1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH DOANH THỰC TẾ

11 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH DOANH THỰC TẾCách nào tốt nhất để lý giải những biến động ngắn hạn của sản lượng và việc làm? Nhà hoạch định chính sách có nhiệm vụ kiểm soát chính sách chính tiền tệ và tài chính phản ứng ra sao đối với những biến động này? Đó là những vấn những đề trung tâm của khoa kinh tế vĩ mô ngắn hạn. Cho đến nay người ta vẫn chưa đi tới sự nhất trí về cách lý giải những vấn đề này.Cách lý giải chủ đạo của phái cổ điển mới về biến động kinh tế được gọi là lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế. Theo lý thuyết này, các giả định mà chúng ta đã dùng để nghiên cứu thời hạn dài cũng đúng với thời hạn ngắn. Điều quan trọng nhất là lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế khẳng định nền kinh tế tuân theo sự phân đôi cổ điển: các biến danh nghĩa như cung ứng tiền tệ và mức giá được giả định không tác động tới các biến thực tế, lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế nhấn mạnh các thay đổi thực tế trong nền kinh tế, như sự thay đổi trong chính sách tài chính và công nghệ sản xuất. Khái niệm “ thực tế ” trong thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế ám chỉ việc loại bỏ về mặt lý thuyết các biến danh nghĩa trong quá trình lý giải biến động kinh tế.Trong chương này, chúng ta xem xét lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế. Mặc dù việc trình bày đầy đủ lý thuyết này cần tới nhiều chương, nhưng trong chương này, chúng ta có thể xây dựng một mô hình đơn giản bao gồm các yếu tố then chốt của nó. Sau đó, chúng ta chuyển sang trình bày những ý kiến tác động và chống lại quan điểm cổ điển mới này về biến động kinh tế.

Trang 1

Kinh tế vĩ mô Chương 5- Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

CHƯƠNG 5

LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH DOANH THỰC TẾ

Cách nào tốt nhất để lý giải những biến động ngắn hạn của sản lượng và việc làm? Nhà hoạch định chính sách có nhiệm vụ kiểm soát chính sách chính tiền tệ và tài chính phản ứng ra sao đối với những biến động này? Đó là những vấn những đề trung tâm của khoa kinh tế vĩ mô ngắn hạn Cho đến nay người ta vẫn chưa đi tới sự nhất trí về cách lý giải những vấn đề này

Cách lý giải chủ đạo của phái cổ điển mới về biến động kinh tế được gọi là lý

thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế Theo lý thuyết này, các giả định mà chúng ta đã

dùng để nghiên cứu thời hạn dài cũng đúng với thời hạn ngắn Điều quan trọng nhất là lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế khẳng định nền kinh tế tuân theo sự phân đôi cổ điển: các biến danh nghĩa như cung ứng tiền tệ và mức giá được giả định không tác động tới các biến thực tế, lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế nhấn mạnh các thay đổi thực tế trong nền kinh tế, như sự thay đổi trong chính sách tài chính và công nghệ sản xuất Khái niệm “ thực tế ” trong thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế ám chỉ việc loại bỏ về mặt lý thuyết các biến danh nghĩa trong quá trình lý giải biến động kinh tế

Trong chương này, chúng ta xem xét lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế Mặc

dù việc trình bày đầy đủ lý thuyết này cần tới nhiều chương, nhưng trong chương này, chúng ta có thể xây dựng một mô hình đơn giản bao gồm các yếu tố then chốt của nó Sau

đó, chúng ta chuyển sang trình bày những ý kiến tác động và chống lại quan điểm cổ điển mới này về biến động kinh tế

5.1 Xem xét lại nền kinh tế trong điều kiện giá cả linh hoạt

Mặc dù lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế là một lý thuyết mới về biến động kinh tế, nhưng nó vẫn bao hàm nhiều mối quan hệ kinh tế đã thấy trong các chương trước với những tên gọi khác Để thiết lập mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế, chúng ta bắt đầu bằng mô hình IS-LM Ở đây, chúng ta cần nhớ lại phương thức hoạt động của nó khi có giả định giá cả linh hoạt Sau đó, chúng ta biến đổi nó để xây dựng mô hình “ thực tế ” về các biến động ngắn hạn

