, giải thích nguyên nhân

- Kết luận chung.

Trên cơ sở phân tích tài liệu rút ra những kết luận, nêu lên những đề nghị thực tiễn, đề xuất những suy nghĩ mới và những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo

Chỉ nên coi là kết luận những gì đạt được bằng lập luận chặt chẽ trên cơ sở đầy đủ bằng chứng từ những tài liệu đã được thẩm tra Chỉ nên kết luận khi có thể bác bỏ được mọi lí lẽ dẫn đến đều trái với kết luận đưa ra

- Tài liệu tham khảo.

- Mục lục.

- Phụ lục.

Ngày đăng: 10/11/2013, 01:11

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w