Hãy nhớ lại rằng mô hình IS-LM mô tả nền kinh tế bằng cách sử dụng các phương trình sau đây cho thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ:

Y = C(Y-T) + I(r) + G IS

Trang 1

Trang 2

Kinh tế vĩ mô Chương 5- Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

Phương trình thứ nhất nói rằng sản lượng Y là tổng của tiêu dùng C, đầu tư

I và mua hàng của chính phủ G Tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập khả dụng Y- và đầu tư phụ thuọc vào lãi suất thực tế r Phương trình thứ hai nói rằng cung về số dư tiền tệ thực

tế M/P bằng cầu và cầu về số dư thực tế là hảm của lãi suất và sản lượng Để đơn giản hoá chúng ta giả định lạm phát dự kiến bằng không, vì thế lãi suất danh nghĩa - yếu tố quy định nhu cầu tiền tệ - bằng lãi suất thực tế

Để phân tích biến động ngắn hạn bằng mô hình IS-LM, chúng ta thường giả định mức giá cố định Song khi giá cả linh hoạt, thì mức giá sẽ điều chỉnh sao cho sản lượng bằng mức tự nhiên của nó: Y = F(K,L)

Ba phương trình này quy định ba biến nội sinh: sản lượng Y, lãi suất thực tế r và mức giá P

Hình 5-1 biểu thị trạng thái cân bằng của nền kinh tế trong điều kiện giá cả linh hoạt Sản lượng ở mức tự nhiên của nó Y Giao điểm của đường IS và đường thẳng đứng biểu thị mức tự nhiên quy định lãi suất Mức giá điều chỉnh để đảm bảo rằng đường LM

đi qua đúng điểm này

Hình 5.1 Mô hình IS – LM với giá cả linh hoạt

Hãy lưu ý rằng ở đây đường LM không quan trọng lắm Vì giá cả linh hoạt, mức giá sẽ điều chỉnh để cân bằng thị trường tiền tệ Sự điều chỉnh giá này hàm ý đường LM luôn luôn đi qua giao điểm của hai đường kia Để đạt được mục đích tìm hiểu các biến thực tế như sản lượng và lãi suất thực tế, chúng ta không cần để ý tới thị trường tiền tệ

Chúng ta có thể nghiên cứu nền kinh tế trong điều kiện giá cả linh hoạt bằng cách

sử dụng hai mối quan hệ nêu ra trong hình 5-2 Thứ nhất, đường IS cho chúng ta biết nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ phụ thuộc vào lãi suất như thế nào Trong phần còn lại của

chương này, chúng ta gọi đường IS là đường tổng cầu thực tế Thứ hai, đường thẳng

đứng ở mức sản lượng tự nhiên biểu thị cung về hàng hoá và dịch vụ Chúng ta gọi nó là

Trang 2

Trang 3

Kinh tế vĩ mô Chương 5- Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

đường tổng cung thực tế lãi suất thực tế điều chỉnh để cân bằng cung và cầu về hàng hoá

và dich vụ

Chúng ta không nói thêm được điều gì mới, mà chỉ đơn thuần biểu thị mô hình thu nhập quốc dân trong phần 1 dưới hình thức mới Trong mô hình này, cung về nhân tố và công nghệ sản xuất quyến định cung về hàng hoá và dich vụ, còn lãi suất thực tế điều chỉnh để bảo đảm rằng cầu về hàng hoá và dịch vụ bằng cung

Khi giải thích ý nghĩ của hình 5-2, không nên nhầm lẫn đường tổng cầu thực tế và đường tổng cung thực tế với đường tổng cầu và đường tổng cung mà chúng ta đã phân tích trước đây Trong các chương trước, mức giá được ghi trên trục tung, nhưng ở đây trái lại là lãi suất Trong lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế, mức giá không quan trọng, bởi vì nó là một biến danh nghĩa không ảnh hưởng đến các biến thực tế Bây giờ chúng ta phát triển mọt lý thuyết hoàn toàn khác về biến động kinh tế

5.2 Mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế

Trong phần này, chúng ta chuyển mô hình của nền kinh tế trong điều kiện giá cả linh hoạt thành một mô hình mô tả các biến động Đặc điểm mới của mô hình là biểu hiện của cung về lao động Trong mô hình cổ điển trình bày ở trên, cung về lao động không đổi và mức cung cố định này quyết định việc làm Nhưng việc làm biến động mạnh trong chu kỳ kinh doanh Nếu muốn duy trì giả định cổ điển cho rằng thị trường lao động cân bằng như các nhà kinh tế cổ điển mới làm, chúng ta phải tìm được nguyên nhân gây ra biến động của lượng lao động cung ứng

Sau khi trình bày các yếu tố quyết định cung về lao động, chúng ta biến đổi mô hình cổ điển của mình về tổng thu nhập để thêm vào những thay đổi của cung về lao động Cung về hàng hoá và dịch vụ phụ thuộc một phần vào cung về lao động Số giờ mọi người sẵn sàng làm việc càng lớn, nền kinh tế càng sản xuất ra nhiều sản lượng Chúng ta

sẽ phân tích xem theo lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế, các biến cố khác nhau tác động tới cung về lao động và tổng thu nhập như thế nào

Sự thay thế giữa các thời kỳ và cung về lao động

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế nhấn mạnh rằng lượng cung về lao động tại mọi thời điểm phụ thuộc vào các biên pháp khuyến khích đối với công nhân Khi công nhân được trả công cao, họ muốn làm việc nhiều giờ hơn Đôi khi, nếu sự trả công cho việc làm của họ thấp, công nhân bỏ việc – ít nhất là tạm thời Sự sẵn sàng phân bổ lại giờ

làm việc theo thời gian này được gọi là sự thay thế giữa các thời kỳ của lao động.

Trang 3

Y

r

Đường tổng cầu thực tế

Y Thu nhập, sản lượng

Đường tổng cung thực tế

Hình 5-2 Hai mối

quan hệ then chốt

trong điều kiện giá cả

linh hoạt

Y

r

LM

IS

Y

Thu nhập, sản lượng

Trang 4

Kinh tế vĩ mô Chương 5- Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

Để xem sự thay thế giữa các thời kỳ ảnh hưởng ra sao đến cung về lao động, chúng

ta hãy xétví dụ sau đây Một cô sinh viên đại học năm thứ hai còn hai kỳ nghỉ hè trước khi tốt nghiệp Cô ta muốn đi nghỉ ở biển trong một mùa hè Cô ta nên chon kỳ nghỉ nào để làm việc ?

Gọi W1 là tiền lương thực tế mà cô ta thu được trong mùa hè thứ nhất, và W2 là tiền lương thực tế mà cô ta dự kiến thu được trong mùa hè thứ hai Sự chọn lựa mùa hè nào để làm việc liên quan tới sự so sánh tiền lương trong hai kỳ nghỉ hè này Nhưng vì cô sinh viên có thể nhận lãi suất từ khoản tiền kiếm được sớm hơn, 1 đô la thu được trong mùa hè thứ nhất giá trị hơn 1 đô la thu được trong mùa hè thứ hai Hãy gọi r là lãi suất thực tế Nếu làm việc trong mùa hè đầu và tiết kiệm tiền kiếm được của mình, cô ta sẽ cố

số tiền bằng (1+r) W1 trong năm sau Nếu làm việc vào mùa hè sau, cô ta có số tiền bằng

W2 Tiền lương tương đối theo thời gian, tức số tiền kiếm được từ việc đi làm trong mùa

hè đầu so với số tiền kiếm được từ việc đi làm trong mùa hè sau là:

Tiền lương tương đối theo thời gian =

Làm việc trong mùa hè đầu sẽ hấp dẫn hơn nếu lãi suất cao hoặc tiền lương cao hơn so với tiền lương dự kiến phổ biến trong tương lai

Theo lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế, tất cả công nhân đều thực hiện các phân tích lợi ích – chi phí để quyết định khi nào làm việc và khi nào nghỉ ngơi Nếu tiền lương tạm thời cao hơn hoặc nếu lãi suất cao, thì đó là thời gian thích hợp để nghỉ ngơi

Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực tế sử dụng sự thay thế giữa các thời kỳ của lãi suất để lý giải vì sao việc làm và sản lượng biến động Các cú sốc đối với nền kinh tế làm cho lãi suất tăng hoặc tiền lương tạm thời cao, làm cho mọi người muốn làm việc nhiều hơn Sự gia tăng nổ lực lao động làm tăng mức sử dụng lao động (hay việc làm ) và sản lượng

Tổng cung thực tế và tổng cầu thực tế

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế đưa sự thay thế giữa các thời kỳ lao động vào

mô hình cổ điển về nền kinh tế Nhận thức chủ yếu rút ra từ phân tích của chúng ta đối với cung về lao động là lãi suất tác động đến tính hấp dẫn của quyết định lao động hiện tại Lãi suất càng cao, lượng cung về lao động càng lớn và sản lượng sản xuất càng nhiều

Hình 5-3 biểu thị mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế về nền kinh tế Do có sự thay thế giữa các thời kỳ, đường tổng cung thực tế bây giờ dốc lên chứ không phải thẳng đứng Điều đó có nghĩa là lãi suất cao hơn làm tăng lượng cung về lao động, qua đó làm tăng lượng cung về sản lượng Ở đây vẫn như trước, lãi suất thực tế điều chỉnh để cân bằng cung cầu về hàng hoá

Bây giờ chúng ta có thể sử dụng mô hình kinh tế này để giải thích những biến động trong sản lượng Bất cứ cú sốc nào đối với nền kinh tế mà làm dịch chuyển đường tổng cầu thực tế hoặc đường tổng cung thực tế đều làm thay đổi sản lượng cân bằng sự thay thế giữa các thời kỳ của lao động dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong mức việc làm

Để giải thích sự dịch chuyển của đường tổng cầu thực tế và tổng cung thực tế, các nhà lý thuết chu kỳ kinh doanh thực tế nhấn mạnh những thay đổi trong chính sách tài

Trang 4

Trang 5

Kinh tế vĩ mô Chương 5- Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

chính và công nghệ Bây giờ chúng ta hãy xem xét nguồn gốc của những biến động ngắn hạn này

Chính sách tài chính

Giả sử mua hàng của chính phủ tăng lên, ví dụ như trong thời kỳ chiến tranh Hình 5-4 cho thấy thay đổi này ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế theo lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế Đối với bất kỳ mức lãi suất cho trước nào, lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ bây giờ đều cao hơn Sự gia tăng mua hàng của chính phủ làm dịch chuyển đường tổng cầu thực tế ra phía ngoài Cả sản lượng và lãi suất đều tăng

Trang 5

r

Đường tổng cung thực tế

Đường tổng cầu thực tế

Y Thu nhập, sản lượng

Hình 5.3 Tổng cầu thực tế

và tổng cung thực tế

Trang 6

Hình 5.4 Sự gia tăng mua hàng của chính phủ trong mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế

r

Đường tổng cung thực tế

Đường tổng cầu thực tế

Y Thu nhập, sản lượng

Trang 7

Chú ý rằng có những điểm tương đồng giữa cách lý giải bằng hiệu ứng của chính sách tài chính và cách mà chúnh ta đã thấy khi nghiên cứu mô hình IS-LM trong chương

10 Sự gia tăng mua hàng của chính phủ làm dịch chuyển đường tổng cầu ra ngoài và đây cũng là lý do làm cho đường IS dịch ra ngoài trong mo hình IS-LM: tại bất kỳ mức lãi suất cho trước nào, chỉ tiêu về hàng hoá và dịch vụ đều cao hơn Trong cả hai trường hợp, kết quả đều là sản lượng cao hơn và lãi suất cao hơn Như vậy, hai mô hình đưa ra

sự dự báo giống nhau

Nhưng, có sự khác nhau quan trọng giữa hai cách lý giải Trong mô hình IS-LM, giá cả cứng nhắc và tổng cầu quyết định sản lượng và việc làm, trong khi cung về lao động và sự thay thế giữa các thời kỳ không đóng vai trò gì trong việc lý giải tác động của chính sách tài chính đối với sản lượng Trong mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế, giá cả linh hoạt, và công nhân thay thế lao động theo thời gian Mở rộng sản lượng là kết quả của sự tăng cung về lao động:do mức lãi suất cao hơn, mọi người sẽ bố trí nghỉ ngơi vào dịp khác và làm việc nhiều giờ hơn

Công nghệ

Nhiều nhà lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế nhấn mạnh vai trò của các cú sốc công nghệ Để hiểu được cái cú sốc công nghệ tạo ra biến động như thế nào, chúng ta hãy giả định rằng một số người cải tiến công nghệ hiện có, chẳng hạn như phát minh ra máy tính mới có tốc độ nhanh hơn Theo lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế, sự thay đổi này ảnh hưởng đến nền kinh tế theo hai cách

Thứ nhất, công nghệ tốt hơn làm tăng cung về hàng hoá và dịch vụ Nói cách khác, do hàm sản xuất bây giờ đã được cải thiện, nên sản lượng cao hơn được sản xuất

ra tại bất kỳ mức lãi suất cho trước nào Đường tổng cung thực tế dịch ra ngoài

Thứ hai, sự xuất hiện công nghệ mới làm tăng cầu về hàng hoá Ví dụ, nếu công nghệ mới là máy tính có tốc độ nhanh hơn, các công ty muốn mua máy tính này sẽ tăng nhu cầu đầu tư của họ Đường tổng cầu thực tế dịch ra ngoài

(a) Tổng cầu thực tế dịch chuyển nhiều hơn tổng cung thực tế

Đường tổng cầu thực tế

Y Thu nhập, sản lượng

Trang 8

(b) Tổng cung thực tế dịch chuyển nhiều hơn tổng cầu thực tế.

Hình 5-5 Cải tiến công nghệ trong mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế

Hình 5-5 trình bày hai hiệu ứng này Trong phần (a), tác động của cú sốc công nghệ tới cầu lớn hơn tác đông tới cung, cho nên cả sản lượng và lãi suất đều tăng Trong phần (b), tác động tới cầu nhỏ hơn tác động tới cung, vì thế sản lượng tăng và lãi suất giảm (việc trường hợp nào đóng vai trò chủ yếu tuỳ thuộc vào chỗ mọi người nghĩ rằng

cú sốc tồn tại lâu dài hay chỉ có tính chất nhất thời (hãy xem bày tập 1 ở cuối chương)

Bài học quan trọng rút ra ở đây là cú sốc công nghệ làm thay đổi sản lượng và lãi suất Và như chúng ta đã thấy, do có sự thay thế giữa các thời kỳ của lao động, các cú sốc làm thay đổi lãi suất cũng ảnh hưởng tới việc làm

5.3 Cuộc tranh luận xung quanh lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế

Các nhà kinh tế không nhất trí về tính đúng đắn của lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế Trung tâm của cuộc tranh luận xoay quanh bốn vấn đề cơ bản:

 Tầm quan trọng của cú sốc công nghệ

 Cách lý giải tình trạng thất nghiệp

 Tính trung lập của tiền tệ

 Tính linh hoạt của tiền lương và giá cả

Bây giờ chúng ta hãy xem xét lần lượt những vấn đề này

Tầm quan trọng của cú sốc công nghệ

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế giả định nền kinh tế trải qua các biến động trong khả năng chuyển các đầu vào (tư bản và lao động ) thành sản lượng (hàng hoá và dịch vụ) và những biến động trong công nghệ này gây ra biến động của sản lượng và việc làm Khi công nghệ sản xuất hiện có được cải tiến, nền kinh tế tạo ra nhiều sản lượng hơn Do có sự thay thế giữa cá thời kỳ của lao động, công nghệ cải tiến cũng làm tăng việc làm Các nhà lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế thường cho rằng suy thoái là giai đoạn thụt lùi về công nghệ Theo mô hình này, sản lượng và việc làm giảm trong chu kỳ suy thoái, vì công nghệ sản xuất hiện có xuống cấp và điều này làm giảm sản lượng và động cơ lao động

r

Đường tổng cung thực tế

Đường tổng cầu thực tế

Y Thu nhập, sản lượng

Trang 9

Những người phê phán lý thuyết chu kỳ kinh doanh không tin rằng nền kinh tế phải trải qua các cú sốc lớn về công nghệ Nhìn chung, tiến bộ công nghệ diễn ra từ từ

Họ lập luận rằng sự thụt lùi về công nghệ là điều kiện đặc biệt khó hiểu: quá trình tích luỹ kiến thức công nghệ có thể chậm lại, nhưng khó có thể hình dung rằng nó bị đảo ngược

Những người ủng hộ lý thuyết này nêu ra quan điểm rộng hơn về cú sốc công nghệ Họ lập luận rằng nhiều biến cố mặc dù không có tính công nghệ thuần tuý, vẫn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế giống như cú sốc công nghệ Ví dụ, thời tiết xấu, việc áp đặt các quy định nghiêm ngặt về môi trường, hoặc sự gia tăng giá dầu lửa thế giới cũng

có ảnh hưởng tương tự như sự thay đổi công nghệ : tất cả các yếu tố này làm giảm khả năng chuyển tư bản và lao động thành hàng hoá và dịch vụ Nhung vấn đề còn để ngỏ là liệu các biến cố như vậy có xảy ra thường xuyên đến mức cho phép giải thích tần suất và quy mô của chu kỳ kinh doanh không?

Cách giải thích về thất nghiệp

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế giả định rằng những biến động trong việc làm phản ảnh sự thay đổi của số lượng người muốn làm việc Nói cách khác, nó giả định nền kinh tế luôn luôn ở trên đường cung về lao động: mọi người muốn làm một việc với mức tiền lương hiện hành đều tìm được việc làm Để giải thích sự biến động của việc làm, những người bênh vực lý thuyết này lập luận rằng sự thay đổi tiền lương và lãi suất gây ra sự thay thế giữa các thời kỳ của lao động

Những người phê phán lý thuyết này cho rằng sự biến động của việc làm không phản ảnh sự thay đổi của số lượng người muốn làm việc Họ cho rằng mức việc làm mong muốn không nhạy cảm lắm với tiền lương thực tế và lãi suất thực tế Họ cho rằng

tỷ lệ thất nghiệp biến động mạnh trong chu kỳ kinh doanh Mức thất nghiệp cao trong thời kỳ suy thoái cho thấy thị trường lao động không tự cân bằng được: nếu mọi người

tự nguyện chon cách không làm việc trong thời kỳ suy thoái, họ không tự gọi mình là thất nghiệp Những người phê phán này kết luận rằng tiền lương không thể điều chỉnh để cân bằng cung cầu về lao động như mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế giả định

Những người bênh vực lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế lại lập luận rằng khó

có thể giải thích ý nghĩa của các số liệu thống kê về thất nghiệp Chỉ riêng thực tế tỷ lệ cao không nói lên rằng sự thay thế giữa các thời kỳ của lao động đóng vai trò thứ yếu Những người tự nghuyện chon cách không làm việc có thể tự gọi họ là thất nghiệp bời vì

họ sẵn sàng làm việc nếu được trả mức lương như trước đây

Tính trung lập của tiền tệ

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế giả định rằng tiền có tính trung lập, nghĩa là, chính sách tiền tệ được giả định không ảnh hưởng tới các biến thực tế như sản lượng và việc làm Tính trung lập của tiền không chỉ đem lại cho lý tuyết chu kỳ kinh doanh thực

tế cái tên của nó, mà còn là đặc tính căn bản của lý thuyết này

Những nhà phê phán lập luận rằng bằng chứng không ủng hộ giả định về tính trung lập của tiền tệ Họ chỉ ra rằng biện pháp cắt giảm tỷ lệ tăng tiền tệ và lạm phát hầu như luôn luôn đị kèm với thời kỳ thất nghiệp cao Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến nền kinh tế

Trang 10

Những người ủng hộ lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế lập luận rằng những người phê phán có sự lẫn lộn về hướng của mối quan hệ nhân quả giữa tiền tệ và sản lượng Họ quả quyết cung ứng tiền tệ là biến nội sinh: biến động của sản lượng có thể gây ra biến động của cung ứng tiền tệ Ví dụ, khi sản lượng tăng do có một cú sốc công nghệ thuận lợi, lượng cầu về tiền tệ tăng lên Cục Dự trữ Liên Bang phải tăng cung ứng tiền tệ để thích ứng với mức cầu cao hơn Phản ứng nội sinh của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế có thể gây ra ảo tưởng cho rằng tiền không có tính trung lập

Tính linh hoạt của tiền lương và giá cả

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế giả định rằng tiền lương và giá cả điều chỉnh nhanh chóng để cân bằng thị trường Những người bênh vực lý thuyết này tin rằng tính cứng nhắc của tiền lương và giá cả không đóng vai trò quan trọng đối với hiểu biết của chúng ta về biến động kinh tế Họ cũng tin rằng về mặt phương pháp luận, giả định giá

cả linh hoạt ưu việt hơn giả định giá cả cứng nhắc, vì nó gắn lý thuyết kinh tế vĩ mô chặt chẽ hơn với ly thuyết kinh tế vi mô Hầu hết các phân tích kinh tế vi mô đều dựa trên giả định cho rằng giá cả điều chỉnh để cân bằng cung cầu Những người ủng hộ lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế cho rằng các nàh kinh tế vĩ mô cần đặt phân tích về biến động kinh tế trên cùng giả định đó

Những người phê phán chỉ ra rằng tiền lương và gia cả không linh hoạt Họ cho rằng tính không linh hoạt này giải thích cả sự tồn tại của thất nghiệp và tính không trung lập của tiền tệ Để lý giải vì sao giá cả cứng nhắc, họ dựa vào các lý thuyết khác nhau của phái Keynes mới mà chúng ta đã bàn trong chương 11

5.4 Kết luận

Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế nhắc nhở rằng chúng ta không hiều sâu biến động kinh tế đến mức mong muốn Những vấn đề căn bản của nền kinh tế vẫn là những vấn đề còn tranh cải Tính cứng nhắc của giá cả và tiền lương có phải là chìa khoá để hiểu được biến đọng kinh tế không? Chính sách tiền tệ có tác dụng thực tế không?

Cách thức trả lời các câu hỏi này của các nhà kinh tế ảnh hưởng đến phương pháp đánh giá của họ về vai trò của chính sách kinh tế Các nhà kinh tế cho rằng tiền lương và giá cả cứng nhắc thường tin tưởng vào khả năng sử dụng chính sách tài chính và tiền tệ

để ổn định nền kinh tế Tính cứng nhắc của giá cả là một hình không hoàn hảo của thị trường Sự không hoàn hảo này tạo ra khả năng để chính sách của chính phủ có thể làm tăng phúc lợi kinh tế

Ngược lại, các nhà lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế tin rằng khả năng ổn định nền kinh tế của chính phủ bị hạn chế và chính phủ không nên tìm ra cách làm điều đó ngay cả khi có thể làm được Họ coi chu kỳ kinh doanh là phản ứng tự nhiên và có hiệu quả của nền kinh tế đối với sự thay đổi của năng lực công nghệ Hầu hết các mô hình chu kỳ kinh doanh thực tế đều không dựa vào bất cứ loại hình không hoàn hảo nào của thị trường Trong các mô hình này, bàn tay vô hình của thị trường dắt dẫn nền kinh tế đi đến chỗ phân bổ nguồn lực tối ưu

Hai quan điểm này về biến động kinh tế là nguồn gốc của cuộc tranh cải thường xuyên và nóng bỏng giữa các nhà kinh tế Cả khoa học kinh tế và chính sách kinh tế đều

có thể gặt hái được nhiều điều từ cuộc tranh luận đó Chính kiểu tranh luận này làm cho kinh tế vĩ mô trờ thành mọt lĩnh vực nghiên cứu lý thú và hấp dẫn

Ngày đăng: 22/03/2021, 09:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w